Nghiên cứu đặc tính giao thông thành phố Hồ Chí Minh trong giờ cao điểm Nghiên cứu đặc tính giao thông thành phố Hồ Chí Minh trong giờ cao điểm Nghiên cứu đặc tính giao thông thành phố Hồ Chí Minh trong giờ cao điểm luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
NGHIÊN C ỨU ĐẶC TÍNH GIAO THÔNG
THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH TRONG GIỜ CAO ĐIỂM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của
TS Đàm Hoàng Phúc Đề tài được thực hiện tại bộ môn Ô tô và Xe chuyên dụng,
Viện cơ khí động lực, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Học viên
Huỳnh Duy Phương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tư cách là tác giả của bản luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
đến TS Đàm Hoàng Phúc, thầy đã hướng dẫn tôi hết sức tận tình và chu đáo về
chuyên môn để tôi hoàn thành luận văn này
Đồng thời cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô và các bạn đồng nghiệp
đã giúp đỡ, tạo điều kiện về cơ sở vật chất trong suốt thời gian tôi học tập và làm
Trang 4MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA 1
LỜI CAM ĐOAN 2
LỜI CẢM ƠN 3
MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG 7
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ 8
LỜI NÓI ĐẦU 9
CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 10
CHƯƠNG II: BỘ THU THẬP DỮ LIỆU 14
I Các số liệu cần thu thập 14
II Phương án thu thập số liệu 14
2.1 Lượng tiêu thụ nhiên liệu 14
2.2 Vận tốc xe 16
2.3 Độ mở bướm ga 17
2.4 Vị trí tay số và tín hiệu phanh 18
2.5 Số vòng quay động cơ 18
CHƯƠNG III: QUY HOẠCH THÍ NGHIỆM 19
I Hệ thống giao thông thành phố Hồ Chí Minh 19
1.1 Khu vực 1: 21
1.2 Khu vực 2: 22
1.3 Khu vực 3: 23
II Lựa chọn cung đường thí nghiệm 24
III Xây dựng kịch bản thí nghiệm 27
3.1 Chuẩn bị xe thí nghiệm 27
3.3 Gá lắp thiết bị lên xe 29
3.4 Tiến hành thí nghiệm 29
CHƯƠNG IV: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM 33
Trang 5I Đánh giá chế độ hoạt động của động cơ 38
II Đánh giá chế độ vận hành của xe 39 2.1 Đánh giá vận tốc trung bình của xe 39 2.2 Đánh giá quan hệ phương sai gia tốc của xe và lượng tiêu thụ nhiên liệu 40 III Đánh giá quan hệ năng lượng của xe khi vận hành và lượng tiêu thụ nhiên liệu 42 3.1 Đánh giá quan hệ tỷ lệ thời gian xe giảm tốc và tính kinh tế nhiên liệu 43 3.2 Đánh giá quan hệ tỷ lệ thời gian xe tăng tốc ở mức trung bình và tính kinh tế nhiên liệu 44 3.3 Đánh giá quan hệ tỷ lệ thời gian xe tăng tốc ở mức cao và tính kinh tế nhiên liệu 45 KẾT LUẬN 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
T tn Thởi gian thực hiện trong từng thí nghiệm 34
va Tích số (va) đại diện cho năng lượng chuyển động của xe,
thực chất là công suất riêng của xe theo khối lượng 33
FC Suất tiêu hao nhiên liệu lit/100km (Fuel Consumption) 15
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
Hình 3.5 Đường Điện Biên Phủ - Hai Bà Trưng – Võ Thị Sáu – Đinh
Hình 4.2 Biểu đồ thí nghiệm trong giờ bình thường 37
Hình 4.2.2 Đồ thị quan hệ phương sai gia tốc và suất tiêu hao nhiên liệu 41 Hình 4.3.1 Đồ thị quan hệ năng lượng giảm tốc và suất tiêu hao nhiên liệu 43 Hình 4.3.2 Đồ thị quan hệ năng lượng tăng tốc và suất tiêu hao nhiên liệu 44 Hình 4.3.3 Đồ thị quan hệ năng lượng tăng tốc mức cao và suất tiêu hao
