1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo luật hình sự việt nam

166 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy định của Luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trước khi BLHS năm 2015 được ban hành

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRỊNH THỊ UYÊN

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI THEO LUẬT

HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRỊNH THỊ UYÊN

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI THEO LUẬT

HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số : 8380101.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN KIM CHI

Hà Nội – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết

quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung

thực khoa học, đồng thời tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung khoa học của luận

văn này Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ

tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo

vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

TRỊNH THỊ UYÊN

Formatted: Font: Vntime Formatted: Justified, Indent: First line: 0.5"

Formatted: Justified, Indent: First line: 0.5",

Tab stops: 2.94", Left

Formatted: Left, Tab stops: 3.93", Left Formatted: Left, Space Before: 0 pt, After: 0

pt

Formatted: Left, Tab stops: 4.04", Left Formatted: Font: Vntime, Bold Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Trang 4

LỜI CM ƠN

Luận văn của tác giả hoàn thành tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã nhận được những sự giúp đỡ vô cùng quý báu

của các tập thể và cá nhân

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa học: TS

Nguyễn Kim Chi đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn trong quá trình nghiên cứu, thực

tiễn đề tài

Em xin chân thành cảm ơn tập thể Bộ môn Tư pháp hình sự, Lãnh đạo Khoa

Luật đã tạo mọi điều kiện cho em học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Formatted: Font: Vntime Formatted: Font: Vntime Formatted: Justified

Formatted: Left, Space Before: 0 pt, After: 0

pt

Formatted: Left, Tab stops: 3.6", Left Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Heading 1, Line spacing: single,

No bullets or numbering

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 2

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 13

1.1 Khái niệm, các căn cứ, nguyên tắc và ý nghĩa về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 13

1.1.1 Khái niệm quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 13

1.1.2 Các căn cứ của quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 21

1.1.3 Nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 37

1.1.4 Ý nghĩa của quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 43

1.2 Quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong BLHS tại một nước trên thế giới 46

1.2.1 Quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong BLHS Nhật Bản 46

Trang 6

1.2.2 Quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong BLHS Trung Hoa 47 1.2.3 Quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong BLHS Thái Lan 48 Kết luận chương 1 73

Chương 2 QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG

HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 77

2.1 Quy định của Luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trước khi BLHS năm 2015 được ban hành 77 2.1.1 Giai đoạn từ Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ nhất - BLHS năm 1985 77 2.1.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 đến trước khi ban hành BLHS năm 2015 78 2.2 Quy định của BLHS năm 2015 về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn

bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 89 2.2.1 Quy định của BLHS năm 2015 về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 89 2.2.2 Quy định của BLHS năm 2015 về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 92 2.3 Thực tiễn áp dụng các quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi trên địa bàn thành

phố Hà Nội 94

Trang 7

2.3.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp

chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa

bàn thành phố Hà Nội 96

2.3.2 Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế trong việc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 103

Kết luận chương 2 123

Chương 3 CƠ SỞ VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG BLHS NĂM 2015 125

3.1 Cơ sở của việc tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của BLHS năm 2015 về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 125

3.1.1 Về mặt lập pháp 126

3.1.2 Về mặt lý luận 127

3.1.3 Về mặt thực tiễn 128

3.2 Hoàn thiện những quy định của BLHS năm 2015 việc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 128

3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của BLHS năm 2015 việc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 135

Kết luận chương 3 149

KẾT LUẬN 152

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 155

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Heading 1, Line spacing: single,

No bullets or numbering

Trang 8

2.2

Tổng số thụ lý, giải quyết án hình sự sơ thẩm có người dưới

18 tuổi phạm tội và hình phạt được áp dụng của Tòa Hình sự - TAND thành phố Hà Nội giai đoạn 2014 – 2018

65

2.3

Tổng số thụ lý, giải quyết án hình sự sơ thẩm có người dưới

18 tuổi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt của Tòa Hình sự - TAND thành phố Hà Nội giai đoạn 2014 – 2018

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ luật hình sựBộ luật Hình sự

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

TNHS : Trách nhiệm hình sự

TAND : Tòa án nhân dân

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Left, Indent: Left: 0", First line:

0", Space Before: 4 pt, After: 4 pt, Tab stops: 0.67", Left

Formatted: Font: Vntime, Not Bold, Font color:

Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Not Bold, Font color:

Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Not Bold, Font color:

Before: 0 pt, After: 0 pt

Formatted: Left, Tab stops: 3.35", Left

Formatted: Left, Indent: First line: 0", Space

Before: 0 pt, After: 0 pt

Trang 10

Formatted: Font: Vntime, Not Bold, Font color:

Blue

Formatted: Left: 1.38", Top: 1.18", Bottom:

1.38"

Trang 11

MỞ ĐẦU

19

1 Đặt vấn đề

1 1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Tội phạm có tính chất nguy hiểm cho xã hội, tội phạm gây ra hoặc đe dọa

gây ra những thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự xác lập và

bảo vệ, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình

sự thực hiện với hình thức lỗi cố ý và vô ý

Mặc dù tất cả tội phạm đều có tính nguy hiểm cho xã hội nhưng mức độ

nguy hiểm của các hành vi phạm tội là khác nhau Mức độ thực hiện tội phạm cũng

là một trong các yếu tố thể hiện mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Về

phương diện lý luận, mức độ thực hiện tội phạm được phân chia bởi các giai đoạn

phạm tội là: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành Tương

ứng với các giai đoạn này, hành vi phạm tội mang tính nguy hiểm cho xã hội ở các

mức độ khác nhau Với mức độ nguy hiểm khác nhau thì logic đương nhiên là trách

nhiệm hình sự và hình phạt áp dụng phải nặng, nhẹ khác nhau mới bảo đảm công

bằng và được dư luận xã hội đồng tình, người phạm tội tâm phục Chính vì lẽ đó,

trong pháp luật hình sự phải đặt ra quy định về quyết định hình phạt trong trường

hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, tội phạm hoàn thành Ở hai giai đoạn

chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt do mức độ thực hiện tội phạm của hai trường

hợp này còn hạn chế, là giai đoạn đầu nên ít nguy hiểm hơn so với tội phạm đã hoàn

thành vì vậy mà ít được quan tâm hơn mặc dù việc ngăn chặn hành vi phạm tội

ngay từ giai đoạn đầu là rất quan trọng, giúp đạt được hiệu quả tối đa trong phòng

chống tội phạm, giảm thiểu mức độ hậu quả hành vi phạm tội gây ra

Trong những năm gần đây, độ tuổi của người phạm tội có dấu hiệu trẻ hóa

Tội phạm là người dưới 18 tuổi thường manh động, liều lĩnh hơn Lẽ ra, người dưới

18 tuổi là nguồn lao động trẻ, thế hệ trẻ đầy nhiệt huyết, ước mơ và hoài bão, là

tương lai của đất nước Nhưng có một thực trạng đáng báo động hiện nay là số

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Heading 2, Left, Line spacing:

single

Formatted: Heading 2, Left, Space Before: 0

pt, Line spacing: single, No bullets or numbering

Formatted: Space Before: 4 pt, After: 4 pt

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Trang 12

người dưới 18 tuổi phạm tội đang gia tăng về số lượng và có chiều hướng diễn biến

phức tạp, đòi hỏi phải có những biện pháp xử lý thích hợp, không chỉ nhằm đảm

bảo trật tự an toàn cho cộng đồng mà còn nhằm bảo vệ sự phát triển bền vững của

xã hội trong tương lai

Người dưới 18 tuổi là đối tượng cần được xã hội, gia đình quan tâm, định

hướng đúng đắn Người dưới 18 tuổi còn chưa phát triển đủ cả về tâm lý lẫn thể chất

do vậy mà người dưới 18 tuổi rất dễ bị dụ dỗ, lôi kéo và có những hành vi vi phạm

pháp luật Bộ luật hình sựBLHS năm 2015 mới được ban hành đã có những điểm mới

quy định về quyết định hình phạt đối với người phạm tội Một trong những nội dung

lớn được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi

phạm tội nhằm bảo đảm việc quyết định hình phạt đúng người, đúng tội, tạo cơ hội

cho người phạm tội làm lại từ đầu, hoàn lương trở thành người lương thiện phù hợp

với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về tăng cường bảo vệ người dưới 18 tuổi

