1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về quản lý, sử dụng vốn đầu tư của nhà nước tại các doanh nghiệp ở việt nam

95 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, cũng có nhiều doanh nghiệp đã bộc lộ những yếu kém, hạn chế nhất định trong việc khai thác và sử dụng nguồn vốn Nhà nước cũng như các nguồn lực của doanh nghiệp, dẫn đến đầu t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn “Pháp luật về quản lý, sử dụng vốn

đầu tư của Nhà nước tại các doanh nghiệp ở Việt Nam” là công trình

nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Ngọc Tuyến

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN DO NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN DO NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 6

1.1 Khái quát về vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp 6

1.1.1 Khái niệm vốn 6

1.1.2 Khái niệm vốn nhà nước 9

1.1.3 Đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp 12

1.1.4 Khái niệm quản lý vốn và tính tất yếu phải quản lý vốn nhà nước 14

1.1.5 Mô hình quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới 15

1.2 Pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp 21

1.2.1 Khái niệm và nguyên tắc điều chỉnh pháp luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp 21

1.2.2 Nội dung pháp luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp 24

1.2.3 Vai trò pháp luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM 30

2.1 Thẩm quyền quyết định vốn của nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp 30

Trang 5

2.1.1 Thẩm quyền quyết định đối với ngân sách nhà nước 31

2.1.2 Thẩm quyền của đại diện chủ sở hữu tại các doanh nghiệp 33

2.1.3 Đánh giá những quy định về thẩm quyền với vốn đầu tư của nhà nước tại các doanh nghiệp 35

2.2 Quản lý vốn nhà nước 37

2.2.1 Chính phủ 37

2.2.2 Vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp do SCIC quản lý 38

2.2.3 Ủy ban quản lý vốn Nhà nước 39

2.3 Thực trạng pháp luật về đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp 43

2.4 Thực trạng trong sử dụng vốn tại các doanh nghiệp 50

2.4.1 Về huy động vốn, quản lý nợ phải thu, phải trả 50

2.4.2 Về đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản cố định 52

2.4.3 Về đầu tư ra ngoài doanh nghiệp 54

2.4.4 Về việc ban hành quy chế quản lý nội bộ của doanh nghiệp 56

2.4.5 Về việc thực hiện chế độ tiền lương, thù lao, tiền thưởng, phụ cấp trách nhiệm và quyền lợi khác 58

2.4.6 Về phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước 60

2.5 Quy định về giám sát đầu tư vốn nhà nước tại các doanh nghiệp 61

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM 66

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp ở Việt Nam 66

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp ở Việt Nam 70

3.2.1 Quy định thống nhất về thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư dự án 70

3.2.2 Quy định đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước 70

3.2.3 Ban hành các quy định về giám sát 72

Trang 6

3.2.4 Sửa đổi và bổ sung quy định về tiêu chí, căn cứ đánh giá hiệu quả hoạt động

của các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước, đặc biệt là các DNNN 75

3.2.5 Đẩy nhanh tiến trình cồ phần hóa, đa dạng hóa sở hữu, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp 76

3.2.6 Kiến nghị các quy định trong nội bộ doanh nghiệp về quản lý, sử dụng vốn của nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp 77

KẾT LUẬT CHƯƠNG 3 83

KẾT LUẬN 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 7

PVN: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

SCIC: Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước TKV: Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam

TNHH: Trách nhiệm hữu hạn

UBND: Ủy ban nhân dân

VGR: Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước đóng vai trò chủ đạo và đóng góp lớn vào sự phát triển của nền kinh tế Trong các doanh nghiệp có vốn Nhà nước nói chung, đặc biệt doanh nghiệp trong các lĩnh vực then chốt của Việt Nam, Nhà nước đóng vai trò là nhà đầu tư lớn, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp được tiếp cận dễ dàng hơn với các nguồn lực khác nhau, góp phần giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và phát triển

Số liệu báo cáo của các cơ quan đại diện chủ sở hữu (các bộ quản lý ngành,

ủy ban nhân dân cấp tỉnh), tính đến thời điểm kết thúc năm tài chính 2015 có 652 doanh nghiệp (DN) do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ Đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNN và DN có vốn Nhà nước cho thấy, mặc dù bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng các DNNN đã nỗ lực thực hiện nhiệm vụ được giao; Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, nhất là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước có chuyển biến tích cực; Tình hình tài chính lành mạnh hơn, vốn nhà nước đầu tư vào DN được bảo toàn và phát triển, đóng góp số thu cho ngân sách nhà nước góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, cũng có nhiều doanh nghiệp đã bộc lộ những yếu kém, hạn chế nhất định trong việc khai thác và sử dụng nguồn vốn Nhà nước cũng như các nguồn lực của doanh nghiệp, dẫn đến đầu tư phân tán và kém hiệu quả, quy mô

và tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu tại một số Tổng Công ty còn nhỏ và chậm, một số Tổng Công ty hoạt động hiệu quả kinh doanh thấp, kinh doanh thua lỗ DN thường xuyên làm dịch vụ cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích hiệu quả hoạt động chưa cao Một số DNNN chưa thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo, giám sát DN với cơ quan đại diện chủ sở hữu và cơ quan tài chính theo quy định Công tác kiểm tra, giám sát tài chính DN chưa được thực hiện thường xuyên, nên những sai phạm trong việc thực hiện đầu tư, quản lý tài chính tại các DN không được phát hiện kịp thời, khả năng phát sinh tổn thất lớn …

Trang 9

Ngoài những nguyên nhân chủ quan của các nhà quản lý doanh nghiệp Nhà nước, quy định pháp lý về hoạt động kiểm soát vốn đầu tư của Nhà nước tại doanh nghiệp là một trong những nguyên nhân lớn dẫn đến hiện trạng yếu kém trên

Cùng với sự ra đời của Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp (DN) số 69/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm

2014 (Luật số 69), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015, đến thời điểm hiện tại, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, giám sát và đầu tư vốn nhà nước tại DN dù đã khá đầy đủ nhưng trên thực tiễn vẫn chưa bao quát được hết các loại hình hoạt động DN thuộc mọi thành phần kinh tế Như cơ chế tài chính cho các tập đoàn kinh tế; chế độ về quản lý rủi ro, báo cáo và công bố thông tin, đánh giá xếp loại DN; Cơ chế với các đối tượng DN trên trong góp vốn vào liên danh BTO, BOT, BT; Xử lý về mặt tài chính đối với DN liên quan bán phá giá…

Việc phân công, phân cấp trong thực hiện các quyền CSH tại DNNN còn bị phân tán, chồng chéo, trách nhiệm chưa rõ ràng nên dẫn đến buông lỏng quản lý, giám sát Một số DN kinh doanh thua lỗ nhưng chậm được xử lý, gây thất thoát vốn

và tài sản nhà nước Hiện nay, các chế tài cụ thể ràng buộc trách nhiệm của kiểm toán viên, công ty kiểm toán độc lập cũng như chất lượng đội ngũ kiểm toán viên còn thấp, nên phản ánh còn chưa chính xác kết quả sản xuất kinh doanh của DN, gây khó khăn cho công tác quản lý Bên cạnh đó, công tác thanh kiểm tra còn mang tính kế hoạch nên tính phòng ngừa rủi ro chưa cao

Việc chấp hành chế độ báo cáo của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và một số DN có vốn nhà nước còn chưa nghiêm túc, chưa kịp thời nên tác dụng cảnh báo còn hạn chế Nhiều cảnh báo, kiến nghị được các cấp ngành chỉ đạo thực hiện nhưng các bộ, địa phương, tập đoàn, tổng công ty nhà nước chưa tuân thủ nghiêm nên tính răn đe và phòng ngừa rủi ro kém tác dụng

Xuất phát thực trạng quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp

việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật về quản lý, sử dụng vốn đầu tư của nhà nước

tại các doanh nghiệp ở Việt Nam” là cần thiết và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu được coi là sớm nhất và sâu nhất về vấn đề vốn trong cổ phần

hóa DNNN được tác giả Lê Chi Mai thực hiện năm 1993 "Vấn đề vốn trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước" (1993), trong đó tác giả đã nêu lên bức tranh về

khủng hoảng vốn trong kinh tế quốc doanh mà có thể giải quyết bằng cách cổ phần hóa, đồng thời tác giả cũng đề xuất các kiến nghị về các điều kiện để hình thành mô hình tạo vốn và quản lý vốn trong các DNNN trong kinh tế quốc doanh mà có thể giải quyết bằng cách cổ phần hóa

Luận án tiến sĩ: "Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp sau cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước", tác giả Nguyễn Thị Thu Hương, năm 2009 Với nội dung

đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm quản lý có hiệu quả vốn nhà nước tại các doanh nghiệp sau cổ phần hóa DNNN

Luận án tiến sĩ của Phạm Thị Thanh Hòa về đề tài “Cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp ở Việt Nam”, năm 2012 Luận án đã đánh giá thực

trạng về vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp và cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu

tư tại doanh nghiệp từ góc độ quản lý của chủ sở hữu Nhà nước bao gồm: cơ chế đầu tư, cơ chế quản lý sử dụng, cơ chế phân phối lợi nhuận sau thuế, cơ chế kiểm tra giám sát, hình thức thực hiện quyền chủ sở hữu

