Trong tình hình hiện nay, có thể nói nghiên cứu việc bảo vệ quyền con người trong các giai đoạn THTT nói chung; bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƯƠNG THỊ HƯƠNG THẢO
Bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử:
Từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƯƠNG THỊ HƯƠNG THẢO
Bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử:
Từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8380101.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐINH THỊ MAI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Dương Thị Hương Thảo
Trang 4TIẾNG NÓI, CHỮ VIẾT CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ 7 1.1 Các vấn đề lý luận về quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân
tộc thiểu số 7
1.1.1 Khái niệm 7 1.1.2 Tầm quan trọng của việc bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của
các dân tộc thiểu số 11 1.1.3 Nội dung và các lĩnh vực cần bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết
của các dân tộc thiểu số 14 1.1.4 Vận dụng cách tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người trong việc
bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số 23 1.1.5 Sự tham gia của các dân tộc thiểu số vào việc bảo đảm quyền dùng
tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số 24 1.1.6 Bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số
trong hoạt động tư pháp 26
1.2 Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền dùng tiếng nói,
chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử 27
1.2.1 Pháp luật quốc tế về quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc
thiểu số trong hoạt động xét xử 27
Trang 51.2.2 Pháp luật Việt Nam về quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc
thiểu số 36 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 50
Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN DÙNG TIẾNG NÓI,
CHỮ VIẾT CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG 52 2.1 Các yếu tố tác động đến việc bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết
của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng 52
2.1.1 Đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hoá tỉnh Cao Bằng 52 2.1.2 Đặc điểm các dân tộc thiểu số tại tỉnh Cao Bằng 55 2.1.3 Đặc điểm về các loại tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số tại
tỉnh Cao Bằng 57
2.2 Đánh giá thực trạng quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân
tộc thiểu số trong hoạt động xét xử tại Tòa án án nhân dân tỉnh Cao Bằng 59
2.2.1 Đặc điểm các Tòa án nhân dân ở tỉnh Cao Bằng 60 2.2.2 Tình hình các dân tộc thiểu số dùng tiếng nói, chữ viết trong hoạt
động xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng 63 2.2.3 Đánh giá việc bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc
thiểu số trong hoạt động xét xử tại Tòa án nhân tỉnh Cao Bằng 65 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 79
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO
ĐẢM QUYỀN DÙNG TIẾNG NÓI, CHỮ VIẾT CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ TỪ THỰC TIỄN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG 80 3.1 Những vấn đề đặt ra đối với công tác bảo đảm quyền dùng tiếng
nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số ở Cao Bằng 80
3.1.1 Những điều kiện thuận lợi 80
Trang 63.1.2 Những thách thức 84
3.2 Giải pháp 86
3.2.1 Giải pháp về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền của DTTS 86
3.2.2 Giải pháp về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật 87
3.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử 89
3.2.4 Nhóm các giải pháp về cơ chế thực thi pháp luật 91
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu Tên bảng Trang
Bảng 2.1 Biểu thống kê về tình hình an ninh, trật tự của người dân tộc
Bảng 2.2 Thống kê tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết tiếng Việt 54 Bảng 2.3 Thống kê Số học viên theo học lớp xóa mù chữ, bổ túc văn hóa 55 Bảng 2.4 Thống kê các loại vụ việc, vụ án (tổng hợp các loại án) TAND
tỉnh Cao Bằng đã giải quyết giai đoạn 2015 – 2019 63 Bảng 2.5 Thống kê: Số vụ/việc có người DTTS tham gia tại TAND hai
Bảng 2.6 Thống kê các vụ án hình sự đã giải quyết và số lượng vụ có người
DTTS tham gia tại TAND tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2015 – 2019 65 Bảng 2.7 Thống kê tỷ lệ người DTTS được trợ giúp pháp lý tại tỉnh Cao Bằng 68
Trang 9“Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” khẳng định: “Đòi hỏi của công dân và
xã hội đối với cơ quan tư pháp ngày càng cao; các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm”
Là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ, Việt Nam có 54 dân tộc và khoảng hơn
90 ngôn ngữ khác nhau, mỗi cộng đồng dân tộc thiểu số đều có ngôn ngữ riêng của mình Thực tiễn những năm qua ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Cao Bằng nói riêng cho thấy trong hoạt động xét xử các vụ án, vẫn còn xảy ra hành vi xâm phạm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số khiến quyền lợi của người dân chưa được đảm bảo Những vi phạm đó xảy ra do nhiều nguyên nhân, trong đó có bất cập, hạn chế của pháp luật; cơ chế, nhận thức, thái độ của các tiến hành tố tụng; các quy định về chế
độ trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan, người THTT đối với công dân
Trong tình hình hiện nay, có thể nói nghiên cứu việc bảo vệ quyền con người trong các giai đoạn THTT nói chung; bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử nói riêng từ góc độ lập pháp cũng như
áp dụng pháp luật có vai trò rất quan trọng Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Bảo
đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử: Từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng” không chỉ có tính cấp thiết về
mặt lý luận mà còn là đáp ứng đòi hỏi thực tiễn
Đề tài này được nghiên cứu trong bối cảnh quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong tố tụng nói chung, trong hoạt động xét xử nói riêng chưa được quan tâm đồng thời cũng có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ, bảo đảm
Trang 10thực thi và thúc đẩy các quyền con người của nhóm người yếu thế trong xã hội, góp phần phát triển kinh tế xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa và công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta
1.2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số và bảo đảm quyền này trong tố tụng là một hướng nghiên cứu tuy không mới nhưng ít được quan tâm Nghiên cứu trực tiếp về bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tội thiểu số trong xét xử hiện nay theo khảo sát của học viên chưa có đề tài nào đề cập nghiên cứu ở cấp độ luận văn, luận án tiến sĩ Tuy nhiên, quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số và bảo đảm quyền này đã được đề cập ít nhiều trong phạm vi đề tài nghiên cứu về quyền của các dân tộc thiểu số và bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số Cụ thể:
Các công trình khoa học liên quan đến lý luận quyền của người dân tộc thiểu số, gồm:
- Đề tài “Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong
sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay” do GS TS Hoàng Chí Bảo làm
chủ nhiệm, được xuất bản thành sách năm 2009
- Đề tài “Bảo đảm quyền của các DTTS và đấu tranh chống âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc Việt Nam” năm 2015 do PGS TS Đoàn Minh Huấn làm chủ nhiệm
- Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Quyền của người dân tộc thiểu số theo quy định của luật pháp quốc tế và Việt Nam” của tác giả Lê Xuân Trình năm 2015,
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
- Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nông Thị Kiều
Diễm năm 2014, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội;
- Các công trình nghiên cứu về đảm bảo quyền của người dân tộc thiểu số
Trang 11- Luận án tiến sĩ luật học “Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Quang Hiền năm 2015, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam
- Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Đảm bảo các quyền con người của người dân tộc thiểu số trong giải quyết vụ án hình sự” của tác giả H’Năm BKRông
năm 2015, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội;
Bên cạnh đó cũng có nhiều bài viết nghiên cứu của các tác giả như: Tác giả
Nguyễn Xuân Đạt với bài viết “Cơ sở đảm bảo và thực hiện quyền của các dân tộc thiểu số hiện nay”; Tác giả Lừ Văn Tuyên với bài viết “Quyền của các dân tộc thiểu số trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” – Bài đăng trên tạp chí Lý
luận chính trị số 10/2015…
Những công trình nêu trên đã cung cấp một lượng tri thức, thông tin về quyền con người nói chung và quyền của các dân tộc thiểu số nói riêng Đó là những tiền đề tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu đề tài Tuy nhiên các nghiên cứu, luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp, các bài viết chủ yếu nghiên cứu về quyền của người dân tộc thiểu số nói chung Đến hiện nay, chưa có công trình nào phân tích một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử
Vì vậy, việc nghiên cứu về quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử là một đề tài mang tính mới về nội dung, cách tiếp cận vấn đề và có ý nghĩa nhất định cả về lý luận và thực tiễn Đó chính là lý do để tôi chọn chủ đề này làm đề tài luận văn Cao học Luật của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Khi nghiên cứu thực hiện đề tài này tác giả mong muốn làm rõ cơ sở lý luận của quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số và các vấn đề lý luận, thực tiễn của bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử Đồng thời tìm hiểu, phân tích, làm rõ thực trạng vấn đề bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số; làm rõ các vi phạm thường xảy ra trong thực tiễn và nguyên nhân Để từ đó, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao, bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử; góp phần xây dựng, cải cách tư pháp
Trang 123 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu của đề tài
Là quyền dùng tiếng nói chữ viết của các dân tộc thiểu số trong tố tụng và bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét
xử trong bối cảnh toàn cầu hóa và cải cách tư pháp
3.2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm
- Những vấn đề lý luận về quyền dùng tiếng nói chữ viết của các dân tộc thiểu số và bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số;
- Tiêu chuẩn của quốc tế và Việt Nam về đảm bảo quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong tố tụng nói chung và trong hoạt động xét
4 Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ những vấn đề lý luận về quyền của các dân tộc thiểu số và bảo đảm quyền về ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số, quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử; Hệ thống hóa các biện pháp bảo đảm; Làm
rõ những điểm chung và những đòi hỏi đặc thù trong bảo vệ quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các chủ thể này trong hoạt động xét xử vụ án
- Nghiên cứu kinh nghiệm của pháp luật quốc tế về việc bảo vệ quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số
- Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành liên quan đến bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số; và bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử tìm ra những hạn chế và nguyên nhân của bất cập trong thực tiễn thi hành
- Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành và những giải pháp nhằm nâng cao, tăng cường bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử
Trang 135 Giả thuyết khoa học
Luận văn sẽ nghiên cứu, đề cập các vấn đề lý luận và thực tiễn việc bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử tại TAND tỉnh Cao Bằng trong bối cảnh tỉnh Cao Bằng đang tiếp tục phát huy hiệu quả của chương trình cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49/NQ-TW Với những kết quả dự kiến mà luận văn đạt được, tác giả hy vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét
xử của Việt Nam nói chung và của TAND tình Cao Bằng nói riêng
6 Phạm vi nghiên cứu
Với phạm vi là một luận văn thạc sỹ Luật học thuộc chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật hành chính, luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề lý luận và thực trạng bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử; đồng thời nghiên cứu thực tiễn vấn đề trên tại TAND tỉnh Cao Bằng từ năm
2015 đến nay
7 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền con người, quyền của các dân tộc thiểu số nói chung, quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử nói riêng Nghiên cứu thực trạng việc bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử hiện nay
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trong tất cả các chương của luận văn để phân tích các khái niệm, phân tích quy định của pháp luật, các số liệu,
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng trong luận văn để so sánh một số quy định của pháp luật trong các văn bản khác nhau, tập chung chủ yếu ở chương 1 của luận văn
Trang 14- Phương pháp diễn giải quy nạp: Được sử dụng trong luận văn để diễn giải các số liệu, các nội dung trích dẫn liên quan và được sử dụng tất cả các chương của luận văn
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng những phương pháp nghiên cứu khác: phương pháp thống kê, chứng minh, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn…
8 Ý nghĩa của luận văn
- Là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử để hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này
- Có ý nghĩa thực tiễn góp phần tăng cường bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử của Việt Nam nói chung và tại TAND tỉnh Cao Bằng nói riêng
- Luận văn là một đóng góp khiêm tốn cho công tác tăng cường chất lượng, hiệu quả xét xử của Việt Nam nói chung và TAND tỉnh Cao Bằng nói riêng
- Đóng góp một phần vào thành quả của chương trình cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW tại Việt Nam nói chung và tỉnh Cao Bằng nói riêng
- Luận văn cung cấp cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, là tài liệu tham khảo cho những người trực tiếp làm công tác giải quyết các vụ án có người dân tộc thiểu số tham gia tố tụng trong hệ thống TAND, công tác giảng dạy, học tập trong các trường Đại học chuyên Luật và những ai quan tâm đến lĩnh vực này
9 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Các vấn đề lý luận, pháp lý về quyền dùng tiếng nói, chữ viết của
các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử
Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân
tộc thiểu số trong hoạt động xét xử tại Tòa án án nhân dân tỉnh Cao Bằng
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền dùng
tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử từ thực tiễn Tòa
án nhân dân tỉnh Cao Bằng
Trang 15Chương 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ QUYỀN DÙNG TIẾNG NÓI,
CHỮ VIẾT CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
1.1 Các vấn đề lý luận về quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số
1.1.1 Khái niệm
Để tìm hiểu khái niệm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu
số, chúng ta cần tìm hiểu một số khái niệm liên quan:
- Khái niệm quyền ngôn ngữ:
Khái niệm quyền ngôn ngữ là một khái niệm rộng hơn khái niệm quyền dùng tiếng nói, chữ viết
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng, được con người sử dụng làm phương tiện để liên lạc, giao tiếp với nhau; là hệ thống thông tin liên lạc
được sử dụng bởi một cộng đồng hoặc quốc gia cụ thể “Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói - là ngôn ngữ âm thanh, là lời nói trong giao tiếp hàng ngày mà con người
có thể nhận biết chủ yếu bằng thính giác; và ngôn ngữ viết - được thể hiện bằng chữ viết trong văn bản và được tiếp nhận bằng thị giác” [1]
Quyền ngôn ngữ là một trong những quyền của con người có ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn hoặc sử dụng ngôn ngữ của các cơ quan Nhà nước, mỗi cá nhân
và một số nhóm đối tượng khác
Quyền ngôn ngữ có thể được mô tả như hàng loạt các nghĩa vụ của các cơ quan Nhà nước trong việc sử dụng một ngôn ngữ trong ngữ cảnh nhất định; hoặc không can thiệp việc cá nhân, các nhóm riêng biệt lựa chọn, diễn đạt ngôn ngữ theo cách mình muốn Nó dẫn tới nghĩa vụ phải công nhận và ủng hộ việc sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số hoặc người bản địa [34]
- Khái niệm “dân tộc” và khái niệm “người thiểu số”
Khái niệm “dân tộc” và “người thiểu số” chưa được chính thức xác nhận trong bất cứ văn kiện quốc tế nào của Liên Hợp quốc Các nhóm thiểu số hay được
Trang 16đề cập đến là thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ Tòa án Công lý quốc tế thường trực (PCIJ) đưa ra định nghĩa về dân tộc thiểu số như sau: Cộng đồng thiểu số là một nhóm người sống trên một quốc gia hoặc một địa phương nhất định, có những đặc điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngưỡng, ngôn ngữ và truyền thống, có sự giúp đỡ lẫn nhau và có quan điểm thống nhất trong việc bảo lưu những yếu tố truyền thống, duy trì tôn giáo, tín ngưỡng và hướng dẫn, giáo dục trẻ em trong cộng đồng theo tinh thần và truyền thống của chủng tộc họ Cũng có khái niệm rằng: người thiểu số là một nhóm người, xét về mặt số lượng, ít hơn so với phần dân cư còn lại của quốc gia, có vị thế yếu trong xã hội, những thành viên của nhóm - mà đang là công dân của một nước Một định nghĩa khác về người thiểu số,
đó là một nhóm công dân của một quốc gia, ít về mặt số lượng và yếu về vị thế trong quốc gia đó, mang những đặc trưng về chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ mà tạo sự khác biệt so với nhóm dân cư đa số, có một ý thức thống nhất, một động cơ
rõ rệt trong việc sử dụng ý chí tập thể để tồn tại và đạt được mục tiêu bình đẳng với nhóm dân cư đa số, cả trên phương diện pháp luật và thực tiễn