Từ đó, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm

tội được ghi nhận tại Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, đồng thời bảo đảm

sự phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em và các chuẩn mực

pháp lý quốc tế về tư pháp đối với người dưới 18 tuổi

So với Bộ luật hình sựBLHS năm 1985, Bộ luật hình sựBLHS năm 1999 (sửa

đổi, bổ sung năm 2009), Bộ luật hình sựBLHS năm 2015 đã có quy định riêng trong

trường hợp quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Việc cụ thể hóa các quy định về quyết định hình

phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi

giúp tách biệt với trường hợp người trên 18 tuổi phạm tội, thống nhất với các nguyên

tắc trong việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội BLHS năm 2015 bổ sung quy định về

quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với

người dưới 18 tuổi phạm tội đã quy định rõ ràng, chi tiết hơn Việc phân hóa phù hợp

với độ tuổi, nhận thức của người phạm tội thể hiện rõ nét tính nhân đạo trong việc xây

dựng pháp luật cũng như giúp đỡ cho người phạm tội có cơ hội để sửa chữa sai lầm và

tái hòa nhập cộng đồng Quy định như vậy đã thể hiện sự quan tâm, chính sách khoan

Trang 13

hồng của Đảng, Nhà nước, của xã hội đối với đối tượng phạm tội là người dưới 18 tuổi

phạm tội

Tuy nhiên qua thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn

chế do nhận thức và việc áp dụng không thống nhất các quy định của Bộ luật hình

sựBLHS về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa

đạt đối với người dưới 18 phạm tội khiến cho việc quyết định hình phạt vẫn còn

nghiêm khắc Việc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm

tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội còn phụ thuộc vào ý kiến chủ quan

của những cán bộ áp dụng pháp luật dẫn đến việc các hình phạt là khác nhau, không

đồng đều mặc dù cùng tội danh, cùng mức độ phạm tội Bộ luật hình sự

Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận; phân tích

các quy định pháp luật hình sự về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị

phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi sẽ góp phần giải quyết các

hạn chế, bất cập hiện nay Đồng thời đánh giá thực tiễn áp dụng trên một địa bàn cụ

thể từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật

và nâng cao chất lượng thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị

phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi có ý nghĩa cả về mặt lý luận

và thực tiễn Đây là lý do học viên quyết định chọn đề tài “Quyết định hình phạt

trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi

phạm tội trong Luật hình sự Việt Nam” là luận văn thạc sỹ Luật học

1 2 Tình hình nghiên cứuMục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về

Qquyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối

với người dưới 18 tuổi phạm tội là một vấn đề hẹp và thuộc chế định các giai đoạn

phạm tội, đồng thời nó cũng có liên hệ mật thiết đến nhiều quy phạm và chế định

khác trong luật hình sự như: tội phạm, hình phạt, TNHS, …Ngoài ra, mặc dù

BLHSộ luạt hình sự năm 2015 đã có những quy định thay đổi đáng kể về quyết định

Formatted: Indent: First line: 0.5", Right:

-0.1", Space Before: 4 pt, After: 4 pt

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Space Before: 4 pt, After: 4 pt

Formatted: Heading 2, Left, Indent: Left: 0",

Space Before: 0 pt, Line spacing: single

Formatted: Indent: Left: -0.5", Space Before:

4 pt, After: 4 pt

Formatted: Normal, Indent: First line: 0.5",

Space Before: 4 pt, After: 4 pt, No bullets or numbering

Trang 14

hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt như quy định thêm

một điều luật (Điều 102) trong Bộ luật hình sựBLHS năm 2015 gồm 3 khoản quy

định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tương ứng với từng hành vi phạm tội ở các giai

đoạn phạm tội khác nhau – chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt nhưng xung quanh

chế định này còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu và đòi hỏi có quan điểm thống nhất

Sau khi Bộ luật hình sựBLHS năm 2015 ban hành, vấn đề chuẩn bị

phạm tội,phạm tội chưa đạt cũng được đề cập trong một số giáo trình, sách tham

khảo do các tác giả khác nhau biên soạn như:

1) “Chương XIII – Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm

tội”, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc Gia Hà

Nội, 2001, tái bản năm 2003, 2007 (Tập thể tác giả do GS.TSKH Lê Văn Cảm chủ

biên);

2) “Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội” giáo

trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của GS.TS Võ Khánh Vinh, Nxb Công

an nhân dân 2015;

3) TS Trần Văn Biên – TS Đinh Thế Hưng, Bình luận khoa học Bộ

luật hình sựBLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năn 2017, Nxb Thế giới, Hà Nội,

2017;

4) Đinh Văn Quế, Bình luận Bộ luật hình sựBLHS năm 2015 lần thứ

nhất, Nxb Thông tin và truyền thông năm 2017

Về luận văn, luận án có các đề tài:

1) “Nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam” của tiến sĩ Hồ

Sỹ Sơn năm 2007, Viện Nhà nước và pháp luật;

2) “Tội phạm ở lứa tuổi vị thành niên tại thành phố Hồ Chí Minh hiện

nay (Giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa)” của tiến sĩ Phạm Đình

Chi năm 2005, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà

Nội;

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Normal, Space Before: 4 pt, After:

4 pt, No bullets or numbering

Trang 15

3) “Pháp luật về quyền con người chưa thành niên phạm tội ở Việt

Nam” của tiến sĩ Vũ Thị Thu Quyên, năm 2015, Học viện chính trị Quốc gia Hồ

Chí Minh;

4) “Nguyên tắc nhân đạo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo

luật hình sự Việt Nam” của thạc sĩ Trần Thị Thùy Dương, năm 2018, Viện hàn lâm

khoa học xã hội Việt Nam, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội

5) “Các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội trong luật

hình sự Việt Nam” của thạc sĩ Nguyễn Tiến Hoàn năm 2013, Khoa Luật – Đại học

Quốc Gia Hà Nội;1) Chương

Ngoài ra, còn có một số bài đăng trên tạp chí khoa học pháp lý như:

1) “Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên; Những khía cạnh

pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học

(Phần thứ I, những khía cạnh pháp lý hình sự)” của PGS.TSKH Lê Văn Cảm và TS

Đỗ Thị Phượng đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, số 20-10/2004;

2) “Về phạm tội chưa đạt và một số hình thức phạm tội khác trong quá trình

thực hiện tội phạm” của PGS.TTS Trịnh Tiến Việt đăng trên Tạp chí Khoa học Đại

học Quốc gia Hà Nội số 25/2009;

3) “Những khía cạnh pháp lý hình sự về các hình phạt và biện pháp tư

pháp tư pháp áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” của PGS.TS Trịnh Tiến

Việt đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 13/2010;

4) “Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội và sự

thể hiện trong Bộ luật hình sựBLHS” của Lê Thị Sơn đăng trên tạp chí Luật học số

3/2015

1) Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về giai đoạn thực hiện

tội phạm, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 5/1999, của …

Các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến vấn đề chuẩn bị

phạm tội, phạm tội chưa đạt nhưng chỉ dừng lại ở một khía cạnh nào đó hoặc chừng

mực xem xét qua các trường hợp phạm tội cụ thể hay kiến nghị sửa đổi, bổ sung Bộ

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Normal, Indent: First line: 0.5",

Space Before: 4 pt, After: 4 pt, No bullets or numbering

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Space Before: 4 pt, After: 4 pt Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Normal, Indent: First line: 0.5",

Space Before: 4 pt, After: 4 pt, No bullets or numbering

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Trang 16

luật hình sựBLHS Tuy nhiên, về phương diện nghiên cứu lý luận chuyên sâu và có

hệ thống vấn đề quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội

chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội vẫn chưa được quan tâm một cách

