1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương luận văn (y học) ước lượng trọng lượng thai và tuổi thai qua các số đo thai nhi bằng siêu âm hai và ba chiều trước sinh

86 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ước lượng trọng lượng thai và tuổi thai qua các số đo thai nhi bằng siêu âm hai và ba chiều trước sinh
Trường học Trường Đại Học Y Dược TP.HCM
Chuyên ngành Y học
Thể loại Luận văn
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 6,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Tác động sinh học của siêu âm (4)
  • 1.2. Các phương pháp siêu âm được sử dụng trong chẩn đoán (5)
    • 1.2.1. Phương pháp A (5)
    • 1.2.2. Phương pháp B (5)
    • 1.2.3. Phương pháp chuyển động theo thời gian - TM (Mode TM) (5)
    • 1.2.4. Phương pháp siêu âm nhìn hình ảnh tức thì (Real time) [5] (5)
    • 1.2.5. Siêu âm sử dụng hiệu ứng Doppler [5] (5)
    • 1.2.6. Siêu âm 3 chiều [5] (6)
  • 1.3. Các phương pháp ước lượng trọng lượng thai (9)
    • 1.3.1. Phương pháp ước lượng trọng lượng thai ngoài siêu âm (10)
    • 1.3.2. Các phương pháp ước lượng trọng lượng thai bằng siêu âm (11)
    • 1.3.3. Các phương pháp tính tuổi thai (23)
    • 1.3.4. Kiểm định kết quả (31)
  • 2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (32)
  • 2.2. Đối tượng nghiên cứu (32)
    • 2.2.1. Tiêu chuẩn chọn lọc (32)
    • 2.3.2. Số lượng đối tượng (33)
    • 2.3.3. Quá trình thu thập số liệu (34)
    • 2.3.4. Kiểm định độ chính xác của phương pháp được chọn lọc (36)
    • 2.3.5. Chỉ tiêu đánh giá có liên quan đến nghiên cứu (38)
    • 2.3.6. Đạo đức trong nghiên cứu (41)
  • 3.1. Các đặc điểm về đối tượng nghiên cứu (43)
  • 3.2. Kết quả nghiên cứu phần chẩn đoán cân nặng thai (47)
    • 3.2.1. Hàm số tương quan giữa mét số đo và cân nặng thai (47)
    • 3.2.2. Hàm số tương quan giữa số đo kết hợp (≥ 2 số đo) và cân nặng thai (47)
    • 3.2.3. Bảng giá trị về mối tương quan giữa các số đo phần (48)
  • 3.3. Kết quả nghiên cứu phần chẩn đoán tuổi thai trong tử cung (48)
    • 3.3.1. Hàm số tương quan giữa 1 số đo thai và tuổi thai.48 3.3.2. Hàm số tương quan giữa số đo kết hợp (≥ 2 số đo) với tuổi thai (48)
  • 3.4. Chọn lọc phương pháp siêu âm có hàm số tương quan tương ứng với hệ số tương quan cao nhất (51)
    • 3.4.1. Đối với cân nặng (51)
    • 3.4.2. Đối với tuổi thai (51)
  • 3.5. Kiểm định độ tin cậy của phương pháp được chọn lọc 51 1. Cân nặng tính theo phương pháp được chọn lọc và cân nặng thực tế (51)
    • 3.5.2. Phân theo tính theo phương pháp được chọn lọc và tuổi thai thực tế (52)
  • 3.6. Bảng giá trị số đo (được chọn lọc) và biểu đồ tương (52)
    • 3.6.1. Phân bè theo đường bách phân vị 5 - 10 - 50 - 90 - (52)
    • 3.6.2. Biểu đồ tương quan giữa số đo thai và cân nặng thai (53)
    • 3.6.3. Phân bố theo đường bách phân vị 5 - 10 - 50 - 90 - (53)
    • 3.6.4. Biểu đồ tương quan giữa số đo thai (được chọn lọc) và tuổi thai (53)

Nội dung

Tác động sinh học của siêu âm

Từ đầu thập niên 50 của thế kỷ XX, tác động sinh học của siêu âm đã được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng trước khi áp dụng vào chẩn đoán.

Các tác giả đã áp dụng nguồn siêu âm tần số từ 3,5 đến 10MHz và cường độ từ 0,01 đến 0,02 W/cm², gấp 10 lần so với siêu âm chẩn đoán Thời gian phát siêu âm kéo dài từ 1 đến 10 giờ, dài gấp 20 lần so với thời gian sử dụng trong chẩn đoán Nguồn siêu âm này được chiếu vào tế bào non, bộ phận sinh dục và bào thai.

Nghiên cứu cho thấy siêu âm không gây hại cho tế bào máu sinh vật và không ảnh hưởng đến quá trình phân chia tế bào cũng như cấu trúc nhiễm sắc thể.

Năm 1992, Reece và cộng sự đã nghiên cứu tác động của siêu âm đối với môi trường sinh vật và kết luận rằng siêu âm không gây hại về mặt sinh học Phan Trường Duyệt đã có hơn 28 năm kinh nghiệm sử dụng siêu âm tại viện Bảo vệ Bà Mẹ Trẻ từ năm 1975.

Sơ Sinh cũng chưa có bằng chứng ảnh hưởng thai của siêu âm [5].

Nhiều tác giả toàn cầu đã khẳng định rằng siêu âm là công cụ hiệu quả nhất để đánh giá sự phát triển của thai nhi trong suốt thai kỳ, bao gồm việc xác định tuổi thai, cân nặng, tình trạng sống của thai và chẩn đoán dị dạng.

Các phương pháp siêu âm được sử dụng trong chẩn đoán

Phương pháp A

Là siêu âm một chiều, hiện nay được sử dụng ở khoa thần kinh, Ýt được sử dụng trong sản khoa.

Phương pháp B

Siêu âm hai chiều trong mode B thông thường chỉ thu được âm vang có biên độ mạnh trên 1 Volt, dẫn đến hình ảnh thiếu chi tiết Trong khi đó, mode B màu xám cho phép đầu dò thu nhận âm vang yếu với biên độ từ 100mV, nhờ đó hình ảnh thu được rõ nét hơn.

Phương pháp chuyển động theo thời gian - TM (Mode TM)

Màn ghi hình chuyển động theo một hướng nhất định giúp tín hiệu thu được trải dài trên màn ảnh, tương tự như bút ghi mạch trên trục giấy lăn tròn Khi vật cố định, đường biểu diễn sẽ là đường thẳng, trong khi vật di động được biểu diễn dưới dạng hình sin.

Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu hoạt động của tim và van tim.

Phương pháp siêu âm nhìn hình ảnh tức thì (Real time) [5]

Các bộ phận áp điện có chức năng phát và thu sóng siêu âm, đồng thời khuếch đại tín hiệu để tạo ra nhiều hình ảnh trong một giây, từ đó hình thành hình ảnh động trên ống nghiệm dao động.

Phương pháp này có nhiều ưu điểm vừa đo kích thước và nhận dạng được những vật quan sát tĩnh hoặc động một cách nhanh chóng.

Siêu âm sử dụng hiệu ứng Doppler [5]

Hiệu ứng Doppler mô tả sự thay đổi tần số âm vang phản xạ so với tần số của nguồn siêu âm ban đầu Khi nguồn siêu âm tương tác với một mặt phẳng di động, khoảng cách giữa chúng thay đổi Nếu mặt phẳng di chuyển về phía nguồn siêu âm, tần số âm vang phản xạ sẽ cao hơn, ngược lại, nếu mặt phẳng di chuyển ra xa, tần số sẽ thấp hơn.

