1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌNH TIẾT PHẠM tội từ HAI lần TRỞ lên TRONG PHÁP LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM (TRÊN cơ sở THỰC TIỄN tại TỈNH sơn LA)

87 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 861,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thực tiễn hiện nay, trong quá trình khởi tố điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, nảy sinh những vướng mắc và nhận thức khác nhau, thậm chí là xung đột giữa các cơ quan tiến hành

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÝ HOÀNG LINH

T×NH TIÕT "PH¹M TéI Tõ HAI LÇN TRë L£N" TRONG PH¸P LUËT H×NH Sù VIÖT NAM (Trªn c¬ së thùc tiÔn t¹i tØnh S¬n La)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRƯƠNG QUANG VINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lý Hoàng Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo Khoa sau đại học – Khoa Luật Trường Đại học quốc gia Hà Nội đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu,

đã giúp đỡ, tạo điều kiện và cung cấp những số liệu, tài liệu cần thiết để nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trương Quan Vinh đã dành nhiều thời gian tâm huyết, trực tiếp hướng dẫn tận tình, chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài và hoàn chỉnh bản Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, khích lệ, sẻ chia, giúp đỡ và đồng hành cùng tôi trong cuộc sống cũng như trong quá trình học tập, nghiên cứu!

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả Luận văn

Lý Hoàng Linh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÌNH TIẾT PHẠM TỘI TỪ HAI LẦN TRỞ LÊN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 9

1.1 Khái niệm, đặc điểm của tình tiết phạm tội từ hai lần trở lên 9

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của tình tiết phạm tội một lần 9

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm tình tiết phạm tội từ hai lần trở lên 11

1.2 Phân biệt khái niệm phạm tội từ hai lần trở lên với một số khái niệm có liên quan 18

1.2.1 Phạm tội từ hai lần trở lên và phạm tội liên tục 18

1.2.2 Phạm tội từ hai lần trở lên và tái phạm, tái phạm nguy hiểm 19

1.2.3 Phạm tội từ hai lần trở lên và phạm tội đối với hai người trở lên 22

1.2.4 Phạm tội từ hai lần trở lên và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp 23

1.2.5 Phạm tội từ hai lần trở lên và phạm nhiều tội 24

1.3 Khái quát quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phạm tội từ hai lần trở lên 25

1.3.1 Quy định về phạm tội nhiều lần trong Bộ luật hình sự năm 1985 25

1.4.2 Quy định về phạm tội nhiều lần trong BLHS năm 1999 28

1.3.3 Quy định về phạm tội hai lần trở lên trong BLHS năm 2015 34

Tiểu kết chương 1 41

Trang 6

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH, THỰC

TIỄN ÁP DỤNG TÌNH TIẾT PHẠM TỘI TỪ 02 LẦN TRỞ LÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA VÀ MỘT SỐ KIẾN

NGHỊ, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 42

2.1 Tình hình tội phạm và thực tiễn áp dụng tình tiết phạm tội từ hai lần trở lên trên địa bàn tỉnh Sơn La 42

2.1.1 Tình hình tội phạm 42

2.1.2 Thực tiễn áp dụng tình tiết phạm tội từ 02 lần trở lên đối với một số loại tội phạm trên địa bàn tỉnh Sơn La 44

2.2 Một số bất cập của pháp luật hình sự hiện hành quy định về tình tiết phạm tội từ hai lần trở lên 49

2.2.1 Đối với tội phạm trộm cắp tài sản 49

2.2.2 Đối với tội hiếp dâm, tội cưỡng dâm 55

2.2.3 Đối với tội mua bán trái phép chất ma túy 60

2.3 Một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định về tình tiết phạm tội hai lần trở lên 65

Tiểu kết chương 2 67

KẾT LUẬN 68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

PHỤ LỤC 75

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật Hình sự

GS.TSKH: Giáo sư, Tiến sĩ khoa học HĐTP: Hội đồng Thẩm phán

KSND: Kiểm sát nhân dân

PGS.TS: Phó giáo sư, Tiến sĩ

Trang 8

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Bảng 2.1 Thống kê số liệu xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng

phạm tội từ hai lần trở lên từ năm 2015 đến năm 2019 75

Bảng 2.2 Thống kê số liệu xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng

phạm tội từ 02 lần trở lên từ năm 2015 đến năm 2019 78

Bảng 2.3

Thống kê số liệu tội phạm bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên

Bảng 2.4 Thống kê số liệu tội phạm bị áp dụng tình tiết định

khung hình phạt phạm tội 02 lần trở lên (2015-2019) 79

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lịch sử lập pháp nước ta đã trải qua 03 lần pháp điển hóa tại các Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985 (sửa đổi, bổ sung các năm 1989, 1991, 1992, 1997); BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung theo Luật số 12/2017/QH14 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2018) Theo BLHS năm 1985 và năm 1999, tình tiết “phạm tội nhiều lần” được xác định là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) và là tình tiết định khung tăng nặng thuộc các chương khác nhau trong phần các tội phạm cụ thể (khi không là tình tiết tăng nặng TNHS) BLHS năm 2015, không có quy định tình tiết “phạm tội nhiều lần” mà chỉ quy định “phạm tội từ 02 lần trở lên” và được xác định là một trong những tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 BLHS (khi không

là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt – Khoản 2 Điều 52), tình tiết định khung tăng nặng tại 82 điều luật cụ thể ở phần các tội phạm (trong đó có

02 điều luật quy định “phạm tội từ 02 lần trở lên” là tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 3 của luật Điều 337 Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước…và Điều 382 Tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối) Qua so sánh, đối chiếu, nhận thấy phần lớn các điều luật của BLHS 1999 có quy định

“phạm tội nhiều lần” là tình tiết định khung tăng nặng vẫn được giữ nguyên trong BLHS năm 2015, tuy nhiên có sự thay đổi thuật ngữ “phạm tội nhiều lần” bằng thuật ngữ “phạm tội từ 02 lần trở lên” và ghi rõ cụ thể số lần phạm tội ngay trong điều luật Về bản chất, 02 khái niệm này có ý nghĩa như nhau, chỉ khác nhau về cách diễn đạt

Theo khoa học luật hình sự, phạm tội từ 02 lần trở lên là trường hợp

có từ hai lần trở lên phạm cùng một tội cụ thể được qui định trong Bộ luật

Trang 10

Hình sự, trong đó mỗi lần phạm tội đều đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng các lần phạm tội đó chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, nay các lần phạm tội đó được đưa ra xét xử trong cùng một vụ án nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội từ 02 lần trở lên

Trên thực tiễn hiện nay, trong quá trình khởi tố điều tra, truy tố, xét xử

vụ án hình sự, nảy sinh những vướng mắc và nhận thức khác nhau, thậm chí

là xung đột giữa các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) về việc áp dụng tình tiết “phạm tội từ 02 lần trở lên”, đây đang là vấn đề cần thiết phải được hướng dẫn cụ thể để thống nhất ngay về mặt nhận thức giữa các CQTHTT, người tiến hành tố tụng (NTHTT), đảm bảo việc giải quyết vụ án hình sự được chính xác, theo đúng quy định của pháp luật Do đó việc tìm hiểu, nghiên cứu

lý luận về tình tiết tăng nặng “phạm tội từ 02 lần trở lên” trong khoa học luật hình sự có ý nghĩa quan trọng giúp các cơ quan tiến hành tố tụng xác định và