Luận án tiến sỹ “Pháp luật về kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước” của tác giả Vũ Thị Nhung, năm 2016

Luận văn thạc sỹ “Pháp luật về quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp ở Việt Nam” của tác giả Ninh Thị Hạnh, năm 2014, được thực hiện trên

khuôn khổ hệ thống pháp luật liên quan đến vốn Nhà nước tại doanh nghiệp chưa được hoàn thiện đồng bộ

Những đề tài trên đã có những đóng góp quan trọng trong quá trình nghiên cứu pháp luật về hoạt động đầu tư vốn của nhà nước tại các doanh nghiệp Tuy nhiên, các đề tài trên đều làm khi chưa có những văn bản quy phạm pháp luật mới, hiện hành chưa được ban hành

Hơn nữa, các nghiên cứu đó chủ yếu tiếp cận dưới góc độ kinh tế về quản lý vốn, hoặc trong phạm vi một doanh nghiệp cụ thể Vì vậy, chưa khái quát được một

Trang 11

bức tranh toàn cảnh về công tác quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp ở Việt Nam, cũng như chính sách pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp ở Việt Nam, điều đó dẫn đến việc thiếu các căn cứ quan trọng để chính phủ Việt Nam thiết lập khuôn khổ chính sách để thực hiện tốt vai trò quản lý đối với các doanh nghiệp có vốn nhà nước đầu tư Trong bối cảnh

đó, tác giả đã chọn "Pháp luật về quản lý, sử dụng vốn đầu tư của nhà nước tại

các doanh nghiệp ở Việt Nam" là đề tài nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn

Thứ nhất, luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về vốn nhà nước, nguyên tắc

đầu tư, quản lý vốn, thẩm quyền chủ sở hữu đối với vốn do nhà nước đầu tư, phân phối lợi nhuận, giám sát vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

Thứ hai, luận văn đánh giá thực trạng về pháp luật về quản lý, sử dụng vốn

nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp từ góc độ thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước cũng như góc độ quản lý nội bộ các doanh nghiệp

Thứ ba, trên cơ sở luận cứ khoa học đã được nghiên cứu, luận văn đưa ra

định hướng và một số kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý,

sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp ở Việt Nam

Nhiệm vụ của luận văn

- Xác định nội dung và làm rõ một số vấn đề lý luận về khái niệm, định nghĩa

có liên quan tới quản lý, sử dụng vốn nhà nước vào hoạt động kinh doanh, thẩm quyền chủ sở hữu nhà nước trong các hoạt động quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp, phân phối lợi nhuận vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, hoạt động giám sát vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, khái lược quy định pháp luật về hoạt động quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp ở Việt Nam

- Phân tích, làm rõ các hạn chế, bất cập, đánh giá thực trạng pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp ở Việt Nam

- Từ những vướng mắc, bất cập giữa lý luận và thực trạng đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp ở Việt Nam

Trang 12

4 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về quản

lý, sử dụng vốn đầu tư của nhà nước tại các doanh nghiệp ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung vào các vấn đề liên quan tới lý

luận về vốn đầu tư của nhà nước tại các doanh nghiệp, pháp luật về quản lý vốn góp của nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp ở Việt Nam, thực trạng pháp luật về quản

lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay từ góc

độ thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước, góc độ quản lý trong nội bộ các doanh nghiệp có sử dụng vốn nhà nước và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở vận dụng những quan điểm, phương pháp luận của triết học, của

lý luận chung về nhà nước và pháp luật, để làm cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp hiện nay Luận văn thực hiện phương pháp nghiên cứu khoa học kết hợp lý luận và thực tiễn, bằng việc sử dụng tổng hợp các phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp,

so sánh, diễn giải, quy nạp, thống kê, thực tiễn luận văn đánh giá đúng đắn và khách quan các hiện tượng và các quá trình kinh tế, những chính sách và biện pháp đã và đang thực hiện làm cơ sở đề xuất các quan điểm và giải pháp có ý nghĩa thực tiễn

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý, sử dụng vốn do Nhà nước đầu

tư tại các doanh nghiệp và pháp luật về quản lý, sử dụng vốn do Nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại

các doanh nghiệp ở Việt Nam

Chương 3: Định hướng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quản lý,

sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp ở Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN DO NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT

VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN DO NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ

TẠI CÁC DOANH NGHIỆP

1.1 Khái quát về vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm vốn

Theo Từ điển Luật học, vốn là tiền, tài sản, quyền tài sản trị giá được thành tiền có thể sử dụng trong kinh doanh, khả năng sử dụng được trong kinh doanh là tiêu chí cơ bản để đánh giá tiền, tài sản, quyền tài sản trị giá được thành tiền có giá trị là vốn, đối với tiền phải tích tụ đến mức nhất định thì mới có thể sử dụng trong kinh doanh với tư cách là vốn, đối với tài sản nếu chỉ thuần túy có giá trị và giá trị

sử dụng mà không có khả năng chuyển đổi thành tiền và sử dụng trong kinh doanh thì cũng không có giá trị là vốn, đối với các quyền tài sản, nếu không có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt để hạch toán trong kinh doanh thì không thể dùng để đầu

tư nên cũng không được xem là vốn Vốn là tiền để thực hiện các hoạt động đầu tư,

cơ chế hình thành vốn và sử dụng vốn của các tổ chức, cá nhân được quy định trong nhiều văn bản pháp luật như: Luật ngân sách nhà nước, Luật doanh nghiệp, Bộ luật dân sự [23, tr 857]

Vốn là điều kiện cần thiết để tiến hành hoạt động kinh doanh Vốn trong doanh nghiệp có thể là vốn góp của chủ sở hữu hoặc vốn nợ Vốn của chủ sở hữu hình thành từ vốn góp khi thành lập doanh nghiệp và gia tăng từ lợi nhuận sau thuế trong quá trình kinh doanh, theo Luật doanh nghiệp 2014, để bắt đầu hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải đăng ký kinh doanh, trong đó có đăng ký về vốn điều lệ Vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty TNHH, công ty hợp danh, là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bá hoặc đã đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp với CTCP Vốn này có thể tồn tại dưới dạng tài sản cố định hữu hình, tài sản vô hình và tiền mặt v.v , được sử dụng

Trang 14

để sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ Trong quá trình kinh doanh khoản lợi nhuận phát sinh bằng chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí sẽ làm tăng vốn của chủ sở hữu và được sử dụng để trích lập một số quỹ từ lợi nhuận sau thuế ngoài vốn điều lệ ban đầu

1.1.1.1 Vốn của chủ sở hữu

Theo quy định tại Điều 17 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001: phần vốn và tài sản do nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp thuộc sở hữu toàn dân, quy định này chỉ ra quyền sở hữu toàn dân đối với vốn và tài sản góp vào xí nghiệp, doanh nghiệp mà không xác định quyền sở hữu toàn dân đối với doanh nghiệp

Theo định nghĩa tại Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014, Hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp thì: Vốn chủ sở hữu là phần tài sản thuần của doanh nghiệp còn lại thuộc sở hữu của các cổ đông, thành viên góp vốn (chủ sở hữu) Vốn chủ sở hữu phản ánh theo từng nguồn hình thành như: Vốn góp của chủ

sở hữu, Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, Chênh lệch đánh giá lại tài sản

Khi nhà nước đầu tư thành lập doanh nghiệp, vốn của chủ sở hữu ban đầu được xác định dựa trên quyết định giao vốn để hình thành vốn điều lệ của doanh nghiệp Trong trường hợp vốn điều lệ chưa được góp đủ thì vốn của chủ sở hữu là vốn thực góp của nhà nước Ngoài nguồn vốn trên, doanh nghiệp có thể được quản

lý, sử dụng đất đai và các tài sản khác do nhà nước giao, những tài sản này được doanh nghiệp sử dụng trong quá trình kinh doanh, đây chính là lợi thế kinh doanh về tài sản của các công ty nhà nước so với các công ty khác không được giao quản lý vốn và tài sản của nhà nước Tùy thuộc cấu trúc sở hữu và loại hình doanh nghiệp mà

sự hình thành vốn của chủ sở hữu trong các doanh nghiệp có các đặc trưng khác biệt

Theo pháp luật hiện hành, nhà nước có thể góp 100% vốn điều lệ để thành lập công ty một thành viên Theo đó, pháp nhân công ty một thành viên nhà nước có vốn của chủ sở hữu nhà nước, vốn điều lệ được tách bạch với vốn và tài sản khác của doanh nghiệp do được nhà nước cho vay, giao hoặc cho thuê Vốn điều lệ trong công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Tại thời điểm thành lập, các cổ đông sáng lập thỏa thuận trong hợp đồng góp vốn thành lập

Trang 15

công ty về số cổ phần dự định phát hành số cổ phần nắm giữ của các cổ đông sáng lập Về bản chất, phát hành cổ phần là hành vi pháp lý nhằm tạo lập vốn điều lệ Vốn điều lệ hình thành bằng tiền bán cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi theo nghị quyết của đại hội đồng cổ đông