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
Khi chất lượng cuộc sống dần được nâng cao thì số lượng phương tiện giao thông cá nhân ngày càng nhiều Ở một nước đang phát triển như Việt Nam, con số này không ngừng gia tăng mỗi năm, đặc biệt là đối với xe máy Do đó, tình trạng phát thải độc hại gây ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng Trong khi hệ thống luật pháp của Nhà nước về những tiêu chuẩn khí thải đối với các phương tiện giao thông đang lưu hành, đặc biệt là với xe máy còn chưa phát huy hết
hiệu lực, thì một thực trạng vẫn đang tiếp diễn là lượng khí thải độc hại phát tán ra môi trường của các phương tiện giao thông ngày càng gia tăng không ngừng Thêm vào đó, với điều kiện hạ tầng giao thông còn nhiều hạn chế, tốc độ lưu thông chậm
và hay xảy ra ùn tắc khiến cho các yếu tố vận hành của xe máy có nhiều thay đổi so
với bình thường Chính những sự thay đổi này đã tác động tiêu cực đến tính kinh tế nhiên liệu và làm tăng sự phát thải của xe Trước nhu cầu thực tế trên, đề tài đã
được chọn nghiên cứu là “Nghiên cứu đặc tính giao thông thành phố Hồ Chí Minh
trong Bộ môn ô tô và xe chuyên dụng, Viện Cơ khí động lực, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, đề tài đã được hoàn thành các mục tiêu và nhiệm vụ đề ra
Mặc dù hết sức cố gắng nhưng do kiến thức và thời gian có hạn nên luận văn khó tránh khỏi một vài sai sót, em mong nhận được sự chỉ bảo thêm của các thầy
Trang 10CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Xe máy hiện nay là một loại phương tiện di chuyển cá nhân rất phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt là ở Việt Nam Bên cạnh đó, giao thông ở Việt Nam có những đặc thù riêng: trong vòng 5 năm trở lại đây, số lượng xe mô tô, xe
gắn máy đã tăng rất nhanh với tốc độ trên 10%/năm Hệ quả tất yếu của việc gia tăng số lượng phương tiện di chuyển cá nhân quá nhanh đó là tình trạng phát thải độc hại ra môi trường
Tại Thụy Sỹ, những thí nghiệm so sánh hệ số phát thải của xe môtô gắn máy không lắp thiết bị xử lý khí thải với ô tô con đạt tiêu chuẩn Euro 3 đã cho thấy: phát
thải trung bình trên một quãng đường đi (g/km) của xe mô tô, xe gắn máy cao hơn ô
tô gấp 8 hoặc 18 hoặc 39 lần đối với CO, 23 hoặc 74 hoặc 222 lần đối với HC; 1,7
hoặc 4 hoặc 7,8 lần đối với NOx tùy theo điều kiện giao thông là trên đường trong
đô thị hoặc đường đồng bằng hoặc đường cao tốc [1],[2]
Theo kết quả nghiên cứu của Tổng cục Môi Trường Việt Nam: hệ số phát
thải CO, HC của xe môtô ở nước ta gấp 6,4 lần xe ôtô hạng nhẹ Việt Nam hiện nay
là nước có lượng xe mô tô, xe gắn máy đang lưu hành chỉ đứng thứ 3 thế giới sau hai quốc gia đông dân nhất là Trung Quốc và Ấn Độ Phần lớn các xe đang lưu thông đều sử dụng hệ thống chế hòa khí không có điều khiển như các xe sử dụng hệ
thống phun xăng điện tử hiện đại FI
Ngoài ra, còn phải kể đến điều kiện hạ tầng giao thông nước ta hiện nay còn
rất yếu kém và tồn tại nhiều vấn đề khó khăn Là một trong số các trung tâm kinh tế