đúng mức, mặc dù đây là giai đoạn quan trọng, có ý nghĩa rất lớn trong quá trình

đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt nếu việc phát hiện và ngặn chặn sớm

hành vi phạm tội chưa đạt sẽ làm giảm khả năng gây thiệt hại về nhiều hậu quả như:

chính trị, vật chất, tinh thần, cũng như tài sản của Nhà nước và toàn xã hội Do vậy,

nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh vấn đề quyết định hình phạt trong

trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm

tội đòi hỏi cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và sâu sắc

hơn

1.2.2 3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu

những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn

bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo luật hình sự

Việt Nam, so sánh quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm

tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội với so sánh quyết định hình phạt

trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi

phạm tội với một số nước trên thế giới Ngoài ra luận văn còn phân tích, đánh giá

những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và tồn tại trong các quy định của pháp

luật hình sự về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội

chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để từ đó, đưa ra giải pháp hoàn thiện

sửa đổi, bổ sung chế định này trong Bộ luật hình sựBLHS Việt Nam năm 2015 hiện

hành cụ thể là: Khái niệm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, người dưới 18 tuổi

phạm tội, ý nghĩa của việc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm

tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, nội dung và căn cứ áp

dụng của quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa

đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo Luật hình sự Việt Nam hiện hành, kết

hợp với thực tiễn áp dụng qua đó chỉ ra những nguyên tắc cơ bản và đề xuất những

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Trang 17

giải pháp lập pháp cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định

về vấn đề quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa

đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo Luật hình sự Việt Nam hiện hành

Nhiệm vụ nghiên cứu: học viên tập trung nghiên cứu quy định về quyết định

hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới

18 tuổi phạm tội theo Luật hình sự Việt Nam như sau:

1) Khái niệm, các đặc điểm của quyết định hình phạt trong trường hợp

chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội;

2) Các căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm

tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội;

1) 3) Nghiên cứu so sánh quy định của BLHS một số nước trên thế giới

về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối

với người dưới 18 tuổi phạm tội để rút ra nhận xét, đánh giá;

4) Hệ thống hóa quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị

phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong lịch sử lập

pháp từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay;

5) Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về

quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với

người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn 04 năm

(2014-2018), từ đó chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, nguyên nhân cơ bản;

6) Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sựBLHS năm 2015 về quyết

định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người

dưới 18 tuổi phạm tội.dưới khía cạnh lý luận hình sự và áp dụng chúng trong thực

tiễn,

4 Đối tƣợng và p hạm vi nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu: là một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề quyết

định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người

dưới 18 tuổi phạm tội theo Luật hình sự Việt Nam

Formatted: Space Before: 4 pt, After: 4 pt

Formatted: Indent: First line: 0.5", Space

Before: 4 pt, After: 4 pt, No bullets or numbering

Formatted: Indent: First line: 0.5", Space

Before: 4 pt, After: 4 pt, No bullets or numbering

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Trang 18

Phạm vi nghiên cứu: Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị

phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo luật hình sự

Việt Nam tại thực tế địa bàn thành phố Hà Nội Quyết định hình phạt trong trường

hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo

luật hình sự Việt Nam là một nội dung tương đối hẹp và phức tạp, nghiên cứu về

chế định này đã có nghiên cứu chuyên sâu và riêng rẽ về từng trường hợp cụ thể của

vấn đề phạm tội chưa đạt, nên việc hiểu trong lý luận và vận dụng trong thực tiễn

còn gặp nhiều khó khăn và vướng mắc Do đó phạm vi nghiên cứu của luận văn sẽ

xem xét và giải quyết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề quyết định hình

phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18

tuổi phạm tội theo luật hình sự Việt Nam hiện hành mà theo quan điểm của học viên

là vấn đề cơ bản và quan trọng

Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề quyết định

hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với

người dưới 18 tuổi phạm tội theo Luật hình sự Việt Nam hiện hành mà theo

quan điểm của học viên là vấn đề cơ bản và quan trọng Trong phạm vi nghiên

cứu học viên tập trung nghiên cứu quy định về quyết định hình phạt trong

trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi

phạm tội theo Luật hình sự Việt Nam

Tổng quan tài liệu

2 Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu

2.1 Nội dung nghiên cứu

Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

đối với người dưới 18 tuổi phạm tội lý luận và thực tiễn áp dụng trong theo

Luật hình sự Việt Nam Những kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả

áp dụng Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội

Formatted: Normal, Indent: First line: 0.5",

Space Before: 4 pt, After: 4 pt, No bullets or numbering

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Heading 2, Indent: Left: 0", Space

Before: 0 pt, Line spacing: single

Formatted: Heading 2, Left, Indent: First line:

0", Space Before: 0 pt, Line spacing: single

Trang 19

chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đúng người, đúng tội, tạo cơ hội

cho người phạm tội tái hòa nhập cộng đồng, sửa chữa sai lầm, làm lại từ đầu

5.2.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ

nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm

của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ

nghĩa,XHCN Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, về trương trình

cải cách tư pháp và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ quyền của

người dưới 18 tuổi phạm tội

Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện đề tài nghiên cứu chuyên sâu, học

viên còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích và tổng

hợp, thống kê, so sánh kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, nghiên cứu án điển hình

trong một số bản án,

6 Cơ sở khoa học và thực tiễn

Cơ sở khoa học của luận văn là quan điểm của các nhà làm luật được thể

hiện trong Bộ luật hình sựBLHS và các văn bản hướng dẫn thi hành về quyết định

hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới

18 tuổi phạm tội, cũng như hệ thống lý luận trong các công trình khoa học, sách báo

pháp lý của các tác giả có liên quan đến chế định này

Bên cạnh đó, cơ sở thực tiễn của luận văn là thực tiễn việc áp dụng các bản

án của Tòa án nhân dân các cấp về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị

phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo luật hình sự

Việt Nam trong phạm vi khoảng 04 năm gần đây (2014-2018) và qua đó để rút ra

những nhận xét, đánh giá

7 Ý nghĩa của lý luận và thực tiễn

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng của luận văn là ở chỗ tác giả đã làm

rõ khái niệm, cơ sở phân chia các khái niệm, bản chất pháp lý của quyết định hình

phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18

Formatted: Space Before: 4 pt, After: 4 pt

Formatted: Heading 2, Left, Indent: First line:

0", Space Before: 0 pt, Line spacing: single

Formatted: Indent: First line: 0", Space

Before: 4 pt, After: 4 pt

Formatted: Heading 2, Left, Indent: First line:

0", Space Before: 0 pt, Line spacing: single

Formatted: Indent: First line: 0", Space

Before: 4 pt, After: 4 pt

Trang 20

tuổi phạm tội, nội dung các căn cứ của các trường hợp quyết định hình phạt trong

trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm

tội trên cơ sở xem xét các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, đồng

thời đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy định tương ứng đó ở khía cạnh lập

pháp và áp dụng chúng trong thực tiễn

Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận cần thiết

cho các cán bộ thực tiễn, các sinh viên, học viên cao học, cũng như phục vụ cho

công tác lập pháp hình sự trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm ở những

giai đoạn đầu của tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội

trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi

hiện nay ở nước ta

2.3 Địa điểm nghiên cứu

Về vị trí địa lý: Huyện Thường Tín nằm dọc Quốc lộ 1A, cách trung tâm thành

phố Hà Nội 19 km về phía Nam, có ranh giới tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp

huyện Thanh Trì; phía Nam giáp huyện Phú Xuyên; phía Đông giáp huyện

Văn Giang và huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên, với dải ngăn cách tự nhiên là

sông Hồng; phía Tây giáp huyện Thanh Oai

Về diện tích tự nhiên và đặc điểm địa hình: Thường Tín là huyện thuộc đồng

bằng sông Hồng, địa hình tương đối bằng phẳng, độ chênh lệch cao thấp giữa

các vùng không đáng kể Địa hình có hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ

Đông sang Tây Địa hình có độ cao so với mực nước biển từ 5 - 8m

81.5 Kết cấu của luận văn2.4 Dự kiến kết quả: Một bài luận văn dài từ 75 đến

80 trang

Ngoài phần mở đầu, và phần kết thúc kết cấu luận văn và danh mục tài liệu

tham khảo, nội dung của luận văngồm 3 chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận chung về quyết định hình phạt trong trường

hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Not Bold, Font color:

Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Heading 2, Left, Indent: First line:

0", Space Before: 0 pt, Line spacing: single

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto,

English (U.S.)