Trong quá trình kinh doanh, vốn chủ sở hữu có thể gia tăng bằng việc trích lập các quỹ từ lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp Vốn điều lệ có thể tăng lên theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền về chuyển phần lợi nhuận dựa trên phần vốn của nhà nước hoặc điều chuyển vốn từ doanh nghiệp khác, hoặc chuyển từ Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp do Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn của nhà nước quản lý và sử dụng theo quy định của pháp luật

Trong trường hợp công ty một thành viên nhà nước kinh doanh có lãi, phần lợi nhuận được phân chia theo vốn công ty tự huy động và phần vốn đầu tư của nhà nước Có thể thấy, lợi nhuận phát sinh từ hoạt động kinh doanh của công ty một thành viên nhà nước có thể làm gia tăng lợi ích của chủ sở hữu nhà nước trong hoạt động đầu tư và làm gia tăng vốn của chủ sở hữu tại công ty một thành viên nhà nước thông qua quyết định tăng vốn điều lệ của công ty bằng lợi nhuận để lại của nhà nước Phần lợi nhuận phát sinh từ phần vốn tự huy động được sử dụng để trích lập các quỹ làm gia tăng vốn chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp, chẳng hạn, công ty một thành viên nhà nước có quyền trích lập quỹ đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng, phúc lợi Quỹ đầu tư phát triển hình thành từ lợi nhuận trong kinh doanh thuộc sở hữu của công ty một thành viên nhà nước và thuộc chủ sở hữu nhà nước nói chung Trong CTCP, vốn của chủ sở hữu có thể tăng lên từ khoản thặng dư vốn cổ phần phát sinh Mặc dù khoản thặng dư này không được tính trong vốn điều lệ tại thời điểm thu tiền bán cổ phần nhưng là một bộ phận cấu thành vốn của chủ sở hữu

1.1.1.2 Vốn nợ của doanh nghiệp

Trong quá trình hoạt động, ngoài sử dụng vốn của chủ sở hữu, doanh nghiệp phải tạo lập các nguồn vốn khác từ phát hành trái phiếu vay ngân hàng hoặc các tổ chức, cá nhân khác để mở rộng đầu tư hoặc bổ sung vốn lưu động, đây gọi là vốn

nợ, cả vốn của chủ sở hữu và vốn nợ đều tạo nên tài sản của doanh nghiệp Chế độ

Trang 16

kế toán còn gọi vốn này là Nợ phải trả, và được trình bày ở bên Nguồn vốn trên Bảng cân đối kế toán

Vốn nợ là vốn mà doanh nghiệp vay các tổ chức, cá nhân hoặc mua chịu hàng hóa hoặc dịch vụ của đối tác, thông thường, các doanh nghiệp có thể vay tổ chức tín dụng, chiết khấu giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng, hoặc được ứng tiền qua tài khoản Ngoài ra, doanh nghiệp có thể vay của các doanh nghiệp, công ty bảo hiểm, các tổ chức, cá nhân khác thông qua hợp đồng vay hoặc phát hành trái phiếu [11, tr 55]

Về nguyên tắc, doanh nghiệp có thể vay vốn để bổ sung vốn hoạt động hoặc đầu tư dự án, vốn vay dài hạn trên một năm thường được dùng để đầu tư vào tài sản

cố định, còn vốn vay ngắn hạn dưới một năm dùng để bổ sung vốn lưu động

Trên thực tế, khoản vay chủ yếu của doanh nghiệp là vay từ ngân hàng thương mại Tùy từng trường hợp ngân hàng thương mại có thể buộc doanh nghiệp vay phải có tài sản bảo đảm, doanh nghiệp có thể sử dụng tài sản của chính mình để bảo đảm cho khoản vay hoặc nhận bảo lãnh của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác để vay vốn từ các ngân hàng thương mại

Ngoài ra, doanh nghiệp có thể thỏa thuận vay vốn từ các tổ chức, cá nhân khác để huy động vốn, thỏa thuận vay phải tuân thủ các quy định của Bộ luật dân sự trong đó có quy định về giới hạn lãi suất cho vay Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể huy động vốn bằng phát hành trái phiếu, đây là hình thức áp dụng phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển Ở nước ta, hình thức phát hành này thường được các doanh nghiệp có uy tín thực hiện, trong phát hành trái phiếu, doanh nghiệp chủ động quyết định khoản vay, mệnh giá trái phiếu, lãi suất vay trên

cơ sở pháp luật Việc phát hành trái phiếu phải đáp ứng các điều kiện phát hành theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của người sở hữu trái phiếu Cũng giống như vay vốn từ ngân hàng, vấn đề đảm bảo khả năng hoàn trả vốn vay đặt ra, theo đó doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu có bảo đảm bằng tài sản của chính doanh nghiệp của mình hoặc được bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba

1.1.2 Khái niệm vốn nhà nước

Vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp có những đặc điểm chung của vốn kinh doanh và có những đặc điểm riêng của vốn thuộc sở hữu nhà nước

Trang 17

Những đặc điểm chung của vốn kinh doanh là: vốn là một loại hàng hóa đặc biệt; vốn phải đại diện cho một lượng tài sản thực; vốn được biểu hiện bằng tiền dùng vào đầu tư, kinh doanh với mục đích sinh lời; vốn luôn gắn liền với chủ sở hữu nhất định

Chủ sở hữu vốn trong các doanh nghiệp là những người đầu tư vốn để hình thành hoặc phát triển mở rộng doanh nghiệp Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp khác nhau mà chủ thể sở hữu trong doanh nghiệp có thể khác nhau Sự khác biệt giữa vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp với vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác chính là ở đặc điểm sở hữu nhà nước của vốn so với các chủ thể sở hữu khác, chủ thể sở hữu nhà nước có những đặc điểm khác biệt

Thứ nhất, nhà nước là một hệ thống phức tạp, trong đó về mặt tổ chức nhà

nước bao gồm nhiều cơ quan và bộ máy quản lý khác nhau Do đó, khi bàn tới nhà nước như một chủ thể sở hữu thì chủ thể này khó xác định cụ thể Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan niệm và quy định cơ quan hành pháp (Chính phủ) thống nhất thực hiện các chức năng chủ sở hữu đối với vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp Tuy nhiên về bản chất, Chính phủ cũng chỉ là chủ sở hữu được ủy quyền, chủ

sở hữu đó cũng không có đầy đủ các đặc điểm và quyền của chủ sở hữu đích thực

Thứ hai, quan niệm về chủ sở hữu vốn nhà nước cũng rất khác nhau ở các hệ

thống kinh tế khác nhau Có quốc gia chỉ coi nhà nước Trung ương mới là chủ thể

sở hữu nhà nước, còn các chính quyền địa phương thì không có vai trò này Hiện nay Việt Nam lại coi chủ thể sở hữu nhà nước là toàn bộ hệ thống nhà nước từ cấp Trung ương đến địa phương

Thứ ba, do chủ thể sở hữu nhà nước có nhiều cấp quản lý từ trung ương đến

địa phương nên việc thực hiện quyền quản lý, giám sát sử dụng vốn nhà nước thường được thực hiện thông qua bộ máy hành chính Cơ chế trách nhiệm cá nhân, động cơ để đạt được mục tiêu và áp lực kiểm tra, giám sát không được rõ ràng như đối với các chủ thể sở hữu khác, vì vậy thường có sự buông lỏng quản lý việc quản

lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp

Thứ tư, từ đặc điểm nhà nước đầu tư vốn không chỉ có mục tiêu kinh tế mà

Trang 18

còn có mục tiêu chính trị, an ninh, văn hóa, xã hội, nên việc đầu tư, sử dụng vốn nhà nước của chủ sở hữu nhà nước khó phân định rõ ràng, dẫn tới tình trạng đầu tư dàn trải thua lỗ

Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước cũng là một chủ thể đầu tư, việc nhà nước đầu tư vốn và các doanh nghiệp đã hình thành nên khái niệm vốn nhà nước Nhà nước sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước hoặc vốn từ các quỹ do Nhà nước quản lý để đầu tư tại các doanh nghiệp

Tại khoản 8, Điều 3, Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản

xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp thì Vốn nhà nước tại doanh nghiệp bao gồm vốn

từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn khác được Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước: đây chính là nguồn chi phát triển

kinh tế - xã hội của ngân sách nhà nước, đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Các khoản chi kinh tế

- xã hội được pháp luật thừa nhận hiện nay gồm: chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các khoản chi đầu tư phát triển khác; chi đầu tư

và hỗ trợ các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của nhà nước; chi

để nhà nước góp vốn cổ phần hoặc liên doanh và các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực cần có sự tham gia của nhà nước; chi bổ sung dự trữ nhà nước

Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014, Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước: được xác định là thành phần chủ đạo trong nền kinh tế, các DNNN vẫn nắm giữ một khối lượng vốn khá lớn Mặc dù vẫn còn một số hạn chế nhưng đánh giá một cách công bằng thì khu vực kinh tế nhà nước với sự tham gia của các DNNN vẫn đóng một vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần Với chủ trương tiếp tục đổi mới DNNN, hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích lũy của các DNNN ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của toàn xã hội

Trang 19

1.1.3 Đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp

Về bản chất pháp lý, người đại diện được Nhà nước cử ra để tham gia quản

lý, sử dụng vốn tại doanh nghiệp sẽ có tư các là đại diện cho Nhà nước – với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp đã tiếp nhận vốn do Nhà nước đầu tư