lớn nhất cả nước, vì vậy hệ thống giao thông thành phố Hồ Chí Minh có những đặc điểm chung của giao thông đô thị Việt Nam
Hiện nay, do nhu cầu công ăn việc làm tại Hồ Chí Minh nên lượng phương
tiện giao thông đổ về thành phố ngày càng tăng Một thành phố với mạng lưới đường xá chằng chịt, tiết diện lưu thông nhỏ hẹp, lượng phương tiện đông đúc và
chủ yếu là xe máy, thêm vào đó là ý thức người tham gia giao thông vẫn còn chưa
tốt Những yếu tố này khiến cho mật độ giao thông luôn ở mức cao, và thường
Trang 11xuyên xảy ra ùn tắc, đặc biệt là trong những giờ cao điểm Đây cũng chính là nguyên nhân ảnh hưởng đến các chế độ vận hành của động cơ, gây ra các tác động tiêu cực đến tình trạng kỹ thuật, làm giảm tính kinh tế nhiên liệu, đồng thời gia tăng
sự phát thải độc hại của xe máy
Trong khi việc phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vẫn còn là một bài toán nan giải, với mục tiêu là một chiếc xe hoạt động tốt hơn, “xanh” hơn, và tiết kiệm hơn, đòi hỏi các nhà sản xuất cần có những thay đổi trong thiết kế, đồng thời người
sử dụng phải biết cách vận hành để chiếc xe phù hợp hơn với các điều kiện giao thông hiện nay Để làm được việc này thì cả nhà thiết kế và người sử dụng cần biết được quy luật thay đổi của các thông số vận hành của xe trong những điều kiện này
Để phục vụ mục đích này, một số đề tài nghiên cứu về đặc tính giao thông tại đô thị
lớn ở Việt nam đã được tiến hành tại Bộ môn Ô tô và Xe chuyên dụng, Trường Đại
học Bách khoa Hà Nội [3],[4],[5] Sử dụng phương pháp nghiên cứu trên, đề tài
tiến hành thực nghiệm để thu thập dữ liệu, phân tích các thông số này, so sánh chúng với nhau để rút ra các quy luật thay đổi đặc thù của hệ thống giao thông thành phố Hồ Chí Minh Sơ đồ phương pháp nghiên cứu được thể hiện trong hình 1.1
Trang 12Cách đánh giá chế độ vận hành của xe và rút ra quy luật được thực hiện dựa trên việc phân tích một số thông tin vận hành Đánh giá chế độ hoạt động của động
cơ thông qua tốc độ động cơ Đánh giá chế độ vận hành của xe thông qua các thông
số vận tốc và gia tốc của xe Đánh giá năng lượng vận hành của xe và tính kinh tế nhiên liệu thông qua tích số vận tốc và gia tốc (v.a) và lượng tiêu thụ nhiên liệu
Ngoài ra, cần phải xác định thêm các thông số tay ga, vị trí số, và tín hiệu phanh
Như vậy, để có được những thông tin cần thiết này, bước đầu em đã thiết kế
một bộ thu thập dữ liệu để lưu trữ các thông số vận hành cơ bản của xe trong quá trình thí nghiệm: tốc độ động cơ, vận tốc, độ mở bướm ga, vị trí tay số, tín hiệu phanh, và lượng tiêu thụ nhiên liệu
Tiếp theo, là việc quy hoạch thí nghiệm lựa chọn các cung đường và giờ thí nghiệm để xây dựng nên một kịch bản thí nghiệm đặc trưng cho giao thông đô thị thành phố Hồ Chí Minh Cuối cùng là lắp đặt các thiết bị cần thiết lên xe thí nghiệm
TH ỰC NGHIỆM
PHÂN TÍCH
vận hành của xe:
Vtb, atb, phương sai v ận tốc, gia
So sánh các chỉ số
Trang 13và kiếm tra Như vậy, em đã chuẩn bị đầy đủ các thiết bị và phương pháp để tiến hành thí nghiệm
Sau khi đã lấy được các số liệu cần thiết từ quá trình thực nghiệm, em đề
