tại như là một hệ thống toàn vẹn bao gồm các nhân tố cơ bản sau: a Mục đích và nhiệm vụ giáo dục Mục đích và nhiệm vụ giáo dục phản ánh yêu cầu của sự tiến bộ xã hội và sự phát triển của
Trang 1GS TSKH NGUYỄN VĂN HỘ PGS.TS HÀ THỊ ĐỨC
GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG
TẬP HAI
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC - 2002
1
Trang 2PHẦN THỨ BA
LÍ LUẬN GIÁO DỤC
Lí luận giáo dục là một chuyên ngành của Giáo dục học Đó
là một hệ thống lí luận về tổ chức quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp) nhằm góp phần quan trọng vào việc hình thành, phát triển nhân cách toàn diện cho thế hệ trẻ Hệ thống lí luận này bao gồm những vấn đề cơ bản về bản chất, quy luật, các đặc điểm của quá trình giáo dục; về những nguyên tắc và phương pháp giáo dục; về nội dung và các hình thức tổ chức các loại hình hoạt động phong phú, đa dạng nhằm đạt hiệu quả giáo dục tối
ưu Sau đây, chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu những vấn đề đó
CHƯƠNG XIV QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC (Theo nghĩa hẹp)
I - Khái niệm và cấu trúc của quá trình giáo dục
1 Khái niệm quá trình giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt; Một quá trình, trong đó: Dưới tác động có mục đích, có kế hoạch, cóphương
pháp của người giáo viên, với tư cách là nhà giáo
phạm,học sinh tự giác, tích cực tự giáo dục, tự tu
Trang 3chất nhân
2
Trang 4cách tốt đẹp của người công dân tương lai
Như vậy, trong quá trình giáo dục, giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, điều khiển hoạt động giáo dục đối với học sinh Vai trò chủ đạo của người giáo viên thể hiện đậm nét trong việc cụ thể hóa, mục đích, mục tiêu giáo dục, xác định nội dung cần phải giáo dục và giáo dục như thế nào, bằng những phương pháp, phương tiện và những hình thức giáo dục nào cho phù hợp Điều đó cần được cụ thể hóa, chi tiết hóa trong chương trình, kế hoạch, trong hoạt động tổ chức giáo dục học sinh Quá trình giáo dục không phải chỉ có tác động một chiều mà là tác động hai chiều, tác động song phương Người học sinh trong quá trình giáo dục không phải chỉ tiếp thu ảnh hưởng, tác động
từ phía giáo viên mà chính bản thân họ cũng thường xuyên tiến hành hoạt động cá nhân, tự giác, tích cực, chủ động tự giáo dục
để từng bước hoàn thiện phẩm chất nhân cách của mình
Do đó, trong quá trình giáo dục diễn ra sự tác động qua lại, thường xuyên, tích cực giữa chủ thể - nhà giáo dục và đối tượng của quá trình giáo dục là học sinh, vừa là khách thể, vừa là chủ thể tự giáo dục Đó là mối quan hệ tương tác giữa giáo viên và học sinh giữa chủ thể và khách thể, giữa nhà giáo dục và người được giáo dục trong hoạt động giáo dục Nếu không có sự tác động qua lại đó thì chính bản thân quá trình giáo dục sẽ không tồn tại, không có quá trình giáo dục theo đúng nghĩa của nó Nói cách khác trong quá trình giáo dục luôn diễn ra sự tác động qua lại tích cực và sự thống nhất biện chứng giữa hoạt động giáo dục
và hoạt động tự giáo dục
2 Cấu trúc của quá trình giáo dục
Theo cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc, quá trình giáo dục tồn
Trang 5tại như là một hệ thống toàn vẹn bao gồm các nhân tố cơ bản sau:
a) Mục đích và nhiệm vụ giáo dục
Mục đích và nhiệm vụ giáo dục phản ánh yêu cầu của sự tiến