Các khái niệm đưa ra không hoàn toàn giống nhau, điều này cho thấy tính chất phức tạp của vấn đề người thiểu số trên thế giới Tổng hợp những thuộc tính được nêu ra từ các định nghĩa trên và nội dung các văn kiện quốc tế có liên quan về vấn đề người thiểu số, có thể thấy, về mặt khách quan, người thiểu số có những đặc điểm: có số lượng ít, thiểu số (khi so sánh với nhóm đa số cùng sinh sống trên lãnh thổ); về vị thế xã hội là nhóm yếu thế trong xã hội (thể hiện ở tiềm lực, vai trò ảnh hưởng của nhóm tới đời sống chính trị, kinh tế, xã hội ở lãnh thổ nơi họ sinh sống);
về bản sắc (có những đặc điểm riêng về mặt chủng tộc, dân tộc, ngôn ngữ, phong tục, tập quán); về vị thế pháp lý (có thể là công dân hoặc kiều dân của quốc gia nơi
họ đang sinh sống) Về mặt chủ quan, nhóm cộng đồng có ý thức bảo tồn truyền thống văn hóa của mình [6]
- Khái niệm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số
Quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số là khái niệm ra đời sau khái niệm quyền ngôn ngữ Do trên thực tế khi nói đến quyền ngôn ngữ thường chỉ
Trang 17các quyền nói chung về tiếng nói và chữ viết của một dân tộc, một tộc người Trong
đó, tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số thường bị ngôn ngữ của các dân tộc
đa số lấn át và có hiện tượng “bị đồng hóa” Để giúp các dân tộc thiểu số giữ gìn tiếng nói, chữ viết của mình, nhằm bảo tồn và phát huy văn hóa bản địa, thuật ngữ quyền dùng tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số đã được dùng nhiều hơn và thay thế khái niệm “quyền ngôn ngữ” nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cần bảo tồn
và phát huy tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số
Quyền con người liên quan đến tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số là sự kết hợp của các yêu cầu pháp lý dựa trên các điều ước và tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế về cách giải quyết các vấn đề ngôn ngữ hoặc vấn đề thiểu số, cũng như sự
đa dạng về tiếng nói, chữ viết trong một quốc gia
Quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được tìm thấy trong các điều khoản khác nhau, được quy định và ghi nhận trong Luật nhân quyền Quốc tế, như: Quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận và bình đẳng trước pháp luật; quyền tự do ngôn luận; quyền được giáo dục và quyền được sử dụng ngôn ngữ của riêng họ với những người cùng nhóm
Quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số còn được xây dựng dựa trên một loạt các tài liệu hướng dẫn và các tiêu chuẩn Quốc tế, chẳng hạn như trong bản tuyên bố LHQ 1992 về quyền của con người thuộc về quốc gia, dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ thiểu số; ba nguyên tắc của UNESCO về ngôn ngữ và giáo dục; hàng loạt các khuyến nghị khác nhau của Diễn đàn LHQ về các vấn đề thiểu số để thực hiện tuyên bố về quyền của con người thuộc về quốc gia, dân tộc, tôn giáo và
ngôn ngữ thiểu số; bình luận chuyên đề thứ III của Hội đồng Châu Âu về Quyền ngôn ngữ của những người thuộc dân tộc thiểu số theo Công ước khung và Tổ chức
An ninh và Hợp tác Châu Âu (OSCE) Các khuyến nghị về Oslo Quyền ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số Mặc dù có một số khác biệt, nhưng tất cả những văn bản
trên đều đưa ra các phương pháp cơ bản và tương tự để các cơ quan nhà nước thực hiện các nghĩa vụ nhân quyền về việc được sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu sô, theo đó phải:
Trang 18- Tôn trọng vị trí không thể thiếu của quyền ngôn ngữ như quyền con người;
- Công nhận và thúc đẩy sự đa dạng về văn hóa và ngôn ngữ, tôn trọng lẫn nhau, sự hiểu biết và hợp tác giữa tất cả các thành phần của xã hội;
- Đưa ra pháp luật và chính sách giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền ngôn ngữ, quy định một khuôn khổ rõ ràng để thực hiện;
- Thực hiện nghĩa vụ nhân quyền của cơ quan nhà nước bằng cách tuân theo nguyên tắc cân bằng trong việc sử dụng; hỗ trợ cho các ngôn ngữ khác nhau của các
cơ quan nhà nước và nguyên tắc tự do ngôn ngữ cho các bên tư nhân;
- Tích hợp khái niệm ưu đãi chủ động (tự do lựa chọn ngôn ngữ) như một phần không thể thiếu của các dịch vụ công cộng để thừa nhận sự tôn trọng, nghĩa vụ cung cấp các quyền ngôn ngữ, để những người sử dụng ngôn ngữ thiểu số không phải yêu cầu cụ thể các dịch vụ đó nhưng có thể dễ dàng sử dụng chúng khi có nhu cầu
- Đưa ra các cơ chế khiếu nại hiệu quả trước cơ quan hành chính, pháp luật
và điều hành để giải quyết, khắc phục các vấn đề về quyền ngôn ngữ
Quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số cốt lõi trong các hiệp ước, các văn bản luật và hướng dẫn tập trung vào 4 tiêu chí:
- Nhân phẩm: Điều 1 trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền tuyên bố: “Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền Mọi người đều được tọa hóa ban cho lý trí và lương tâm, và cần phải đối xử với nhau bằng tình anh em” [6] Đây là nguyên tắc cơ bản, nguyên tắc luật quốc tế và là nguyên
tắc đặc biệt quan trọng trong các vấn đề có liên quan đến sự bảo vệ và thúc đẩy bản sắc của các dân tộc thiểu số
- Tự do: Trong các hoạt động cá nhân, sự lựa chọn ngôn ngữ được bảo vệ bởi luật nhân quyền cơ bản như quyền được tự do bày tỏ, quyền có cuộc sống riêng tư, quyền của các nhóm thiểu số được sử dụng ngôn ngữ của họ hay cấm phân biệt đối
xử Mọi nỗ lực thực hiện quyền riêng tư đều được bảo vệ, không phân biệt lĩnh vực thương mại, nghệ thuật, tôn giáo hay chính trị
- Bình đẳng và không phân biệt đối xử: Việc cấm phân biệt đối xử ngăn chặn các quốc gia tự ý gây trở ngại hoặc không cho các cá nhân thực hiện quyền tự do ngôn ngữ trong bất kì hoạt động, dịch vụ, sự hỗ trợ và đặc quyền nào của họ
Trang 19- Bản sắc: Ngôn ngữ được hình thành từ bản sắc dân tộc, bất kể là cá nhân, cộng đồng hay quốc gia, đều có bản sắc riêng Điều này được bảo vệ bởi quyền tự
do ngôn luận, quyền sống riêng tư, quyền được sử dụng ngôn ngữ thiểu số của riêng mình và cấm phân biệt đối xử
1.1.2 Tầm quan trọng của việc bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số
Bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các DTTS là việc tạo các điều kiện pháp lý để người DTTS được thực hiện các quyền về ngôn ngữ của mình theo quy định của pháp luật một cách bình đẳng Việc bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số là đặc biệt quan trọng, bởi: Ngoài nghĩa vụ tôn trọng quyền con người, việc sử dụng ngôn ngữ có những tác động rất lớn mang tính cốt lõi liên quan tới sự tham gia và hòa nhập của cộng đồng thiểu số Cụ thể:
- Bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số cải thiện khả năng được tiếp cận giáo dục và chất lượng giáo dục cho trẻ em dân tộc thiểu số
Trẻ em các dân tộc thiểu số trên thế giới thường nhận được rất ít hoặc thậm chí không nhận được sự giáo dục chính thức Theo Ngân hàng thế giới thì 50% số trẻ em trên thế giới sống ở các cộng đồng có ngôn ngữ được dạy ở nhà trường khác với ngôn ngữ được sử dụng tại nhà; nên các ngôn ngữ này rất ít hoặc không bao giờ được sử dụng tại nhà Phương pháp học tập không hiệu quả trên dẫn tới kết quả học tập thấp, số trường hợp bỏ học hoặc học lại luôn ở mức cao Khi tiếng mẹ đẻ được
sử dụng làm phương tiện giảng dạy trong tối thiểu từ 6-8 năm cho kết quả: Sự tự tin, lòng tự trọng được cải thiện; số học sinh thiểu số đến lớp tăng [24] tỉ lệ bỏ học giảm, thành tích học tập của học sinh tăng, [31] kéo dài thời gian đến trường, chất lượng bài thi tốt, khả năng đọc, viết lưu loát hơn cả ngôn ngữ mẹ đẻ và ngôn ngữ chính thức của quốc gia [33]
- Bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số thúc đẩy
sự bình đẳng và trao quyền cho phụ nữ thiểu số
Trên thế giới, phụ nữ thiểu số luôn là các cá nhân bị coi nhẹ Họ ít có cơ hội
Trang 20được học tập ở trường hoặc có cơ hội để học ngôn ngữ chính thức vì sự phân biệt về giới hoặc dân tộc Nghiên cứu chỉ ra rằng, họ đã thể hiện rất tốt khi được dạy bằng tiếng nói, chữ viết mẹ đẻ, do đó làm tăng khả năng theo học các bậc học cao hơn hoặc thoát khỏi sự cô lập, đói nghèo
Sự tương tác với các dịch vụ công cộng trong những lĩnh vực quan trọng của phụ nữ thiểu số như dịch vụ chăm sóc sức khỏe sẽ được cải thiện bằng việc sử dụng hiệu quả dùng tiếng nói, chữ viết của chính họ Nghiên cứu cho thấy, ở Việt Nam, năm đến bảy phụ nữ chết mỗi ngày do các biến chứng trong quá trình mang thai hoặc sinh nở Số người chết cao nhất là ở vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa Bên cạnh lý do thiếu hộ sinh và nhân viên y tế thì rào cản văn hóa ở những khu vực đó khiến nhiều phụ nữ không sử dụng các dịch vụ sức khoẻ sinh sản Để giải quyết vấn đề này, chính phủ và các đối tác phát triển quốc tế đã áp dụng sáng kiến đào tạo phụ nữ địa phương trở thành hộ sinh Sự hiểu biết của các
nữ hộ sinh mới về hệ thống dùng tiếng nói, chữ viết, văn hóa và niềm tin của bệnh nhân là chìa khóa để có được sự tin tưởng và khuyến khích phụ nữ địa phương tham gia các dịch vụ y tế phù hợp”, dễ dàng tiếp cận để cung cấp nhiều dịch vụ y