Siêu âm 3 chiều [5]

Phương pháp siêu âm hai chiều hình ảnh tức thì cho phép quan sát toàn bộ mặt cắt lớp của vật thể trên một mặt phẳng hai chiều Khi di chuyển đầu dò theo hướng gần ngang, ta thu được hình ảnh từ các mặt phẳng khác nhau, tạo ra hình ảnh ba chiều Quá trình này được thực hiện trong bộ phận lưu hình của máy tính trong máy siêu âm ba chiều.

Hình 1.1: Sơ đồ hình siêu âm 3 chiều từ đầu dò ghép cong

Muốn có hình ảnh 3 chiều của một vị trí quan sát cần qua các bước [5], [2]:

1 Thực hiện sự chuyển đổi số qua đặc điểm của âm vang phát xạ trong quá trình siêu âm đi qua vùng quan sát Chính những âm vang phản xạ này tạo nên hình ảnh cắt lớp tức thì (Real time) của vùng quan sát.

2 Chuyển dịch nguồn siêu âm qua toàn bộ vùng quan sát bằng cách quét nguồn siêu âm (2 chiều nhìn hình ảnh tức thì) trên một trục Đặc điểm của tia phản xạ của các mặt quét qua từng khoảng thời gian cũng được chuyển đổi thành các thông số có liên quan đến tốc độ, biên độ của sóng siêu âm bị giảm đi trong quá trình siêu âm xuyên qua vùng quan sát.

3 Ghi nhớ và lưu trữ các số liệu trên đồng thời bổ sung số liệu ở các phần trống không có số liệu do nguồn siêu âm không được điều khiển cắt qua.

4 Biểu đồ số liệu thành hình ảnh siêu âm 3 chiều: các số liệu ghi nhớ biểu thị đặc điểm của từng điểm quan sát trên vùng nghiên cứu, ngược lại các số liệu trên có thể chuyển đổi lại thành hình ảnh tương xứng tạo nên hình ảnh

Các yếu tố ảnh hưởng đến hình ảnh siêu âm 3 chiều trong sản khoa [5].

Khi mật độ giữa môi trường 1 và 2 khác nhau, hệ số phản xạ siêu âm sẽ tăng cao, dẫn đến hình ảnh rõ nét hơn Siêu âm chẩn đoán mang lại hình ảnh sắc nét khi quan sát các cơ quan có độ đậm đặc cao như tổ chức xơ, cơ và xương, nằm giữa các cơ quan có độ đậm đặc thấp như gan, nhu mô thận, não và chất dịch.

Siêu âm 3 chiều thai rõ nét khi:

1 Khối lượng nước ối thai tăng tạo hình rõ nét hơn.

2 Vị trí nằm của thai sao cho bộ phận nghiên cứu tiếp xúc khoang ối rộng.

3 Thành bụng người mẹ: tổ chức mỡ dày sẽ ảnh hưởng đến nguồn siêu âm tới, làm cho phản xạ âm vang của thai và nước ối kém đi, toàn bộ hình sẽ bị mờ.

4 Độ phân giải của máy: chất lượng hình ảnh chuyển từ kỹ thuật số trên một mặt phẳng được biểu thị bằng số lượng pixel trên 1cm 2 Hiện nay hình ảnh phẳng có thể đạt được từ 4,5 triệu - 5 triệu pixel.

Siêu âm 3 chiều được phát triển nhờ công nghệ siêu âm và kỹ thuật tin học, cho phép xây dựng hình ảnh siêu âm dưới dạng hình khối bằng cách ghép nối các hình ảnh từ siêu âm 2 chiều thông qua bộ xử lý hình ảnh Để thực hiện siêu âm 3 chiều, cần bắt đầu bằng siêu âm 2 chiều để có cái nhìn tổng thể về thai nhi, đánh giá sự phát triển và phát hiện các bất thường cần làm rõ Nghiên cứu của chúng tôi dễ dàng thực hiện thông qua siêu âm 2 chiều để ghi nhận số liệu, sau đó sử dụng siêu âm 3 chiều để đo thể tích cánh tay và thể tích đùi.

Các phương pháp ước lượng trọng lượng thai

Phương pháp ước lượng trọng lượng thai ngoài siêu âm

1.3.1.1 Các công trình ở nước ngoài

Trước năm 1958, phương pháp chẩn đoán cân nặng thai còn rất hạn chế Một số tác giả đã đề cập đến mối liên hệ giữa creatinine trong nước ối và cân nặng thai, nhưng chưa cung cấp hệ số tương quan cụ thể.

Năm 1972, Ong HC và Sen DK đã áp dụng phương pháp lâm sàng để ước lượng cân nặng thai trong tử cung thông qua việc cân, đo, sờ và nắn bụng sản phụ, tuy nhiên phương pháp này còn phụ thuộc vào tính chủ quan.

- Công thức của Mc Donald [41].

P = (BCTC + VB)/4 x 100 với P: trọng lượng thai nhi tính bằng g

BCTC, VB: tính bằng cm

P = (BCTC - n) x 155 Với P: trọng lượng thai tính bằng g

BCTC: cm Điều kiện: n = 11 khi độ lọt của ngôi từ +1, +2; n = 12 khi độ lọt của ngôi từ -3 đến 0.

1.3.1.2 Các công trình ở Việt Nam

- Công thức của Bùi Thái Hương 1983 [10]

P = 123 BCTC - 777 với P: trọng lượng thai nhi tính bằng g

- Công thức của Nguyễn Thị Thúy Hương và Phan Quang Hiếu [11]

P = (BCTC x 55) + (VB x 15) + nc với: c = 0 khi BCTC ≤ 32 c = 45 khi BCTC ≥ 33 n = 1, 2, 3,…8 khi BCTC = 33, 34, 35, …40

- Công thức của Nguyễn Thị Huỳnh Mai (1994)

P = 115 BCTC - 629 với P: trọng lượng thai tính bằng g

Phương pháp ước lượng cân nặng thai dựa vào lâm sàng là một phương pháp đơn giản, tuy nhiên, độ tin cậy của nó thấp do tỷ lệ sai lệch cao Dù vậy, phương pháp này vẫn có thể được áp dụng tại các cơ sở y tế không có trang bị siêu âm.

Các phương pháp ước lượng trọng lượng thai bằng siêu âm

Từ thập kỷ 60 đã có hàng loạt các nghiên cứu áp dụng siêu âm thai trong chẩn đoán tuổi thai [17], [9], [81] lượng thai [42], [45] theo dõi sự phát triển của thai [36], [62].

1.3.2.1 Đường kính lưỡng đỉnh (ĐKLĐ)

Năm 1964, các tác giả đã sử dụng số đo đường kính lưỡng đỉnh (ĐKLĐ) để ước lượng trọng lượng thai nhi Nghiên cứu của Willocks và Campbell cho thấy ĐKLĐ có mối liên hệ yếu với cân nặng, với hệ số tương quan r = 0,5 và sai số chẩn đoán khoảng ± 450g trong 68% trường hợp.