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Space Before: 4 pt, After: 4 pt Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Trang 21

Chương 2 Quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị

phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong bộ luật hình

sựLuật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng

Chương 3 Cơ sở và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy

định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong bộ luật hình sựBLHS năm 2015bao gồm

Trang 22

Chương HƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG

TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT ĐỐI VỚI

NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI

1.1 Khái niệm, các căn cứ và ý nghĩa quyết định hình phạt trong trường hợp

chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

1.1 Khái niệm, các căn cứ, nguyên tắc và ý nghĩa về quyết định hình phạt

trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18

tuổi phạm tội

1.1.1 Khái niệm quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm

tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

1.1.1.1 Khái niệm quyết định hình phạt

Ở nước ta hiện nay, chưa có văn bản pháp lý hình sự nào đưa ra khái niệm

quyết định hình phạt Khái niệm quyết định hình phạt chỉ được đưa ra trong lý luận

và được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu khoa học Từ thực tế trên đã

cho thấy khái niệm quyết định hình phạt chưa đạt được sự thống nhất cao trong

khoa học pháp lý hình sự Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng về cơ bản có thể

khẳng định rằng những cách hiểu trên đều đồng nhất về nội dung (bản chất) của

khái niệm quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt áp

dụng đối với người phạm tội Sự đồng nhất này có thể thấy rõ trong giáo trình Luật

hình sự của các trường Đại học và trong một số tài liệu khác

Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra

định nghĩa thì: “Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức

phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể” [45,

tr 201]

Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của khoa Luật thuộc trường Đại học Quốc

Gia Hà Nội thì: “QĐHP là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt cụ thể (bao gồm

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Heading 2, Left, Space Before: 0

pt, Line spacing: single

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto,

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Trang 23

hình phạt chính và có thể cả hình phạt bổ sung) với mức độ cụ thể trong phạm vi

luật định để áp dụng đối với người phạm tội” [46, tr 317]

Tác giả Lê Văn Đệ cũng đưa ra khái niệm: “QĐHP là sự lựa chọn loại hình

phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với

người phạm tội cụ thể” [21, tr 161]

Hoặc tác giả Đinh Văn Quế có định nghĩa: “QĐHP là việc Tòa án lựa chọn

hình phạt buộc người bị kết án phải chấp hành Tòa án lựa chọn loại hình phạt nào,

mức phạt bao nhiêu, phải tuân theo những quy định của BLHS” [34, tr 89]

Từ các khái niệm về quyết định hình phạt trên tựu chung lại đều cùng khẳng

định quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt trong

phầnamh luật định để áp dụng đối với người phạm tội Việc lựa chọn loại hình phạt

được hiểu là chỉ lựa chọn loại hình phạt chính hoặc cả hình phạt chính và hình phạt

bổ sung trong số các hình phạt thuộc hệ thống hình phạt mà BLHS đã quy định, với

những mức độ cụ thể, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành

vi phạm tội và nhằm được mục đích của hình phạt Có thể nói đây chính là nội hàm

của khái niệm quyết định hình phạt được nhiều người ủng hộ Ngoài ra, ngay trong

cuốn giáo trình Luật hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật năm 201801 có đề

cập đến khái niệm quyết định hình phạt theo nghĩa rộng hơn là quyết định biện pháp

xử lý đối với người phạm tội Theo cách hiểu này, quyết định hình phạt không chỉ là

việc lựa chọn hình phạt chính và hình phạt bổ sung mà còn bao gồm cả việc quyết

định các biện pháp tư pháp nhằm hỗ trợ cho hình phạt được áp dụng đối với người

bị kết án

Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích mối quan hệ giữa định tội danh và quyết

định hình phạt, quan điểm của các tác giả, dưới góc độ luật hình sự và tố tụng hình

sự, khái niệm quyết định hình phạt có thể được định nghĩa như sau:

Quyết định hình phạt là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự,

do Tòa án có thẩm quyền (Hội đồng xét xử), nhân danh Nhà nước CHXHCN Việt

Nam thực hiện sau khi đã định tội danh tùy thuộc vào từng trường hợp để quyết

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Trang 24

định khung hình phạt, loại hình phạt (hình phạt chính, hình phạt bổ sung), mức hình

phạt cụ thể á p dụng cho chính cá nhân, pháp nhân thượng mại phạm tội trong

phạm vi giới hạn của khung hình phạt do luật định, phù hợp với tính chất, mức độ

nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội

theo quy định của BLHS.

1.1.1.2 Khái niệm chuẩn bị phạm tội

BLHS năm 1999 đưa ra khái niệm chuẩn bị phạm tội tại Điều 17 như sau:

“Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những

điều kiện khác để thực hiện tội phạm” [32] Như vậy, chuẩn bị phạm tội là giai đoạn

đầu tiên của quá trình thực hiện tội phạm do cố ý Người phạm tội từ chỗ có ý định

phạm tội, bằng ý thức chủ quan của mình đã nảy sinh ý định thực hiện hành vi nguy

hiểm cho xã hội, từ đó dẫn đến giai đoạn chuẩn bị phạm tội Có thể hiểu, chuẩn bị

phạm tội là chuẩn bị sẵn những điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm cụ

thể Các hành vi như tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện, tìm kiếm đồng

phạm, v.v

Như vậy, chuẩn bị phạm tội là chưa thực hiện hành vi cấu thành tội phạm

(trừ một số trường hợp đặc biệt), đó là hành vi chưa tác động trực tiếp đến các quan

hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, do đó, nó chưa trực tiếp gây nguy hại cho khách

thể của luật hình sự, nhưng lại là tiền đề, điều kiện thuận lợi để tội phạm xảy ra một

cách dễ dàng

Dựa theoTừ quy địinh tại BLHS, các nhà làm luật đã định nghĩa ngắn gọn,

tương đối rõ ràng về giai đoạn chuẩn bị phạm tội Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học

luật hình sự, khái niệm đang nghiên cứu có thể được định nghĩa như sau: Chuẩn bị

phạm tội là giai đoạn đầu tiên của quá trình thực hiện tội phạm do cố ý trực tiếp, là

khi một người tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện

khác để thực hiện tội phạm, tuy nhiên vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của

người phạm tội nên tội phạm đã không được thực hiện đến cùng.

1.1.1.3 Khái niệm phạm tội chưa đạt

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Formatted: Space Before: 4 pt, After: 4 pt,

Tab stops: 3.91", Left

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Justified, Space Before: 4 pt,

After: 4 pt, Line spacing: 1.5 lines

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Space Before: 4 pt, After: 4 pt

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Trang 25

Trong quá trình thực hiện tội phạm có những trường hợp người phạm tội

không thực hiện được đầy đủ những hành vi để hoàn thành tội phạm, hoặc không

đạt được kết quả mong muốn, do những nguyên nhân kết quả ngoài ý muốn của

người phạm tội

Trước khi có BLHS năm 1985, trong khoa học pháp lý Việt Nam, để chỉ

hành vi phạm tội chưa đạt người ta thường dùng thuật ngữ “tương hành vi toại” hay

“vị toại” Sau đó, vào những năm 60 của thế kỷ XX, trong khoa học luật hình sự

Việt Nam thể hiện ở một số văn bản pháp lý, cũng như nhiều tài liệu, bài báo, trong

tài liệu giảng dạy tại Trường Cán bộ Tòa án (Tòa án nhân dân Tối cao) sử dụng khá

phổ biến thuật ngữ “toan” phạm tội để chỉ trường hợp phạm tội chưa đạt trong luật

hình sự [23, tr.29-31]

Như vậy, trước khi có BLHS năm 1985, trong luật lệ hình sự của nước ta

cũng đưa ra thuật ngữ “phạm tội chưa đạt” nhưng chưa có văn bản nào giải thích

khái niệm phạm tội chưa đạt Tuy nhiên, có thể vận dụng nội dung hướng dẫn về tội

giết người chưa đạt để giải thích phạm tội chưa đạt, theo bản tổng kết chuyên đề của

Tòa án nhân dân tối cao: “Tội giết người hoàn thành khi người bị nạn chết đối với

trường hợp giết người nhưng không chết nên thống nhất gọi là phạm tội chưa đạt”

Việc sử dụng thuật ngữ “toan phạm tội” trước đây có thể dẫn đến sự hiểu

nhầm về bản chất đó là cho rằng toan phạm tội là mới có ý định mà thôi và như vậy

cho rằng luật hình sự đặt vấn đề TNHS với cả “tư tưởng” cái không phải là hành vi

Tuy nhiên, thực sự ở đây người phạm tội không chỉ mới có ý định phạm tội mà đã

bắt tay vào thực hiện hành vi phạm tội Điều này có nghĩa, nguyên tắc “hành vi”

được luật hình sự Việt Nam tôn trọng triệt để và chấp hành nghiêm chỉnh, nhưng

mặt khác để tránh sự hiểu nhầm trên nên trong BLHS năm 1985, BLHS năm 1999

và BLHS hiện hành của Việt Nam đều dùng thuật ngữ “phạm tội chưa đạt”