tế cho những người phụ nữ bản địa, góp phần khắc phục những truyền thống cổ hủ (bao gồm cả việc sinh con trong rừng) khiến các bà mẹ khó tiếp nhận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong quá khứ [34]
Ngoài ra, nhiều sáng kiến khác nhau chỉ ra rằng việc sử dụng ngôn ngữ thiểu
số để tiếp cận với phụ nữ đặc biệt hiệu quả trong việc nâng cao sự tham gia và nắm quyền của họ
- Bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số dẫn đến việc sử dụng lợi tức tốt hơn
Việc sử dụng dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong giáo dục công so với các lĩnh vực khác có hiệu quả hơn về mặt tài chính và chi phí Các chương trình giáo dục chỉ có ngôn ngữ chính thức có thể giảm khoảng 8% chi phí mỗi năm so với việc dạy ngôn ngữ mẹ đẻ, nhưng tổng chi phí giáo dục một học sinh bằng ngôn ngữ chính thức trong chương trình chính 06 năm lại tốn chi phí
Trang 21hơn 27%, phần lớn là do sự khác biệt về tỉ lệ học lại và bỏ học Chi tiền và nguồn lực cho chiến dịch thông tin công cộng hay phát sóng công cộng bằng tiếng nói không được hiểu bởi toàn dân thật sự là một việc không hiệu quả Việc sử dụng dùng tiếng nói, chữ viết thiểu số trong các trường hợp như vậy sẽ tận dụng tốt hơn nguồn lợi tức để tiếp cận mọi thành phần xã hội [34]
- Bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số cải thiện giao tiếp và các dịch vụ xã hội
Việc sử dụng tiếng nói, chữ viết thiểu số làm ngôn ngữ cung cấp dịch vụ và giao tiếp mang lại kết quả tốt hơn và hiệu quả hơn, do cải thiện được chất lượng và khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế, dịch vụ xã hội, giáo dục, tư vấn việc làm, tư pháp và các dịch vụ công Bởi giao tiếp là một quá trình hai chiều, chính quyền không nên tìm cách áp đặt mọi người sử dụng một ngôn ngữ trong tất cả các tình huống Sự thất bại trong việc tiếp cận nhóm thiểu số bằng tiếng nói, chữ viết của họ làm gia tăng ý thức bài trừ, trong khi việc sử dụng tiếng nói, chữ viết của nhóm thiểu số có thể tiếp cận một cách trực tiếp và dễ dàng nhận được sự hưởng ứng từ phía người dân Việc đảm bảo quyền về ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số
có thể cứu mạng người, vì ngôn ngữ bất đồng chính là là một trong những trở ngại lớn của việc tiếp cận các dịch vụ y tế [34]
- Bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số góp phần làm ổn định xã hội và ngăn ngừa xung đột
Khi quyền thiểu số được quy định trong hiến pháp và thực hiện thông qua hệ thống bầu cử, tư pháp và giáo dục trước khi một cuộc xung đột có
cơ hội xảy ra, đó chính là cơ hội để cuộc xung đột không xảy ra [25, p.2]
Ở những nơi có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số được đặt ra để giải quyết các nguyên nhân gây sự kì thị, coi thường và phân biệt đối xử thì tình trạng căng thẳng và xung đột sắc tộc trong một quốc gia có sẽ ít xảy ra hơn
và có khả năng tránh được Vì việc sử dụng các ngôn ngữ thiểu số giúp tăng mức
độ hòa đồng của các nhóm thiểu số, cũng như tăng sự hiện diện của họ tại các khu vực khác nhau; thậm chí tăng cơ hội việc làm cho họ; điều này có thể góp phần tích
Trang 22cực làm tăng sự đoàn kết và ổn định Ngược lại, tại nơi chỉ sử dụng một ngôn ngữ chính thức quá tách biệt với những dân tộc thiểu số, bạo lực sẽ xảy ra nhiều hơn Đây là một trong những lý do OSCE phát triển các khuyến nghị ở Oslo về quyền ngôn ngữ của các vùng thiểu số như một công cụ phòng chống xung đột [34]
- Bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số thúc đẩy sự đa dạng ngôn ngữ
Ngôn ngữ là chìa khóa dẫn tới sự hòa nhập Ngôn ngữ là trung tâm trong các hoạt động, là sự thể hiện và biểu đạt bản sắc của con người Nhận
ra được sự ưu ái hàng đầu mà mỗi người dành cho ngôn ngữ của mình sẽ nuôi dưỡng sự hòa mình thực sự của họ để tiến tới sự phát triển mà thành
là một trong những chìa khóa để chống lại sự không dung nạp và phân biệt chủng tộc Ghi nhận quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số là một bước đi rõ ràng trong việc thúc đẩy sự chấp nhận đối thoại liên văn hóa, cũng như xây dựng nền tảng vững chắc cho việc tiếp tục tôn trọng sự đa dạng văn hóa [34]
1.1.3 Nội dung và các lĩnh vực cần bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số
1.1.3.1 Giáo dục công
Trong việc thể hiện quyền tự do ngôn ngữ thì giáo dục đảm nhiệm vai trò trung tâm và là nền tảng để duy trì sự đa dạng tiếng nói, chữ viết Bởi, một ngôn ngữ không được giảng dạy là một ngôn ngữ sẽ bị mai một và dần biến mất Khi yêu cầu của xã hội càng cao thì tỉ lệ dịch vụ được đáp ứng bằng ngôn ngữ thiểu số càng cao bao gồm tất cả các cấp giáo dục, từ mẫu giáo đến đại học Nếu không thể tập trung người học, người dạy hoặc các yếu tố khác để thực hiện điều này thì tối thiểu
Trang 23nhất các cơ quan nhà nước phải đảm bảo được sự có mặt của môn dạy tiếng thiểu số
và tất cả mọi trẻ em đều có cơ hội được học tiếng nói, chữ viết chính thức
Một vấn đề khá quan trọng nhưng ít được quan tâm đó là tiết kiệm chi phí của giáo dục bằng tiếng nói, chữ viết thiểu số Một số nghiên cứu đã cho thấy ở các trường học vùng dân tộc thiểu số, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp bậc trung học do được giáo dục bằng ngôn ngữ thiểu số cao hơn so với học sinh được giáo dục bằng ngôn ngữ chính thức Mặt khác, các trường học dùng ngôn ngữ thiểu số để giao tiếp cũng nhận được sự quan tâm, hiểu biết nhiều hơn của phụ huynh đối với vấn đề học tập của con mình
Trong giáo dục, không được sử dụng sự khác biệt về ngôn ngữ để phân biệt học sinh theo dân tộc và chủng tộc Khi tất cả mọi người được dùng chung tiếng nói, chữ viết và không bị phân biệt thì việc sử dụng ngôn ngữ thiểu số làm phương tiện giảng dạy phải được coi là điều bình thường và không bị ngăn cấm
Để thúc đẩy sự hòa nhập, tất cả học sinh phải có sự đối xử công bằng: Nhóm thiểu số phải không bị cản trở trong việc học hỏi văn hóa và ngôn ngữ của cộng đồng quốc gia trong tất cả mọi khía cạnh, hoạt động Phải đảm bảo giáo dục ngôn ngữ cho nhóm thiểu số là sẵn có, được cung ứng và tiếp cận công bằng, không phân biệt đối xử Giáo dục công bằng tiếng nói, chữ viết thiểu số phải đạt được mục tiêu giảng dạy song ngữ Học sinh được giáo dục ngôn ngữ chính thức bằng ngôn ngữ của mình phải được cung cấp đầy đủ các điều kiện để đạt được sự lưu loát trong ngôn ngữ chính thức mà không phải trả thêm phụ phí Ở những nơi mà số lượng học sinh dùng ngôn ngữ thiểu số ít, sự linh hoạt trong phương pháp giảng dạy theo tỷ lệ
có thể được áp dụng
Ở những nơi ngôn ngữ thiểu số chủ yếu được sử dụng bằng lời nói, không có giáo viên được đào tạo chuyên môn giảng dạy chữ viết thiểu số, hoặc có rất ít tài liệu để giảng dạy thì các trợ giảng là người địa phương và các tài liệu dịch thuật của chính địa phương đó chính là một trong những yếu tố quyết định kết quả học tập của học sinh dân tộc thiểu số
Chính quyền phải đảm bảo phát triển các chương trình giảng dạy và đào tạo
Trang 24giáo viên bằng ngôn ngữ thiểu số một cách phù hợp; chương trình giáo dục song ngữ phải được phát triển để đáp ứng được những tình huống cụ thể Ngoài ra, nên thêm việc giảng dạy lịch sử, văn hóa, truyền thống của dân tộc thiểu số vào chương trình giảng dạy chính [34]
1.1.3.2 Giáo dục tư nhân
Việc thành lập, vận hành các trường tư và dịch vụ giáo dục sử dụng tiếng nói, chữ viết thiểu số như một phương tiện chính trong giảng dạy nên được cho phép, công nhận và tạo điều kiện Bởi từ lâu, luật pháp quốc tế đã nhận định tính dễ
bị tổn thương của cộng đồng dân tộc thiểu số Các dân tộc thiểu số cần được giảng dạy ở các trường tư, bằng tiếng nói, chữ viết của chính họ, không bị ảnh hưởng bởi chính sách giáo dục chung của nhà nước [27] Đây là quyền được trao đổi, liên kết với các người khác trong cùng cộng đồng của người dân tộc thiểu số Không nên đặt ra bất kì hạn chế nào đối với việc sử dụng tiếng nói, chữ viết thiểu số, kể cả việc dùng ngôn ngữ đó như phương tiện giảng dạy chính hoặc ngôn ngữ chính thức của trường Tuy nhiên chính quyền có thể áp đặt một số tiêu chuẩn về chất lượng hoặc nội dung, giữ được thái độ trung lập trong sự ưu tiên tiếng nói, chữ viết Đồng thời, giống như giáo dục công, chính quyền phải tránh sự xa lánh, cô lập dân tộc thiểu số
và khuyến khích sự hiểu biết liên văn hóa Để đảm bảo rằng các nhóm thiểu số ngôn ngữ không bị cô lập với phần còn lại của dân số, phải đảm bảo họ luôn có quyền được học tập bằng tiếng nói, chữ viết chính thức
Pháp luật và chính sách cần tạo điều kiện và chủ động hỗ trợ cho giáo dục tư bằng tiếng nói, chữ viết thiểu số Nếu giáo dục công không thể thực hiện được bằng ngôn ngữ thiểu số, thì nguồn tài chính và một số hình thức hỗ trợ khác của nhà nước cần tạo điều kiện cho giáo dục tư giảng dạy bằng ngôn ngữ thiểu số, đặc biệt trong trường hợp các cộng đồng thiểu số nhỏ về số lượng và phân tán về khoảng cách địa lý