Kohorn (1984) [55] nghiên cứu của mình có phương trình hồi quy

X: ĐKLĐ (mm) Đé sai lệch ± 350g

Nghiên cứu của Schaub và CS, Wolff và CS cho thấy đường kính lưỡng đỉnh (ĐKLĐ) của người dân đảo Ăngtin cao hơn người Pháp khoảng 2mm trong suốt thời gian mang thai Trong khi đó, ĐKLĐ của người Châu Phi sống ở Pháp thấp hơn 5% so với người Pháp, đặc biệt là khi thai nhi lớn hơn 32 tuần Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Hinh, giá trị ĐKLĐ của người Việt Nam cũng thấp hơn so với Campbell và Newman ít nhất 4,3mm (ở tuần 31) và nhiều nhất là 5,4mm (ở tuần 32), cũng như thấp hơn Varma ít nhất 0,9mm (ở tuần 33) và nhiều nhất 2,2mm (ở tuần 37) Nghiên cứu này tương tự như công trình của Phan Trường Duyệt năm 1985.

Tác giả Nguyễn Đức Hinh đã nghiên cứu trong 11 năm và nhận thấy rằng tất cả các giá trị ĐKLĐ đều lớn hơn ít nhất 0,4mm ở thai nhi 32 tuần và 36 tuần, trong khi giá trị cao nhất là 1,6mm ở thai nhi 33 tuần Những phát hiện này phù hợp với sự thay đổi cân nặng trung bình của trẻ sơ sinh Việt Nam theo thời gian.

Như vậy số đo ĐKLĐ mang tính đặc trưng cho từng dân tộc và từng thời điểm lịch sử.

1.3.2.2 Chu vi đầu thai Được đo trên cùng một mặt phẳng và mặt cắt đo ĐKLĐ Theo Hadlock

Tamura (1986) cho biết chu vi đầu thai được ước lượng bằng cách đo trục ngắn (D1) và trục dài nhất (D2) của đầu thai trên cùng một mặt phẳng, với mặt cắt đo ĐKLĐ được lấy theo bờ ngoài của xương đầu.

Chu vi (CVVĐ) đầu được tính theo:

Nếu đầu thai có dạng ê - lip

- Jeanty [53] (1986) đã sử dụng CVVĐ để chẩn đoán trọng lượng thai theo phương trình hồi quy.

X: CVVĐ (cm) r = 0,602, p < 0,01 Độ sai lệch chẩn đoán ± 400gr là 69,25% trường hợp

* Potter 1982 [70] đưa ra công thức tính diện tích đầu (DTĐ)

Và phương trình hồi quy:

X: DTĐ (cm 2 ) Với sai lệch chẩn đoán ± 350g chiếm tỉ lệ 37,54% trường hợp.

X: DTĐ (cm 2 ) Độ sai lệch chẩn đoán ± 400g chiếm tỉ lệ 78,69% trường hợp

1.3.2.4 Chu vi ngực thai (CVN)

- Năm 1975 Levis, Erbsmar F [57] nghiên cứu phương pháp đo ngực thai để chẩn đoán cân nặng và đưa ra kết quả:

Diện tích ngực, chu vi ngực và đường kính trước sau ngực có mối tương quan hồi quy tuyến tính với cân nặng thai, với hệ số tương quan lần lượt là r = 0,648; 0,650; và 0,643.

- Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh sử dụng hàm số tương quan:

X: chu vi ngực đo qua van tim (cm) r = 0,701, p < 0,01

Năm 1975, Campbell lần đầu tiên giới thiệu phương pháp đo đường kính vòng bụng (CVB) thai nhi qua siêu âm để ước lượng trọng lượng thai Nghiên cứu này đã chỉ ra mối tương quan có ý nghĩa giữa CVB và trọng lượng thai, được thể hiện qua công thức logeY = 4,564 + 0,282X - 0,00331X², trong đó Y là trọng lượng thai tính bằng gram.

Kết quả chẩn đoán sai lệch như sau:

- Sai lệch trung bình 290g trên thai có cân nặng 2000g.

- Sai lệch trung bình 450g trên thai có cân nặng 4000g.

Sai lệch chẩn đoán 300g trong 32,4%, 200g gặp trong 54%

1.3.2.6 Diện tích mặt cắt bụng thai qua tĩnh mạch rốn (DTB)

X: DTB (cm 2 ) Sai lệch chẩn đoán ± 400gr chiếm tỷ lệ 81,68% trường hợp.

X: DTB (cm 2 ) Sai lệch chẩn đoán ± 350gr chiếm 78,37% trường hợp

X: DTB (cm 2 ) r = 0,82, p < 0,001 Sai lệch chẩn đoán 200g gặp trong 35,1% trường hợp.

Sai lệch chẩn doán 300g gặp trong 21,62% trường hợp. Đây là phương pháp có độ chẩn đoán khá chính xác, hệ số tương quan cao.

1.3.2.7 Đường kính ngang bụng (ĐKNB)

* Camprogramde M, Tullia Todros và Maria Brizzolar [29] dùng ĐKNB tính trọng lượng thai cho kết quả sai lệch chẩn đoán như sau:

- Dưới 200g gặp trong 48% trường hợp.

- Dưới 300g gặp trong 66% trường hợp.

- Dưới 400g gặp trong 74% trường hợp.

* Campbell [26] nêu kết quả sai lệch chẩn đoán dưới 2800g gặp trong 58% trường hợp.

* Thompson [50] nêu độ sai lệch của phương pháp là ± 364g = 1SD

* Phan Trường Duyệt [4] mối tương quan giữa ĐKNB và cân nặng thai:

X: đường kính ngang bụng (ĐKNB) (mm). r = 0,471

Với sai lệch chẩn đoán:

- Sai số dưới ± 100g là 43,35% ± 1,71% ở độ tin cậy 95% và 43,35% ± 2,25% ở độ tin cậy 99%

- Sai số dưới ± 200g là 80,58% 1,36% ở độ tin cậy 95% và 80,58% ± 1,79% ở độ tin cậy 99%

- Sai số dưới ± 300g là 93,97% ± 0,82% ở độ tin cậy 95% và 93,97% ± 1,08% ở độ tin cậy 99%

1.3.2.8 Đường kính trung bình bụng thai (ĐKTBB) ĐKTBB = ĐKTSB + ĐKNB

Là phương pháp đơn giản có độ chính xác cao vì ĐKTSB và ĐKNB sẽ thay đổi bù trừ nhau khi có động tác thở của thai.

X: ĐKNB (mm) Với sai lệch chẩn đoán ± 350g chiếm 78,69% trường hợp

Với sai lệch chẩn đoán 200 - 300g chiếm 23,33%.

1.3.2.9 Chiều dài xương đùi (CDXĐ)

Năm 1980, Queenan JT và O'Brien GD đã tiến hành nghiên cứu đầu tiên về việc đo chiều dài xương (CDXĐ) qua siêu âm Họ cho rằng việc đo CDXĐ, chiều dài xương chày, chiều dài xương cánh tay và chiều dài xương trụ là dễ thực hiện nhất, đồng thời cho ra hình ảnh rõ nét và có độ lệch chuẩn nhỏ nhất.

CDXĐ là một tham số quan trọng trong chẩn đoán tuổi thai và đánh giá sự phát triển của thai nhi, có thể thay thế phương pháp đo ĐKLĐ khi không thực hiện được Ngoài ra, CDXĐ còn giúp gợi ý chẩn đoán các bất thường về xương như rối loạn phát triển xương, chứng lùn và bệnh Down Đặc biệt, trong trường hợp bệnh lý bất sản sụn xương, ĐKLĐ/CDXĐ có sự gia tăng rõ rệt.