áp dụng đúng đắn quy định này trong thực tiễn

Việc nghiên cứu lý luận luôn phải song song với đánh giá tình hình áp dụng trong thực tiễn Với mong muốn đánh giá một cách chính xác, khách quan việc áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội từ 02 lần trở lên” trong thực tiễn áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là của Cơ quan Tòa án trong giai đoạn xét xử tội phạm, tác giả đã lựa chọn tỉnh Sơn La

là nơi khảo sát thực tế

Sơn La là một tỉnh miền núi phía Bắc có địa hình rất hiểm trở, bị chia cắt bởi nhiều núi cao cùng sông Đà, sông Mã Với 250km đường biên giới chung với Lào, khu vực biên giới núi non trùng điệp, nhiều đường tiểu ngạch,

từ lâu, khu vực biên giới Sơn La trở thành địa điểm vô cùng thuận lợi để các đối tượng mua bán, vận chuyển ma túy, trong đó “nóng” nhất là khu vực biên giới của huyện Mộc Châu và Vân Hồ Sơn La có trên dưới 1 triệu dân mà đã

Trang 11

có tới trên 18 ngàn người nghiện ma túy Trong những năm gần đây, tỉnh Sơn

La đang chuyển đổi cơ cấu kinh tế, từ nông nghiệp là chủ yếu sang khu vực dịch vụ, công nghiệp Kéo theo sự phát triển về kinh tế, du lịch thì tình hình tội phạm nơi đây cũng có dấu hiệu gia tăng và đa dạng hóa các loại tội phạm, hàng năm, các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Sơn La đưa hàng ngàn vụ án ra xét xử Việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội từ 02 lần trở lên” tại địa bàn tỉnh Sơn La có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng tỉnh tiết này trong thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tình tiết phạm tội từ 02 lần trở lên là một trong những tình tiết thường gặp trong đời sống pháp lý, đây là tình tiết định khung tăng nặng của rất nhiều loại tội và là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, là căn cứ quan trọng để quyết định hình phạt của tội phạm, đã được một số nhà luật học đề cập trong các giáo trình, sách tham khảo như: Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập II của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1998; Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1997; Bình luận khoa học BLHS của Viện khoa học pháp lý, Bộ T- pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1987 (tái bản năm 1992, 1997) Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000; Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2002; Bình luận khoa học BLHS 1999 (Phần các tội phạm) của TS Phùng Thế Vắc, TS Trần Văn Luyện, LS Ths Phạm Thanh Bình TS Nguyễn Đức Mai, Ths Nguyễn

Sĩ Đại, Ths Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001 Một số nhà khoa học cũng đã nghiên cứu về đề tài này như: Luận án tiến sỹ: “Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam” của Phan

Trang 12

Thị Thu Lê, năm 2019; bài viết: Bàn về mối quan hệ giữa cấu thành tội phạm

và tình tiết tăng nặng TNHS của Trịnh Tiến Việt, bài viết: Các tình tiết tăng nặng TNHS: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Trịnh Tiến Việt, Phan Thị Thủy; Bàn về tình tiết tăng nặng TNHS "phạm tội nhiều lần" quy định trong Luật hình sự Việt Nam của Lê Văn Luật; Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự Việt Nam của Bùi Kiến Quốc, luận văn thạc sỹ Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phạm tội nhiều lần theo Luật Hình sự Việt Nam của Nguyễn Thị Bảo Tâm năm 2012, bài viết So sánh quy định về các tình tiết tăng nặng trong pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự một số nước của Phan Thị Thu Lê trên tạp chí Kiểm sát, số 22/2018

Các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến tình tiết phạm tội nhiều lần ở một số khía cạnh hoặc qua các trường hợp phạm tội cụ thể, so sánh với pháp luật nước ngoài, tuy nhiên để hệ thống hóa một cách toàn diện theo tiến trình lập pháp nước ta về các quy định về tình tiết phạm tội nhiều lần thì đến nay chưa được quan tâm đúng mức, mới chỉ có duy nhất một công trình nghiên cứu từ năm 2012 nghiên cứu thực tiễn áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần qua các vụ án điển hình mà chưa đánh giá cụ thể thực tiễn áp dụng tình tiết này tại một địa phương nào Từ khi Bộ luật hình sự 2015 ra đời, sửa đổi từ “phạm tội nhiều lần” thành “phạm tội từ 02 lần trở lên” vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn, định nghĩa khái niệm thế nào là “phạm tội từ 02 lần trở lên” để áp dụng thống nhất đối với tất cả các tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự Do vậy, các vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh tình tiết phạm tội nhiều lần cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn

3 Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận, các quan điểm khoa học về phạm tội và phạm tội từ hai lần trở lên; quy định về tình tiết

Trang 13

phạm tội từ hai lần trở lên trong pháp luật hình sự Việt Nam trong các BLHS

1985, 1999 và 2015, và quy định đối với một số loại tội phạm (ma túy, hiếp dâm, trộm cắp tài sản) và việc áp dụng tình tiết này trên thực tế

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là thực tiễn áp dụng tình tiết phạm tội

từ hai lần trở lên trên địa bàn tỉnh Sơn La trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019

4 Mục tiêu nghiên cứu

4.1 Mục tiêu tổng quát

Trong phạm vi của luận văn, tác giả mong muốn đưa ra sự nhìn nhận, đánh giá tổng quát về khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội từ 02 lần trở lên trong quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nghiên cứu về quá trình pháp điển hóa chế định này trong lịch sử khoa học luật Hình sự Việt Nam, đồng thời thông qua nghiên cứu thực tiễn việc áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội từ 02 lần trở lên trong thực tiễn xét

xử của cơ quan Tòa án để phát hiện ra các vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn

áp dụng pháp luật để từ đó đề ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng tình tiết tăng nặng này trong thực tế nói chung, nâng cao chất lượng xét xử nói riêng trên địa bàn tỉnh Sơn La

4.2 Mục tiêu cụ thể

Thứ nhất, tác giả nghiên cứu làm rõ khái niệm tình tiết tăng nặng, khái niệm, quan điểm về phạm tội nhiều lần, phạm tội từ 02 lần trở lên, ý nghĩa của tình tiết tăng nặng nói chung và tình tiết phạm tội từ 02 lần trở lên nói riêng trong việc quyết định hình phạt Phân tích đặc điểm tình tiết phạm tội

từ 02 lần trở lên Phân biệt khái niệm phạm tội từ 02 lần trở lên với một số khái niệm hay nhầm lần như: Phạm tội liên tục, phạm tội đối với 2 người trở lên, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm nhiều tội, phạm tội chuyên nghiệp Phân tích việc xác định tình tiết phạm tội từ 02 lần trở lên trong một số loại

Trang 14

tội hay gặp như: Mua bán trái phép chất ma túy, trộm cắp tài sản, chứa mại dâm, phân tích việc xác định khi nào xác định là tình tiết tăng nặng, khi nào

là tình tiết định khung đối với các tội phạm này Phân tích làm sáng tỏ cơ sở

lý luận của việc quy định tình tiết phạm tội từ 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng và tình tiết định khung tăng nặng trong một số tội quy định ở Bộ luật Hình sự Việt Nam