Dưới góc độ luật pháp, trong BLHS năm 1985, lần đầu tiên khái niệm phạm

tội chưa đạt được quy định cụ thể: “Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện một tội

phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Trang 26

của người phạm tội” (khoản 2, Điều 15) trong BLHS năm 1999 (Điều 18) không có

gì thay đổi ngoài tách nội dung việc quyết định hình phạt đối với trường hợp này

thành một khoản trong điều luật mới (Điều 52), đến BLHS 2015 khái niệm phạm tội

chưa đạt cũng không có gì thay đổi và nội dung việc quyết định hình phạt đối với

trường hợp phạm tội chưa đạt được quy định tại Điều 57 Như vậy, bản chất của

phạm tội chưa đạt thể hiện ở chỗ - đây là giai đoạn tiếp sau chuẩn bị phạm tội và là

một giai đoạn phản ánh việc người phạm tội bắt đầu có hành vi xâm hại đến các

quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Nói một cách khác, khách thể của tội phạm

được luật hình sự bảo vệ đó bị đe dọa thực tế gây ra thiệt hại, nhưng vì những

nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội nên thiệt hại thực tế có thể không

xảy ra hoặc có thể xảy ra Trong trường hợp gây ra thiệt hại thì đó không phải là

thiệt hại mà người phạm tội dự tính

Còn dưới góc độ khoa học luật hình sự, cũng giống như các giai đoạn phạm

tội, khái niệm phạm tội, khái niệm phạm tội chưa đạt còn tồn tại nhiều quan điểm

khác nhau:

Nhóm quan điểm cũng nêu rõ hình thức lỗi là cố ý trực tiếp, theo đó

GS.TSKH Lê Văn Cảm (Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội) định nghĩa:

“Phạm tội chưa đạt trong khoa học luật hình sự có thể được hi ể u là hành vi cố ý

trực tiếp nhằm thực hiện tội phạm nhưng tội phạm đã không được thực hiện đến

cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội” [13, tr 444] Hay

PGS.TS Trịnh Tiến Việt (Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội) có nêu quan điểm

về phạm tội chưa đạt nhưng mô tả hành vi khách quan của nó như sau: “Phạm tội

chưa đạt là một giai đoạn trong quá trình thực hiện tội phạm do cố ý trực tiếp, đồng

thời là trường hợp một người đã bắt đầu thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm đến

các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ nhưng không thực hiện được hành vi

đó đến cùng vì những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người đó” [80, tr

127]

Nhóm quan điểm khác có nội dung tương tự, nhưng khẳng định phạm tội

chưa đạt là giai đoạn thứ hai trong quá trình thực hiện tội phạm, PGS.TS Nguyễn

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Trang 27

Ngọc Chí (Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội) viết: “Phạm tội chưa đạt là giai

đoạn tiếp theo sau của giai đoạn chuẩn bị phạm tội, ở giai đoạn này người phạm tội

sử dụng những điều kiện thuận lợi cần thiết đã chuẩn bị để thực hiện hành vi được

quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm, nhưng họ không thực hiện

được đến cùng do những nguyên nhân khách quan ngăn cản” [16, tr 333]

Tương tự, còn có tác giả Lâm Minh Hạnh (Viện nhà nước và pháp luật)

không nêu khái niệm, mà chỉ đề cập nội dung của phạm tội chưa đạt, theo đó,

“trong quá trình thực hiện tội phạm có những trường hợp kẻ phạm tội không thực

hiện được đầy đủ những hành vi để hoàn thành tội phạm, hoặc không đạt được kết

quả mong muốn, do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của y” [23,

tr.130]

Ngoài những quan điểm của các tác giả trên còn có một số cuốn từ điển cũng

định nghĩa cơ bản đều đã thể hiện rõ bản chất của hành vi và căn cứ, nội dung trong

giai đoạn này, nhưng còn chưa khẳng định rõ phạm tội chưa đạt là giai đoạn thứ hai

trong quá trình thực hiện tội phạm do cố ý (bên cạnh hai đoạn khác là chuẩn bị

phạm tội và tội phạm hoàn thành)

Từ điển Luật học viết: “Phạm tội chưa đạt là (chủ thể) đã cố ý thực hiện tội

phạm nhưng vì nguyên nhân khách quan hành vi đã thực hiện chưa thỏa mãn hết

các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm” [75, tr 600], hay Sổ tay thuật

ngữ pháp lý thông dụng định nghĩa: “Phạm tội chưa đạt là hành vi cố ý tiến hành

tội phạm nào đó nhưng do những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội

mà không thực hiện được đến cùng” [36, tr 266]; v.v

Căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và kết hợp với thực

tiễn áp dụng khái niệm phạm tội chưa đạt có thể được hiểu như sau: Phạm tội chưa

đạt là giai đoạn tiếp theo sau của giai đoạn chuẩn bị phạm tội, ở giai đoạn này

người phạm tội sử dụng những điều kiện thuận lợi cần thiết đã chuẩn bị để thực

hiện hành vi được quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm, nhưng

họ không thực hiện được đến cùng do những nguyên nhân khách quan ngăn cản.

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Trang 28

1.1.1.4 Khái niệm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi

Để có thể hiểu rõ về chính sách hình sự và các biện pháp xử lý người dưới 18

tuổi phạm tội, trước hết cần phải làm rõ các khái niệm, đặc điểm tâm lý của người

dưới 18 tuổi cũng như nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi Trước đây, theo

BLHS năm 1999 chúng ta sử dụng khái niệm “người chưa thành niên phạm tội”

thay vì dùng khái niệm “người dưới 18 tuổi phạm tội” Theo Điều 1 Công ước quốc

tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có

ghi: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ

trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn.”

Ở nước ta, theo BLHS năm 1999 quy định người chưa thành niên là người dưới 18

tuổi và khái niệm người chưa thành niên được xây dựng dựa trên sự phát triển về

thể chất và tinh thần của con người, cụ thể hóa bằng giới hạn độ tuổi trong các văn

bản pháp luật của quốc gia

Như vậy, khái niệm người dưới 18 tuổi tương đồng với khái niệm người

chưa thành niên, một cách khái quát nhất thì đó là những người chưa hoàn toàn phát

triển đầy đủ về thể chất, tinh thần, tâm lý và nhân cách, chưa có đầy đủ quyền và

nghĩa vụ pháp lý của một công dân [36,tr 10] Độ tuổi của người dưới 18 tuổi được

xác định thống nhất trong các văn bản pháp luật và chế định pháp luật riêng để áp

dụng với người dưới 18 tuổi

theo từng lĩnh vực cụ thể Theo Điều 90 BLHS năm 2015 của nước

CHXHCNộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam có nêu rằng: “Người từ đủ 14 tuổi

đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của

Chương này; theo quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với

Chương này ” [30] Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người

chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi” Điều 161 Bộ luật Lao động 2012

quy định: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” Còn

Luật trẻ em năm 2016 lại quy định rằng “ Trẻ em là người dưới 16 tuổi” Có thể

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Trang 29

thấy rằng, mỗi văn bản pháp luật điều chỉnh từng lĩnh vực nhất định thì phạm vi

điều chỉnh riêng nên có những quy định khác nhau khi xác định độ tuổi được coi là

người dưới 18 tuổi Có thể hiểu một cách khái quát về khái niệm người dưới 18 tuổi

như sau: Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển hoàn thiện về thể chất, tinh

thần, tâm sinh lý và nhân cách, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý

Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra định nghĩa khoa học về khái niệm

quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội đối với dưới 18 tuổi phạm

tội và khái niệm phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như sau:

Khái niệm quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội đối với

dưới 18 tuổi phạm tội: Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội

đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là việc Tòa án xem xét quyết định hình phạt cho

hành vi chuẩn bị phạm tội của người dưới 18 tuổi theo các điều của BLHS hiện

hành về các tội phạm tương ứng, căn cứ trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã

hội của hành vi, và ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho hành vi chuẩn

bị phạm tội không thực hiện được tới cùng

Khái niệm phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội: Quyết

phạm tội là việc Tòa án dựa trên các quy định hiện hành, tính chất và mức độ nguy

hiểm của hành vi phạm tội, ý chí chủ quan thể hiện mức độ của ý định phạm tội, và

những tình tiết khách quan khác khiến cho tội phạm không thực hiện được tới cùng

Qua đó đưa ra mức hình phạt phù hợp với người đối với người dưới 18 tuổi phạm

tội trong trường hợp phạm tội chưa đạt

Trang 30

Trong phần này em phân tích thế nào là quyết định hình phạt, chuẩn bị phạm

tội, phạm tội chưa đạt nêu các trường hợp phạm tội chưa đạt), người dưới 18

tuổi Sau đó đưa ra hai khái niệm là QĐHP trong trường hợp chuẩn bị phạm tội

đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và QĐHP trong trường hợp, phạm tội chưa

đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

1.1.2 Các căn cứ của quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội,

phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Trong hHoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án chỉ được coi là

đúng pháp luật, đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng khi xác định đúng tội danh

và khung hình phạt, lựa chọn được loại hình phạt và mức hình phạt phù hợp để áp

dụng đối với người bị kết án Bất kỳ sự sai sót nào trong việc giải quyết vấn đề tội

danh hay hình phạt đều dẫn tới những hậu quả khôn lường cho người phạm tội và

xã hội Về nguyên tắc, nếu định tội danh sai sẽ dẫn tới việc quyết định hình phạt sai

(về khung, loại và mức hình phạt) Nhưng ngay cả trong trường hợp định tội danh

đúng thì việc quyết định hình phạt sai vẫn có khả năng xảy ra Thực trạng này có

nhiều nguyên nhân như việc quyết định hình phạt chỉ phản ánh ý chí chủ quan,

mang đậm yếu tố tình cảm của người quyết định nhưng chủ yếu vẫn do vận dụng

chưa đúng các căn cứ quyết định hình phạt Vì vậy, quyết định hình phạt đúng hay

sai đều có quan hệ chặt chẽ đến việc tuân thủ các căn cứ quyết định hình phạt Điều

đó đã khẳng định các căn cứ quyết định hình phạt có vị trí, vai trò đặc biệt quan

trọng đối với hoạt động quyết định hình phạt của Tòa án các cấp

Chính vì vậy, để đảm bảo chất lượng, hiệu quả của hoạt động quyết định

hình phạt, hạn chế đến mức tối đa sự vi phạm các quyền con người trong lĩnh vực tư

pháp hình sự, Điều 50 BLHS năm 2015 đã quy định các căn cứ quyết định hình

phạt mà Tòa án bắt buộc phải dựa vào khi quyết định hình phạt Chỉ khi tuân thủ

đầy đủ, nghiêm chỉnh các căn cứ pháp lý này thì Hội đồng xét xử mới có thể quyết

định hình phạt đúng pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Heading 3, Left, Space Before: 0

pt, Line spacing: single

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Space Before: 4 pt, After: 4 pt Formatted: Font: Vntime, Not Bold, Not Italic Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Trang 31

của hành vi phạm tội, làm tiền đề cho việc đạt được các mục đích của hình phạt

Theo quy định tại Điều 50 BLHS năm 2015, các căn cứ quyết định hình phạt gồm:

+ Quy định của Bộ luật này ;

+ Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội;

+ Nhân thân người phạm tội;

+ Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự

Mỗi căn cứ quyết định hình phạt trên đây đều là những yếu tố khách quan, có

nội dung, yêu cầu cụ thể và có tính độc lập tương đối để Tòa án dựa vào khi quyết

định hình phạt Nhưng điều đó không có nghĩa là khi quyết định hình phạt, Hội

đồng xét xử lại vận dụng độc lập từng căn cứ hay đánh đồng chúng mà phải thấy

được mối liên hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau giữa các căn cứ Tính độc lập là

cơ sở cho sự tồn tại của mỗi căn cứ và cũng là cơ sở để vận dụng đúng các căn cứ

quyết định hình phạt, đảm bảo tính khách quan, công bằng của hoạt động quyết định

hình phạt

So với Điều 45 BLHS năm 1999, các căn cứ quyết định hình phạt tại Điều 50

BLHS năm 2015 về cơ bản được các nhà làm luật giữ nguyên không có gì thay đổi

Căn cứ vào quy định của Bộ luật này (BLHS năm 2015)

Bộ luật hình sựBLHS năm 2015 đã đảm bảo chất lượng, hiệu quả và tính

thống nhất trong công tác xét xử các vụ án hình sự của Tòa án các cấp Trong mối

liên hệ với pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự, BLHS là văn

bản luật giữ vị trí quan trọng nhất trong lĩnh vực đấu tranh phòng ngừa và chống tội

phạm Các quy định của BLHS là cơ sở pháp lý để tiến hành khởi tố, điều tra, truy

tố và xét xử vụ án hình sự Trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, các quy phạm

pháp luật hình sự chính là cơ sở pháp lý duy nhất của hoạt động định tội danh và

hoạt động quyết định hình phạt Nhận thức được tầm quan trọng đó, nhà làm luật đã

lựa chọn “quy định của bộ luật hình sựBLHS” làm căn cứ đầu tiên của việc quyết

định hình phạt Sự tuân thủ căn cứ này chính là biểu hiện cụ thể nội dung của các

nguyên tắc của luật hình sự trong hoạt động quyết định hình phạt Căn cứ “quy định

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Trang 32

của bộ luật hình sựBLHS” nhằm đảm bảo tính thống nhất, chính xác khi áp dụng

các quy phạm pháp luật hình sự vào quyết định hình phạt

Quy định của BLHS là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để Tòa án định tội danh

và xác định khung hình phạt, yêu cầu đầu tiên của việc lựa chọn đúng loại và mức

hình phạt cụ thể Nếu không dựa vào quy định của BLHS sẽ dẫn đến việc tùy tiện

hoặc lạm dụng các quy phạm pháp luật hình sự khi quyết định hình phạt Chính vì

vậy, Điều 50 BLHS năm 2015 đã buộc Hội đồng xét xử phải “căn cứ” vào quy định

của BLHS, còn đối với ba căn cứ sau, Điều luật chỉ yêu cầu “cân nhắc” Theo đó, để

quyết định hình phạt đúng pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm

cho xã hội của hành vi phạm tội, bắt buộc Hội đồng xét xử trước tiên phải căn cứ

vào quy định của BLHS, bao gồm căn cứ vào các quy định thuộc Phần chung và các

quy định thuộc Phần các tội phạm cụ thể

Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào các quy định Phần chung

của BLHS thì có quan điểm cho rằng “các quy định của phần chung đều có liên

quan đến việc quyết định hình phạt Do đó, khi quyết định hình phạt cần phải căn cứ

vào tất cả các quy định của phần chung” [32, tr.240] BLHS bao gồm một hệ thống

các quy phạm pháp luật hình sự, trong đó có những quy định về tội phạm và những

quy phạm quy định về hình phạt Xuất phát từ các nguyên tắc của luật hình sự (pháp

chế XHCN, công bằng ), những quy phạm đã được sử dụng để định tội danh thì

không thể được sử dụng lần nữa trong quyết định hình phạt Nếu không sẽ gây ra

những hậu quả pháp lý bất lợi cho bị cáo, cho xã hội Vì vậy, khi quyết định hình

phạt, Hội đồng xét xử phải tuân thủ căn cứ thứ nhất nhưng chỉ là những quy định có

tính định hướng và những quy định cụ thể của việc quyết định hình phạt Các quy

định Phần chung của BLHS về quyết định hình phạt là:

+ Các quy định có tính định hướng chung cho việc quyết định hình phạt bao

gồm:

Nguyên tắc xử lý (Điều 3), Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự (Điều 29), Mục

đích của hình phạt (Điều 31), Các hình phạt đối với người phạm tội (Điều 32), Các

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto Formatted: Space Before: 4 pt, After: 4 pt

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Trang 33

biện pháp tư pháp (Điều 46), Căn cứ quyết định hình phạt (Điều 50), Quyết định

hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (Điều 57 và Điều

102), Áp dụng Bộ luật Hình sựBLHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều

90), Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 90, Các hình phạt

được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 91)