Trong cùng tuần tuổi thai có giá trị CDXĐ của người Việt Nam đều thấp hơn các tác giả O'Brien, Queenan [64].

Chênh lệch mức thấp nhất là 1,6mm (lóc 38 tuần so với O'Brien và Queenan), mức cao nhất là 5,9mm (lóc thai 40 tuần so với Collet và CS) [64].

CDXĐ ở người Châu Âu cao hơn người Việt Nam và Singapre 2,3 - 3,2mm ở tuổi thai 14 - 30 Cũng như ĐKLĐ, CDXĐ cũng mang tính đặc trưng cho từng dân tộc [7].

Chiều dài xương dài của các chi thể hiện đặc trưng riêng của từng dân tộc, mang lại giá trị khác nhau Các số đo chiều dài xương nằm trên đường bách phân 90 hoặc dưới đường bách phân 10 cần được theo dõi Tuy nhiên, tỷ lệ giữa các xương không thể hiện rõ đặc điểm của từng dân tộc.

1.3.2.10 Chiều dài xương cánh tay

X: chiều dài xương đùi (mm) Với sai sè < 400g chiếm 79% trường hợp.

X: chiều dài xương đùi (mm) Với sai sè: 300g chiếm 45% trường hợp.

X: chiều dài xương đùi (mm) r = 0,7616

Garrett và Robinson (1970) đã nghiên cứu việc đo các phân thai bằng siêu âm, điều chỉnh tốc độ truyền âm qua từng lớp tổ chức thai bằng hệ số u và hệ số trở kháng âm "r" Họ chỉ ra mối tương quan giữa thể tích thai và cân nặng thai với hệ số 0,9794, đồng thời cho biết độ chênh lệch trong chẩn đoán cân nặng thai là 106g.

Thể tích thai được tính theo công thức [69]

V: thể tích thai tính bằng cm 3

Theo tác giả Phan Trường Duyệt [4]

Y = 1,2009X - 107,94 với Y: thể tích thai (cm 3 ) theo công thức trên

1.3.2.12 Phương pháp kết hợp đo các phần thai bằng siêu âm để chẩn đoán trọng lượng thai trong tử cung:

Campogrande, Todros và Brizolar (1987) đã chỉ ra mối tương quan chặt chẽ giữa các trị số đo kết hợp các phần thai trong tử cung, bao gồm đường kính lưỡng đỉnh (ĐKLĐ), đường kính ngang (ĐKNN) và diện tích bề mặt thai (DTB), nhằm chẩn đoán trọng lượng thai thông qua hàm số tương quan.

Y = 19,11772X + 19,39136T + 0,4606W + 0,298392 - 1497,19 Trong đó: Y: trọng lượng thai (g)

X: ĐKLĐ (mm) T: ĐKNN (mm) W: DTB (cm 2 ) Sai lệch chẩn đoán:

Dưới 200g gặp trong 56% trường hợp.

Dưới 300g gặp trong 66% trường hợp.

Dưới 400g gặp trong 84% trường hợp.

Qua khảo sát 3234 siêu âm thai và lần lượt tính các phương trình hồi quy

1, 2, 3, 4 biến theo các số đo và cân nặng thai đã kết luận:

• Phương trình hồi quy 1 biến có 2 công thức tính chính xác nhất với 62,37% khảo sát cho sai sè < 100g là dựa vào DTB và DTĐ

• Phương trình hồi quy 2 biến với CDXCT và DTB có mối tương quan cao nhất.

X: CDXCT (mm) T: DTB (cm 2 ) Tiếp đến là phương trình hồi quy 2 biến của trọng lượng thai và DTB - DTĐ

Tác giả kết luận rằng việc sử dụng phương trình hồi quy 3,4 biến là phức tạp và không mang lại mối tương quan mạnh hơn so với phương trình hồi quy 2 biến Do đó, lựa chọn hợp lý nhất là sử dụng bộ 2 biến số có độ sai lệch thấp nhất để ước đoán trọng lượng thai.

1.3.2.13 Đo thể tích cánh tay và đùi thai bằng siêu âm 3 chiều

Thể tích các chi thai là chỉ số quan trọng phản ánh tình trạng dinh dưỡng và tốc độ phát triển của thai nhi trong tử cung Sự phát triển của siêu âm 3 chiều cho phép ước lượng thể tích ở những cấu trúc không đều như tạng thai và chi thai, mang lại độ chính xác cao hơn so với siêu âm 2 chiều, vốn chỉ sử dụng một mặt cắt và xem chi như hình ống đồng nhất.

* Thể tích cánh tay thai.

Chang và CS (2002) là những người tiên phong trong nghiên cứu tính thể tích cánh tay, áp dụng phương pháp đo nhiều lát cắt Phương pháp này sử dụng mặt phẳng để đo chiều dài xương cánh tay, với đầu dò di chuyển ở ba khoảng cách tại hai đầu và giữa xương.

Liang và CS (1997) đã nghiên cứu trên 105 thai kỳ bình thường và kết luận rằng việc ước lượng trọng lượng thai bằng cách đo thể tích cánh tay cho kết quả chính xác hơn, đồng thời giảm sai số so với phương pháp siêu âm 2 chiều.

Các phương pháp tính tuổi thai

1.3.3.1 Các phương pháp ngoài siêu âm

- Dựa vào ngày đầu của kỳ kinh cuối cùng: chỉ đến ở trường hợp phụ nữ mới có kinh đều, chu kỳ 28 - 30 ngày và nhờ đến ngày kinh cuối.

4 + 1 Độ chính xác không cao do có thể thai phụ quá béo thành bông quá dày và còn phụ thuộc người đo.

- Ngày thai máy đầu tiên: thường 16 - 18 tuần đối với người con rạ và

18 - 20 tuần đối với người con so, phụ thuộc cảm giác chủ quan của bố mẹ.

- Xquang dựa vào dấu hiệu cốt hoá trên hình chụp Xquang Điểm cốt hoá ở:

+ Đầu dùi xương đùi (Beclard) vào tuần 37.

+ Đầu trên xương chày (Todd) vào tuần 38.

Phương pháp này khi thực hiện do có nguy cơ gây nhiễu xạ cho mẹ và con, kỹ thuật khó khăn, tốn kém.

Chọc hút nước ối để đạt giá trị tương quan giữa các thành phần trong nước ối và tuổi thai Thường sử dụng:

+ Đếm tế bào da cam

Lecithin Sphingomyeli n + Định lượng estrogen, α fetoprotein Đa phần chỉ để chẩn đoán thai còn non tháng hay đủ tháng.

1.3.3.2 Các phương pháp xác định tuổi thai bằng siêu âm a Một số phương pháp như: đo kích thước tử cung, đo các xương đài như: xương chày, xương trụ, đo khoảng cách hai hốc mắt, quan sát hình ảnh ruột thai bằng siêu âm, độ trưởng thành của bánh nhau… do sai lệch chẩn đoán nhiều, chỉ ước lượng hoặc kỹ thuật khó và theo cảm tính nhiều nên ngày nay Ýt được áp dụng. b Phương pháp đo túi ối bằng siêu âm.