Thứ hai, tác giả nêu tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Sơn La, phân tích thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Sơn La trong thời gian 5 năm (2015-2019), trong đó phân tích tỷ lệ tội phạm bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần/phạm tội từ 02 lần trở lên, các yếu tố ảnh hưởng đến việc người phạm tội phạm tội từ 02 lần trở lên, từ đó tác giả chỉ ra hạn chế, tồn tại trong hoạt động xét xử khi áp dụng tình tiết tăng nặng này để tìm ra những nguyên nhân của các hạn chế, tồn tại

Thứ ba, tác giả đưa ra một số kiến nghị, đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện các quy định về tình tiết tăng nặng phạm tội từ 02 lần trở lên để nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án nhân dân cũng như hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng khi áp dụng pháp luật trong thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê và vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng chủ nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách hình sự, về vấn đề tăng nặng trách nhiệm hình sự nói chung, tình tiết phạm tội từ 02 lần trở lên nói riêng, thực trạng áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội từ 02 lần trở lên trong hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là hoạt động xét xử của Tòa án để làm sáng tỏ các vấn đề được nghiên cứu trong luận văn Bên cạnh đó, luận văn vận dụng các thành tựu nghiên cứu khoa học, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả khác để phát triển nội dung nghiên cứu trong luận văn

Trang 15

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội từ 02 lần trở lên là một trong những tình tiết thường xuyên áp dụng trong quá trình điều tra, truy

tố, xét xử tội phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng Phạm tội từ 02 lần trở lên là một khái niệm tương đối phức tạp Về mặt lý luận chưa có định nghĩa chính thức nào về “phạm tội từ 02 lần trở lên”, các nhà nghiên cứu thường dựa trên các loại tội riêng biệt được các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn riêng về tình tiết phạm tội nhiều lần/phạm tội từ 02 lần trở lên, do đó rất dễ dẫn đến tình trạng áp dụng sai tình tiết này Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS năm 1999 và 2015, tuy nhiên số công trình nghiên cứu riêng rẽ về tình tiết phạm tội từ 02 lần trở lên thì hầu như chưa có, chỉ tập trung chủ yếu ở các bài viết mang tính chất trao đổi, thảo luận, nghiên cứu tình tiết phạm tội nhiều lần/phạm tội từ 02 lần trở lên ở một số khía cạnh hoặc qua các trường hợp phạm tội cụ thể, so sánh với pháp luật nước ngoài Do đó, đề tài Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội nhiều lần và thực tiễn áp dụng tại địa bàn tỉnh Sơn La sẽ là công trình nghiên cứu đầu tiên hệ thống hóa một cách tương đối toàn diện theo tiến trình lập pháp nước ta về các quy định về tình tiết phạm tội từ 02 lần trở lên, nghiên cứu, phân tích đánh giá cụ thể thực tiễn áp dụng tình tiết này tại tỉnh Sơn La thông qua tình hình xét xử của Tòa án nhân dân 2 cấp tại địa phương

Luận văn có thể góp phần vào việc xác định đúng đắn những điều kiện

áp dụng cụ thể của tình tiết tăng nặng phạm tội từ 02 lần trở lên trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, tại địa bàn tỉnh Sơn La nói riêng, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về hành vi phạm tội nhiều lần ở khía cạnh lập pháp và việc áp dụng trong thực tiễn Đặc biệt góp phần phân loại tội phạm, cá thể hóa

Trang 16

và phân hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt, tăng cường hiệu quả công tác đấu tranh chống tội phạm nhằm phù hợp với các yêu cầu của thực tiễn, luận văn có thể kiến nghị đưa tình tiết tăng nặng phạm tội từ 02 lần trở lên thành tình tiết định khung của một số loại tội phạm hoặc không áp dụng tình tiết phạm tội từ 02 lần trở lên đối với một số tội trong Bộ luật Hình sự Việt Nam

7 Bố cục các chương của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 2 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề chung về tình tiết phạm tội từ hai lần trở lên

trong pháp luật hình sự Việt Nam

Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành, thực tiễn á dụng tình tiết

phạm tội từ 2 lần trở lên trên địa bàn tỉnh Sơn La và một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện

Trang 17

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÌNH TIẾT PHẠM TỘI TỪ HAI LẦN

TRỞ LÊN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm, đặc điểm của tình tiết phạm tội từ hai lần trở lên

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của tình tiết phạm tội một lần

Khái niệm tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng nhất của luật hình sự Chế định tội phạm là chế định trung tâm thể hiện rõ nét bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị, xã hội cũng như pháp lý của luật hình sự của mỗi quốc gia

Tội phạm theo luật hình sự phải là hành vi của con người Những tư tưởng, ý định hay suy nghĩ của con người dù có sai lệch đến đâu cũng không thể là tội phạm vì chúng không thể gây nguy hại cho xã hội Chỉ qua hành vi của mình, con người mới có thể gây ra sự gây hại cho xã hội Khẳng định

“Tội phạm là hành vi…” là sự xác nhận một nguyên tắc của pháp luật nói chung và của luật hình sự nói riêng là nguyên tắc hành vi, và sự xác nhận này chính là một trong những đảm bảo cho con người không bị truy bức về tư tưởng hay định kiến Về vấn đề này, Các Mác đã viết: “Ngoài hành vi của mình ra, tôi hoàn toàn không tôn tại đối với pháp luật, hoàn toàn không phải

là đối tượng của pháp luật” Từ quy định tội phạm là hành vi cũng như nhận xét trên đây của Các Mác thì không được phép truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những ý định hay khuynh hướng tư tưởng của con người nếu như khuynh hướng, ý định đó chưa thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi [51]

Theo Điều 8 BLHS năm 2015, hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm nếu hành vi ấy được quy định trong BLHS (được quy định tại Phần các tội phạm của BLHS) Như vậy “được quy định trong BLHS” là đặc điểm đòi hỏi phải có những hành vi được coi là tội phạm Theo đặc điểm này, hành vi

Trang 18

nguy hiểm cho xã hội nhưng nếu không hay chưa được quy định trong BLHS thì không phải là tội phạm Cần chú ý đặc điểm này, khi truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi của người nào đó cần phải xác định hành vi ấy đã được quy định là tội phạm trong BLHS Được quy định trong luật là đặc điểm về hình thức pháp lý của tội phạm, là sự thừa nhận một trong những nguyên tắc được thừa nhận chung của luật hình sự quốc tế và đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 của Liên Hợp Quốc: “Không ai bị cáo buộc là tội phạm vì bất cứ hành động hoặc sự không hành động nào mà không cấu thành một tội phạm hình sự, theo pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc

tế, vào thời điểm thực hiện…” (khoản 2 Điều 11) Khẳng định tội phạm là hành vi được quy định trong BLHS không những là cơ sở pháp lý đảm bảo cho việc đấu tranh phòng chống tội phạm được thống nhất mà còn là cơ sở pháp lý đảm bảo cho công dân không bị xử lý tùy tiện, thiếu căn cứ pháp luật trong thực tiễn [51]