Cơ quan đại diện chủ sở hữu là cơ quan, tổ chức được Chính phủ giao thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do mình quyết định thành lập hoặc được giao quản lý và thực hiện quyền, trách nhiệm đối với phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Thủ tướng chính phủ phân công, phân cấp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu cho các cơ quan, tổ chức đại diện chủ sở hữu sau đây:

 Ủy ban quản lý vốn Nhà nước;

 Bộ quản lý ngành, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

 Bộ tài chính thực hiện một số quyền, nghĩa vụ đại diện chủ sở hữu;

 Hội đồng quản trị tập đoàn, tổng công ty nhà nước;

đề liên quan đến quyền cổ đông trong các kỳ họp đại hội cổ đông, HĐQT doanh nghiệp sau cổ phần hóa Người đại diện chịu trách nhiệm hướng doanh nghiệp hoạt động theo đúng mục tiêu, định hướng của nhà nước và bảo toàn phát triển phần vốn nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa Người đại diện chịu trách nhiệm trước chủ sở hữu về các nhiệm vụ được giao

Trang 20

Đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hay đối với doanh nghiệp có một phần vốn nhà nước đầu tư, chế độ quản lý, sử dụng vốn và tài sản gắn với việc thực hiện thẩm quyền của cơ quan chủ sở hữu, cơ quan quản lý và cơ quan điều hành

Phân định thẩm quyền giữa cơ quan chủ sở hữu và cơ quan quản lý, điều hành:

 Công ty TNHH một thành viên: theo Điều 73 Luật doanh nghiệp 2014, công ty một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu

Việc tổ chức, quản lý doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thực hiện theo mô hình Công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu

Công ty một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu bao gồm công ty do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập gồm: công ty một thành viên do Chính phủ quyết định thành lập; công ty do Bộ, UBND tỉnh quyết định thành lập; công ty mẹ một thành viên nhà nước đối với công ty con 100% Phân chia thẩm quyền giữa các

cơ quan chủ sở hữu và cơ quan quản lý theo hai mô hình: cơ quan chủ sở hữu và Hội đồng thành viên, cơ quan chủ sở hữu và Chủ tịch công ty

Trong công ty một thành viên, chủ sở hữu là tổ chức có quyền: Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và chuyển giao công nghệ; thông qua hợp đồng vay, cho vay, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty (khoản 1, điều 56)

 Trường hợp công ty TNHH hai thành viên trở lên:

Trong công ty hai thành viên trở lên, hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất của công ty Điều lệ công ty quy định định kỳ họp hội đồng thành viên, nhưng ít nhất mỗi năm một lần Hội đồng thành viên chỉ quyết định một số nội dung quan trọng liên quan đến hoạt động tài chính của công ty như dự án đầu tư, bán tài sản có giá trị lớn

Công ty hai thành viên trở lên ban hành Điều lệ quy định cụ thể về thẩm quyền quyết định của chủ tịch công ty, tổng giám đốc hoặc giám đốc Phạm vi thẩm quyền được ghi nhận trong điều lệ là căn cứ xác định tính hợp lý và hợp pháp của quyết định quản lý, điều hành

Trang 21

 Trường hợp CTCP:

Trong CTCP, theo Luật doanh nghiệp, số lượng cổ đông tối thiểu là ba, trên thực tế, số lượng cổ đông có thể rất đông do công ty phát hành cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn Với số lượng cổ đông lớn, tất cả cổ đông không thể thực tiếp tham gia quản lý, điều hành như trong CTCP có quy mô nhỏ, bởi vậy, tách bạch giữa sở hữu và quản lý, và tách bạch giữa sở hữu và điều hành trở thành một nguyên tắc đặc trưng của CTCP Do cơ chế triệu tập họp định kỳ một năm một lần

và có thể tổ chức họp bất thường nên đại hội đồng cổ đông chỉ quyết định một số nội dung liên quan đến hoạt động tài chính của công ty như tăng giảm vốn điều lệ, Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ hoặc một giá trị khác, quyết định phương án phân chia lợi nhuận hoặc chia cổ tức (Điều 135 Luật doanh nghiệp 2014) HĐQT thông qua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ hoặc giá trị khác Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng và giao dịch quy định, tại điểm d khoản 2 Điều 135, khoản 1 và khoản

3 Điều 162 của Luật này Có thể thấy, với thẩm quyền được giao, HĐQT chiếm vị trí trung tâm trong quyết định các vấn đề kinh doanh của công ty [11, tr 115]

1.1.4 Khái niệm quản lý vốn và tính tất yếu phải quản lý vốn nhà nước

Quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp có thể hiểu là một hệ thống các hình thức, phương pháp và các công cụ quản lý do nhà nước ban hành để định hướng đầu tư, sử dụng và giám sát việc sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển

số vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp Nhà nước phải quản lý vốn nhà nước tại DNNN vì:

Thứ nhất, DNNN thuộc sở hữu nhà nước nhưng nhà nước giao cho một số cá nhân, đơn vị sử dụng Như vậy có sự tách biệt giữa người sở hữu vốn và người sử dụng vốn, hai đối tượng này có thể có mục tiêu không phù hợp nhau Các DNNN không phải đương đầu với nguy cơ bị đối thủ cạnh tranh mua lại như các doanh

Trang 22

nghiệp trong khu vực tư nhân Do đó người sử dụng vốn có thể sử dụng vào những động cơ cá nhân, những động cơ có thể làm cho những nhà lãnh đạo các DNNN hành động không nhất quán với các mục tiêu của doanh nghiệp Vì thế đòi hỏi phải

có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước nhằm đảm bảo vốn và tài sản của nhà nước không bị xâm phạm trong quá trình kinh doanh cũng như doanh nghiệp hoạt động theo đúng mục tiêu nhà nước đề ra

Thứ hai, nhà nước quản lý vốn nhà nước tại các DNNN cũng là thực hiện vai trò quản lý nhà nước của mình Nhà nước ban hành các chế độ tài chính đối với DNNN, theo dõi và kiểm tra việc chấp hành các chế độ đó Việc theo dõi, kiểm tra tình hình sử dụng vốn tại các DNNN giúp cơ quan quản lý nắm bắt được tình hình thực tế tại các doanh nghiệp, theo dõi tiến trình thực hiện các văn bản Từ đó thu thập thông tin để chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện các chính sách cho kịp thời, phù hợp với thực tế Đồng thời thông qua công tác quản lý vốn, nhà nước mới có những thông tin chính xác để đánh giá đúng chất lượng kinh doanh ở các DNNN Trên cơ

sở các thông tin đánh giá này, nhà nước có kế hoạch sắp xếp, bố trí lại các doanh nghiệp, vốn và lao động, hoàn thiện các khâu quản lý nhằm đạt hiệu quả kinh doanh

và thực hiện các mục tiêu xã hội

Thứ ba, đối với các DNNN hoạt động kinh doanh, phần lợi nhuận sau thuế thuộc về nhà nước Nhà nước sử dụng lợi nhuận đó để duy trì và tái sản xuất mở rộng doanh nghiệp hoặc đáp ứng một lợi ích nào đó của nhà nước Do đó, để lợi nhuận sau thuế được tối đa hoá, nhà nước phải quản lý phần vốn đầu tư của mình để

nó được sử dụng một cách có hiệu quả, trên cơ sở đó tăng lợi ích nhà nước Tóm lại, việc nhà nước quản lý vốn nhà nước tại DNNN là một đòi hỏi khách quan để bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu trong việc bảo toàn vốn và tài sản cũng như

để thực hiện vai trò quản lý của mình

1.1.5 Mô hình quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới

1.1.5.1 Tổng quan các mô hình

Nhà nước sử dụng vốn đầu tư có thể để hình thành mới một doanh nghiệp,

Trang 23

hoặc đầu tư bổ sung cho các doanh nghiệp hiện đang hoạt động đều phải xác định người có quyền quyết định đầu tư vốn nhà nước tại các doanh nghiệp Trên thế giới, thường có hai mô hình cơ bản:

Mô hình 1: Tập trung quyền lực

Quốc hội luôn là cơ quan có thẩm quyền quyết định cuối cùng trong việc thành lập mới một DNNN, kể cả DNNN hoạt động theo luật riêng và DNNN dưới hình thức công ty TNHH, CTCP hoạt động theo luật doanh nghiệp, ví dụ ở New Zealand, Phần Lan, Thụy Điển Tại Thụy Điển, việc đầu tư mới một doanh nghiệp 100% vốn nhà nước phải được Quốc hội phê chuẩn theo đề nghị của Chính phủ Nếu chính phủ muốn đầu tư mua cổ phần trên 50% cổ phần biểu quyết của một doanh nghiệp nào đó thì cũng phải được sự cho phép của Quốc hội, ngược lại Chính phủ muốn bán bớt cổ phần ở doanh nghiệp có trên 50% vốn nhà nước thì phải được sự phê chuẩn của Quốc hội Quốc hội là người quyết định rút vốn ra khỏi doanh nghiệp

Cơ sở của cơ chế này xuất phát từ vị trí và vai trò của Quốc hội, Quốc hội là

cơ quan quyền lực cao nhất trong bộ máy nhà nước chịu trách nhiệm về việc sử dụng các nguồn vốn ngân sách có nguồn gốc từ việc đóng thuế của người dân Do