• Hellman 1970 [48] đo đường kính túi ối thai phụ có tuổi thai từ 6 -

20 tuần và lập hàm số tương quan:

Y = 0,702X - 2,543 với Y: tuổi thai (tuần) từ ngày đầu kỳ kinh cuối.

X: đường kính túi ối (mm) Sai số chuẩn SE = 0,64

Các phương pháp trên chỉ áp dụng ở tuổi thai < 6 tuần. c Phương pháp đo chiều dài đầu mông

• Robinson (1973) [75] đề xuất phương pháp đo chiều dài đầu mông ở tuổi thai > 6 tuần.

X: chiều dài đầu mông (mm) 2SD = ± 0,136X - 3,07

Chẩn đoán sai lệch ± 4,5 ngày.

X: chiều dài đầu mông Độ tin cậy 95%

X: CDĐM (mm) d Phương pháp đo chiều dài xương đùi

O'Brien GD và Queenran JT (1981) đã áp dụng phương pháp đo xương đùi thai để xác định tuổi thai với độ tin cậy đạt 95% và mối tương quan rất cao r = 0,998 Kết quả cho thấy sai lệch tối đa chỉ là 7 ngày.

Phương pháp đo xương đùi có độ sai lệch trong chẩn đoán như sau [5]

- Sai lệch < 5ngày ở thời điểm thai 28 - 35 tuần.

- Sai lệch 8 ngày ở thời điểm thai 15 tuần.

- Sai lệch 6 ngày ở thời điểm 40 tuần.

Nguyễn Đức Hinh (2000) [9] nghiên cứu ở thai > 30 tuần chẩn đoán tuổi thai dựa vào CDXĐ có sai sè ± 11 ngày khoảng tin cậy 80%. e Phương pháp đo ĐKLĐ

• Campbell S (1968) [29] đã nêu phương pháp đo ĐKLĐ bằng siêu âm chẩn đoán tuổi thai có độ chính xác cao, sai lệch chẩn đoán ± 9 ngày gặp trong 95% trường hợp.

Tốc độ phát triển ĐKLĐ giai đoạn này nhanh 3,5 - 4mm/tuần.

• Thai sau 31 tuần: ĐKLĐ giảm dần

X - 10 Tốc độ phát triển ĐKLĐ giai đoạn này 2 - 3 mm/tuần

Tốc độ phát triển ĐKLĐ giai đoạn này 1,8 - 0,3mm.

Hình 1.3 So sánh sự phát triển ĐKLĐ thai trong tử cung áp dụng tại bệnh viện Phụ sản Trung ương và các bệnh viện Châu Âu [5]

Biểu đồ phát triển của ĐKLĐ thai ở Anh (sử dụng tại bệnh viện Hammersmith

Biểu đồ phát triển của ĐKLĐ thai ở Đức (sử dụng tại trường đại học Charite (Đức)

Biểu đồ phát triển của ĐKLĐ thai ở Hà Lan (sử dụng tại trường Đại học Erasmus, Rotterdam (Hà Lan)

Biểu đồ phát triển ĐKLĐ thai (trị số trung bình ± 1SD) hiện nay đang sử dụng tại Hà Nội

Tốc độ phát triển của dị tật bẩm sinh ở thai nhi tại Việt Nam tương tự như ở Châu Âu, tuy nhiên kích thước tương ứng với tuổi thai lại có sự khác biệt lớn Vì vậy, không thể áp dụng biểu đồ phát triển của thai nhi Châu Âu cho người Việt Nam.

Bảng 1.1 So sánh giá trị đường kính lưỡng đỉnh trong nghiên cứu của tác giả Phan Trường Duyệt và Nguyễn Đức Hinh (sau 11 năm) [4], [5]

Tuổi thai Giá trị trung bình

Chênh lệch Một độ lệch chuẩn

(Chú thích: 1 = Số liệu của tác giả Nguyễn Đức Hinh.

2 = Số liệu của tác giả Phan Trường Duyệt).

Sự chênh lệch ĐKLĐ ở thai nhi cho thấy rằng, ít nhất là 0,4mm ở tuần 32 và 36, trong khi mức chênh lệch cao nhất là 1,6mm ở tuần 33 Điều này cho thấy sau 11 năm, ĐKLĐ của thai nhi đã tăng lên, phù hợp với sự thay đổi trọng lượng của trẻ sơ sinh tại Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu cho thấy 95% KTC nằm trong khoảng từ 1,48 đến 1,69, trong khi ĐKLĐ để chẩn đoán tuổi thai có sai số ± 14 ngày với KTC đạt 80% Tác giả cũng chỉ ra rằng phương pháp xác định tuổi thai dựa trên CDXĐ có độ chính xác cao hơn so với ĐKLĐ khi thai lớn hơn 30 tuần, phù hợp với các nghiên cứu của O'Brien, Queenan và các tác giả khác.

* Hohler và Quetel (1981) [9] nghiên cứu trên người Mỹ

CDX§ : ở thai 23 - 40 tuần có tỉ lệ 79% ± 8% (KTC 90%) và phương trình mối tương quan là Y = 0,2X + 73 với Y: tuổi thai

CDX§ ở thai > 30 tuần có tỉ lệ 75,4% ± 3,52% (KTC 95)

Và phương trình của mối tương quan Y = 0,51X + 56,84; r = 0,93

Cho thấy mối tương quan giữa tỉ lệ

KL§ §CDX§ với tuổi thai là mối tương quan tuyến tính. Điểm giống nhau của 2 nghiên cứu này là tỉ lệ

CDX§ tăng dần theo tuổi thai và CDXĐ tăng nhanh hơn ĐKLĐ.

Kiểm định kết quả

Kiểm định sự phù hợp giữa các nhà lâm sàng hoặc giữa các lần thực hiện phép đo khác nhau của một người đo dựa vào hệ số Kappa [68], [11].

Hệ số Kappa là một chỉ số đo lường mức độ phù hợp trong chẩn đoán giữa hai nhà lâm sàng khác nhau hoặc giữa hai lần chẩn đoán của cùng một nhà lâm sàng Giá trị Kappa càng cao cho thấy mức độ đồng thuận càng lớn, ngược lại, giá trị thấp cho thấy sự không phù hợp Thông tin chi tiết về cách tính hệ số Kappa có thể được tham khảo trong phụ lục 2.

Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại khoa chẩn đoán hình ảnh, khoa sinh củaBệnh viện Phụ sản Trung ương và Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Long.