xuất ra các chỉ số để đánh giá chế độ vận hành của xe như: vận tốc trung bình và phương sai vận tốc; gia tốc trung bình và phương sai vận tốc; phần trăm thời gian động cơ hoạt động ở số vòng quay thấp, trung bình và cao;phần trăm thời gian tích
số vận tốc và gia tốc (v.a) ở mức thấp, trung bình và cao… Xây dựng các đồ thị mô
tả sự thay đổi của những chỉ số này
Công việc cuối cùng là quan sát sự thay đổi của những chỉ số trên thông qua các đồ thị, so sánh để rút ra các nhận xét, quy luật thay đổi của chúng
Như vậy, với một phương pháp nghiên cứu rõ ràng, em có đầy đủ cơ sở để
thực hiện đề tài
Trang 14CHƯƠNG II: BỘ THU THẬP DỮ LIỆU
I Các số liệu cần thu thập
Mục đích nghiên cứu của đề tài gồm có
- Đánh giá chế độ hoạt động của động cơ được nghiên cứu thông qua tốc độ động cơ
- Đánh giá chế độ vận hành của xe được nghiên cứu thông qua các thông số
vận tốc và gia tốc của xe, gia tốc của xe được tính qua phép đạo hàm vận tốc
- Năng lượng khi vận hành của xe và tính kinh tế nhiên liệu được nghiên cứu thông qua tích số vận tốc và gia tốc (va) và lượng tiêu thụ nhiên liệu (Fuel
Consumption – FC)
- Ngoài ra, để biết được ảnh hưởng của kỹ năng người lái đến chế độ vận hành
của xe cần phải xác định thêm các thông số vị trí tay ga, vị trí chân số, và tín
hiệu phanh
Như vậy, các số liệu cần thu thập bao gồm:
- Lượng tiêu thụ nhiên liệu
II Phương án thu thập số liệu [4]
Với các số liệu yêu cầu cần thu thập ở trên, cần đề ra một phương án để thu
thập Với từng loại tín hiệu, cần có một phương án thu thập cụ thể với yêu cầu: tín
hiệu thu nhận được là chính xác và không ảnh hưởng đến kết cấu cũng như quá trình vận hành xe
2.1 Lượng tiêu thụ nhiên liệu
Các phương án đo lượng tiêu thụ nhiên liệu
Trang 15- Đo khối lượng: sử dụng cân tiểu ly điện tử và bình xăng phụ, cân khối lượng
nhiên liệu trong bình xăng phụ sau mỗi quãng đường chạy, từ đó xác định được lượng tiêu thụ nhiên liệu trên quãng đường đó
van ba ngả, từ lượng nhiên liệu hao hụt [ml] ta xác định được lượng tiêu thụ
nhiên liệu sau mỗi quãng đường
Thông số lượng tiêu thụ nhiên liệu được xác định qua thông số FC
thống nhiên liệu phụ bao gồm phễu chiết và van ba ngả, cho phép xác định được
mức hao hụt nhiên liệu sau từng thời điểm cụ thể mà không làm thay đổi kết cấu cơ
Với phễu chiết bằng thủy tinh như trên:
- Hoàn toàn chịu được xăng, không bị ăn mòn, phá hủy bởi xăng
- Phễu chiết có khóa bằng thủy tinh chịu được xăng, cho phép đo lượng tiêu
thụ nhiên liệu dễ dàng
- Phễu chiết có nắp nên giảm được ảnh hưởng của lượng nhiên liệu bị bay hơi
Trang 16- Phễu có đầu ống thủy tinh cho phép đấu nối dễ dàng
- Phễu bằng thủy tinh mỏng, dễ bị vỡ, cần có vỏ đệm bảo vệ tránh va chạm
b/ Van ba ng ả
Đường ống dẫn xăng yêu cầu phải chịu được xăng và chịu được nhiệt Với các thành phần của hệ thống bình nhiên liệu phụ, ta tạo được hệ thống bình chứa lắp song song với bình xăng chính thông qua một van ba ngả Việc đóng hoặc mở các van trên đường xăng từ bình xăng chính và phụ cho phép sử dụng nhiên liệu từ một trong hai nguồn độc lập và không ảnh hưởng lẫn nhau
Dùng động cơ encoder đo số vòng quay
Dùng cảm biến quang và đĩa lỗ sáng gắn trên bánh xe để đo số vòng quay
của bánh xe
Dùng cảm biến từ và nam châm gắn trên bánh xe để đo số vòng quay của bánh xe