- Phạm tội: Phạm tội là hành động thực hiện tội phạm Có nghĩa là phạm tội là hành vi có dấu hiệu của tội phạm phải qua điều tra, truy tố, xét xử mới xác định được hành vi phạm tội đó có phải là tội phạm không Không phải mọi hành vi phạm tội đều là tội phạm Chẳng hạn, khi chủ thể thực hiện hành vi phạm tội là người không có năng lực trách nhiệm hình sự thì hành vi phạm tội đó không bị coi là tội phạm [52]

+ Xét về tính chất, hành vi phạm tội là hành vi có tính gây thiệt hại đáng kể cho xã hội, có lỗi và được quy định trong Luật hình sự

+ Xét về cấu trúc, hành vi phạm tội đòi hỏi có những dấu hiệu sau: 1) Chủ thể thực hiện phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự cũng như phải thoả mãn các dấu hiệu đặc biệt khác (dấu hiệu chủ thể đặc biệt) nếu cấu thành tội phạm đòi hỏi;

2) Về mặt khách quan, chủ thể phải có hành động hoặc không hành

Trang 19

động thỏa mãn các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm (hành vi, hậu quả, quan hệ nhân quả, đối tượng tác động ),

3) Về mặt chủ quan, chủ thể phải có lỗi, cố ý hoặc vô ý tuỳ từng cấu thành tội phạm cũng như chủ thể phải có động cơ, mục đích nhất định nếu cấu thành tội phạm đòi hỏi [53]

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm tình tiết phạm tội từ hai lần trở lên

1.1.2.1 Khái niệm tình tiết phạm tội từ hai lần trở lên

Trong khoa học luật Hình sự hiện nay, các nhà khoa học chủ yếu nghiên cứu chế định phạm tội từ 02 lần trở lên qua việc nghiên cứu chế định

đa tội phạm

Phạm tội 02 lần trở lên là một trong các dạng của chế định đa tội phạm

Do đó trước khi tìm hiểu về chế định này, chúng ta cần hiểu về chế định đa tội phạm Trong khoa học luật hình sự Việt Nam khi nghiên cứu về chế định đa tội phạm giữa các nhà nghiên cứu tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Có thể

kể đến một số quan điểm khác nhau như sau:

Quan điểm của PGS.TS Võ Khánh Vinh:

Chế định đa tội phạm là một chế định của luật hình sự cần bao hàm tất cả những trường hợp khi một người thực hiện một số tội phạm với điều kiện nếu như đối với các tội này người đó vẫn chưa hết án tích hoặc thời hiệu truy tố về hình sự [50, tr.19]

Quan điểm của PGS.TS Lê Văn Đệ:

Nhiều tội phạm là trường hợp một người phạm từ hai tội trở lên, không phụ thuộc vào việc người đó đã bị xét xử về các tội đã phạm hay chưa; các tội này chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình

sự và không có những trở ngại về mặt tố tụng hình sự để khởi tố vụ

án hình sự [6, tr.16]

Trang 20

Theo quan điểm của GS.TSKH Lê Văn Cảm:

Nhiều (đa) tội phạm là một chế định độc lập của luật hình sự Việt Nam bao gồm bốn dạng (trường hợp): (1) phạm tội nhiều lần; (2) phạm nhiều tội; (3) tái phạm; (4) phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, mà trong những điều kiện như nhau nếu so sánh với tội đơn nhất thì các dạng này thường cho thấy tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn của tội phạm được thực hiện, cũng như của nhân thân người phạm tội [3, tr 6]

Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì “phạm tội 02 lần trở lên”

là thực hiện một tội phạm mà trước đó chủ thể đã phạm tội đó ít nhất một lần

và chưa bị xét xử Trong trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên”, người phạm tội bị coi là phạm một tội cụ thể nhiều lần Các hành vi phạm tội và hậu quả của các hành vi đó trong các lần phạm tội có tính độc lập với nhau

Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì cho rằng:

Phạm tội nhiều lần là trường hợp thực hiện tội phạm mà trước đó người phạm tội đã phạm tội này ít nhất là một lần và chưa bị xét

xử Hành vi phạm tội trong trường hợp này là sự lặp lại tội đã phạm trước đó nên có mức độ nguy hiểm cao hơn trường hợp bình thường [10, tr.72]

Dưới góc độ khoa học luật hình sự chúng ta thấy có hai quan điểm về khái niệm phạm tội nhiều lần Một là: Phạm tội nhiều lần là phạm tội từ hai lần trở lên mà những tội ấy được quy định tại cùng một điều (hoặc tại cùng một khoản của điều) tương ứng trong Phần riêng Bộ luật hình sự, đồng thời với những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và người phạm tội vẫn chưa bị xét xử [4, tr.93-94] Hai là: Phạm tội nhiều lần là phạm tội từ hai lần trở lên như hai lần trộm cắp, hai lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản,

Trang 21

ba lần chứa mại dâm, bốn lần tham ô… và mỗi lần thực hiện hành vi đã cấu thành một tội phạm độc lập nhưng tất cả các tội phạm đó đều bị xét xử trong cùng một bản án Phạm tội nhiều lần là người phạm tội có nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, nhưng hành vi đó chỉ cấu thành một tội, xâm phạm đến cùng một khách thể trực tiếp và chưa đưa ra truy tố, xét xử… [29, tr.2]

Về mặt pháp lý, Bộ luật hình sự năm 2015 quy định tình tiết “Phạm tội

02 lần trở lên” được xác định là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS (khi không được coi là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt – khoản 2 Điều 52) Trong phần các tội phạm, tình tiết này được quy định là tình tiết định khung tăng nặng tại 80 điều luật cụ thể ở phần các tội phạm (trong đó có 02 điều luật quy định “phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 3 Điều 337 (Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước…) và khoản 3 Điều 382 (Tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối) Sau khi BLHS năm 2015 ban hành, có hiệu lực và được áp dụng thực hiện trong toàn quốc, vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn, định nghĩa về tình tiết phạm tội 02 lần trở lên, do đó, các

cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các quy định hướng dẫn của BLHS năm

1999 để áp dụng cho BLHS 2015, trong đó tình tiết phạm tội từ 02 lần trở lên được áp dụng tương tự như quy định đối với tình tiết phạm tội nhiều lần

Tình tiết phạm tội từ 02 lần trở lên được quy định trong nhiều văn bản pháp luật như: Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT-TANDTC-VKSNDTV-BNV, Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP TANDTC; Mục 4 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP, Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTP

Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BNV ngày 02/01/1998 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS thì:

tình tiết "Phạm tội nhiều lần" quy định tại khoản 2 Điều 133, khoản 2 Điều 134a (đối với một số tội phạm có tính chất tham

Trang 22

nhũng và tội phạm liên quan đến tình dục) được hiểu là đã có tất cả

từ hai lần phạm tội đó trở lên (hai lần phạm tội tham ô trở lên, hai lần phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN trở lên ) mà mỗi lần phạm tội có đầy đủ yếu tố cấu thành quy định tại khoản 1 điều luật tương ứng, đồng thời trong các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và cũng chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Trong trường hợp này người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng giá trị tài sản của các lần phạm tội cộng lại, nếu điều luật có quy định

về giá trị tài sản hoặc thiệt hại về tài sản

Tại Tiểu mục 2.3, Mục 2, Phần I Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT/BCA TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 24/12/2007 của Bộ Công an – Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII các “Tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999, thì:

-Tình tiết “phạm tội nhiều lần” quy định tại khoản 2 các điều 193,

194, 195, 196, 197, 198, 200 và 201 của BLHS được hiểu là đã có

từ hai lần phạm tội trở lên (hai lần sản xuất trái phép chất ma túy trở lên, hai lần tàng trữ trái phép chất ma túy trở lên, hai lần bán trái phép chất ma túy trở lên…) mà mỗi lần phạm tội có đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 điều luật tương ứng, đồng thời trong số các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Trong trường hợp này người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình

sự về tổng số lượng chất ma túy của các lần cộng lại, nếu điều luật

có quy định về số lượng chất ma túy để định khung hình phạt

Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; chứa chấp việc sử

Trang 23

dụng trái phép chất ma túy; cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy đối với một người từ hai lần trở lên cũng bị coi là phạm tội nhiều lần

Theo quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự, thì, tình tiết "Phạm tội nhiều lần" quy định tại điểm

c khoản 2 Điều 254 của BLHS năm 1999 được hướng dẫn như sau:

4.1 Chỉ áp dụng tình tiết "Phạm tội nhiều lần" đối với người chứa mại dâm khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a Chứa mại dâm (không phân biệt tại một địa điểm hay tại các địa điểm khác nhau) một đôi hoặc nhiều đôi mua bán dâm khác nhau từ hai lần trở lên trong các khoảng thời gian khác nhau (không phân biệt thời gian dài hay ngắn);

b Chứa mại dâm hai đôi mua bán dâm trở lên độc lập với nhau trong cùng một khoảng thời gian;

c Chứa mại dâm một người mua bán dâm với hai người trở lên trong các khoảng thời gian khác nhau

4.2 Không coi là phạm tội nhiều lần trong các trường hợp sau đây:

a Chứa mại dâm một đôi mua bán dâm trong một khoảng thời gian liên tục;

b Chứa mại dâm nhiều người (một nhóm) cùng đến mua bán dâm, nhưng chỉ một người trong số họ hoặc một số người trong số họ hoặc tất cả họ cùng nhau thoả thuận đứng ra giao dịch với người chứa mại dâm để trả tiền thuê địa điểm, phương tiện một lần và việc mua bán dâm diễn ra trong cùng một khoảng thời gian

Tổng hợp các quan điểm trên và từ thực tiễn xét xử, theo quan điểm của tác giả tình tiết "Phạm tội nhiều lần - Phạm tội 02 lần trở lên" có thể được hiểu như sau:

Trang 24

i) Người phạm tội đã thực hiện từ hai hành vi phạm tội trở lên, tác động đến cùng một đối tượng, xâm phạm đến cùng một khách thể trực tiếp,

mà mỗi hành vi ấy đã có đủ các yếu tố cấu thành một tội phạm độc lập (cùng

là hành vi trộm cắp, hiếp dâm, lừa đảo )

ii) Khi xét xử, các hành vi đó chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và người phạm tội vẫn chưa bị xét xử hoặc bị xử lý bằng các hình thức khác (đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra )

iii) Nếu điều luật có quy định về giá trị tài sản hoặc thiệt hại về tài sản thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng giá trị tài sản của các lần phạm tội cộng lại

Văn bản số 64/TANDTC-PC ngày 3/4/2019 của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân Tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính thì:

Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng một loại hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu (ví dụ: nhiều lần phạm tội trộm cắp tài sản), mà tổng trị giá tài sản của các lần phạm tội thỏa mãn dấu hiệu định khung tăng nặng, nếu các lần phạm tội đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình

sự, thì ngoài việc bị áp dụng khung hình phạt tương ứng với trị giá tài sản chiếm đoạt, họ còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản

1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự

Khoản 4 Điều 3 Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 150 về tội mua bán người và Điều 151 về tội mua bán người dưới 16

tuổi của Bộ luật Hình sự:

Phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm e khoản 2 Điều 150 và điểm e khoản 2 Điều 151 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người

Trang 25

phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội mua bán người hoặc mua bán người dưới 16 tuổi từ 02 lần trở lên nhưng đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Như vậy, mặc dù chưa có văn bản chính thức về khái niệm thế nào là

“phạm tội 02 lần trở lên” có thể hiểu “phạm tội 02 lần trở lên” là người thực hiện tội phạm đã phạm cùng một tội từ 02 lần trở lên, mà nếu tách riêng mỗi lần đó thì đều có đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại khoản 1 (khung cơ bản) của Điều luật đó (tội phạm đó) và chưa lần nào bị đưa ra xét

xử, được miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt, xóa án tích hoặc đã chấp hành xong hình phạt

1.1.2.2 Đặc điểm cơ bản của tình tiết phạm tội từ hai lần trở lên

Từ khái niệm nói trên tình tiết phạm tội từ hai lần trở lên có những đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất: là hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm do người phạm tội thực hiện từ hai lần trở lên Hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi gây thiệt hại cho xã hội hoặc đe dọa gây ra các thiệt hại cho các quan hệ xã hội như: xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng,

an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa được quy định ở các điều luật cụ thể thuộc phần các tội phạm của Bộ luật hình sự

Thứ hai: là hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mỗi lần thực hiện đã có đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể Đây là một đặc điểm quan trọng để xác định có phải người phạm tội đã thực hiện từ hai lần hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm hay không Nếu hành vi không có đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể thì không thể xác định được đó là tình tiết phạm tội hai lần trở lên

Trang 26

Thứ ba: tội phạm này do một điều hoặc một khoản của điều tương ứng trong Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự quy định Đây là một đặc điểm đặc trưng của tình tiết phạm tội hai lần trở lên và dùng để phân biệt với tình tiết phạm nhiều tội Người phạm tội thực hiện hai lần trở lên hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm và mỗi lần thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nói trên đã có đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể

Thứ tư: tội phạm này chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

và người phạm tội phải bị đưa ra xét xử cùng một lần Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 27 Bộ luật Hình sự năm 2015 Nếu hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì hành vi nói trên không bị tính là một lần phạm tội Đặc điểm "người phạm tội phải bị đưa ra xét xử cùng một lần" có nghĩa là các hành vi phạm tội trước đó chưa bị đưa ra xét xử lần nào Đây là một đặc điểm để phân biệt giữa tình tiết phạm tội nhiều lần và tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm

Thứ năm: nếu điều luật có quy định về giá trị tài sản hoặc thiệt hại về tài sản thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng giá trị tài sản của các lần phạm tội cộng lại

Là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết phạm tội từ 02 lần trở lên là một trong những căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự của tội phạm, đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá mức độ nguy hiểm đối với xã hội của hành vi phạm tội, làm căn cứ để các cơ quan THTT ra định hình phạt chính xác đối với các loại tội phạm Là sự thể hiện chính sách pháp luật hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm

1.2 Phân biệt khái niệm phạm tội từ hai lần trở lên với một số khái niệm có liên quan

1.2.1 Phạm tội từ hai lần trở lên và phạm tội liên tục

Phạm tội liên tục là tội phạm mà hành vi khách quan có tính liên tục,

Trang 27

bao gồm nhiều hành vi cùng loại xảy ra kế tiếp nhau về mặt thời gian, cùng xâm hại một quan hệ xã hội và đều bị chi phối bởi một ý định phạm tội cụ thể thống nhất Đặc điểm của tội phạm liên tục là có hành vi cấu thành tội phạm,

có hành vi không cấu thành tội phạm Phạm tội liên tục chỉ tồn tại đối với một

số tội danh Trong trường hợp phạm tội liên tục, người phạm tội không bị coi

là phạm tội nhiều lần Hành vi phạm tội của họ là hành vi tổng hợp của các hành vi cụ thể và hậu quả của tội phạm cũng là tổng hợp các hậu quả của hành vi cụ thể đó

Phạm tội liên tục cũng là tội phạm được hình thành từ nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, nhưng khác với phạm tội nhiều lần

đó là, người phạm tội thực hiện một loạt hành vi nguy hiểm cho xã hội và tổng hợp các hành vi nguy hiểm cho xã hội đó mới cấu thành nên một tội vì mỗi hành vi độc lập chưa đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể Còn với tình tiết phạm tội hai lần trở lên thì mỗi hành vi nguy hiểm cho xã hội đã có đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm độc lập Mặt khác, xét về hậu quả cũng như thiệt hại cho xã hội do hành vi gây ra thì phạm tội hai lần trở lên gây ra thiệt hại lớn hơn rất nhiều so với tội liên tục Về mức độ trách nhiệm hình sự, phạm tội hai lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự còn phạm tội liên tục là một thuật ngữ trong khoa học pháp lý để chỉ tội đó do một loạt hành vi cấu thành nên và nó chỉ là tình tiết định tội mà thôi

1.2.2 Phạm tội từ hai lần trở lên và tái phạm, tái phạm nguy hiểm

Cũng giống như tình tiết phạm tội từ 02 lần trở lên, tái phạm cũng là trường hợp người phạm tội thực hiện từ hai lần trở lên hành vi nguy hiểm cho

xã hội bị luật hình sự cấm Tái phạm được hiểu là là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý

Trang 28

Tái phạm có các đặc điểm sau:

- Thứ nhất, đã bị kết án: Được xem là đã bị kết án khi người phạm tội

đã bị tuyên một bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án Điều đó có nghĩa là người bị Tòa án xử phạt với bất cứ hình phạt chính nào (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ…)

- Thứ hai, chưa được xóa án tích: Việc xóa án tích được xác định theo quy định tại Điều 69, Điều 70, Điều 71 Bộ luật Hình sự 2015, theo đó, tình tiết “chưa được xóa án tích” được xác định như sau: người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án, thực hiện hành vi phạm tội trong thời hạn sau: 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt từ nhưng được hưởng án treo; 02 năm trong trường bị phạt tù đến 05 năm; 03 năm trong trường hợp bị phạt từ từ 05 đến 15 năm

Trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định trên thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung

- Thứ ba, hành vi phạm tội được thực hiện do cố ý hoặc thực hiện hành

vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do

vô ý Trường hợp người phạm tội thực hiện tội mới là tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trong thì được xác định là hành vi tái phạm khi tội mới này thực hiện với lỗi cố ý, nếu thực hiện với lỗi vô ý thì không coi là tái phạm Trường hợp người phạm tội thực hiện tội mới là tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng thì không phân biệt người phạm tội do lỗi cố ý hay vô ý, người thực hiện hành vi này đều được xác định là tái phạm

Trang 29

Việc tái phạm chỉ được đặt ra khi hành vi phạm tội mới của họ có đầy

đủ dấu hiệu của một cấu thành tội phạm độc lập, nếu không đáp ứng đủ dấu hiệu của cấu thành tội phạm của tội mới thì hành vi của người này không bị coi là phạm tội nên không đặt ra là hành vi tái phạm Tình tiết tái phạm được quy định trong Bộ luật hình sự vừa là tình tiết định tội vừa là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt hoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Nếu tình tiết tái phạm đã là dấu hiệu định tội trong cấu thành tội phạm thì

không bị coi tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hay tình tình tiết tăng nặng định khung hình phạt nữa

Tái phạm nguy hiểm được coi là dạng đặc biệt của hành vi tái phạm, nếu thuộc một trong các trường hợp sau sẽ được xác định là tái phạm nguy hiểm:

- Người nào đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trước đó do lỗi cố ý nhưng chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới cũng là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng với lỗi cố ý thì được coi là tái phạm nguy hiểm

- Người nào đã bị kết án 2 lần về bất kỳ tội danh nào, trong lần kết án thứ 2 người này đã bị áp dụng tình tiết tái phạm mà hành vi phạm tội này chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới do lỗi cố ý sẽ được xác định là tái phạm nguy hiểm

Theo đó, người nào đã bị kết án 2 lần về tội phạm độc lập do Bộ luật Hình sự quy định, trong lần kết án thứ 2 trước đó, người này đã bị áp dụng tình tiết tái phạm mà hành vi phạm tội này chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới do lỗi cố ý khi đó, không phân biệt tội mới mà người này thực hiện là loại tội nào, hành vi mới của họ sẽ bị coi là tái phạm nguy hiểm

Như vậy, mặc dù có thể căn cứ vào tính chất đã kết án hoặc chưa để phân biệt đâu là tái phạm, đâu là tái phạm nguy hiểm với phạm tội từ 02 lần trở lên, tuy nhiên còn phải căn cứ thêm vào nhiều trường hợp pháp luật quy

Trang 30

định khác Cụ thể như khoản 7 Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015 quy định rằng

án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi thì sẽ không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm

1.2.3 Phạm tội từ hai lần trở lên và phạm tội đối với hai người trở lên

Trong thực tiễn, không có quy định, hướng dẫn nào định nghĩa thế nào

là phạm tội đối với 02 người trở lên, cũng như không có định nghĩa trong từ điển Luật học

Tuy nhiên, Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC

- BNV ngày 02/01/1998 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Sửa

đổi, bổ sung một số điều của BLHS tại tiết c, tiểu mục I, mục B thì: Tình tiết

"phạm tội đối với nhiều người" quy định tại khoản 2 Điều 185i, khoản 2 Điều 185k, khoản 2 Điều 185m được hiểu là trong một lần phạm tội cụ thể đó, thì người phạm tội đã phạm tội đối với hai người trở lên

Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999 Tại tiết 2.4, tiểu mục

2, mục I của thông tư hướng dẫn tình tiết “Phạm tội đối với nhiều người” quy

định tại khoản 2, các điều 197, 198 và 200 của BLHS năm 1999 thể hiện:

Tình tiết “Phạm tội đối với nhiều người” được hiểu là trong một lần phạm tội, người phạm tội đã thực hiện tội phạm đối với từ hai người trở lên (Ví dụ trong một lần phạm tội tổ chức cho từ hai người trở lên sử dụng trái phép chất ma túy…)

Như vậy, có thể hiểu phạm tội đối với 02 người trở lên (hay phạm tội đối với nhiều người) được hiểu là trong một lần phạm tội, người phạm tội đã thực hiện tội phạm đối với từ hai người trở lên Khác với phạm tội từ 02 lần trở lên, phạm tội đối với 02 người chỉ được thực hiện 01 lần, tuy nhiên, hành