Các đặc điểm về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Phân bố tuổi thai phô

Tuổi mẹ Số người Tỷ lệ %

Bảng 3.2 Nghề nghiệp của thai phô

Nghề nghiệp Số người Tỷ lệ %

Bảng 3.3 Nơi ở của thai phô

Nơi ở Số người Tỷ lệ %

Lần mang thai Số người Tỷ lệ %

Giới tính Số trẻ Tỷ lệ %

Bảng 3.6 Thời gian thực hiện từng thao tác đo

Chỉ số đo Thời gian ĐKLĐ ĐKCT

Bảng 3.7 Hàm số tương quan giữa một số đo và cân nặng thai

Phân loại theo tuổi thai Số lượng Tỷ lệ %

Phân loại theo cân nặng

Kết quả nghiên cứu phần chẩn đoán cân nặng thai

Hàm số tương quan giữa mét số đo và cân nặng thai

Các hàm số tương quan bậc

Hệ số tương quan tương ứng với các hàm số ĐKLĐ ĐKCT

Hàm số tương quan giữa số đo kết hợp (≥ 2 số đo) và cân nặng thai

Các hàm số tương quan bậc 1, 2, 3, log

Hệ số tương quan tương ứng với các hàm số ĐKLĐ + CDXĐ ĐKLĐ + CDXĐ + CDXCT

Bảng giá trị về mối tương quan giữa các số đo phần

Cân nặng Số đo phần thai

Kết quả nghiên cứu phần chẩn đoán tuổi thai trong tử cung

Hàm số tương quan giữa 1 số đo thai và tuổi thai.48 3.3.2 Hàm số tương quan giữa số đo kết hợp (≥ 2 số đo) với tuổi thai

Các hàm số tương quan bậc 1, 2, 3, log

Hệ số tương quan tương ứng với các hàm số ĐKLĐ ĐKCT

3.3.2 Hàm số tương quan giữa số đo kết hợp (≥ 2 số đo) với tuổi thai

Các hàm số tương quan bậc 1, 2, 3, log

Hệ số tương quan tương ứng với các hàm số ĐKLĐ + CDXĐ ĐKLĐ + CDXĐ + CDXCT

3.3.3 Bảng giá trị về mối tương quan giữa các số đo phần thai và tuổi thai theo đường bách phân 5 - 10 - 50 - 90 - 95.

Tuổi thai Số đo phần thai

Chọn lọc phương pháp siêu âm có hàm số tương quan tương ứng với hệ số tương quan cao nhất

Đối với cân nặng

Phương pháp Các hàm số tương quan

Hàm số bậc 1Hàm số bậc 2Hàm số bậc 3Hàm sè log

Đối với tuổi thai

Phương pháp Các hàm số tương quan

Hàm số bậc 1Hàm số bậc 2Hàm số bậc 3Hàm sè log

Kiểm định độ tin cậy của phương pháp được chọn lọc 51 1 Cân nặng tính theo phương pháp được chọn lọc và cân nặng thực tế

Phân theo tính theo phương pháp được chọn lọc và tuổi thai thực tế

Bảng giá trị số đo (được chọn lọc) và biểu đồ tương

Phân bè theo đường bách phân vị 5 - 10 - 50 - 90 -

Cân nặng Số đo phần thai

Phân bố theo đường bách phân vị 5 - 10 - 50 - 90 -

Tuổi thai Số đo phần thai

Biểu đồ tương quan giữa số đo thai (được chọn lọc) và tuổi thai

4.1 Bàn luận về đối tượng nghiên cứu

4.2 Bàn luận về phương thức tiến hành nghiên cứu

4.3 Bàn luận về phương tiện nghiên cứu

4.4 Bàn luận về giá trị các số đo

4.5 Bàn luận về các mối liên quan các số đo và tuổi thai, trọng lượng thai.4.6 Bàn luận về chọn kết quả.

Do ảnh hưởng của đặc trưng dân tộc và thời điểm, trọng lượng thai có sự khác biệt trong các số đo Trong suốt 24 tháng, nghiên cứu đã thực hiện ước lượng trọng lượng thai thông qua các số đo siêu âm 2D và 3D, mang lại những kết quả đáng chú ý.

Kế hoạch tiến hành và nơi tiến hành đề tài

1 Dự kiến tích luý kiến thức và tổng quan tài liệu

Tìm đọc, tích luỹ kiến thức và tài liệu liên quan đến đề tài trong toàn bộ quá trình thực hiện đề tài từ 2008 - 2011.

2 Dự kiến các bước thực hiện đề tài

- Từ 01/2009 - 01/2011 thu thập số liệu

- Từ 01/2011 hoàn chỉnh, thu thập số liệu, xử lý số liệu và viết luận án.

3 Dự kiến số lượng bài báo công bố: 3 bài

4 Nơi thực hiện đề tài:

- Khoa sinh và khoa siêu âm Bệnh viện Phụ sản Trung ương và Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Long.

- Bộ môn Sản Phụ khoa - Trường Đại học Y Hà Nội

Tìm soạn thảo in Ên tài liệu hồ sơ: 5.000.000đ

- Từ tiền đề tài nghiên cứu cơ sở

- Tiền của nghiên cứu sinh.

Những điểm mới dự kiến được chứng minh sau nghiên cứu

1 Xác định được quy luật phát triển của các phần thai được nghiên cứu dựa vào phương pháp tính khoa học đáng tin cậy như:

- Tính nhiều hàm số tương quan (bậc 1, bậc 2, bậc 3, log) để chọn lọc một hàm số tương quan thích hợp nhất (có hệ số tương quan r cao nhất).

- Xác định được sự phân bố chuẩn làm cơ sở tính được các giá trị 5, 10,

2 Xác định được biểu đồ ước đoán tuổi thai, cân nặng thai theo hàm số tương quan cao nhất Biểu đồ được làm tươi theo phương pháp hàm số, không theo phương pháp bằng tay cổ điển

3 Xác định được tính đặc trưng về dân tộc và thời điểm của các số đo thai.

1 Nguyễn Quang Anh (2000), Biểu hiện bên ngoài của trẻ sơ sinh đủ tháng, khoẻ mạnh, Bài giảng nhi khoa tập I - Bộ môn Nhi trường Đại học

Y khoa Hà Nội, NXB Y học, tr 122 - 123.

2 Trần Danh Cường (2005), Thực hành siêu âm ba chiều trong sản khoa,

Nhà xuất bản Y học Hà Nội, tr 21 - 25.

3 Nguyễn Cảnh Chương (1999), Nghiên cứu một số chỉ số hình thái ở sơ sinh đủ tháng Việt Nam, Tạp chí thông tin y dược, tháng 12 - 1999, tr 125.

4 Phan Trường Duyệt (1985), Ứng dụng siêu âm để chẩn đoán tuổi thai và cân nặng thai trong tử cung, Luận án Phó tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội.

5 Phan Trường Duyệt (1995), Kỹ thuật siêu âm và ứng dụng trong sản phụ khoa, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật.

6 Phan Trường Duyệt (2003), Nghiên cứu một số phương pháp siêu âm để chẩn đoán cân nặng thai trong tử cung, Y học thực hành 1 - 2003, tr,

7 Phan Trường Duyệt (2003), Nghiên cứu một số chỉ số đo thai bình thường từ 14 đến 30 tuần bằng siêu âm để ứng dụng chẩn đoán trước sinh, Đề tài cấp bộ.

8 Đại học kinh tế kế hoạch (1982), Những khái niệm cơ bản của lý thuyết xác xuất và thống kê toán, Nhà xuất bản đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội. trên 30 tuần, Luận văn tốt nghiệp chuyên khoa cấp II, Đại học Y Hà Nội.

10 Bùi Thái Hương (1983), Ước lượng trọng lượng thai nhi trong lúc chuyển đẻ, Tiểu luận tốt nghiệp sơ bộ chuyên khoa sản, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.

11 Nguyễn Thị Thúy Hương, Phan Quang Hiếu (1988), Toán đồ ước lượng trọng lượng thai nhi trong chuyển dạ ngôi chỏm, Báo cáo khoa học Đại Học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.

12 Nguyễn Thị Ngọc Khanh (1999), Góp phần tìm hiểu một số đặc điểm hình thái của phụ nữ có thai và trẻ sơ sinh, Tạp chí thông tin Y Dược, tháng 12, tr 76 - 77.