Mặc dù các cơ quan nhà nước không có nghĩa vụ trong việc tài trợ cho các trường tư, nhưng sự bảo vệ, khuyến khích đa dạng ngôn ngữ cũng như sự dễ bị tổn thương của nhiều nhóm dân tộc thiểu số cho thấy việc ủng hộ các trường tư
là rất cần thiết
Trang 25Chính phủ có thể hỗ trợ các trường dân tộc thiểu số tư bằng cách trợ giúp trong việc sản xuất và in ấn tài liệu tiếng dân tộc thiểu số, hoặc thuê giáo viên cho trường Tuy nhiên, bất kì sự hỗ trợ nào cho các cơ sở giáo dục tư nhân cũng vẫn phải tuân thủ nguyên tắc cơ bản là cấm phân biệt, đối xử
Cần đảm bảo người dân tộc thiểu số không bị phân biệt đối xử dưới bất kỳ hình thức nào khi được giảng dạy bằng ngôn ngữ của họ ở trường tư Các chứng chỉ
họ đạt được cần được công nhận, các kỳ thi tuyển sinh vào các trường đại học hoặc các tổ chức giáo dục nhà nước khác cũng nên được thực hiện bằng ngôn ngữ thiểu
số (Ví dụ: Nhật bản công nhận bằng của các trường tư thục Hàn Quốc để làm chứng chỉ cho việc đăng kí vào giáo dục đại học) Trong trường hợp không khả thi, cần có các phương án khác cho nhóm thiểu số để họ không gặp khó khăn, bất công trong việc theo học bậc học cao hơn Nếu học sinh bị loại một cách bất công và không hợp lý khỏi cơ hội tiếp cận các bậc học cao hơn thì có thể được coi là phân biệt đối xử [34]
1.1.3.3 Hành chính, y tế và các dịch vụ công cộng khác
Bất cứ khi có thể, dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, xã hội và tất cả các dịch vụ hành chính hoặc công cộng khác cần được truy cập minh bạch và dễ dàng bằng tiếng nói, chữ viết thiểu số
Nếu các cơ quan nhà nước có thể sử dụng một ngôn ngữ thiểu số tại một vùng lãnh thổ cụ thể và không có bất kỳ một cơ sở nào để loại trừ việc sử dụng tiếng nói, chữ viết đó, thì việc cấm sử dụng tiếng nói, chữ viết thiểu số và áp đạt sử dụng ngôn ngữ chính thức trong tất cả các dịch vụ hành chính, công cộng sẽ bị coi
là hành vi phân biệt đối xử trong luật quốc tế Việc chỉ sử dụng ngôn ngữ chính thức có thể là trở ngại cho việc tìm kiếm và tiếp cận dịch vụ của các dân tộc thiểu
số, đặc biệt là phụ nữ
Ở nhiều quốc gia, các biện pháp đảm bảo việc sử dụng tương xứng, hợp lý các ngôn ngữ thiểu số trong lĩnh vực: Hành chính, y tế và các dịch vụ công cộng khác đã mang lại kết quả rõ ràng, tích cực trong truyền thông và cung cấp dịch vụ, chất lượng dịch vụ mà các bên liên quan nhận được; cũng như tăng cường sự tham
Trang 26gia của các dân tộc thiểu số vào các khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội Thực tiễn cho thấy việc sử dụng tiếng nói, chữ viết thiểu số có thể làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở các nhóm này - đây là điều nhiều người dân tộc thiểu số quan tâm Điều này cũng tăng cường sự hòa nhập, đồng thuận và công nhận của các dân tộc thiểu số đối với quốc gia
Đối với dịch vụ sức khỏe, xã hội, hành chính và các dịch vụ công cộng khác, việc sử dụng tiếng nói, chữ viết thiểu số phải hướng tới chất lượng, việc dễ dàng tiếp cận và sự bình đẳng Cũng như việc thực hiện quyền con người của người dân tộc thiểu số trong giáo dục công, nguyên tắc cần tuân theo là: cung cấp theo số đông, nhưng không phân biệt đối xử Các cơ quan chức năng sẽ nhìn nhận, quyết định khu vực và ngôn ngữ thiểu số nào được sử dụng; có hợp lý và khả thi hay không? Việc này mang lại hiệu quả cho phần lớn các quốc gia trên thế giới sử dụng nhiều hơn một ngôn ngữ để cung cấp dịch vụ hành chính và dịch vụ công cộng
Không phải tất cả các tiếng nói, chữ viết thiểu số tồn tại trên lãnh thổ của một đất nước đều cần được sử dụng trong lĩnh vực hành chính và dịch vụ công cộng Khi các nhóm dân tộc thiểu số tập trung với một tỷ lệ nhất định trong một lãnh thổ, khu vực hoặc địa phương nhất định, họ có quyền sử dụng ngôn ngữ của mình trong các khu vực hành chính và các khu vực công cộng một cách cân xứng và thích hợp Tại các khu vực không sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số, các nhà hoạch định chính sách cần ứng biến nhanh với việc cung cấp dịch vụ và giao tiếp
có hiệu quả đối với các dân tộc thiểu số Đặc biệt là các vấn đề y tế liên quan đến sức khỏe, có thể quyết định và ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của người dân Do
đó, các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng địa phương luôn chuẩn
bị sẵn sàng: nhân viên y tế song ngữ, phiên dịch trực tiếp, phiên dịch qua điện thoại, bản in thông tin y tế và thông tin trang web, các tài liệu và video
Khi áp dụng nguyên tắc tỷ lệ, nếu các nhà sử dụng lao động cung cấp các dịch vụ bằng tiếng nói, chữ viết thiểu số đối với các công nhân có thể làm tăng sự đồng thuận và tham gia của họ trong công việc và đời sống thường ngày Các nhà lập pháp cần đưa ra hướng dẫn, quy định việc làm thế nào, ở nơi nào thì các quyền
Trang 27và nguyên tắc trên có thể được thực hiện Đồng thời phải có các chế tài đảm bảo hiệu quả áp dụng và giải quyết, khắc phục tình trạng không tuân thủ [34]
1.1.3.4 Tiếng nói, chữ viết thiểu số và bản sắc
Do tiếng nói, chữ viết là trung tâm của bản chất con người, văn hóa và bản sắc xã hội, nên việc tôn trọng hình thức ngôn ngữ của tên người không những phải được chấp nhận, mà còn phải bảo vệ và tôn trọng điều đó [29, p.8] Danh tính của một người, dưới dạng họ tên riêng trong tiếng nói, chữ viết thiểu số, phải được các
cơ quan nhà nước tôn trọng, công nhận và sử dụng Trong trường hợp có thể, việc
sử dụng các tiếng nói, chữ viết thiểu số trên các biển báo đường phố và chỉ định địa hình cũng cần được thêm vào, đặc biệt khi chúng có ý nghĩa lịch sử hoặc nơi tập trung các dân tộc thiểu số Bởi trọng tâm quyền của người dân tộc thiểu số là thúc đẩy và bảo vệ danh tính Điều này cũng có ý nghĩa sâu sắc đối với cuộc sống riêng
tư Đối với nhiều cá nhân, một trong những dấu ấn quan trọng nhất về bản sắc của
họ là tên riêng của họ trong tiếng nói, chữ viết của họ Tôn trọng danh tính, nghĩa
vụ tôn trọng, bảo vệ danh tính nên mở rộng ra các khu vực nơi người dân tộc thiểu
số sinh sống
Đối với cá nhân, hầu hết các quốc gia đều công nhận quyền sử dụng họ tên bằng tiếng nói, chữ viết của người dân tộc thiểu số và nghĩa vụ tương ứng của chính quyền để tôn trọng quyền này Điều này phải được quy định trong luật pháp, quy định trong một quy trình minh bạch rằng các cá nhân có thể sử dụng tên riêng của
họ trong các liên hệ với chính quyền và chính quyền cũng phải sử dụng tên này trong các hoạt động của chính họ Phải có luật pháp quy định, với thủ tục đơn giản
và ít chi phí (hoặc không mất phí), cho phép đổi lại tên riêng sang tiếng của người thiểu số nếu trước đó tên riêng đã bị chính quyền thay đổi trong quá khứ vì chính sách đồng hóa hoặc chính sách tương tự
Đối với các tên được viết bằng tiếng nói, chữ viết sử dụng chữ viết khác với tên được sử dụng bởi các cơ quan nhà nước (tiếng Ả Rập so với tiếng Latinh; tiếng Trung Quốc so với tiếng Cyrillic, v.v.), chúng phải được phiên âm, có nghĩa là mô phỏng âm thanh của các ký tự ngôn ngữ gốc bằng tiếng nói, chữ viết được sử dụng bởi các cơ quan chức năng
Trang 28Tên đường phố, địa phương và các chỉ số địa hình dành cho công chúng rất quan trọng vì chúng thể hiện dấu ấn bản sắc xã hội, văn hóa và lịch sử Một cách tiếp cận thực tế mang lại hiệu quả tốt đang được áp dụng ở hầu hết các quốc gia là chính quyền cung cấp luật pháp hoặc thủ tục minh bạch để cho phép tên đường phố địa phương, các chỉ số địa hình sử dụng song ngữ hoặc thậm chí "đa" ngữ, thường tuân theo nguyên tắc tỷ lệ khi có đủ sự tập trung hoặc yêu cầu sử dụng đối với các dấu hiệu đó trong các tiếng nói, chữ viết thiểu số Các tiêu chí đưa ra để một dấu hiệu được cung cấp trong ngôn ngữ thiểu số phải được dựa trên cơ sở lập pháp rõ ràng và minh bạch để nó được thực hiện một cách hiệu quả Các dấu hiệu song ngữ hoặc đa ngôn ngữ được sử dụng bởi các cơ quan công quyền thể hiện tính toàn diện, đó là các nhóm dân cư khác nhau cùng chia sẻ một địa điểm trong sự hài hòa
và tôn trọng lẫn nhau [34]
1.1.3.5 Truyền thông và tiếng nói, chữ viết thiểu số
Để các nhóm thiểu số có thể tự do thể hiện bản thân, giao tiếp với cộng đồng thiểu số và những người khác bằng tiếng nói, chữ viết của họ, việc tự do sử dụng các ngôn ngữ thiểu số trong các phương tiện truyền thông, in ấn và điện tử phải được cho phép
Trên phương tiện truyền thông công cộng, tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số phải có không gian riêng phù hợp theo nguyên tắc tỉ lệ Tính hợp lý và khả năng thực hiện điều này lớn bao nhiêu, thì họ càng phải có cơ hội xuất hiện và được lắng nghe lớn bấy nhiêu trên các phương tiện truyền thông bởi các thành viên cộng đồng của họ cũng như mọi người khác
Tất cả các chính phủ nên phục vụ nhu cầu và lợi ích của toàn dân, bao gồm các nhóm thiểu số, để mọi người có thể truy cập phương tiện truyền thông, truyền đạt
và nhận thông tin bằng tiếng nói, chữ viết của chính họ Điều phù hợp với nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau và tiến bộ [30] Trong lĩnh vực truyền thông tư nhân, để phù hợp với các quyền cơ bản của con người như tự do ngôn luận, người thiểu số phải được tự