Trang 31

vi phạm tội đã xâm phạm đối với 02 người Tình tiết phạm tội đối với 02 người trở lên không được coi là một trong những tình tiết tăng nặng như tình tiết phạm tội từ 02 lần trở lên mà là tình tiết định khung hình phạt trong một

số tội nhất định được quy định trong BLHS

1.2.4 Phạm tội từ hai lần trở lên và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp

Dưới góc độ khoa học luật hình sự, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp được hiểu là phạm tội nhiều lần, có tính chất liên tục và nhằm mục đích vụ lợi hay làm giàu bất chính mà hoạt động phạm tội đã trở thành hệ thống và tạo nên nguồn thu nhập cơ bản hoặc nguồn sống chủ yếu của người phạm tội Theo hướng dẫn tại điểm 3 Điều 5 Nghị quyết số 03/2019/NQ-HĐTP ngày 24/5/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC (Nghị quyết 03/2019) hướng dẫn áp dụng Điều 324 BLHS 2015 về tội rửa tiền thì tình tiết

“Có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 324 BLHS

2015 được hướng dẫn như sau:

3 Có tính chất chuyên nghiệp quy định tại điểm d khoản 2 Điều

324 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi rửa tiền từ 05 lần trở lên (không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa

án tích) và người phạm tội lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc rửa tiền làm nguồn thu nhập

Như vậy, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp thể hiện tính nguy hiểm

và mang cấp độ cao hơn so với tình tiết phạm tội nhiều lần Phạm tội nhiều lần chỉ để chỉ người phạm tội thực hiện từ hai lần hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm Còn đối với phạm tội có tính chất chuyên nghiệp thì các hành vi phạm tội có tính chất liên tục nghĩa là người phạm tội liên tiếp thực hiện loại tội phạm cùng nhóm trong khoảng thời gian nhất định và ít nhất

Trang 32

phải từ năm lần trở lên Các hành vi phạm tội đã trở thành hoạt động phạm tội

có hệ thống và tạo nên nguồn thu nhập cơ bản hoặc nguồn sống chủ yếu của người phạm tội Mặt khác, nếu ở tình tiết phạm tội hai lần trở lên thì các lần người tội phạm thực hiện hành vi phạm tội chưa bị đưa ra xét xử lần nào thì ở tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp người phạm tội có thể bị đưa ra xét xử ở các lần khác nhau Bởi vì có thể ngay sau khi được xóa án tích người phạm tội lại tiếp tục thực hiện một loạt tội phạm cùng nhóm Điểm khác nhau cuối cùng là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự còn ở phạm tội hai lần trở lên thì các lần phạm tội phải chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự

1.2.5 Phạm tội từ hai lần trở lên và phạm nhiều tội

Cũng như tình tiết phạm tội hai lần trở lên, tình tiết phạm nhiều tội cũng chưa được điều chỉnh chính thức bằng một quy phạm riêng biệt nào trong pháp luật hình sự Việt Nam Thuật ngữ "phạm nhiều tội" chỉ được đề cập đến trong tên gọi của một điều luật "Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội" (Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015)

Để phân biệt hai tình tiết này chúng ta có thể dựa vào các khái niệm, các đặc điểm của nó dưới góc độ khoa học luật hình sự Phạm tội nhiều lần là phạm tội từ hai lần trở lên mà những tội ấy được quy định tại cùng một điều (hoặc tại cùng một khoản của điều) tương ứng trong Phần riêng Bộ luật Hình

sự, đồng thời đối với những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và người phạm tội vẫn chưa bị xét xử Phạm nhiều tội là phạm tội từ hai lần trở lên hoặc khi hành vi của người phạm tội có dấu hiệu của từ hai tội trở lên mà những tội ấy được quy định tại các điều khác nhau (hoặc tại các khoản khác nhau của cùng một điều nếu các đối tượng của tội phạm khác nhau) trong Phần riêng Bộ luật Hình sự [3, tr.396], đồng thời với những tội ấy

Trang 33

vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và người phạm tội chưa bị xét

xử về tội nào trong số những tội ấy

Từ hai khái niệm nói trên, có thể thấy đặc điểm duy nhất để phân biệt hai tình tiết này là: số lần phạm tội từ hai lần trở lên nhưng ở tình tiết phạm tội hai lần trở lên thì những tội ấy được quy định tại cùng một điều (hoặc một khoản của điều) tương ứng trong Phần riêng Bộ luật Hình sự, còn ở tình tiết phạm nhiều tội thì những tội ấy được quy định tại các điều khác nhau (hoặc tại các khoản khác nhau của cùng một điều nếu các đối tượng của tội phạm khác nhau) trong Phần riêng của Bộ luật Hình sự

1.3 Khái quát quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phạm tội từ hai lần trở lên

1.3.1 Quy định về phạm tội nhiều lần trong Bộ luật hình sự năm 1985

Đáp ứng yêu cầu tăng cường kỷ cương, pháp luật và thực hiện đầy đủ, toàn diện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước, ngày 27/06/1985, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VII, Quốc hội đã thông qua toàn văn Bộ luật Hình

sự, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1986 (gọi là Bộ luật Hình sự 1985) Bộ luật Hình sự năm 1985 ra đời dựa trên cơ sở sự kế thừa và phát triển những thành tựu của pháp luật hình sự Việt Nam Đây là bước ngoặt rất quan trọng trong lịch sử pháp luật nước ta Các quy định về hình sự đã được tập trung lại thành một bộ luật hoàn chỉnh Tại phần chung của Bộ luật Hình sự năm 1985 lần đầu tiên tình tiết phạm tội nhiều lần chính thức được quy định là một tình tiết tăng nặng chung Cụ thể như sau:

Điều 39 Những tình tiết tăng nặng

1 Những tình tiết sau đây mới được coi là tình tiết tăng nặng:

h) Phạm tội nhiều lần; tái phạm; tái phạm nguy hiểm [32, Điều 39]

Tại Phần riêng của Bộ luật tình tiết phạm tội nhiều lần được xét đến

Trang 34

như là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng trong một số tội phạm khác nhau được quy định tại các điều tương ứng trong bộ luật Cụ thể:

1) Khoản 2 Điều 88 Tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép

2) Điểm đ khoản 2 Điều 97 Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới

3) Khoản 2 Điều 170 Tội lừa dối khách hàng

4) Điểm đ khoản 2 Điều 226 Tội nhận hối lộ

5) Điểm đ khoản 2 Điều 227 Tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ 6) Điểm c khoản 2 Điều 272 Tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại chiến lợi phẩm

Trong khoảng 15 năm tồn tại, Bộ luật Hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung 4 lần vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997 Qua bốn lần sửa đổi, bổ sung có trên 100 lượt điều luật được sửa đổi hoặc bổ sung Với những sửa đổi, bổ sung này luật hình sự đã có sự phát triển đáp ứng được phần nào đòi hỏi của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong điều kiện đổi mới Tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 ngày 10/05/1997, quy định phạm tội nhiều lần là tình tiết định khung hình phạt cao