bộ xã hội và sự phát triển của khoa học, kinh tế, chính trị… Nó đòi hỏi sự nghiệp giáo dục phải đào tạo những người công dân tương lai có phẩm chất nhân cách, có hành vi thói quen đáp ứng yêu cầu, chuẩn mực về đạo đức, lao động, thể chất và thẩm mĩ
do xã hội quy định, giúp họ có khả năng hòa nhập và thích ứng một cách năng động, sáng tạo với cuộc sống đang đổi mới toàn diện và sâu sắc trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì thế, mục đích và nhiệm vụ giáo dục có vai trò định hướng cho tất cả các nhân tố khác của quá trình giáo dục
Để thực hiện tốt mục đích giáo dục, quá trình giáo dục phảihoàn thành các nhiệm vụ cơ bản như:
- Tổ chức hình thành và phát triển ý thức cá nhân về cácchuẩn mực xã hội nói chung các chuẩn mực đạo đức pháp luật nóiriêng đã được quy định Ý thức cá nhân là một thể thống nhấtgiữa sự hiểu biết của cá nhân về các chuẩn mực xã hội và niềm tinđối với những chuẩn mực đó:
- Tổ chức hình thành và phát triển ở học sinh những xúa cảm, tìnhcảm tích cực có tác dụng như là một "chất men" đặc biệt thúc đẩy
cá nhân chuyển hóa ý thức về các chuẩn mực xã hội thành hành vi
và thói quen tương ứng;
- Tổ chức hình thành và phát triển ở học sinh hệ thống hành
vi phù hợp với các chuẩn mực xã hội đã được quy định, mặt khác còn tổ chức rèn luyện để các em có thể tự lặp lại hệ thống những hành vi này thành thói quen bền vững gắn bó mật thiết
Trang 6với nhu cầu hoạt động tích cực của cá nhân
Nhân tố mục đích và nhiệm vụ giáo dục là nhân tố có vị tríhàng đầu trong quá trình giáo dục Nó có chức năng định hướng cho
sự vận động và phát triển của các nhân tố khác trong quá trìnhgiáo dục và từ đó, định hướng cho sự vận động và phát triển củatoàn bộ quá trình giáo dục
b) Nội dung giáo dục
Nội dung giáo dục quy định hệ thống những chuẩn mực xã hộicần được giáo dục cho học sinh về các mặt giáo dục tư tưởng,đạo đức lao động, giáo dục thể chất, thẩm mĩ, v.v Nó tạo nên nộidung hoạt động của nhà giáo dục cũng như nội dung tự giáo dục, tự
tu dưỡng của người được giáo dục Nội dung giáo dục chịu sự chíphối của mục đích, nhiệm vụ giáo dục, mặt khác, nội dung giáo dụclại chi phối việc lựa chọn và vận dụng phối hợp các phương pháp,phương tiện giáo dục nhằm thực hiện tốt mục đích, nhiệm vụ giáodục
c) Phương pháp, phương tiện giáo dục
Phương pháp, phương tiện giáo dục là những cách thức, những phương tiện hoạt động phối hợp, thống nhất của nhà giáo dục và đối tượng giáo dục, của giáo viên và học sinh nhằm giúp cho học sinh chuyển hóa dần những chuẩn mực xã hội thành hành vi và thói quen tương ứng Phương pháp, phương tiện giáo dục chịu sự chi phối của mục đích, nhiệm vụ và nội dung giáo dục Mặt khác, phương pháp, phương tiện lại là "hình thức về cách thức vận động bên trong của nội dung", nó giúp cho nội dung giáo dục được chuyển hóa thành vốn kinh nghiệm riêng của người được giáo dục sao cho phù hợp với mục đích và các nhiệm vụ giáo dục
Trang 7Như vậy, giữa mục đích, nhiệm vụ, nội dung và phươngpháp, phương tiện giáo dục có mối quan hệ thống nhất biệnchứng với nhau, nó chi phối, ảnh hưởng, hỗ trợ và phụ thuộc lẫnnhau thông qua các hoạt động giáo dục
d) Nhà giáo dục
Trong quá trình giáo dục người giáo viên và tập thể giáoviên, với tư cách là các nhà giáo dục, các nhà sự phạm, nhữngngười được chuẩn bị về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, cóphương pháp và nghệ thuật giáo dục, luôn phát huy vai trò chủđạo, tổ chức, điều khiển quá trình hình thành, phát triển nhân cáchcủa học sinh một cách có mục đích có kế hoạch, có phương pháp, có