do giao tiếp với nhau trên phương tiện truyền thông cá nhân mà không gặp trở ngại trong việc sử dụng tiếng nói, chữ viết của chính họ Vai trò của phát thanh công
Trang 29cộng bằng các tiếng nói, chữ viết thiểu số là đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy không chỉ sự tôn trọng mà còn cả sự chấp nhận và tạo ra cảm giác hòa nhập giữa các nhóm thiểu số nơi nhu cầu và lợi ích của chính họ được phản ánh và truyền đạt một cách công bằng
Các nhóm thiểu số phải tham gia trực tiếp vào việc phát triển các chương trình phát sóng bằng tiếng nói của họ Sử dụng tiếng nói, chữ viết thiểu số trong phương tiện truyền thông công cộng đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo tồn các ngôn ngữ, văn hóa và bản sắc thiểu số
Cuối cùng, truy cập vào phương tiện truyền thông công cộng bằng tiếng nói, chữ viết gốc của người dân là một công cụ giao tiếp, công cụ thông tin và công
cụ hòa nhập giữa cơ quan nhà nước với dân tộc thiểu số Nó cung cấp cho các chính phủ một công cụ để ngăn chặn sự tách biệt của nhóm thiểu số trong đời sống công cộng, thiết lập một liên kết thông tin và liên lạc trực tiếp giữa nhà nước và dân tộc thiểu số, cung cấp một công cụ đặc biệt hiệu quả để đảm bảo sự hòa nhập của họ trong khi thúc đẩy sự đa dạng văn hóa, tôn trọng lẫn nhau, hiểu biết và cùng hợp tác
Chính quyền và các nhà hoạch định chính sách nên xem xét việc hội nhập, truyền thông và thông tin cần phải là quá trình hai chiều: Các chương trình và hoạt động truyền thông công cộng cũng nên nhắm tới mục tiêu khuyến khích mọi người học tiếng nói, chữ viết thiểu số và ngôn ngữ bản địa; thiết lập các cơ sở phát thanh
đa ngôn ngữ và đa văn hóa cho những người có sự quan tâm; thúc đẩy các chương trình tôn vinh sự đa dạng của nhà nước
Tự do ngôn luận phải bao gồm khả năng của người thiểu số trong việc tự
do thể hiện bản thân và tự do giao tiếp với cộng đồng của họ cũng như những người
khác bằng tiếng nói, chữ viết của mình thông qua các phương tiện truyền thông, báo
in và điện tử của khu vực tư nhân
Việc phát sóng thường xuyên hoặc không thường xuyên, cũng như sự hỗ trợ
về tài chính hay bất kì sự hỗ trợ nào khác cho phương tiện truyền thông khu vực tư nhân, phải được phân bổ theo cách không phân biệt đối xử, bằng cách sử dụng nguyên tắc tỷ lệ Việc số hóa phương tiện truyền thông không được làm ảnh hưởng
Trang 30đến nhu cầu và lợi ích của cộng đồng thiểu số, đặc biệt là hạn chế quyền truy cập phương tiện bằng tiếng nói, chữ viết thiểu số
Trường hợp nhu cầu thông tin, giao tiếp và lợi ích của các nhóm thiểu số ngôn ngữ không được đảm bảo cung cấp thì cơ quan nhà nước nên phân bổ lại tần xuất phát các chương trình một cách thích hợp để tăng khả năng tiếp cận, hiện diện trên phương tiện truyền thông của nhóm thiểu số; cho phép sử dụng các chương trình, phương tiện bằng tiếng nói, chữ viết thiểu số Hoặc hỗ trợ tài chính hoặc hỗ trợ bằng các hình thức khác nhưng phải rõ ràng và minh bạch trong các thủ tục Ưu đãi về thuế và các ưu đãi khác nên được xem xét để hỗ trợ các ấn phẩm, các kênh truyền hình và đài phát thanh bằng các ngôn ngữ thiểu số [34]
1.1.3.6 Quyền dùng tiếng nói, chữ viết trong các hoạt động tư nhân
Việc sử dụng bất kỳ ngôn ngữ thiểu số nào trong tất cả các hoạt động tư nhân phải được bảo đảm, bất kể hoàn cảnh kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, tôn giáo, trong bất kể thời gian, địa điểm nào Bởi tự do cá nhân trong lĩnh vực riêng
tư, kể cả việc sử dụng tiếng nói, chữ viết là một đặc điểm cơ bản của các xã hội tự
do và dân chủ Theo đó, ngoài các trường hợp đặc biệt, bị hạn chế thì khả năng về quyền dùng tiếng nói, chữ viết thiểu số trong các hoạt động riêng tư phải được pháp luật đảm bảo Ở Canada, chính quyền Québec đã áp dụng luật tôn trọng quyền lựa chọn của cá nhân trong các vấn đề riêng tư của họ bằng cách không giới hạn việc ưu tiên sử dụng tiếng nói, chữ viết trong các vấn đề riêng tư, trong khi vẫn yêu cầu những ngôn ngữ này thể hiện sự tôn trọng ngôn ngữ chính thức như một ngôn ngữ
có vị trí chiếm ưu thế Điều này cho thấy một nhà nước có thể kết hợp hiệu quả mục tiêu hợp pháp của việc thúc đẩy và bảo vệ ngôn ngữ chính thức, trong khi không hạn chế quyền con người của một cá nhân sử dụng ngôn ngữ mà họ lựa chọn trong các vấn đề riêng tư, kể cả khi việc sử dụng ngôn ngữ này được nhìn, nghe thấy bởi người khác, hoặc xảy ra nơi công cộng
Vì tiếng nói, chữ viết là một hình thức thể hiện cảm xúc, vậy nên để đảm bảo quyền ngôn ngữ trong các hoạt động tư nhân thì:
- Các bên tư nhân phải được phép sử dụng tiếng nói, chữ viết thiểu số một
Trang 31cách riêng tư, kể cả khi bị nhìn hoặc nghe thấy trong không gian công cộng Tiếng nói, chữ viết được sử dụng trong các cuộc trò chuyện riêng tư cũng được bảo vệ tương tự
- Việc sử dụng một ngôn ngữ thiểu số trong các cộng đồng văn hóa riêng
biệt hoặc các sự kiện bầu cử phải được tôn trọng tuân theo quyền tự do tiếng nói, chữ viết [34], [27]
- Việc một phụ huynh sử dụng ngôn ngữ thiểu số không thể được sử dụng như một căn cứ hợp pháp tước bỏ quyền nuôi dạy con của họ
- Việc quảng bá hoặc bảo vệ các ngôn ngữ chính thức là một mục tiêu hợp pháp nhưng không thể hiểu như là một công cụ để hạn chế sử dụng tiếng nói, chữ viết thiểu số trong các vấn đề riêng tư Việc sử dụng một ngôn ngữ chính thức kết hợp với các ngôn ngữ khác không thể bị coi là không tương xứng và phải được chấp nhận
Tóm lại, các vấn đề liên quan quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số phát sinh trong hoàn cảnh và điều kiện vô cùng đa dạng, không có cách tiếp cận hay một khuôn mẫu phù hợp cho tất cả để thực thi quyền ngôn ngữ cần được xem xét trong bất kỳ hoạt động nào liên quan đến các cơ quan nhà nước
và quyền tự do lựa chọn ngôn ngữ; liên quan chặt chẽ với các vấn đề thể hiện bản sắc quốc gia, tập thể và cá nhân [32] Các vấn đề này có tác động đến sự tham gia
và hòa nhập các nhóm thiểu số; nếu không giải quyết một cách cân bằng, hợp lý,
có thể dẫn đến sự tâm lý xa lánh hoặc coi thường và có khả năng dẫn mất ổn định hoặc xung đột sắc tộc
1.1.4 Vận dụng cách tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người trong việc bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số
Cách tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người có thể được hình dung như một phương pháp để nhận diện, thực thi, cải thiện; vừa để đảm bảo các cơ quan nhà nước chấp hành có hiệu quả nghĩa vụ của họ Luật, chính sách và thủ tục pháp
lý khác phải nhìn nhận quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong khuôn khổ quyền con người Tức là chính quyền phải tích hợp những điều này
Trang 32vào cách thức quản lý và hoạt động của họ, các cơ chế phải được đưa ra để giải quyết hiệu quả các vấn đề còn tồn tại và cải thiện sự tuân thủ luật pháp
Cách tiếp cận dựa trên quyền con người để đảm bảo, thực hiện quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số được xây dựng thông qua các công cụ, cơ chế giám sát, thực thi hiện có để đảm bảo sự bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền trên phạm
vi quốc tế, khu vực và quốc gia Nếu coi quyền dùng tiếng nói, chữ viết là một điều khác biệt, đặc biệt hoặc bất thường có thể dẫn đến sự hiểu lầm, kháng cự hoặc từ chối Thừa nhận và làm nổi bật vị trí của quyền ngôn ngữ trong mô hình nhân quyền cung cấp nhiều cơ hội hơn để giải quyết hiệu quả các vấn đề ngôn ngữ bằng cách tuân thủ luật nhân quyền quốc tế, cũng như pháp luật trong nước Nó cung cấp các quan điểm nhân quyền giúp xây dựng và hướng dẫn thực hiện các chính sách ngôn ngữ khác nhau Sự trải nghiệm và kiến thức từ các quốc gia khác nhau có thể được chia
sẻ, góp phần vào việc nhân rộng các cách thực hiện tốt Điều này giúp đưa quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số gần hơn với pháp luật quốc tế, các tiêu chuẩn để lập pháp trong thực tế, các chính sách và quy trình
Góp phần xác định và giảm thiểu các chính sách ngôn ngữ không đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế có thể dẫn đến việc phân biệt đối xử trong quần chúng hoặc thậm chí dẫn đến xung đột Một cách tiếp cận có quy tắc, có hệ thống dựa trên quyền con người đối với các vấn đề ngôn ngữ giúp xác định các vấn đề tiềm ẩn và những tác động tiêu cực, đồng thời cung cấp các cách thức và phương tiện để giải quyết và sửa chữa chúng [34]
1.1.5 Sự tham gia của các dân tộc thiểu số vào việc bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số
Các dân tộc thiểu số tham gia vào việc bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của mình bằng cách sử dụng ngôn ngữ của họ trong các quá trình bầu cử, tư vấn và tham gia cộng đồng khác (khi có thể) Nhà nước cần có các bước tạo điều kiện và khuyến khích để các dân tộc thiểu số tham gia hiệu quả cuộc sống công cộng
Trong các khu vực tập trung người nói tiếng nói thiểu số, viết chữ viết thiểu
số với số lượng đáng kể, thông tin bầu cử, phiếu bầu và các tài liệu công khai khác