ở các tội phạm cụ thể đã được tăng lên rất nhiều so với Bộ luật Hình sự năm

1985 (từ 6 tội lên đến 28 tội) Cụ thể các tội nói sau được bổ sung thêm tình tiết tăng nặng định khung phạm tội nhiều lần:

1) Tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa

2) Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa

3) Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa

4) Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân

Trang 35

5) Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ 6) Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ

7) Tội giả mạo trong công tác

8) Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác

để trục lợi

9) Tội sản xuất trái phép chất ma túy

10) Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

11) Tội vận chuyển trái phép chất ma túy

12) Tội mua bán trái phép chất ma túy

13) Tội chiếm đoạt chất ma túy

14) Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy

15) Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy 16) Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

17) Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

18) Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy 19) Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác

20) Tội hiếp dâm trẻ em

21) Tội cưỡng dâm người chưa thành niên

22) Tội giao cấu với trẻ em

23) Tội chứa mãi dâm, tội môi giới mãi dâm

24) Tội mua dâm người chưa thành niên

25) Tội sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa

26) Tội hiếp dâm

27) Tội cưỡng dâm

28) Tội dâm ô đối với trẻ em

Trang 36

Bên cạnh đó về mặt thực tiễn, lần đầu tiên tình tiết phạm tội nhiều lần

đã được các cơ quan chức năng hướng dẫn áp dụng tại Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT ngày 02/01/1998 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) hướng dẫn áp dụng một

số quy định của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm

1985 Thông tư đã đưa ra khái niệm phạm tội nhiều lần đối với riêng một số tội phạm có tính chất tham nhũng và tình dục được đề cập trong Bộ luật Hình

sự Như vậy, tình tiết phạm tội nhiều lần đã được chính thức ghi nhận là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung hoặc là một tình tiết định khung hình phạt tăng nặng trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự Việc ghi nhận nói trên đồng thời cũng là một căn cứ pháp lý quan trọng cho việc tòa án xem xét trong vấn đề quyết định khung và mức hình phạt

1.4.2 Quy định về phạm tội nhiều lần trong BLHS năm 1999

Những quy định của Phần chung Bộ luật Hình sự năm 1999 về phạm tội nhiều lần kế thừa những quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định tình tiết phạm tội nhiều lần là một trong các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (điểm g khoản 1 Điều 48):

1 Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d) Phạm tội có tính chất côn đồ;

đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;

e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

g) Phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm;

h) Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người ở trong

Trang 37

tình trạng không thể tự vệ được hoặc đối với người lệ thuộc mình

về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

i) Xâm phạm tài sản của Nhà nước;

k) Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội; m) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác phạm tội hoặc thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

n) Xúi giục người chưa thành niên phạm tội;

o) Có hành động xảo quyệt, hung hãn nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm

2 Những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng

Tình tiết phạm tội nhiều lần dưới góc độ là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ để Tòa án cá thể hóa trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội theo hướng nghiêm khắc hơn trong phạm vi một khung hình phạt nếu trong vụ án hình sự có tình tiết này Một mức hình phạt cụ thể là ba năm, bảy năm, mười lăm năm, hai mươi năm, thậm chí là sự lựa chọn giữa hình phạt tù chung thân và hình phạt tử hình một phần phụ thuộc vào việc người phạm tội có hay không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có một hay nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, để từ

đó Tòa án quyết định loại và mức hình phạt áp dụng đối với người phạm tội

Do đó, tình tiết phạm tội nhiều lần nhìn từ góc độ này có ý nghĩa và ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của Tòa án, đến quyền và lợi ích thiết thân của chính bản thân người phạm tội Tuy nhiên, trong một vụ án hình sự có thể có một tội phạm hoặc nhiều tội phạm, một người phạm tội hoặc nhiều người

Trang 38

phạm tội, nên việc xác định tình tiết định tội và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chỉ trong phạm vi một tội phạm cụ thể mà không được sử dụng tình tiết định tội của tội phạm này làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của tội phạm khác cũng như tình tiết tăng nặng của người phạm tội này làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho người phạm tội khác vì "những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng"

Tổng số điều luật có tình tiết “phạm tội nhiều lần” là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 là 48 điều Cụ thể:

1) Điểm c khoản 1 Điều 104: Tội cố ý gây thương tích

2) Điểm d khoản 2 Điều 111: Tội hiếp dâm

3) Điểm c khoản 3 Điều 112: Tội hiếp dâm trẻ em

4) Điểm b khoản 2 Điều 113: Tội cưỡng dâm

5) Điểm b khoản 3 Điều 114: Tội cưỡng dâm trẻ em

6) Điểm a khoản 3 Điều 115: Tội giao cấu với trẻ em

7) Điểm a khoản 2 Điều 116: Tội dâm ô với trẻ em

8) Điểm e khoản 2 Điều 119: Tội mua bán phụ nữ (nay đổi là Tội mua bán người)

9) Điểm b khoản 2 Điều 121: Tội làm nhục người khác

10) Điểm b khoản 2 Điều 123: Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

11) Điểm c khoản 2 Điều 125: Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác

12) Điểm b khoản 2 Điều 131: Tội xâm phạm quyền tác giả

13) Điểm a khoản 2 Điều 142: Tội sử dụng trái phép tài sản

14) Điểm k khoản 2 Điều 153: Tội buôn lậu

Trang 39

15) Điểm đ khoản 2 Điều 154: Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới

16) Khoản 2 Điều 162: Tội lừa dối khách hàng

17) Điểm b khoản Điều 169: Tội cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ

18) Điểm b khoản 2 Điều 170: Tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

19) Điểm b khoản 2 Điều 171: Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

20) Điểm b khoản 2 Điều 173: Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai

21) Điểm b khoản 2 Điều 176: Tội vi phạm các quy định về quản

lý rừng

22) Điểm b khoản 2 Điều 193: Tội sản xuất trái phép chất ma túy 23) Điểm b khoản 2 Điều 194: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

24) Điểm b khoản 2 Điều 195: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy 25) Điểm b khoản 2 Điều 196: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy

26) Điểm a khoản 2 Điều 197: Tội tổ chức sử dụng trái phép chất

Trang 40

29) Điểm b khoản 2 Điều 201: Tội vi phạm quy định về quản lý sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác

30) Điểm a khoản 2 Điều 228: Tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em

31) Điểm c khoản 2 Điều 251: Tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có (nay gọi là Tội rửa tiền)

32) Điểm c khoản 2 Điều 254: Tội chứa mại dâm

33) Điểm d khoản 2 Điều 255: Tội môi giới mại dâm

34) Điểm a khoản 2 Điều 256: Tội mua dâm người chưa thành niên 35) Điểm b khoản 2 Điều 257: Tội chống người thi hành công vụ 36) Điểm b khoản 2 Điều 266: Tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức

37) Điểm b khoản 2 Điều 267: Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

38) Khoản 2 Điều 275: Tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép

39) Điểm c khoản 2 Điều 278: Tội tham ô tài sản

40) Điểm c khoản 2 Điều 279: Tội nhận hối lộ

41) Điểm c khoản 2 Điều 280: Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

42) Điểm b khoản 2 Điều 281: Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

43) Điểm b khoản 2 Điều 282: Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ

44) Điểm b khoản 2 Điều 283: Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi

45) Điểm c khoản 2 Điều 284: Tội giả mạo trong công tác

Ngày đăng: 02/05/2021, 09:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w