tổ chức khoa học, hợp lí Qua đó động viên, khuyến khích, làmphát triển ở học sinh tính tự giác, tính tích cực tự giáo dục, tự hoànthiện mình
e) Người học sinh trong quá trình giáo dục
Trong quá trình giáo dục, người học sinh (và tập thể học sinh) vừa là đối tượng, là khách thể tiếp nhận sự tác động có định hướng của nhà giáo dục Nhưng người học sinh trong quá trình giáo dục không phải là một thực thể thụ động, trái lại họ đã tiếp thu những tác động từ các lực lượng giáo dục khác nhau một cách chủ động tùy theo mục đích tu dưỡng rèn luyện, tự giáo dục của bản thân họ Điều đó cũng có nghĩa là, dưới tác động giáo dục khách quan của nhà giáo dục, của gia đình và xã hội, mỗi học sinh không những là khách thể mà còn là chủ thể tiếp nhận những tác động giáo dục một cách chọn lọc, có ý thức,
tự giác, tích cực nhằm biến những yêu cầu khách quan, những chuẩn mực về đạo đức, về lao động, về thể chất và thẩm mĩ do
xã hội quy định thành hành vi, thói quen, thành lối sống văn hóa
Trang 8bền vững, ổn định của cá nhân họ Nhờ vậy, người học sinhkhông ngừng vận động phát triển đi lên và nhân cách của các em ngàycàng hoàn thiện
Như vậy, với vai trò vừa là khách thể, là đối tượng đồng thời lại là một chủ thể tự giáo dục, tự tu dưỡng, tự rèn luyện tự mình biến những yêu cầu, những chuẩn mực do xã hội quy định thành nhu cầu phát triển chủ quan của cá nhân mình Hai tư cách: đối tượng giáo dục và chủ thể tự giáo dục thống nhất, tác động qua lại, ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau: Trong đó, người học sinh với
tư cách chủ thể giáo dục là cơ sở còn với tư cách đối tượng giáo dục sẽ là điều kiện cho sự hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách
g) Kết quả quá trình giáo dục
Chất lượng và hiệu quả quá trình giáo dục phản ánh kết quả vậnđộng tổng hợp của tất cả các nhân tố trên đây của quá trình giáodục Cụ thể là, với sự định hướng của mục đích, nhiệm vụ giáo dục,với những yêu cầu của nội dung, với sự vận dụng phối hợp, khéo léocác phương pháp, phương tiện và nghệ thuật kết hợp các hình thức
tổ chức các loại hình hoạt động phong phú và đa dạng, những phẩmchất, những nét tính cách, những hành vi, thói quen về đạo đức, vềlối sống tốt đẹp sẽ dần dần hình thành, phát triển và hoàn thiện Kết quả quá trình giáo dục được thể hiện đậm nét ở sự biến đổi về chất trong nhân cách của người được giáo dục, đặc biệt là
ý thức về các chuẩn mực xã hội đã được quy định; về sự phát triển của tình cảm, hành vi, thói quen đạo đức, thẩm mĩ,
Những nhân tố trên đây: mục đích, nhiệm vụ giáo dục, nội dung, phương pháp, phương tiện giáo dục, chủ thể, đối tượng và
7
Trang 9kết quả giáo dục luôn tồn tại và phát triển trong mối quan hệ tương tác, biện chứng với nhau Các nhân tố đó còn có mối quan
hệ mật thiết với môi trường kinh tế - xã hội môi trường chính trị văn hóa, với cơ chế thị trường Sự phát triển không ngừng về mọi lĩnh vực đời sống xã hội, những đòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế tri thức trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước luôn đặt ra những yêu cầu cao và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhân tố vận động phát triển và ngược lại, các nhân tố của quá trình giáo dục lại ảnh hưởng, chi phối, tác động tích cực trở lại môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội
Từ sự phân tích trên đây, theo quan điểm tiếp cận hệ thống cấu trúc thì quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp nói riêng, quá trình giáo dục - đào tạo nói chung tồn tại như là một hệ thống bao gồm các nhân tố cấu trúc có quan hệ mật thiết với nhau và
-có quan hệ tương tác với môi trường Sự vận động và phát triển của các nhân tố được phản ánh trong kết quả của quá trình giáo dục
Như vậy quá trình giáo dục là hoạt động giáo dục và tự giáo dục một cách có kế hoạch, có nội dung, phương pháp, phương tiện của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện tốt mục đích, nhiệm vụ giáo dục Đó là hoạt động phối hợp, thống nhất của chủ thể và đối tượng giáo dục nhằm biến các yêu cầu khách quan của xã hội thành nhu cầu phát triển chủ quan của mỗi học sinh
II - Bản chất và đặc điểm của quá trình giáo dục
1 Bản chất của quá trình giáo dục
Đã từ lâu, các nhà giáo dục học đã quan tâm tới vai trò của nhu cầu trong sự phát triển của đứa trẻ Một số quan điểm cực
Trang 10đoan cho rằng, nhu cầu của con người quyết định cho mục đích vànhiệm vụ giáo dục (G Điuây) hoặc như I.Hécbáctơ thì lại đặt ra chogiáo dục một nhiệm vụ là trấn áp nhu cầu và bản năng của trẻ, bởi
ở chúng, những nhu cầu thường mang tính "hoang dại" và "bấtkham"
Quá trình giáo dục không thể tồn tại nếu không có sự tham gia của chính học sinh vào quá trình đó Vì thế, giáo dục phải phù hợp với thế giới trong của học sinh để hiểu nó và biến đổi
nó Với ý nghĩa đó, giáo dục là một quá trình tác động sư phạm được tổ chức khoa học vào thế giới bên trong của học sinh nhằm hình thành và phát triển những phẩm chất cần thiết cho cá nhân
và cho xã hội Xét trên bình diện tổng quát, giáo dục là quá trình điều khiển, điều chỉnh sự phát triển nhân cách của học sinh thông qua các hoạt động sống của chính các em
Trong thực tiễn, nhân cách của mỗi cá nhân trước hết và chủ yếu phải được thể hiện bằng lối sống qua những hành vi, những thói quen đúng đắn phù hợp với các chuẩn mực xã hội đã được quy định Bộ mặt nhân cách này không những được thể hiện bằng sự hiểu biết về những yêu cầu, những chuẩn mực xã hội đòi hỏi mà quan trọng hơn là những nét nhân cách tốt đẹp đó phải được thể hiện thông qua hành động thực tiễn Bởi lẽ, trong cuộc sống, nhiều khi người ta nói rất giỏi về các chuẩn mực đạo đức, về lối sống văn hóa, thẩm mĩ nhưng trong thực tiễn, chính những người nói giỏi đó lại không thể hiện được những hành vi tương ứng, thậm chí còn có những việc làm, những hành động trái ngược
Mặt khác, trong quá trình giáo dục luôn diễn ra sự tác động qua lại tích cực giữa người được giáo dục và nhà giáo dục nhằm giúp cho đối tượng giáo dục là người học sinh thường xuyên cố
Trang 11gắng tu dưỡng, rèn luyện, tự giáo dục nhằm chuyển hóa được những yêu cầu những chuẩn mực xã hội đã được quy định thành
hệ thống hành vi và thói quen tương ứng Quá trình đó được diễn ra có tổ chức, có kế hoạch, có phương pháp thông qua các loại hình hoạt động phong phú và đa dạng do giáo Viên tổ chức, điều khiển còn học sinh tham gia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo
Như vậy, quá trình giáo dục về bản chất là quá trình
tổ chức, điều khiển và tự tổ chức, tự điều khiển cácloại hình hoạt động phong phú và đa dạng trongcuộc sông nhằm chuyển hóa một cách tự giác, tíchcực các yêu cầu và những chuẩn mực do xã hội quyđịnh thành hành vi và thói quen tương ứng của họcsinh dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục
2 Những đặc điểm cơ bản của quá trình giáo dục Quá trình giáo dục có một số đặc điểm cơ bản sau:
a) Giáo dục là một quá trình hoạt động có mụcđích, có kế hoạch, có nội dung, có phương phápđược diễn ra trong một thời gian dài
Đó là quá trình chuyển hóa những yêu cầu khách quan của xã hội thành nhu cầu phát triển chủ quan của mỗi cả nhân, trong đó các phẩm chất, các nét tính cách, các hành vi, thói quen về đạo đức, về nếp sống văn hóa, thẩm mĩ của học sinh dần dần hình thành, phát triển Quá trình đó không thể diễn ra trong chốc lát
mà đòi hỏi phải có thời gian Bởi lẽ trong quá trình giáo dục, giáo viên không thể chỉ dừng lại ở chỗ làm cho học sinh hiểu được những yêu cầu và chuẩn mực của xã hội đối với cá nhân
mà quan trọng hơn là phải hình thành những niềm tin, những xúc cảm tích cực đặc biệt là phải rèn luyện những hành vi và
Trang 12thói quen tương ứng
b) Quá trình giáo dục diễn ra với những tác động phức hợp
Giáo dục là một quá trình tổ chức các loại hình hoạt động phong phú và phức tạp nhằm hình thành những phẩm chất, những nét tính cách ổn định và bền vững nơi người học Đó là
cả một quá trình phát hiện và giải quyết hàng loạt các mâu thuẫn đan xen nhau trong đời sống nội tâm của đối tượng giáo dục Để hình thành một nét tính cách một hành vi, một thói quen phù hợp với những chuẩn mực của xã hội cần có sự tác động phối hợp của nhiều lực lượng giáo dục như nhà trường, gia đình và các tổ chức xã hội Ngay trong nhà trường, ở gia đình hay ngoài
xã hội, người học sinh cũng chịu ảnh hưởng của nhiều tác động giáo dục khác nhau Ví dụ: Trong gia đình, trẻ em thường xuyên được cha mẹ, ông bà, anh chị em khuyên bảo, dạy dỗ, động viên ; Ở nhà trương- thì thầy giáo, cô giáo, các tổ chức đoàn thể, luôn có những hình thức giáo dục phù hợp để hình thành thói quen, hành vi đạo đức nếp sống văn minh…; ngoài xã hội thường xuyên có những tác động của những tổ chức xã hội, những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của các phương tiện thông tin, phim ảnh, sách báo …
Những ảnh hưởng, tác động từ nhiều phía đã đan kết, xen kẽ,
bổ sung, hỗ trợ cho nhau thành một thể thống nhất hướng tới việc phát triển và hoàn thiện nhân cách Trong những tác động phức hợp đó, hoạt động giáo dục của nhà trường nói chung, hoạt
tổ chức các loại hình hoạt động giáo dục tập thể của giáo viên chủ nhiệm lớp nói riêng giữ vai trò chủ đạo Tuy nhiên, trong thực tiễn giáo dục, cũng có những nơi, những lúc, trong các tình huống cụ thể, thường xảy ra những tác động ngược chiều tạo ra những phản ứng nhiễu gây khó khăn cho quá trình giáo dục Với
Trang 13những tình huống như vậy, đòi hỏi người giáo viên với tư cách
là nhà giáo dục cần khéo léo vận dụng các phương pháp giáo dục để hạn chế tới mức tối thiểu những tác động tiêu cực, tự phát và phát huy cao độ những tác động tích cực đối với quá trình giáo dục và tự giáo dục, tự rèn luyện của học sinh
c) Quá trình giáo dục là quá trình phát triển biện chứng Giáo dục là một hiện tượng xã hội và cũng là một quá trình nên nó không ngừng vận động, phát triển theo quy luật phổ biến của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Thực chất của hoạt động giáo dục là quá trình liên tục phát hiện và giải quyết những tình huống sư phạm nảy sinh trong các lĩnh vực giáo dục đạo đức, giáo dục lối sống văn hóa, thẩm mĩ của học sình trong môi trường sư phạm của nhà trường, trong gia đình và