Trang 33liên quan đến bầu cử; tham vấn cộng đồng; các sự kiện tham gia nên được cung cấp bằng ngôn ngữ đó Việc sử dụng các ngôn ngữ thiểu số phải được cho phép trên áp phích và trong các tài liệu hoặc các cuộc hộp, các hoạt động khác của các đảng chính trị, các tổ chức phi chính phủ, các nhóm vận động hành lang hoặc cá nhân Như các cuộc bầu cử liên bang ở Hoa Kỳ, 10.000 thành viên thiểu số trở lên hoặc 5% dân số khu phố là đủ để yêu cầu sử dụng ngôn ngữ thiểu số trong tài liệu bầu cử
và hỗ trợ bỏ phiếu Chúng bao gồm thông báo bỏ phiếu, quảng bá, thông tin và thậm chí các điều này hỗ trợ bằng miệng Tài liệu bỏ phiếu và hỗ trợ được cung cấp bằng hơn 12 ngôn ngữ tại Hoa Kỳ để loại bỏ những trở ngại đối với việc thực thi quyền bầu cử hiệu quả và khuyến khích sự tham gia vào cuộc sống công cộng Đăng ký cử tri cũng có thể bằng tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Tagalog và tiếng Việt
Một trong số các biện pháp hiệu quả nhất để tăng cường sự tham gia của các dân tộc thiểu số trong lĩnh vực bầu cử hoặc chính trị, là cho các nhà chức trách sử dụng tiếng nói, chữ viết thiểu số khi có thể Kết quả tích cực thu được bao gồm tỷ lệ
bỏ phiếu cao hơn, tăng sự hiện diện của các dân tộc thiểu số trong các cơ quan dân
cử và sự tham gia của họ vào đời sống chính trị, đồng thời tăng cường sự ý thức
và thái độ tôn trọng của họ đối với nhà nước Sự hòa nhập cuộc sống có chuyển biến tích cực khi các ngôn ngữ thiểu số được sử dụng theo nguyên tắc tỷ lệ Ngược lại, việc ngăn chặn sử dụng các ngôn ngữ thiểu số trong lĩnh vực chính trị của các đảng chính trị, tổ chức phi chính phủ hoặc cá nhân đôi khi đã dẫn đến cảm giác xa lánh và từ chối hòa nhập Bằng chứng cho thấy rằng yêu cầu về trình độ ngôn ngữ trong các cuộc bầu cử không chỉ gây phân biệt đối xử, mà còn có xu hướng làm suy yếu sự tham gia của các dân tộc thiểu số trong các cuộc bầu cử và các vấn đề công cộng khác Rõ ràng là các biện pháp và cơ chế để đảm bảo sự tham gia hiệu quả của các dân tộc thiểu về quyền dùng tiếng nói, chữ viết thiểu số phải bao gồm các bước
để loại bỏ các trở ngại, dẫn đến gia tăng mức độ hội nhập trong nhà nước Cụ thể:
Trong các lĩnh vực mà người dân tộc nói ngôn ngữ thiểu số tập trung số lượng đáng kể, phiếu bầu và tài liệu thông tin liên quan đến bầu cử, tham vấn và các quy
Trang 34trình khác liên quan đến việc ra quyết định trong cuộc sống công cộng, ở một mức độ hợp lý, nên có sẵn bằng ngôn ngữ thiểu số [28, p.16] Điều này giúp các cá nhân có thông tin tốt hơn, tăng cường sự tham gia và hòa nhập của các dân tộc thiểu số
Ở một mức độ thích hợp, các cơ quan nhà nước nên áp dụng các chương trình truyền hình và đài phát thanh dịch vụ công cộng bằng các ngôn ngữ thiểu số dành cho các chiến dịch bầu cử và các quy trình tư vấn khác Điều này dẫn đến sự giao tiếp hiệu quả hơn giữa chính quyền và các dân tộc thiểu số, và cuối cùng là sự tham gia nhiều hơn của các nhóm thiểu số trong cuộc sống công cộng
Việc sử dụng tiếng nói, chữ viết thiểu số trong các cuộc họp công cộng, trong các tài liệu bầu cử và sự xuất hiện trên phương tiện truyền thông của các cơ quan bầu cử, các chính trị gia thể hiện sự tích cực trong việc tiếp cận cử tri thiểu số
Yêu cầu dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số để bỏ phiếu hoặc tham gia chính trị phải không phân biệt đối xử Việc loại trừ các cá nhân bỏ phiếu hoặc ứng tuyển vì tiếng nói, chữ viết của họ, hoặc do họ thiếu thông thạo ngôn ngữ chính thức, để lại những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng Nó ngăn cản sự tham gia trong cuộc sống công cộng của cộng đồng thiểu số và có thể coi là phân biệt đối xử [34]
1.1.6 Bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động tư pháp
Cần đảm bảo quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động tư pháp bởi hậu quả của việc áp dụng pháp luật khi người tham gia tố tụng không hiểu nội dung, không sử dụng được ngôn ngữ tố tụng là vô cùng nghiêm trọng Việc sử dụng tiếng nói, chữ viết mà người tham gia tố tụng có thể hiểu, thể hiện sự tôn trọng đặc biệt đối với quyền được xét xử công bằng được quy định trong luật quốc tế Các hình thức tố tụng phải luôn đi kèm với dịch thuật miễn phí và sự giải thích cho người tham gia tố tụng khi họ không hiểu ngôn ngữ được quy định sử dụng trong tố tụng Việc này sẽ giúp người tham gia tố tụng thực hiện các quyền chính đáng của mình, cũng như góp phần bảo vệ sự công bằng của thủ tục tố tụng
Diễn dịch miễn phí nên có sẵn trong hoạt động xét xử Các tài liệu khác của thủ tục tố tụng có thể không dịch, nhưng những tài liệu cần thiết phải được dịch đầy
đủ và không mất chi phí cho người tham gia xét xử là DTTS
Trang 35Phải cho tất cả mọi người, kể cả người DTTS đang bị giam giữ hoặc bị buộc tội biết được quyền của họ, lý do bị bắt giữ hoặc giam giữ, để họ hiểu bản chất và nguyên nhân của bất kỳ cáo buộc nào chống lại họ bằng cách sử dụng ngôn ngữ của chính họ Việc thực thi pháp luật không thể bị giới hạn khi các cá nhân không thông thạo ngôn ngữ chính thức của nhà nước Do có mối liên hệ với quyền được xét xử công bằng, nên quyền này phải được công nhận trong pháp luật
Mặc dù được pháp luật công nhận và bảo vệ, tuy nhiên các quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động tư pháp không phải lúc nào cũng được thực thi một cách có hệ thống và hiệu quả vì nhiều lý do như: thiếu phiên dịch viên, phiên dịch viên bị hạn chế về trình độ, thiếu nguồn tài chính, hoặc không biết đến quyền này của bị cáo Đây là vấn đề đặc biệt, thường thấy ở các nhóm thiểu
số ngôn ngữ nhỏ hơn và có thể dẫn đến những oan sai nghiêm trọng
Để quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động
tư pháp được bảo đảm, có thể áp dụng nhiều biện pháp như: Sử dụng tờ rơi, áp phích hoặc các phương tiện hữu hình khác trong tất cả các phòng xử án và đồn cảnh sát Các phương tiện trên được viết, soạn thảo bằng các ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi nhất trong khu vực để thông báo cho bất kỳ bị cáo hoặc nghi phạm hiểu về quyền của mình: được dịch thuật hoặc phiên dịch miễn phí; Mở đợt tuyển các dịch giả và phiên dịch viên có trình độ phù hợp; Yêu cầu thẩm phán; chủ tọa hoặc quan chức Tòa án khác tuân thủ quyền ngôn ngữ bằng cách xác minh khả năng về tiếng nói, chữ viết của bị cáo hoặc nghi phạm nếu xuất hiện tình huống về sự nghe hiểu, đọc hiểu do ngôn ngữ; Cung cấp quyền đề nghị xem xét lại quyết định khi không có bản dịch thuật hoặc khi bản dịch thuật được đưa ra nhưng không đầy đủ hoặc không chính xác để có thể bảo vệ được tính công bằng của phiên tòa [34]
1.2 Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền dùng tiếng nói,
chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử
1.2.1 Pháp luật quốc tế về quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong hoạt động xét xử
1.2.1.1 Tiêu chuẩn pháp luật quốc tế chung về quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số
Cộng đồng quốc tế đã có hàng trăm văn kiện quốc tế ở cấp độ toàn cầu và
Trang 36khu vực về nhân quyền nói chung, trong đó có nhiều văn kiện quốc tế ghi nhận một cách trực tiếp hoặc gián tiếp quyền về tiếng nói, chữ viết (ngôn ngữ) của người DTTS Ở cấp độ toàn cầu, trong khuôn khổ LHQ, phải kể đến các văn kiện sau:
- Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 (Tuyên ngôn nhân quyền,
UDHR) được Đại hội đồng LHQ thông qua theo nghị quyết số 217A(II) ngày 10/12/1948 Nghị quyết đã được thông qua với 48 phiếu thuận, 0 phiếu chống và 8 phiếu trắng
UDHR là văn kiện nền tảng trong lĩnh vực nhân quyền UDHR gồm lời nói đầu và 30 điều khoản, ghi nhận các quyền và tự do cơ bản của con người Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, các quyền con người cơ bản được quy định và bảo vệ ở cấp độ toàn cầu Ngay tại lời nói đầu của UDHR đã công nhận rằng các phẩm giá và quyền bình đắng của tất cả các thành viên trong gia đình nhân loại chính là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình trên toàn thế giới Bên cạnh đó, UDHR cũng nhấn mạnh rằng các thành viên của LHQ cam kết thúc đẩy và tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người UDHR sẽ tác động và ảnh hưởng đến các quốc gia trong cộng đồng quốc tế trên các khía cạnh đạo đức và chính trị Bên cạnh đó, với các giá trị, chuẩn mực cơ bản được ghi nhận trong UDHR được chia sẻ bởi tất cà các thành viên của cộng đổng quốc tế UDHR còn được xem như
là một phần của tập quán pháp quốc tế Lời mở đầu, UDHR đã ghi nhận: “ Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền là chuẩn mực chung cho tất cả các dân tộc và các quốc gia phấn đấu đạt tới "
Tại đây, lần đầu tiên quyền dùng tiếng nói, chữ viết (ngôn ngữ) được chính
thức ghi nhận tại Điều 2 của UDHR: “Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do nêu trong Bản tuyên ngôn này, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay các quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay địa vị xã hội.”