đó Quốc hội là chủ sở hữu thực sự của vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, quốc hội có quyền trong việc ra quyết định đầu tư hay rút vốn đầu tư ở các doanh nghiệp Tuy nhiên cơ chế này chỉ thực hiện được ở những nhà nước nào mà số lượng doanh nghiệp nhà nước đầu tư vốn không lớn, vì với số lượng ít thì Quốc hội mới có thể thực hiện được quyền này

Mô hình 2: Phân quyền

Chính phủ là người được giao thực hiện chức năng chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, đồng thời Chính phủ cũng là người trực tiếp ra quyết định đầu tư vốn vào doanh nghiệp và rút vốn ra khỏi doanh nghiệp, các quốc gia áp dụng

mô hình này như Pháp, Hàn Quốc, Trung Quốc… Việc đầu tư vốn có thể là hình thành mới một doanh nghiệp, hoặc đầu tư vốn bổ sung Theo các mô hình này, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định đầu tư vào những doanh nghiệp lớn ở Trung ương Việc quyết định đầu tư các doanh nghiệp thuộc ngành hoặc địa phương được thực

Trang 24

hiện theo cơ chế ủy quyền Theo đó, Thủ tướng Chính phủ ủy quyền quyết định đầu

tư cho người đứng đầu mối chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp như

Bộ chủ quản, hoặc cơ quan chuyên trách về quản lý, sử dụng vốn nhà nước, hoặc công ty đầu tư vốn nhà nước Sau đó những đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước lại tiếp tục ủy quyền cho các đại diện vốn nhà nước tại các doanh nghiệp

Quyền quyết định đầu tư tăng, giảm vốn nhà nước tại doanh nghiệp được quy định như sau: đối với đại diện chủ sở hữu do thủ tướng Chính phủ phân cấp ủy quyền thì do cơ quan này xem xét, quyết định; đối với trường hợp Tổng công ty, công ty nhà nước độc lập là đại diện chủ sở hữu phần vốn tại doanh nghiệp sau cổ phần hóa thì tổng công ty, DNNN độc lập xem xét, quyết định trên nguyên tắc: người quyết định phương án đầu tư vốn vào doanh nghiệp đồng thời là người quyết định bổ sung vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp hoặc quyết định giảm phần vốn nhà nước vào doanh nghiệp

Tác giả đã đưa ra lựa chọn các quốc gia này do mỗi quốc gia đều triển khai các mô hình cơ quan quản lý, sử dụng vốn nhà nước Trung Quốc và Singapore đều

là 02 quốc gia Châu Á đã thành công trong việc xây dựng các cơ quan, tổ chức quản

lý, sử dụng vốn nhà nước

1.1.5.2 Mô hình của Trung Quốc

Ở Trung Quốc, xí nghiệp quốc hữu vẫn được xác định là trụ cột của nền kinh

tế quốc dân, nếu được cải cách tốt thì các xí nghiệp quốc hữu sẽ có tác dụng hết sức quan trọng đối với việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường XHCN và củng cố CNXH trong giai đoạn đầu ở Trung Quốc Vì vậy, Trung Quốc coi việc cải cách các

xí nghiệp quốc hữu là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và phải kiên định thực hiện

Ủy ban giám sát và quản lý tài sản nhà nước (SASAC)

SASAC được Trung Quốc thành lập năm 2003 để trực tiếp quản lý 198 DNNN lớn thuộc lĩnh vực phi tài chính Số lượng nhân sự của SASAC là khoảng

550 người Bên cạnh việc thành lập SASAC ở Trung ương, Chính phủ Trung Quốc còn cho phép thành lập các tổ chức tương tự SASAC trực thuộc chính quyền địa phương để quản lý tới 1030 DNNN lớn của địa phương (Tổng số DNNN ở Trung

Trang 25

Quốc hiện vẫn còn tới khoảng 190.000 DN) Đến nay, số lượng DN do SASAC quản lý đã được thu gọn từ 198 xuống còn 148 doanh nghiệp

SASAC là một cơ quan ngang bộ; Chủ tịch SASAC do Chính phủ bổ nhiệm Chủ tịch SASAC được tham dự các buổi họp của Chính phủ nhưng không được phát biểu tại các buổi họp này Các chức năng cơ bản của SASAC bao gồm: SASAC đóng vai trò là nhà đầu tư nhà nước; định hướng và thúc đẩy quá trình cải cách DNNN; cử các tổ/ban giám sát đến một số doanh nghiệp lớn để thay mặt nhà nước thực hiện việc giám sát hoạt động của doanh nghiệp; bổ nhiệm và miễn nhiệm các lãnh đạo cấp cao của doanh nghiệp, đánh giá hoạt động của các cán bộ này và thưởng/phạt đối với lãnh đạo doanh nghiệp; giám sát và quản lý việc bảo toàn và gia tăng giá trị tài sản nhà nước thuộc sự giám sát của SASAC thông qua hoạt động thống kê và kiểm toán; soạn thảo văn bản pháp quy về cải cách và quản lý tài sản nhà nước; chỉ đạo và giám sát công tác quản lý tài sản của các SASAC địa phương

Về quản trị doanh nghiệp có vốn nhà nước, mục tiêu của SASAC là định hướng và thúc đẩy quá trình cải cách DNNN và tăng cường việc quản lý tài sản Nhà nước Mục tiêu này được thực hiện thông qua các quyền lực rất lớn của SASAC trên cả ba lĩnh vực là quản lý người, quản lý việc và quản lý tài sản Về quản lý nhân sự, trong số 148 doanh nghiệp nói trên thì có 53 doanh nghiệp có nhân sự là

do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm trực tiếp số còn lại do SASAC bổ nhiệm Hiện nay, SASAC mới bắt đầu thực hiện thí điểm thành lập Hội đồng quản trị tại các DNNN Trong số 148 tập đoàn, doanh nghiệp lớn trực thuộc SASAC đến nay mới

có 19 tập đoàn có Hội đồng quản trị

Về quản lý vốn tại các doanh nghiệp, tuy SASAC không thường xuyên thực hiện nhiệm vụ đầu tư nhưng theo yêu cầu của Chính phủ, SASAC cũng thực hiện đầu

tư tăng vốn cho các DNNN Các SASAC địa phương cũng được trao quyền sử dụng lợi nhuận từ DNNN địa phương để thực hiện những dự án đầu tư của địa phương

Nhận xét: Có thể thấy mô hình SASAC giống như một “siêu bộ”, quản lý các

DNNN về mọi mặt, từ nhân sự, công việc đến tài sản Việc quản lý mang nặng tính hành chính: Mặc dù SASAC được quyền quản lý vốn, người và việc tại doanh

Trang 26

nghiệp, nhưng thực tế SASAC chủ yếu chỉ giám sát thông qua cơ chế báo cáo và cử ban giám sát tại doanh nghiệp Chưa có sự tách biệt hoàn toàn giữa quản lý nhà nước với quản lý doanh nghiệp: Mặc dù Trung Quốc tuyên bố tách biệt hoàn toàn giữa quản lý nhà nước và quản lý doanh nghiệp, nhưng mô hình SASAC cho thấy vẫn chưa có sự tách biệt này SASAC vẫn tham gia vào các quyết định của doanh nghiệp ở mức độ nhất định (thông qua việc bổ nhiệm lãnh đạo doanh nghiệp)

1.1.5.3 Mô hình của Singapore

Trên thế giới, ở nền kinh tế thị trường việc nhà nước thành lập một công ty kinh doanh vốn nhà nước là điều hiếm có Singapore là một trong những nước đầu tiên đã triển khai mô hình này và là nước thu được kết quả khả quan nhất

Trong những năm ngay sau tuyên bố độc lập vào năm 1965, Chính phủ Singapore đã liên doanh đầu tư vào một số xí nghiệp mới trong nỗ lực thúc đẩy phát triển kinh tế và tạo công ăn việc làm Là một nước nhỏ mới độc lập, nằm trên một hòn đảo nhỏ không có tài nguyên thiên nhiên, Singapore không có chọn lựa nào khác ngoài việc đảm bảo rằng những vụ đầu tư đó, về mặt kinh doanh, sẽ tồn tại được và bền vững

Yêu cầu này được giao cho tiến sĩ Goh Keng Swee - Phó Thủ tướng, “kiến trúc sư” của công cuộc phát triển kinh tế và kỹ nghệ của Singapore Nỗ lực tập trung vào các vụ đầu tư “ăn chắc mặc bền” của ông còn được tăng cường vào năm

1974 khi Chính phủ Singapore thành lập Tập đoàn Temasek, giao tập đoàn này trách nhiệm làm chủ sở hữu và quản lý khoảng 30 vụ đầu tư khởi nghiệp Việc thành lập Temasek nhằm phục vụ yêu cầu tách biệt vai trò điều hành và đề ra chính sách của chính phủ khỏi vai trò kinh doanh Temasek, hiện đang làm chủ một tổng tài sản lên đến 110 tỉ USD

Hiện nay, Temasek Holdings là tập đoàn quản lý tài sản vốn nhà nước Singapore trực thuộc Bộ Tài chính Singapore Trong thực tế, hiếm có thành viên nào của Temasek xuất thân là quan chức chuyên nghiệp Ngay cả ê-kíp quan chức kinh tế đầu tiên vào những năm đầu của Nhà nước Singapore cũng xuất thân là những nhà kinh tế học khoa bảng hay nhà kinh doanh cha truyền con nối Ê-kíp