Trang 17Để có được tín hiệu điện để đưa về vi điều khiển, trong đề tài sử dụng phương pháp sử dụng cảm biến quang và đĩa lỗ sáng gắn trên bánh xe để xác định
vận tốc bánh xe, qua đó xác định vận tốc xe qua công thức:
Trong đề tài sử dụng một cảm biến thu phát LED đôi Opto-Isolator Tận
dụng hàng lỗ tản nhiệt trên đĩa phanh bánh trước (lỗ sáng) để làm tín hiệu cho cảm
biến nhận biết Khi cảm biến bị che (chỗ không có lỗ) thì tín hiệu điện áp gửi về vi điều khiển là 0V Khi cảm biến không bị che (ở vị trí lỗ tản nhiệt) thì giá trị điện áp
vi điều khiển nhận được là +5V Giá trị điện áp này sẽ được đưa vào một bộ ngắt trong vi điều khiển Bộ ngắt sẽ đếm được số lần giá trị điện áp thay đổi với chu kỳ 0.5 (giây)
2.3 Độ mở bướm ga
Phương án để xác định độ mở bướm ga là sử dụng một cảm biến kiểu Hall để
đo vị trí của tay ga Cảm biến Hall chuyển động trong từ trường của vành nam châm, điện áp đầu ra của cảm biến Hall sẽ thay đổi trong một dải nhất định Giá trị điện áp này được đưa vào một bộ chuyển đổi ADC của vi điều khiển, từ đó vi điều khiển sẽ ghi nhận vị trí của tay ga theo giá trị điện áp mà cảm biến Hall gửi về Từ
vị trí của tay ga sẽ suy ra được độ mở của bướm ga
2 CẢM BIẾN QUANG LẮP CẢM BIẾN VÀO ĐĨA PHANH
Trang 182.4 Vị trí tay số và tín hiệu phanh
Tín hiệu tay số và tín hiệu phanh được trích trực tiếp từ chân báo đèn số và đèn phanh Tín hiệu điện áp của các đèn này là +12V nên cần đi qua một cầu hạ áp xuống điện áp +5V trước khi đi vào vi điều khiển Vi điều khiển sẽ ghi nhận vị trí
chân số cũng như tín hiệu phanh trong quá trình xe vận hành
2.5 Số vòng quay động cơ
Để xác định tốc độ động cơ thì có nhiều phương pháp khác nhau, có thể đo
tốc độ của truc khuỷu đông cơ, trục cam của động cơ…
Tuy nhiên do ta sử dụng mẫu xe máy có sẵn nên để tránh can thiệp vào các
kết cấu trong xe và không phải lắp đặt thêm các chi tiết phụ mà vẫn đảm bảo độ chính xác và tin cậy, cũng như làm việc ổn định của xe thì trong đồ án này chúng
em lựa chọn phương án dùng tín hiệu từ cuộn dây đánh lửa có sẵn trên động cơ, trích một đường tín hiệu từ cuộn đây đánh lửa và đưa về vi điều khiển để xử lý
Tín hiệu được gửi về được vi điều khiển sẽ đếm được số xung đánh lửa trong
mỗi chu kỳ, từ đó có thể tính toán được số vòng quay động cơ tương ứng
VÀNH NAM CHÂM CẢM BIẾN HALL
DÂY TÍN HIỆU
Trang 19CHƯƠNG III: QUY HOẠCH THÍ NGHIỆM
I Hệ thống giao thông thành phố Hồ Chí Minh [6]
Khu vực trung tâm thành phố Hồ Chí Minh có hệ thống giao thông rất phức
tạp, đan xen giữa những tuyến đường rộng, thoáng mới mở hoặc cải tạo và những tuyến đường cũ nhỏ hẹp Để thực hiện đồ án, phải tìm hiểu về hệ thống giao thông thành phố Hồ Chí Minh, tìm ra những cung đường đặc trưng, đại diện cho giao thông thành phố, tiến hành thí nghiệm trên những cung đường đó
Để tìm hiểu sự khác biệt về đặc điểm giao thông giữa các khu vực trong thành phố Hồ Chí Minh, tác giả chia thành phố thành 3 khu vực để phân tích Khu
vực 1 gồm 13 quận nội thành (1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Gò Vấp, Tân Bình, Tân Phú, Bình Thạnh và Phú Nhuận) Khu vực 2 gồm 6 quận mới (2, 7, 9, 12, Bình Tân và