13 Đỗ Kính (1988), Phôi thai học người, Bộ môn mô học, phôi thai học,

Trường Đại học Y Hà Nội, Nhà xuất bản y học.

14 Mai Ngọc Lan (2002), Nghiên cứu một số chỉ số nhân trắc học của các bà mẹ có thai đủ tháng bình thường và sơ sinh bình thường, Luận văn bác sỹ chuyên khoa cấp II, Đại học Y Hà Nội.

15 Đinh Thị Hiền Lê (2000), Nghiên cứu phương pháp đo chiều dài đầu mông bằng siêu âm để chẩn đoán tuổi thai trong 3 tháng đầu, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội.

16 Nguyễn Thị Huỳnh Mai (1995), Sai biệt giữa ước lượng trọng lượng thai và trọng lượng sơ sinh trong ngôi mông, Tiểu luận tốt nghiệp chuyên khoa cấp I, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.

Dược thành phố Hồ Chí Minh.

18 Phan Văn Quý (1995), Dự đoán cân nặng thai nhi trong chuyển dạ qua các số đo của bà mẹ, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Hà Nội, tr 15 - 20.

19 Dương Đình Thiện (2004), Dịch tễ học lâm sàng, Trường Đại học Y Hà

20 Dương Đình Trọng (1998), Phôi thai học người, Bộ môn mô phôi Học viện Quân Y, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.

21 Nguyễn Văn Tuấn (2004), Chiều cao của người Việt, http.//www ykhoanet.com/congtacvien/nguyenvantuan/nvt-chieucaonguoiviet htm.

22 Anderson CE (1987), Estimation of birth weight by mean of ultrasound, Am J obst Gyme, N 0 432, p 64 - 83.

23 Arthur C, Fleischer K, Alan N (1982), Ultrasonic measurement of fetal femur denght in the estimation of fetal weight, Brit J obst Gyme, N 0 89,

24 Bassino JP (2006), Physical stature income and health, Econo Hum

25 Birnholz JX (1983), Determination of fetal sex, N Engl J Med, N 0 191, p 309 - 392.

26 Campbell S (1974), Clinics in perinatology, The pregnancy at risk, A.

Plilunsky WB Sauder and Co Ltd Philadelphia 1974, p 507.

28 Campbell S, Wilskins D (1975), Ultrasonic measurement of fetal abdomen circumference in the estimation of fetal weight, Brit J obst

29 Camprogrande M, Todros T, Brizolar M (1987), Predition of birth weight by ultrasound, Measurement of the fetus, Brit J obst Gyne, N 0 94, p 84 - 175.

30 Chang CH, YuCH, Chang FM, KoHC, Chen HY (2002), Assessment of normal fetal upper arm volume by three - dimensional ultrasound,

31 Chang CH, Yu CH, Chang FM, KoHC, Chen HY (2003), Three dimensional ultrasound in the assessment of normal fetal thigh volume,

32 Davis RO, Cutter GR, Goldenberg RL, Hoffman HJ, Cliver SP, Brumfield CG (1993), Fetal biparietal diameter, head circunference, abdominal circumference and femur length, Acomparison by race, Mar;

33 Donald I (1974), The study of an experiment Ultrasound, Med Biol

34 Drum JE (1976), Mackimize G The Utrasonic measnrement of fetal crown rump length as a method of assessing gestational age, Brit J.

35 Emily Oken, Ken P Kleirman, Janet Rich - Edwards and Matthew WGillman (2003), A nearly continuous measure of birth weight for

36 Facog D (1988), Estimation of birthweight by use of ultrasonography,

37 Favre R, Bader AM, Nisand G (1995), Prospectine study on fetal weght estimation using limb circumferences obtained by three - dimensional ultrasound, Ultrasound Obstet Gynecol, Aug, 6(2), p 140 - 144.

38 Fong - ming chang, MD, Reng - ing Liang, MD, Hwei - Chen KO, PhD, Bor - lin Yao, MD, Chiung - Hsin Chang, MD, and Chen - Hsiang Yu, MD (1997), Three Dimensional Ultrasound - Asseessed

Fetal thigh volumetry in predicting birth weight, Obste Gymecol, 90, p.

39 Garrett W.J, Robinson D.E (1970), Ultrasound in clinical obstetric,

40 Gill H (1985), Ultrasonic measurement of fetal head area in the estimation of fetal weight, J ultrasound Medicone, N 0 2, p 72 - 79.

41 Greenhill GP (1965), Diagnosis of pregnancy obstetrics, Philadelphia

42 Hadlock FP, Deter RL, Harrish RB et al (1982), Fetal biparietal diameter, a critical revaluation relationship to menstrual age by means of the realtime ultrasound, J ultrasound Med, N 0 2, p 97 - 104,

43 Hadlock FP, Deter RL (1982), Estimation of fetal growth for gestational age standard, AJR, p 138 - 649. addition to head and abdomen measurements, 150, p 535 - 540.

45 Hadlock FP, Harrist RB, Sharman RS et al (1985), Estimating fetal weight with the use of head and femur measurements, a prospetive study,

46 Hebbar shripad, Varalakshmin N (2007), Role of Fetal thing circumference in estimation of birth weight by ultrasound, The Journal of Obstetrics and

Gynecology of India, Vol 57, N 0 4, July/August, p 316 - 319.

47 Hellman LM, Kobayashi M, Fillisto L, Grow and development of the human fetus prior to the twentieth week of gestation, Amer T Gyrecol

48 Hellman LM, Duffus GM, Donald (1970), Safety of sonar in obstetrics, Lancet, 1, p 1158 - 1160.

49 Hirata GI (1990), Ultrasonographic estimation of fetal weight in the clinically macrosomic fetus, Am J obst Gyne, N 0 764, p 238.

50 Horace E Thompson Facog, Edgar L, Makowshi (1971), Estimation of birth weight and gestational age, Obst, Gynecol, p 37 - 48.

51 Jamura RK (1986), Ultrasonic fetal abdominal circumference,

Comparisan of direct versus calculated measurement, Obstetric and

52 Jeanty P, Romero R, Hobbin JC, Fetal limb volume: A new para meter to assess fetal growth and nutrition, J ultrasound Med 1985, 4, p 273 - 282.

53 Jeanty P (1986), Estimation of birth weight by mean of ultrasound, J ultrasound Med, N 0 3, p 44 - 62.

55 Kohorn EI (1987), Fetal weight estimation formular with biparietal diameter, A J Obst Gyne N 0 463, p 553 - 559.

56 Lee W, Deter RL, Ebersole JD, Huang R, Blanc Kaert K, Romero R

(2001), Birth weight prediction by three dimensional Ultrasonography frac tional limb volume, J ultrasound Med, 20, p 1283 - 1292.

57 Levi S, Erbsman F, Estimation of birth weight mean of ultrasound,

Ultrasonic study of head and chest dimensions, Am J Obst Gyne N 0 57,

58 Liang RI, Chang FM, Yao BL, Chang CH, Yu CH, Ko HC (1997),

Predicting birth weight by fetal upper arm volume with the use of three - dimensional ultrasonography, Am J obste Gymecol, 177, p 632 - 638.

59 Lubchenco LO, Hansman C (1983), Intrauterine growth as estimated from live born birth weight data at 24 to 42 weeks of gestation, The hight risk infant, Philadelphia Sauder, p 32 - 79.