Trang 27

lãnh đạo Temasek càng không có đầu óc “công chức” hoặc “cửa quyền” quen “mệnh lệnh hành chính”, mà luôn mang đầu óc entrepreneurship (tạm dịch: đầu óc doanh nghiệp trong mọi ý nghĩa của nó) Tính chuyên nghiệp của Temasek còn ở nơi tính

“quốc tế” của đội ngũ nhân viên, trong đó 40% vị trí quản lý là người nước ngoài

Nhận xét: Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) của Việt

Nam cũng có nét tương đồng nhất định so với Temasek Tuy nhiên, trên thực tế thành tựu hoạt động của hai thiết chế (công ty) này là hoàn toàn khác nhau Từ hoạt động của Temasek, có thể cho rằng, SCIC của Việt Nam chỉ có thể thành công khi hội đủ các đặc tính “kỷ luật thương trường” và “tính chuyên nghiệp” mà Temasek đã có

Như vậy, dựa trên kinh nghiệm quản lý, sử dụng vốn nhà nước của các nước trên, bài học đối với Việt Nam

Thứ nhất, nhà nước chỉ đầu tư vốn vào các doanh nghiệp hoạt động trong

những lĩnh vực quan trọng;

Thứ hai, xác định và tách bạch chức năng, quyền hạn của đại diện chủ sở

hữu vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, không can thiệp vào hoạt động của DNNN, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát huy quyền tự chủ và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Thứ ba, quyền của đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp sẽ tùy

thuộc vào mức độ đầu tư vốn của nhà nước, đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đầu tư thì nhà nước sẽ kiểm soát chặt chẽ hơn Đối với DNNN đầu tư một phần vốn, thì quyền của cổ đông hay người góp vốn là ngang bằng như nhau;

Thứ tư, giám sát của chủ sở hữu nhà nước đầu tư, tập trung vào việc đánh giá

kết quả thực hiện các mục tiêu Biện pháp giám sát nhấn mạnh tới cơ chế minh bạch hóa thông tin về các phần vốn đầu tư của nhà nước tại doanh nghiệp Xây dựng bộ khung kỷ luật toàn diện liên quan đến lãnh đạo tốt và kỷ luật tài chính Một ủy ban đầu tư sẽ giám sát, lượng giá mọi đề xuất đầu tư Nếu ai có khả năng xung đột lợi ích sẽ bị đưa ra khỏi các thảo luận và quyết định

Thứ năm, cần nhận thức được vai trò to lớn của chính sách tư nhân hóa (cổ

phần hóa) Tiến tới thoái một phần và toàn bộ vốn nhà nước ở các Công ty CP, TNHH có vốn đầu tư của Nhà nước

Trang 28

1.2 Pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm và nguyên tắc điều chỉnh pháp luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp

Đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp là việc Nhà nước sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước hoặc vốn từ các quỹ do Nhà nước quản lý để đầu tư vào doanh nghiệp

Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp có thể hiểu là một hệ thống các hình thức, phương pháp và các công cụ quản lý do nhà nước ban hành để định hướng đầu tư, sử dụng và giám sát việc sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển số vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp

Pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp được hiểu là hệ thống những quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp

Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp

 Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp

+ Phân quyền trong quản lý vốn và tài sản của doanh nghiệp

Với tư cách là chủ sở hữu, các tổ chức và cá nhân có thể trực tiếp hoặc thông qua người đại diện để quản lý, sử dụng vốn và tài sản của doanh nghiệp nhằm đạt mục đích đề ra Phân định thẩm quyền quản lý, sử dụng vốn và tài sản trong doanh nghiệp gắn với các loại hình doanh nghiệp

Trong công ty một thành viên và công ty hai thành viên, người góp vốn là

cá nhân có thể trực tiếp tham gia quản lý, điều hành còn tổ chức góp vốn có thể cử người đại diện tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp Sự phân quyền của các

cơ quan tổ chức nội bộ trong quản lý vốn được phân chia thành: phân quyền giữa

cơ quan chủ sở hữu và cơ quan quản lý, phân quyền giữa cơ quan quản lý và cơ quan điều hành:

Phân quyền giữa cơ quan chủ sở hữu và cơ quan quản lý: Luật doanh nghiệp

ở nước ta và luật công ty ở nhiều nước tư bản phát triển đều có chung mục đích: xác

Trang 29

định thẩm quyền của chủ sở hữu trong quyết định những vấn đề quan trọng của công ty; xác định phạm vi thẩm quyền của cơ quan quản lý Ngoài ra, Luật cho phép cơ quan chủ sở hữu quyết định phạm vi thẩm quyền của cơ quan quản lý bằng ghi nhận trong điều lệ doanh nghiệp Về mặt tài chính, sử dụng vốn và tài sản liên quan quyết định chi phí và hình thành doanh thu của doanh nghiệp, nên có thể nói,

cơ quan và người có thẩm quyền quản lý và điều hành kinh doanh là chủ thể quyết định đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

Phân quyền giữa cơ quan quản lý và cơ quan điều hành:

Đây là sự phân quyền nhằm giao quyền điều hành trong doanh nghiệp cho một hoặc một số người có năng lực điều hành, Luật doanh nghiệp hiện hành nước ta quy định về phân tách giữa quản lý và điều hành thể hiện rõ nét nhất trong quy định

về thuê tổng giám đốc, theo đó, vị trí người điều hành tách bạch với vị trí của người quản lý - thành viên HĐQT Bên cạnh đó, Luật doanh nghiệp 2014 quy định cho phép chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc hoặc giám đốc Ở đây sự phân quyền trở nên không rõ ràng khi hai chức danh do một người nắm giữ

+ Vốn và tài sản của doanh nghiệp phải được bảo toàn

Về mặt tài chính, vốn là thể hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản, khi vốn bằng tiền đã chuyển thành tài sản, thì bảo toàn tài sản mang ý nghĩa duy trì giá trị sử dụng của tài sản Theo nghĩa hẹp, bảo toàn vốn cũng chính là bảo toàn tài sản nhằm duy trì và làm gia tăng giá trị của nó thông qua hoạt động đầu tư, kinh doanh Trong quyết định kinh doanh, doanh nghiệp không thể tránh khỏi tình trạng thua lỗ, nợ quá hạn và thậm chí phá sản Chủ sở hữu có thẩm quyền quyết định bảo toàn vốn thông qua quyết định mua bán, sáp nhập công ty, bán tài sản…nhằm duy trì giá trị

sử dụng của tài sản và bảo toàn vốn của doanh nghiệp

+ Bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu và chủ nợ

Mục tiêu lợi nhuận của người góp vốn chỉ có thể đạt được khi doanh nghiệp

có doanh thu đủ để bù đắp chi phí và có lãi Ngoài phần vốn chủ sở hữu bỏ ra ban đầu, doanh nghiệp phải vay vốn hoặc huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu

để thực hiện dự án kinh doanh Tài sản hình thành từ thực hiện dự án tuy cấu thành

Trang 30

tài sản của doanh nghiệp nhưng có nguồn gốc từ khoản vay Trong quan hệ với doanh nghiệp, chủ nợ chỉ có quyền hưởng lãi suất theo thỏa thuận và chỉ có thể thu hồi vốn khi đến hạn trả nợ theo hợp đồng và không chịu trách nhiệm về sự thất bại của dự án đầu tư của doanh nghiệp Mục đích của chủ sở hữu chỉ có thể đạt được khi công ty sử dụng vốn tự có và vốn vay hiệu quả Trong những công ty cần nguồn vốn lớn để kinh doanh khi vốn chủ sở hữu có giới hạn, có thể nói vốn vay là nhân tố quyết định trong tạo lập tài sản của công ty Do lợi ích của chủ nợ gắn chặt với lợi ích của công ty, nên các quyết định kinh doanh của cơ quan chủ sở hữu, cơ quan quản lý và vơ quan điều hành phải tuân thủ pháp luật để bảo vệ lợi ích của chủ nợ hạn chế tình trạng công ty thua lỗ và phá sản

+ Thông tin về quản lý, sử dụng vốn và tài sản phải được minh bạch

Thẩm quyền quản lý, sử dụng vốn và tài sản được giao cho cơ quan quản lý, điều hành theo Luật doanh nghiệp và điều lệ công ty Đại diện theo pháp luật nhân danh doanh nghiệp ký kết và đôn đốc thực hiện hợp đồng Kết quả thu, chi liên quan tới các giao dịch mua bán hàng hóa, thanh toán gắn với việc chuyển dịch quyền sở hữu và sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp được tổ chức kế toán doanh nghiệp ghi nhận trên các tài khoản kế toán Đây là căn cứ để xác định doanh thu, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp việc minh bạch hóa thông tin về tài chính giúp cho cơ quan chủ sở hữu và cơ quan quản lý đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết

và quyết định đã ban hành cũng như kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan và người điều hành [11, tr 110]