Thủ Đức) Khu vực 3 gồm 5 huyện ngoại thành (Hóc Môn, Nhà Bè, Cần Giờ, Củ Chi và Bình Chánh) Đặc điểm dân số, diện tích đất, cấu trúc mạng lưới đường của
3 khu vực được mô tả trong bảng 1
2 Di ện tích (Km2) 142.00 352.00 1602.00
3 Di ện tích đường (Km2) 8.18 8.48 14.83
4 Chi ều dài đường (Km) 853.47 1017.47 2589.24
5 Chi ều dài lưới đường
Trang 208 B ề rộng đường (B)
8.2 - 7m ≤ B < 10m (%) 54.70 34.49 10.81 8.3 - 10m ≤ B < 12m (%) 61.50 22.07 16.43
Trang 21Cừ làm ranh giới Phía Nam giáp quận 4 có ranh giới tự nhiên là rạch Bến Nghé
Tuyến đường Tân Sơn Nhất-Bình Lợi-Vành đai ngoài (đường Phạm Văn Đồng) là dự án lớn của thành phố do Công ty GS E&C của Hàn Quốc thực hiện Tuyến đường dài 13,6km, rộng từ 30-60m; là trục đường hướng tâm quan trọng trong hệ thống giao thông của thành phố, nối sân bay Tân Sơn Nhất-Quốc lộ 13-
Quốc lộ 1-Quốc lộ 1K, đi qua địa bàn các quận Tân Bình, Gò Vấp, Bình Thạnh,
Thủ Đức Đây là khu vực rất tốt để làm thí nghiệm
Trang 22dựng vào công trình làm ảnh hưởng đến giao thông đô thị thành phố Đây cũng là 1 trong những nguyên nhân làm cho hệ thống giao thông thành phố Hồ Chí Minh hay
xảy ra ùn tắc giao thông vào giờ cao điểm Những tuyến đường mới được mở rộng
với kỳ vọng phát triển khu vực này thành những trung tâm kinh tế hoặc khu công nghiệp quy mô lớn trong tương lai Theo định hướng trong tương lai khu vực này sẽ xây dựng nhiều tuyến đường cao tốc nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển lớn đặc biệt
với Cảng Cát Lái nằm là một trong những cảng trọng điểm của hệ thống cảng khu
vực thành phố Hồ Chí Minh Vì lý do này chúng không thực sự phù hợp cho phạm
vi nghiên cứu của luận văn này Vì vậy khu vực này cũng không phù hợp làm thí nghiệm cho giao thông thành phố Hồ Chí Minh
Trang 23là vành đai cung cấp thực phẩm cho thành phố
Trang 24II Lựa chọn cung đường thí nghiệm
Trên cơ sở tìm hiểu giao thông thành phố Hồ Chí Minh, sau khi đi khảo sát
thực tế các cung đường ở 3 khu vực thì em chọn khu vực 1 làm thí nghiệm vì đây là nơi tập trung số lượng xe gắn máy nhiều nhất, mật độ dân cư đông nhất và cũng thường xuyên xảy ra ùn tắc giao thông trong giờ cao điểm nhất Các cung đường được lựa chọn một cách đa dạng về chiều rộng mặt đường, với các thông số khảo sát gồm: chiều dài, cách phân làn, số giao cắt trên đường, số đèn giao thông trên tuyến đường, tình trạng mặt đường, tình trạng giao thông Ở đây em chọn ra 06 cung đường chính là: đường Điện Biên Phủ, đường Võ Thị Sáu, đường Hai Bà Trưng, đường Đinh Tiên Hoàng, đường Lê Quang Định và đường Phạm Văn Đồng
để làm thí nghiệm “Nghiên cứu đặc tính giao thông thành phố Hồ Chí Minh trong
giờ cao điểm”
Hình 3.4: Đường Lê Quang Định và Phạm Văn Đồng
Đường Lê Quang Định và Đường Phạm Văn Đồng là 2 tuyến đường được lựa chọn trong quá trình thí nghiệm được tô màu cam trên hình 3.4 Lê Quang Định
là cung đường 02 chiều, 02 ngã tư có đèn giao thông và rất nhiều hẻm nhỏ giao cắt, đường nhỏ, mật độ lớn, mặt đường chưa tốt hay ùn tắc trong giờ cao điểm Tuyến đường này có dân cư đông đúc với mật độ phương tiện giao thông rất lớn chủ yếu là
xe máy Phạm Văn Đồng là đường mới làm có mặt đường rất rộng, thoáng, có phân