Đây là những quy định chung, có tác dụng định hướng cho hoạt động quyết

định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt nói chung và

quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với

người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng, giúp cho Hội đồng xét xử có thể chủ động

quyết định một hình phạt thỏa đáng, đúng pháp luật, phù hợp với lợi ích xã hội

Chẳng hạn, quyết định hình phạt phải đảm bảo giữa nghiêm trị kết hợp với khoan

hồng hay quyết định hình phạt quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị

phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhằm đạt được các

mục đích của hình phạt, Vi phạm những quy định chung này trong quyết định

hình phạt sẽ làm cho hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội khó đạt được

hiệu quả cao Ngược lại, sự tuân thủ các quy định chung này chính là biểu hiện nội

dung, yêu cầusự tồn tại của các nguyên tắc quyết định hình phạt trong thực tế Vì

vậy, quyết định hình phạt trong từng trường hợp cụ thể không được trái với những

quy định chung này

Đây là những quy định cụ thể của BLHS về quyết định hình phạt, giúp cho

Hội đồng xét xử có thể quyết định được hình phạt chính xác đối với người bị kết án

trong từng trường hợp phạm tội cụ thể Nếu chỉ dựa vào các quy định có tính định

hướng nêu trên thì việc quyết định hình phạt mới chỉ đảm bảo được đường lối xét

xử nói chung chứ chưa thể đưa ra một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ

nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cụ thể Ví dụ khoản 1 Điều 57 BLHS

năm 2015 (Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa

đạt) quy định: “Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt,

hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng

tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Trang 34

định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến

cùng” [3, tr.42] Quy định này đã cho thấy, quyết định hình phạt được thực hiện

không chỉ trên cơ sở tuân thủ những quy định có tính định hướng chung mà còn

phải triệt để tuân thủ những quy định có tính định hướng chung mà còn phải triệt để

tuân thủ các quy định cụ thể về quyết định hình phạt trong từng trường hợp phạm

tội cụ thể

Căn cứ vào các quy định Phần các tội phạm của BLHS năm 2015 là căn cứ

vào điều luật về tội phạm cụ thể để xác định khung hình phạt chính, hình phạt bổ

sung và các biện pháp tư pháp áp dụng cho từng hành vi phạm tội mà điều luật về

tội phạm quy định Chỉ thông qua quy định của điều luật về tội phạm cụ thể, Hội

đồng xét xử mới lựa chọn đúng khung hình phạt chính và hình phạt bổ sung áp

dụng đối với người bị kết án Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng để dựa trên kết

quả cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân người phạm tội,

các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS, Hội đồng xét xử lựa chọn loại hình phạt

chính cũng như hình phạt bổ sung (nếu cần) và các biện pháp tư pháp với mức độ

cụ thể áp dụng đối với người bị kết án

Như vậy, dựa vào căn cứ thứ nhất là quy định của Bộ luât này (BLHS) chưa

thể chỉ ra loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể áp dụng cho người phạm tội bị kết

án Căn cứ này chỉ cho phép xác định được khung hình phạt chính là: khung cơ bản,

khung tăng nặng, khung giảm nhẹ hay chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ

hơn nếu bị cáo không được miễn TNHS hoặc miễn hình phạt Để xác định chính

xác loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể phải dựa vào ba căn cứ quyết định hình

phạt còn lại

Cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Xuất pháp từ lý luận và thực tiễn lập pháp hình sự Việt Nam, tội phạm được

quy định trong BLHS là do có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội “Tính nguy hiểm

cho xã hội” của tội phạm không chỉ là một đặc điểm cơ bản mà còn là thuộc tính

khách quan, thể hiện bản chất xã hội của từng hành vi phạm tội cụ thể Tội phạm có

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Auto

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Trang 35

tính nguy hiểm cho xã hội bởi vì nó gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại đáng

kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải

là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác [4, tr.14] Theo đó, khái niệm tính nguy hiểm cho xã hội luôn bao hàm trong nó dấu hiệu tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Chính vì vậy, nhà làm luật đã dựa vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội để xây dựng các điều luật quy định về các tội phạm cụ thể và đồng thời cũng quy định các khung hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của mỗi tội phạm (hành vi phạm tội càng nguy hiểm cho xã hội thì khung hình phạt càng cao và ngược lại)

Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm đã cho thấy các trường hợp phạm tội diễn ra hết sức đa đạng, phức tạp và không bao giờ giống nhau một cách tuyệt đối, kể cả các trường hợp cùng phạm tội cụ thể cũng luôn khác nhau về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội Do đó, để quyết định hình phạt đối với mỗi hành vi phạm tội cụ thể, luật bắt buộc Hội đồng xét xử phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Đây là yêu cầu có tính chất quyết định đến khả năng đạt được các mục đích của hình phạt ở các mức độ khác nhau khi lựa chọn loại và mức hình phạt áp dụng đối với người bị kết án Nếu chỉ dựa vào căn cứ thứ nhất là các quy định của BLHS thì chưa thể quyết định được loại và mức hình phạt tương xứng với từng trường hợp phạm tội cụ thể Chính vì vậy, nhà làm luật đã xác định căn cứ thứ hai của việc quyết định hình phạt là khi quyết định hình phạt, Tòa án phải “cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội”

Căn cứ quyết định hình phạt thứu hai này có ý nghĩa pháp lý – xã hội đặc biệt quan trọng vì nó giúp cho Hội đồng xét xử có cơ sở vững chắc và điều kiện để lựa chọn và quyết định hình phạt với mức độ cụ thể tương xứng với hành vi phạm tội, đáp ứng được yêu cầu của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong quyết định hình phạt Hình phạt chỉ có thể phát huy được tác dụng khi nó được tuyên phù hợp

Trang 36

với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Nói cách khác,

chỉ khi hình phạt được lựa chọn tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã

hội của hành vi phạm tội Nói cách khác, chỉ khi hình phạt được lựa chọn tương

xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thì việc

quyết định hình phạt mới được thực hiện Có như vậy mới đảm bảo được sự bình

đẳng, thống nhất, chính xác khi quyết định hình phạt đối với các trường hợp phạm

tội khác nhau về cùng một tội hay trong cùng một khung hình phạt

Việc cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

trong thực tiễn được thực hiện dựa trên cơ sở những tiêu chí cơ bản sau:

- Tính chất, tầm quan trọng của khách thể bị tội phạm xâm hại;

- Tính chất của hành vi phạm tội nhưu thủ đoạn, công cụ, thời gian, địa điểm

thực hiện tội phạm;

- Tính chất và mức độ hậu quả đã gây ra hoặc đe dọa gây ra;

- Hoàn cảnh phạm tội;

- Hình thức thực hiện tội phạm riêng lẻ hay đồng phạm;

- Mức độ thực hiện tội phạm như chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

- Hình thức lỗi (cố ý, vô ý), mức độ lỗi, tính chất của động cơ;

- Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;

- Những đặc điểm về nhân thân người phạm tội có ảnh hưởng đến mức độ

nguy hiểm của hành vi phạm tội…

Tuy đã có cách hiểu tương đối thống nhất nhưng việc không quy định cụ thể

các tiêu chí làm cơ sở để cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của

hành vi phạm tội vẫn là một hạn chế lớn của BLHS năm 2015 về quyết định hình

phạt nói chung và quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm

tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng Hạn chế này đã làm cho

việc đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cả

Formatted: Indent: First line: 0.5", Space

Before: 4 pt, After: 4 pt

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Trang 37

trong lý luận lẫn trong thực tiễn xét xử các vụ án hình sự của Tòa án các cấp thường

gặp rất nhiều khó khăn và không tránh khỏi tình trạng tùy tiện làm ảnh hưởng đến

chất lượng quyết định hình phạt Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự theo BLHS

năm 2015 đã cho thấy, do chưa có những tiêu chí, cơ sở thống nhất để Tòa án có

điều kiện đánh giá đúng tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi

phạm tội nên nhiều trường hợp Tòa án đã tuyên những hình phạt không tương xứng

với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Thực tiễn đó đòi

hỏi BLHS cần quy định cụ thể, chi tiết các tiêu chí chuẩn chuẩn, có giá trị phản ánh

đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhằm đảm bảo

việc áp dụng căn cứ thứ hai được chính xác, thống nhất

Trên cơ sở các quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm

cho xã hội của hành vi phạm tội là căn cứ đặc biệt quan trọng nhằm đảm bảo cho

hình phạt được tuyên tương xứng với hành vi phạm tội Để đạt được mục đích đó,

có quan điểm cho rằng khi quyết định hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào cả tính chất

và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Đây là vấn đề cần phải làm

sáng tỏ để đảm bảo đúng giá trị pháp lý và ý nghĩa xã hội của căn cứ thứ hai trong

quyết định hình phạt Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự đã cho thấy việc đánh giá