 Quản lý phân chia lợi nhuận trong doanh nghiệp có vốn nhà nước đầu tư

Quản lý phân chia lợi nhuận hay nói cách khác là quản lý việc phân phối kết quả kinh doanh (lợi nhuận sau thuế) Sau khi thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh và thu được lợi nhuận, doanh nghiệp sẽ tiến hành phân phối số lợi nhuận đó Việc phân phối lợi nhuận sẽ không làm cho lợi nhuận thay đổi, tuy nhiên nó lại ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ thể trong quá trình phân chia lợi nhuận, mặt khác việc phân phối lợi nhuận có thể tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển trong tương lai, đồng thời có thể làm tăng giá cổ phần trên thị trường

Trang 31

Nguyên tắc xác định và phân phối lợi nhuận:

+ Bảo đảm quyền lợi của người góp vốn

Lợi nhuận của doanh nghiệp là mục đích hướng tới của người góp vốn Trong CTCP hoặc công ty TNHH, khi cổ đông và thành viên công ty không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành thì lợi ích của họ chỉ được bảo đảm bằng hiệu quả hoạt động kinh doanh và việc kiểm soát chặt chẽ doanh thu, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp Hiện nay, bảo đảm quyền và lợi ích của người góp vốn không chỉ bằng quy định của Luật doanh nghiệp 2014 mà còn được cụ thể hóa trong điều lệ và quy chế nội bộ của doanh nghiệp do cơ quan chủ sở hữu ban hành Các văn bản này

là cơ sở để người góp vốn và các cơ quan được ủy quyền thực hiện quyền giám sát hoạt động quản lý, điều hành kinh doanh cũng như quản lý, sử dụng vốn và tài sản của doanh nghiệp

+ Bảo đảm cân đối lợi ích giữa các chủ thể trong phân chia lợi nhuận

Doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận từ thực hiện một hợp đồng, một dự

án đầu tư, lợi nhuận này cấu thành tổng lợi nhuận trong năm tài chính Tổng lợi nhuận phát sinh trong năm tài chính được phản ánh trên báo cáo tài chính Đối với công ty niêm yết, báo cáo tài chính phải được công ty kiểm toán độc lập kiểm tra, xác nhận Người góp vốn chỉ được phân phối lợi nhuận sau khi doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế Thu nhập sau thuế được phân chia theo các nguyên tắc: bảo đảm quyền của bên góp vốn theo hợp đồng, bảo đảm an toàn tài chính của doanh nghiệp và bảo đảm lợi ích của chủ sở hữu Cơ quan chủ sở hữu quyết định tỷ

lệ phần trăm trích lập các quỹ, chi trả lợi nhuận dựa trên phần vốn góp hoặc cổ tức dựa trên tỷ lệ mệnh giá cổ phần và một phần trích quỹ khen thưởng cho người quản

lý, điều hành và người lao động trong doanh nghiệp [11, tr 139]

1.2.2 Nội dung pháp luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp

 Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp

Theo hạng các danh mục, thì quản lý sử dụng vốn bao gồm: Quản lý vốn vay ngắn hạn nhằm bổ sung vốn lưu động, vay dài hạn đầu tư mở rộng quy mô dinh

Trang 32

doanh; Quản lý các khoản công nợ phải trả gồm các khoản phải trả người bán, phải trả cho người lao động, phải trả thuế cho ngân sách nhà nước …; Quản lý vốn bằng tiền, các khoản công nợ phải thu; Quản lý việc sử dụng vốn cho đầu tư vào dự án, đầu tư vào các công ty con, công ty liên kết, mua sắm và khấu hao tài sản cố định;

Theo tính chất, mức độ sử dụng, hoạt động sử dụng vốn của doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước bao gồm: hoạt động sử dụng vốn trực tiếp cho các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường và hoạt động sử dụng vốn gián tiếp

Hoạt động sử dụng vốn trực tiếp: sử dụng vốn đầu tư, xây dựng, mua sắm tài sản cố định, tài sản lưu động và các yếu tố khác để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

Hoạt động sử dụng vốn gián tiếp: đầu tư vốn vào các công ty khác, góp vốn liên doanh liên kết với các công ty khác, mua một phần hoặc toàn bộ công ty khác, đầu tư thành lập doanh nghiệp mới,…

Đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước: doanh nghiệp được quyền sử dụng vốn nhà nước đã đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình theo nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn Doanh nghiệp phải xây dựng cơ chế quản lý

sử dụng vốn tuân thủ theo các quy định của Nhà nước

Đối với doanh nghiệp có một phần vốn nhà nước đầu tư, việc ra quyết định

sử dụng vốn thuộc thẩm quyền của doanh nghiệp và luôn phải tuân thủ theo nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn

 Nguyên tắc phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp

Phân phối lợi nhuận sau thuế phải ưu tiên cho mục tiêu bảo toàn vốn kinh doanh của doanh nghiệp Đồng nghĩa với bảo toàn vốn đầu tư của nhà nước vào các doanh nghiệp Lợi nhuận của doanh nghiệp sau thời kỳ hoạt động nhất định sẽ được phân phối theo các hình thức như: Để lại doanh nghiệp thông qua việc trích các quỹ đầu tư phát triển, khen thưởng phúc lợi và chuyển vào ngân sách nhà nước

+ Hình thành quỹ đầu tư phát triển: quỹ được sử dụng vào việc đầu tư mở rộng sản xuất, phát triển kinh doanh nhằm đầu tư phát triển trong tương lai và hy vọng sẽ tạo sự gia tăng về thu nhập cho chủ sở hữu trong tương lai

Trang 33

+ Hình thành quỹ phúc lợi: quỹ này dùng để đầu tư, xây dựng hoặc sửa chữa, bổ sung vốn xây dựng các công trình phúc lợi công cộng của doanh nghiệp; góp vốn đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi chung trong ngành, hoặc với các đơn vị khác theo hợp đồng…trợ cấp khó khăn thường xuyên hoặc đột xuất cho người lao động kể cả những trường hợp về hưu, về mất sức, lâm vào hoàn cảnh khó khăn, không nơi nương tựa, hoặc làm công tác từ thiện

+ Hình thành quỹ khen thưởng: quỹ được dùng để thưởng cuối năm hoặc thường kỳ cho người lao động trong doanh nghiệp, thưởng đột xuất cho những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc, đóng góp nhiều cho hoạt động kinh doanh…

Hiện nay, việc phân phối cổ tức được thực hiện theo Luật doanh nghiệp 2014

và việc sử dụng cổ tức phần vốn nhà nước được thực hiện theo quy định của đại diện chủ sở hữu

Đối với doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước đầu tư, nhà nước là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp Nhà nước có toàn quyền đối với việc sử dụng lợi nhuận sau thuế Về cơ bản, nhà nước dành một lợi nhuận sau thuế để trích lập quỹ đầu tư phát triển để tái đầu tư thay thế, đổi mới máy móc thiết bị, bổ sung vào vốn cho doanh nghiệp; trích quỹ khen thưởng phúc lợi để khen thưởng, khuyến khích, đảm bảo phúc lợi chung cho người lao động trong doanh nghiệp Phần lợi nhuận còn lại sẽ được đưa

về một quỹ chung của nhà nước, quỹ này là tập hợp lợi nhuận sau thuế được chia cho chủ sở hữu là nhà nước từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước

Đối với những doanh nghiệp có cổ phần vốn góp của nhà nước, nhà nước tham gia vào việc phân phối lợi nhuận sau thuế với tư cách là một trong các chủ sở hữu doanh nghiệp Nhà nước là chủ sở hữu sẽ được hưởng lợi nhuận sau thuế theo

tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước trong doanh nghiệp Việc phân chia lợi nhuận sau thuế sẽ tuân thủ theo quy định của doanh nghiệp

1.2.3 Vai trò pháp luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp

Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý, phải sử dụng các công cụ quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý, điều chỉnh các đối tượng quản lý hoạt động

Trang 34

theo định hướng, chủ trương mà nhà nước đã đề ra, trong đó pháp luật là công cụ chủ yếu và quan trọng nhất

Trong mối quan hệ với Đảng lãnh đạo, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp nói riêng, pháp luật nói chung là phương tiện thể chế hóa đường lối của Đảng, là phương tiện để Đảng kiểm tra đường lối của mình trong thực tiễn

Pháp luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng, đối với nền kinh tế tạo lập hành lang pháp lý cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh được đầu tư bởi vốn nhà nước Pháp luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước có vai trò thúc đẩy, hỗ trợ để nhà nước, cũng như doanh nghiệp triển khai hoạt động, thực hiện vai trò nhiệm vụ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước điều tiết kinh tế, ổn định vĩ mô, bảo đảm cân đối lớn của nền kinh tế Sự ra đời của Luật quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp tạo cơ sở pháp lý cao cho hoạt động đầu tư và quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trên cơ sở kế thừa những quy định dưới Luật đã ban hành có liên quan đang thực hiện ổn định và có hiệu quả, bổ sung các quy định nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn về quản lý đối với DNNN

Các quy định pháp luật được ban hành tạo dựng môi trường pháp lý thuận lợi, trao quyền cho doanh nghiệp chủ động tìm kiếm cơ hội kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất, tìm kiếm thị trường đồng thời đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của nhà nước, tăng thu ngân sách và tạo việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo

Việc ban hành cơ chế, chính sách quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh sẽ góp phần hạn chế những mặt trái, tiêu cực, tránh lãng phí, thất thoát vốn nhà nước, và phục vụ cho quá trình thực hiện tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước nói riêng, tái cơ cấu nền kinh tế nói chung cũng như đóng góp tích cực vào công tác phòng, chống tham nhũng trong quản lý kinh tế

Luật cũng có vai trò quan trọng trong khắc phục việc doanh nghiệp sử dụng vốn, tài sản đầu tư vào sản xuất kinh doanh không đúng mục tiêu, chiến lược, đầu tư

Trang 35

dàn trải Tuân thủ nguyên tắc phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đảm bảo bình đẳng giữa mọi thành phần kinh tế trước pháp luật, thực hiện công khai, minh bạch và giám sát chặt chẽ mọi hoạt động trong đầu tư và quản lý vốn đã đầu tư của Nhà nước tại các doanh nghiệp

Trang 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tóm tắt chương 1, luận văn đã khái quát được những vấn đề lý luận về "vốn nhà nước" các yếu tố liên quan đến sở hữu vốn nhà nước, hình thành quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp bao gồm: chủ thể của quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp; đối tượng của quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp là số vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp với các nội dung: quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, quản lý phân chia lợi nhuận, giám sát vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp

Chương 1 cũng nghiên cứu mô hình quản lý vốn của một số nước điển hình, những kinh nghiệm rút ra từ thực tế của những nước đó

Trên cơ sở những khái quát mang tính lý luận và mô hình quản lý vốn ở một

số nước, tác giả đi đến nghiên cứu thực trạng pháp luật về vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp ở Việt Nam trong chương 2 của luận văn

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

Bằng việc ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước, nhìn chung, chủ sở hữu vốn nhà nước ngày càng chú trọng tới vấn đề quản lý, sử dụng vốn đầu tư tại các doanh nghiệp Từ các quy định trong các văn bản Luật Quản lý, sử dụng vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Đấu thầu… đến các văn bản dưới Luật Quản lý, sử dụng vốn đầu tư của nhà nước vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp như: Nghị định số 10/2019/NĐ-CP ngày 30/01 của Chính phủ về thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước, Nghị định số 91/2015/NĐ-

CP của chính phủ ngày 13/10/2015 về đầu tư vốn nhà nước tại các doanh nghiệp và quản lý tài chính, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp … Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg ngày 20/06/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước; Quyết định 1515/QĐ-TTg ngày 09/11/2018 về ban hành quy chế về trình tự, thủ tục, hồ sơ chuyển giao quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp về Ủy ban quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp …

Với hệ thống văn bản pháp luật có liên quan khá đồng bộ như vậy, để nghiên cứu, đánh giá sâu về thực trạng pháp luật liên quan đến quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp, tác giả đi sâu vào một số khía cạnh quan trọng liên quan đến những quy định về: thẩm quyền, quản lý vốn, đại diện, sử dụng vốn nhà nước, giám sát việc sử dụng vốn nhà nước ở doanh nghiệp Việc nghiên cứu, đánh giá xét trên 2 góc độ tầm vĩ mô của các cơ quan nhà nước và vi mô tại các doanh nghiệp có sử dụng vốn nhà nước

2.1 Thẩm quyền quyết định vốn của nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp

Vốn đầu tư của nhà nước tại các doanh nghiệp được sử dụng từ nguồn ngân sách nhà nước Việc đầu tư này để thực hiện các nhiệm vụ quan trọng trong việc

Trang 38

thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế, định hướng phát triển kinh tế theo những chiến lược, kế hoạch đã vạch ra, đảm bảo an sinh xã hội, hay để gia tăng những lợi ích cho nhà nước … Thẩm quyền đối với vốn đầu tư của nhà nước xét trên tầm vĩ mô là việc sử dụng ngân sách nhà nước vào hoạt động đầu tư tại các doanh nghiệp của Quốc hội, Chính phủ và tầm vi mô xét trên góc độ quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại chính các doanh nghiệp có sử dụng vốn đầu tư của nhà nước

2.1.1 Thẩm quyền quyết định đối với ngân sách nhà nước

Quốc hội

Theo quy định tại điều 69 Hiến pháp sửa đổi bổ sung năm 2013 có quy định

“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Với quy định này, Quốc hội là

cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ

sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước Luật số 69/2014/QH13 về Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại

doanh nghiệp có quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội: “1 Quốc hội, Ủy ban

thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội giám sát hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định, của pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội; 2 Quốc hội xem xét báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp Quốc hội cuối năm về tình hình đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp của năm trước; 3 Giữa hai kỳ họp, Ủy ban thường vụ Quốc hội có quyền yêu cầu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên khác của Chính phủ giải trình, trả lời chất vấn những vấn đề về đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp” [17, Điều 55]

Luật cũng quy định Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư trước khi Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư trong trường hợp đầu tư vốn nhà nước để thành lập doanh nghiệp, đầu tư bổ sung vốn điều lệ đối với doanh nghiệp đang hoạt động

có tiêu chí tương đương với dự án quan trọng quốc gia

Quốc hội là cơ quan đại diện cho chủ sở hữu toàn dân đối với phần vốn đầu

tư vào khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước Giúp việc cho Quốc hội

Trang 39

trong hoạt động có liên quan quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước còn có cơ quan Kiểm toán nhà nước Trong quá trình hoạt động của mình, Kiểm toán nhà nước đã đạt được những kết quả nhất định, phát hiện nhiều sai phạm và cảnh báo tình trạng sử dụng vốn của nhiều doanh nghiệp Cụ thể, trong báo cáo tổng hợp kết quả kiểm toán năm 2016 của Kiểm toán nhà nước cho thấy, hiệu quả kinh doanh của DNNN giảm sút Báo cáo chỉ rõ:

Mặc dù có 24/28 tập đoàn, tổng công ty, công ty nhà nước được kiểm toán trong năm 2016 đã kinh doanh có lãi, bảo toàn và phát triển được vốn nhà nước, trong đó lợi nhuận của nhiều đơn vị tăng cao so với năm 2014, đóng góp vào kết quả tăng trưởng kinh tế năm 2015, song, quá trình tái cơ cấu, công tác quản lý và sử dụng tiền, tài sản nhà nước của một số DNNN còn những hạn chế

Cụ thể, hầu hết các tập đoàn, tổng công ty và doanh nghiệp có sai sót trong việc hạch toán tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí; trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng giảm giá đầu tư tài chính, thu lợi nhuận sau thuế không đúng quy định nên qua kiểm toán đã kiến nghị tăng thu NSNN 6.241,8 tỷ đồng

Hiệu quả kinh doanh của một số tập đoàn, tổng công ty giảm sút so với năm 2014; nhiều doanh nghiệp có hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu cao, thua lỗ lớn,

âm vốn chủ sở hữu, có nguy cơ ngừng hoạt động hoặc phải giải thể; nhiều doanh nghiệp quản lý công nợ chưa chặt chẽ, sử dụng hàng tồn kho chưa hiệu quả, chậm luân chuyển; hoạt động đầu tư xây dựng, kinh doanh bất động sản của các doanh nghiệp còn nhiều tồn tại, hạn chế, diễn ra trong tất cả các khâu, giai đoạn của quá trình đầu tư Đặc biệt, Dự án xây dựng công trình Nhà máy sản xuất phân bón Diamon Photphat số 2 thuộc TĐ Hóa chất Việt Nam quá trình thực hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật nên qua kiểm toán đã chuyền hồ sơ sang cơ quan điều tra để làm rõ [24]

Thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước giúp doanh nghiệp hoàn thiện hoạt động quản lý tài chính và tác động vào ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp và kết quả kiểm toán đối với doanh nghiệp nhà nước là một nội dung của báo cáo kiểm toán được đệ trình lên kỳ họp Quốc hội hàng năm, để từ đó Quốc

Trang 40

hội nắm bắt được tình hình hoạt động của doanh nghiệp và có những quyết sách phù hợp để bảo toàn vốn và tài sản nhà nước

Chính phủ

Chính phủ là đại diện chủ sở hữu đối với vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp Tuy nhiên, về mặt thực tế Chính phủ không trực tiếp thực hiện tất cả các nội dung của công tác quản lý nhà nước và thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với DNNN mà ủy quyền cho các tổ chức, cá nhân khác thay mình để thực hiện chức năng quản lý vốn Theo Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 và Nghị định số 10/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/01/2019 về thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước thì chủ thể quản lý vốn của DNNN bao gồm: Thủ tướng, Bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh, Ủy ban quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị công ty nhà nước

Thủ tướng Chính phủ, cơ quan đại diện chủ sở hữu thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do mình quyết định thành lập hoặc được giao quản lý và thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ

sở hữu nhà nước đối với phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Người đại diện chủ sở hữu trực tiếp thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp

2.1.2 Thẩm quyền của đại diện chủ sở hữu tại các doanh nghiệp

Trường hợp công ty TNHH một thành viên

Chủ sở hữu là tổ chức có quyền: Thông qua hợp đồng vay, cho vay và các hợp đồng khác do Điều lệ công ty quy định có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty; Quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty; Quyết định tăng vốn điều lệ của công ty; chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ

Ngày đăng: 02/05/2021, 09:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w