Như vậy, UDHR đã thiết lập các nguyên tắc cơ bản của Luật Nhân quyền quốc tế Những nguyên tắc này là nền tảng cho việc thực hiện các quyền và tự do cơ bản của con người được quy định trong Tuyên ngôn, đặc biệt có ý nghĩa quan trọng
Trang 37trong việc ghi nhận và thực hiện quyền ngôn ngữ của nhóm người dễ bị tổn thương, trong đó có DTTS
- Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc 1965 (CERD)
Được thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn theo Nghị quyết số 2106
A (XX) ngày 21/12/1965 của Đại hội đồng LHQ Có hiệu lực từ ngày 04/01/1969 Việt Nam gia nhập ngày 09/6/1981, bảo lưu các Điều 17, 18 về hạn chế không cho một số nước tham gia Công ước và Điều 22 về việc sử dụng Tòa án quốc tế giải quyết các bất đồng liên quan tới Công ước
Công ước gồm có phần mở đầu và 25 điều chia thành 3 phần Công ước tiếp tục khắng định những nguyên tắc về sự bình đẳng và không phân biệt đối xử đã được ghi nhận trong Hiến chương và Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người của LHQ Nội dung chính của Công ước tập trung vào các biện pháp gắn với trách nhiệm của các quốc gia thành viên nhằm loại trừ mọi hình thức "phân biệt chủng tộc" Các quốc gia thành viên lên án sự phân biệt chủng tộc và cam kết theo đuối bằng mọi biện pháp cần thiết và không tri hoãn một chính sách xoá bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới bất cứ hình thức nào; nhấn mạnh quyền bình đẳng trước pháp luật của tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, nguồn gốc quốc gia hay sắc tộc, ngôn ngữ Ngay tại lời mở đầu Công ước viết:
Xét rằng, Hiến chương của Liên Hợp Quốc dựa trên nguyên tắc về sự
bình đẳng và phẩm giá vốn có của con người, và rằng tất cả các Quốc gia thành viên đã cam kết sẽ có những hoạt động riêng rẽ hoặc phối hợp cùng tổ chức Liên Hợp Quốc nhằm đạt được một trong những mục tiêu của Liên Hợp Quốc là thúc đẩy và khuyến khích sự tôn trọng và tuân thủ trên phạm vi toàn cầu các quyền và tự do cơ bản của con người của tất cả mọi người, mà không có bất kỳ sự phân biệt về sắc tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo
- Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966, Công ước này
được Đại hội đồng LHQ thông qua theo Nghị quyết 2200A (XXI) ngày 16/12/1966
và có hiệu lực từ ngày 23/3/1976 Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982 Công ước
Trang 38gồm 53 điều, cùng với 02 Nghị định thư về Các vấn đề khiếu nại của công dân và
về Huỷ bỏ án tử hình Công ước là sự mở rộng và cụ thể hóa các quyền bắt nguồn
được sử dụng ngôn ngữ riêng của họ
Có thể nói rằng Điều 27 là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ các quyền nói chung của những nhóm người thiểu số trong đó đáng chú ý là quyền được sử dụng ngôn ngữ riêng như trong nhấn mạnh của Công ước
- Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 Công
ước này được Đại hội đồng LHQ thông qua theo Nghị quyết số 2200A (XXI) ngày 16/12/1966, có hiệu lực từ ngày 03/01/1976 Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982 Công ước được chia làm 5 phần và có 31 điều khoản Công ước là văn kiện quốc tế toàn cầu đầu tiên đề cập trực tiếp đến các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội
Mặc dù không có điều khoản riêng biệt về quyền của người thiểu số như trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, ICESCR tiếp tục khẳng định việc thực hiện các quyền trong Công ước trên cơ sở nguyên tắc không có sự phân biệt đối
xử nào về ngôn ngữ và các lĩnh vực khác, tại Khoản 2 Điều 2 Công ước quy định:
Các quốc gia thành viên cam kết bảo đảm rằng các quyền được nêu trong Công ước này sẽ được thực hiện không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào
về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc các quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vị khác
- Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về chủng tộc hoặc dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ năm 1992, được Đại hội đồng LHQ thông
Trang 39qua theo Nghị quyết 47/135, ngày 18/12/1992 Có thể thấy đây là văn kiện riêng biệt quan trọng của LHQ đã cụ thể hóa quyền của các nhóm thiểu số về dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo Tuyên bố này là văn kiện không ràng buộc về mặt pháp lý đối với các quốc gia thành viên, mà chủ yếu dựa vào sự tự giác tuân thủ của các quốc gia Ngay khi thông qua Tuyên bố, LHQ đã không ngừng tăng cường phổ biến những quy định trong Tuyên bố Các tổ chức chuyên môn và các cơ quan khác trong hệ thống LHQ được khuyến khích trợ giúp việc thực hiện các quyền đã được ghi nhận trong Tuyên bố này LHQ đã tích cực trong việc thiết lập những cơ chế phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức và cơ quan trong hệ thống LHQ nhằm tăng cường các biện pháp để bảo vệ người thiểu số như: Thành lập một số ủy ban giám sát tiến bộ của các quốc gia thành viên trong việc thực hiện các nghĩa vụ của họ trong việc đảm bảo quyền cho người thiểu số, giám sát việc nội luật hóa các quy định của các văn kiện quốc tế về người thiểu số của các quốc gia thành viên Ngoài ra LHQ cũng thiết lập Nhóm công tác về người thiểu số (1995) và tiến hành các hoạt động nghiên cứu về bảo vệ người thiểu số Diễn đàn về các vấn đề thiểu
số (The forum on Minority Issucs) được thành lập trong năm 2007 thay thế cho Nhóm công tác của LHQ về người thiểu số được thành lập 1995 Nhiều quốc gia trên thế giới đã tham chiếu nội dung của Tuyên bố để xây dựng các quy định pháp luật và chính sách quốc gia về người thiểu số, trong đó có Việt Nam
Tuyên bố 1992 có phần mở đầu và 09 điều Tại lời mở đầu, Tuyên bố nhấn mạnh: Khẳng định lại rằng, một trong những mục tiêu cơ bản của Liên Hợp Quốc, như đã được nêu rõ trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, là thúc đẩy và khuyến khích sự tôn trọng các quyền con người và tự do cơ bản của tất cả mọi người, không phân biệt về chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo,
Được khích lệ bởi những quy định tại Điều 27 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị liên quan đến các quyền của những người thuộc nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hay ngôn ngữ
Trang 40Xem xét rằng, việc thúc đẩy và bảo vệ quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hay ngôn ngữ góp phần vào sự ổn định chính trị và xã hội ở các quốc gia mà họ sống,
Nhấn mạnh rằng, sự thúc đẩy và thực hiện thường xuyên quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo
và ngôn ngữ, như là một phần gắn liền trong sự phát triển của xã hội nói chung và trong khuôn khổ dân chủ, dựa trên pháp quyền, sẽ góp phần vào việc tăng cường tình hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc và các quốc gia
Điều 1 Tuyên bố quy định việc các nhóm thiểu số có quyền được các quốc gia bảo vệ cuộc sống và những đặc trưng về dân tộc, chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của họ Cụ thể:
Các quốc gia sẽ bảo vệ sự tồn tại và bản sắc dân tộc hay sắc tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của người thiểu số trong phạm vi lãnh thổ thuộc sự quản lý của họ, và khuyến khích những điều kiện để thúc đẩy bản sắc đó Các quốc gia sẽ thông qua những biện pháp lập pháp và những biện pháp thích hợp khác để đạt được những mục tiêu này
Điều 2 của Tuyên bố nhắc lại tinh thần của điều 27 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 Tuy nhiên, nó chứa đựng nhiều điểm mới liên quan đến nhận thức trong vấn đề bảo vệ quyền của người thiểu số, bao gồm: quyền tham gia vào đời sống công cộng và các hoạt động văn hóa, tôn giáo, kinh tế,
xã hội; quyền tham gia vào các quyết định có ảnh hưởng tới họ ở cấp độ quốc gia và khu vực; quyền thiết lập và duy trì những tổ chức riêng; quyền thiết lập và duy trì các mối quan hộ hòa bình với các thành viên khác của nhóm họ và với những người thuộc các nhóm thiểu số khác, cả trong phạm vi quốc gia và ngoài biên giới quốc gia Đặc biệt, ngay tại khoản 1 Điều 2 Tuyên bố quy định về sử dụng ngôn ngữ của riêng họ trong đời sống tư cũng như cộng đồng:
Những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ (dưới đây gọi là những người thuộc các nhóm thiểu số) có