đúng tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là rất khó khăn Có

những bản án, Hội đồng xét xử không nêu và chỉ ra được tính chất nguy hiểm cho

xã hội của hành vi phạm tội mà chỉ đánh giá chung là hành vi phạm tội ấy gây nguy

hiểm cho xã hội Mặt khác, quyết định hình phạt là lựa chọn loại hình phạt cụ thể

với mức độ nhất định trong phạm vi khung hình phạt của điều luật về tội phạm đã

quy định Việc nhà làm luật xây dựng các khung hình phạt khác nhau trong một

điều luật về tội phạm chính là sự phản ánh tương quan với tính chất nguy hiểm cho

xã hội của hành vi phạm tội Còn các mức độ khác nhau của hình phạt trong giới

hạn từ tối thiểu đến tối đa của mỗi khung hình phạt lại phản ánh sự tương quan với

các mức độ nguy hiểm khác nhau cho xã hội của hành vi phạm tội Như vậy, tính

chất nguy hiểm cho xã hội là cơ sở để xác định khung hình phạt tương xứng với

hành vi phạm tội Chúng tôi cho rằng khi quyết định hình phạt nếu lại căn cứ vào

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Trang 38

tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là chưa khoa học và thiếu

chính xác vì một tình tiết đã được sử dụng làm yếu tố định khung hình phạt thì

không thể được sử dụng một lần nữa khi quyết định hình phạt Điều đó không

những vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc nhân đạo xã hội

chủ nghĩa, nguyên tắc công bằng của luật hình sự mà quan trọng hơn còn làm xấu đi

tình trạng pháp lý của bị cáo

Cân nhắc nhân thân người phạm tội

Theo khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho

xã hội được quy định trong Bộ luật hình sựBLHS, do người có năng lực TNHS

hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách có lỗi, xâm phạm đến các quan hệ

được luật hình sự bảo vệ, xâm phạm đến những lĩnh vực khác của trật tự xã hội chủ

nghĩa mà theo quy định của Bộ luật phải bị xử lý hình sự Như vậy, nói đến nhân

thân người phạm tội trong lĩnh vực luật hình sự là nói đến nhân thân của chính con

người cụ thể đã thực hiện hành vi phạm tội Con người là sản phẩm của tự nhiên và

xã hội nên trong mỗi con người luôn tồn tại sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt

xã hội Theo đó, nhân thân người phạm tội bao gồm tổng hợp các đặc điểm của cá

nhân về mặt sinh học, mặt xã hội, nói lên tính chất của con người đã thực hiện tội

phạm Con người khi được sinh ra không sẵn chứa trong mình khả năng đó chỉ trở

thành hiện thực dưới tác động tiêu cực của nhiều yếu tố trong quá trình con người tự

hoàn thiện về mặt sinh học, tâm lý, nhân sinh quan… Quá trình đó cho thấy nhân

thân người phạm tội là phạm trù có tính lịch sử vì “ những đặc điểm về nhân cách

của người phạm tội không phải được tiềm ẩn ở con người đó ngay từ khi mới sinh

ra, mà chúng được hình thành dưới sự ảnh hưởng, tác động của môi trường không

thuận lợi bên ngoài” [52, tr 50] trong quá trình trưởng thành của con người Điều

này hoàn toàn phù hợp với kết luận của Mác về bản chất của con người: “Bản chất

con người không phải là cái trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính

hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội” [18, tr

Formatted: Font: Vntime, Font color: Auto

Trang 39

Trong khoa học pháp lý hình sự, dựa trên kết luận của Mác đã có nhiều công

trình nghiên cứu về nhân thân người phạm tội dưới các góc độ khác nhau Riêng

trong lĩnh vực luật hình sự, các đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội là

những cơ sở quan trọng đối với hoạt động quyết định hình phạt Tổng hợp những

khái niệm đó [36, tr.7-8] và những vấn đề đã trình bày trên đây, dưới góc độ luật

hình sự có thể hiểu khái niệm nhân thân người phạm tội như sau:

Nhân thân người phạm tội là một phạm trù lịch sự, bao gồm tổng hợp các

đặc điểm về xã hội, tâm lý, đạo đức, sinh học, nói lên tính chất của con người đã

thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội quy định trong Bộ luật hình sựBLHS là tội

phạm Các đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vấn đề trách

nhiệm hình sự của người phạm tội một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp

luật

Các đặc điểm cá nhân thể hiện tính chất của con người ở chừng mực nhất

định sẽ có ảnh hưởng đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm

tội vì giữa hành vi phạm tội với con người thực hiện hành vi đó luôn có quan hệ

không tách rời nhau Chính vì vậy, nghiên cứu về nhân thân người phạm tội sẽ cho

chúng ta biết được những đặc điểm tốt, những đặc điểm xấu, những thuận lợi, khó

khăn trong quá trình hình thành nhân cách của người phạm tội để qua đó góp phần

đánh giá chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

cũng như khả năng giáo dục, cải tạo họ Giáo dục, cải tạo người phạm tội là mục

đích cuối cùng, cao nhất của hình phạt Đây là ưu điểm của căn cứ thứ ba này so với

căn cứ thứ nhất và căn cứ thứ hai của Điều 50 BLHS năm 2015 vì trên cơ sở hai căn

cứ đầu tiên, việc cân nhắc nhân thân người phạm tội sẽ giúp cho Hội đồng xét xử

không chỉ quyết định hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã

hội của hành vi phạm tội mà hình phạt đó còn phù hợp với khả năng giáo dục, cải

tạo của người phạm tội Chỉ có như vậy mới giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS của

người phạm tội, đảm bảo cho việc cá thể hóa hình phạt một cách chính xác nhằm

đạt được tốt nhất các mục đích của hình phạt Đó cũng chính là lý do giải thích tại

sao nhà làm luật lại lấy “nhân thân người phạm tội” làm căn cứ thứ ba của quyết

Formatted: Font: Vntime, Italic, Font color:

Trang 40

định hình phạt và quy định tại Điều 50 BLHS năm 2015 Với quy định đó, việc tuân thủ căn cứ này trong quá trình xét xử các vụ án hình sự là đòi hỏi mang tính bắt buộc đối với Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt Tuy nhiên, đây không chỉ là đòi hỏi riêng đối với Tòa án mà ngay cả đối với các cơ quan tiến hành tố tụng khác cũng vậy Để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, căn cứ vào các quy định của BLTTHS năm 2015, các cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát phải có nhiệm vụ thu thập, chứng minh đầy đủ, đúng đắn các đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội và phản ánh cụ thể trong hồ sơ điều tra và trong bản cáo trạng Thực hiện tốt nhiệm vụ này không chỉ đảm bảo tính đúng đắn trong hoạt động của các cơ quan, người tiến hành tố tụng mà còn giúp cho Hội đồng xét xử có cơ sở, điều kiện để cân nhắc đúng nhân thân người phạm tội trong quá trình quyết định hình phạt

Với vị trí là một căn cứ có tính độc lập, việc cân nhắc nhân thân người phạm tội khi quyết định hình phạt phải quán triệt các yêu cầu mang tính nguyên tắc sau: Một là, các đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội theo quy định của BLHS là tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt hoặc đã được xác định là tình tiết giảm nhẹ TNHS hay tình tiết tăng nặng TNHS thì không được sử dụng một lần nữa để cân nhắc nhân thân người phạm tội khi quyết định hình phạt Cân nhắc nhân thân người phạm tội là một trong những biểu hiện cụ thể của nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự Việt Nam Nhưng không vì thế mà việc quyết định hình phạt lại không phản ánh đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Khi một đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội đã là tình tiết định tội, hoặc tình tiết định khung hình phạt, hoặc tình tiết giảm nhẹ TNHS, hoặc tình tiết tăng nặng TNHS lại được sử dụng để cân nhắc nhân thân người phạm tội sẽ làm cho việc đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội không chính xác và thể hiện rõ sự thiếu công bằng

Hai là, chỉ những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội có liên quan trực tiếp đến tội phạm được thực hiện mà việc cân nhắc những đặc điểm đó nhằm giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS của người phạm tội và tạo khả năng cao nhất để

có thể đạt được mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội khi áp dụng hình phạt đối

Ngày đăng: 02/05/2021, 09:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w