60 Luchenco lula O (1976), The high risk infant, Edit wb Saunders

Company Philadelphia :ondon Toronto, Vol XIII, p 11.

61 M Riccabona, TR Nelson, DH, Pretorius and TE Davidson (1995),

Journal of Ultrasound in Medicine, Vol 14 Ussue 12881 - 12886

Copyright 1995 by American Institute of Ultrasound in Medicine.

62 Marvin C, Ziskin K, Linstrom PA (1991), Ultrasonic measurement of fetal femur length and humerus bone length in the estimation of fetal weight, Appleton lange, California, 4 th edition, p 9 - 14. weigth, J Ultrasound Med 21, p 495 - 500.

64 O'Brien GD Queenan JT, Campbells (1981), Amessent of gastational age in the second trimester by real time ultrasound measuerement of the femur length, Ame J Obst gynecol, p 139, 540.

65 Ong HC, Sen DK, Clinical estimation of fetal weight, Am J Obst Gyne,

66 P Bundred, D Manning, B Brewster, I Buchen (2003), Social trends in singleton births and birthweight in wirral residents, Archives of Disease in Childhood fetal and Neonatal Edition, 88, p 421.

67 Pearce JM (1988), Estimation of birth weight mean of ultrasound, J

68 Peter RL, Harrist RB, Hadlock FP, Carpenter RJ (1981), The user of ultrasound in the assessment of normal fetal grouth: a review, J Clin

69 Phan Truong Duyet, Wladiminoff JW (1979), Estimation of birth weight by mean of ultrasonic implemented at Eramus University Rotterdam the Netherland

70 Potter EL (1982), Ultrasonic study of head area in the estimation of fetal weight, J ultrasound Medicine N 0 1, p 14 - 71.

71 Queenan J T., Obrien GD, Campbell S (1980), Ultrasound measurement of fetal limb bones, Am J obste, Gynecol 1938, p 297 - 301.

73 Reece EA, Copel J (1992), Basic principles of ultrasonography,

Medicine of the fetus and mother, JB Lippicott Company Philadelphia, p 489 - 522.

74 Rober W (1984), Utrasonic measurement of fetal abdominal, head area in the estimation of fetal weight, J Ultrasound Medicine, N 0 1, p 64 - 78.

75 Robisson HP (1975), Gestational sac volume as determired by sonar in the first trimester of pregnancy, Brit J Obs gynecol 1975, 82: 702 - 710.

76 Schaub B, Bru - Gueneret M, Sainte - Rose (1994), Courches e'chographique de croissance foetal aux Antilles Apropos de 2930 mesures portant sur 889 foetus, J Gyne' col obste't Biol, Preprod, 23, p.

77 Schild RL, Finmers R, Hansmann M (2002), Can 3D volumetric analysis of the fetal upper arm and thigh improve convetional 2D weight estimates ? Pub Med.

78 Smyth MG (1973), Toxicology studies of low intensity in race and mice, Institute of ultrasonics in medicine, In levi S, diagno, ultr in gynecol, p 44.

79 Solonger R (1990), Ultrasonic study of head area and abdominal circumference dimention, J Ultrasound Medicne, N 0 7, p 100 - 109.

80 Song TB, Moore TR, Lee JI, Kim YH, Kim EK, Fetal weight prediction by thigh volume measurement with three - dimensional ultrasonography PMID: 10908755.

82 Suden B (1996), The diagnostic value ultrasound, in mice, p 4.

83 Titapant V, Siwadune T, Boriboonhirunsarn D, Sunsanee Vithayakul

(2000), Charts of Thai fetal biometries femur length, J Med - Assici

84 Vallace D, Beg neaud JR (1969), Amniotic fluid creatice for prediction of fetal maturity, Obste Gyne, 34, p 7 - 13.

85 Weslye Le, MD, Russell L, Deter MD, John D(2001), Birth weigth prediction by three dimensional ultrasonography, J ultrasound Med 20, p 1283 - 1292.

86 Wladimir of JW, Blommsma GA, Wellenberg, HCS (1977),

Ultrasonic assessement of fetal growth, Acta Obst, Gyne, 56, p 37 - 42.

87 Willocks (1964), Fetal cephalometry by ultrasound, J Obste - Gyne, Brit, 71, p 11 - 26.

88 Zillanti N (1985), Fetal weight estimation formulas with head, abdominal area measurement, Am J obst, Gyne, N 0 351, p 192 - 320.

SỬ DÔNG TRONG NGHIÊN CỨU

I Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng các số đo sau

1 Đường kính lưỡng đỉnh (ĐKLĐ)

2 Đường kính chẩm trán (ĐKCT)

3 Chu vi vùng đầu (CVVĐ)

6 Đường kính ngang bụng (ĐKNB)

7 Đường kính trước sau bụng (ĐKTSB)

8 Đường kính trung bình bụng (ĐKTBB)

10 Chu vi vòng bụng (CVVB)

11 Chiều dài xương cánh tay

12 Chiều dài xương đùi ( CDXĐ)

14 Thể tích cánh tay (TTCT)

II Đơn vị đo lường trong nghiên cứu

- Đường kính, chiều dài: đơn vị milimet (mm)

- Chu vi: đơn vị centimet (cm)

III Các phương pháp đo

III.1 Đường kính lưỡng đỉnh Đưa đầu dò từ vùng đầu thai, mặt phẳng đầu dò cắt ngang vuông góc với mặt phẳng tiếp tuyến với 2 bướu đỉnh theo hướng trán chẩm.

Yêu cầu hình cắt ngang nhận ra được các thành phần:

- Bờ của não thất ba

- Liềm não, một phần của liềm não trước và sau

Số đo được thực hiện từ bờ ngoài của xương (phần gần) đến bờ trong của xương (phần xa) theo nghiên cứu của Campbell, Hadlock và Jeanty Đường nối giữa hai điểm này cần phải vuông góc với đường âm vang.

Mạch mạc XLiềm não Đồi thị góc với ĐKLĐ và đi qua trung điểm của đường này

Số đo: từ bờ ngoài xương đến bờ ngoài xương đầu bên kia [41], [42].

Nếu đầu thai có dạng ellip

• Áp dụng công thức (1) khi:

Hướng đầu dò siêu âm theo trục dọc của thân thai nhi, sau đó điều chỉnh để có góc vuông với hướng nằm và qua van tim, sẽ cho phép chúng ta có được mặt cắt qua ngực thai Từ đó, có thể đo chu vi ngực cùng với góc và cột sống của thai qua tĩnh mạch rốn.

Mặt cắt phải thấy được

- Nơi tĩnh mạch rốn nối với tĩnh mạch cửa ở phía trước.

- Cột sống phía sau. ĐKNB được đo từ 2 bờ ngoài của thành bụng [41], [42].

- Đo trên mặt cắt ngang bụng chuẩn

- Là khoảng cách giữa 2 điểm bờ ngoài thành bụng nằm trên đường thẳng vuông góc với đường kính ngang bụng tại trung điểm của đường này.

Nhánh trái tĩnh mạch cửa

Nhánh trái tĩnh mạch cửa

- Đầu dò đặt song song trục xương cánh tay, cho hình ảnh mật độ xương đều.

- Đo dọc chiều dài xương cánh tay trừ 2 đầu sụn.

- Đầu dò đặt song song trục xương đùi sao cho xương đùi nằm ngang trên màn ảnh.

Ngày đăng: 02/05/2021, 09:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w