xã hội Việc phát hiện kịp thời các tình huống và có các giải pháp giải quyết hợp lí phù hợp với đặc điểm tâm - sinh lí của học sinh sẽ có tác dụng mạnh mẽ thúc đẩy, khuyến khích, động viên các em tự giác tích cực phấn đấu rèn luyện để dần dần tự hoàn thiện mình Sự vận động và phát triển của quá trình giáo dục được diễn ra với các tính quy luật phổ biến và đặc thù của hoạt động giáo dục Nghệ thuật sư phạm của nhà giáo dục là phải kịp thời phát hiện các mâu thuẫn và có các phương án giải quyết hợp lí phù hợp với quy luật và tính quy luật của quá trình giáo dục để quá trình giáo dục học sinh có thể đạt hiệu quả tối
ưu
d) Quá trình giáo dục có tính cá biệt
Trong thực tiễn cuộc sống muôn hình muôn vẻ quanh ta cũng như trong môi trường giáo dục, mỗi con người, mỗi học sinh là một thế giới riêng với những đặc điểm riêng về tâm - sinh lí, đặc
Trang 14điểm nhận thức, tình cảm…, mỗi người đều có cuộc sống và thế giới nội tâm riêng Vì vậy, trong quá trình giáo dục, với những tác động sư phạm như nhau mỗi cá nhân có thể lĩnh hội theo cách riêng của mình với những mức độ khác nhau Do đó nghệ thuật giáo dục của nhà sư phạm là phải thực hiện cá biệt hóa hoạt động giáo dục, cùng với những biện pháp giáo dục chung đối với tập thể, phải có những tác động riêng phù hợp với đặc điểm của từng cá nhân học sinh Cá biệt hóa quá trình giáo dục
là một xu hướng đổi mới phương pháp giáo dục trong lí luận giáo dục hiện đại Nó đòi hỏi phải tổ chức các loại hình giáo dục phong phú và đa dạng phù hợp với nhịp độ phát triển nhân cách
và đặc điểm cá tính, đời sống nội tâm từng học sinh Vì :thế, nhà giáo dục phải hiểu biết sâu sắc đối tượng giáo dục của mình, phải đồng cảm và thương yêu học sinh, phải có cái tâm trong sáng và sự bao dung
e) Quá trình giáo dục gắn liền và thông nhất vớiquá trình dạy học
Trong các loại hình trường, hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) và hoạt động dạy học là hai dạng hoạt động được tiến hành song song với các chức năng trội đặc trưng riêng của mình Hoạt động dạy học nhằm tổ chức, điều khiển để người học chiếm lĩnh
có chất lượng, hiệu quả nội dung học vấn; hoạt động giáo dục nhằm hình thành những phẩm chất đạo đức, hành vi, thói quen, lối sống, hành vi văn minh,… Hai hoạt động đó không tách biệt
mà thống nhất, bổ sung, hỗ trợ cho nhau góp phần hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách cho thế hệ trẻ Cụ thể là: Trên
cơ sở thực hiện các nhiệm vụ dạy học thì thế giới quan và các phẩm chất nhân cách của học sinh được hình thành, phát triển và ngược lại kết quả giáo dục tốt các phẩm chất hành vi đạo đức,
Trang 15lối sống có văn hóa lại là điều kiện, là tiền đề, là động lực thúc đẩyhoạt động dạy học đạt kết quả cao hơn Như vậy, mối quan hệtương tác giữa quá trình giáo dục và quá trình dạy học là mối quan
hệ thống nhất biện chứng, nó phản ánh tính quy luật đặc trưng củaquá trình sư phạm: hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục thốngnhất biện chứng với nhau
III - Động lực và lôgíc của quá trình giào dục
1 Động lực của quá trình giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt; Một quá trình luônluôn vận động và phát triển không ngừng, trong đó nhân cách củangười học sinh ngày càng được phát triển và không ngừng hoànthiện
Nguyên nhân của sự vận động, phát triển của quá trình giáo dụcchính là sự giải quyết có hiệu quả các loại mâu thuẫn và tạo nên hệthống động lực và các điều kiện thuận lợi thúc đẩy quá trình giáodục đạt kết quả mong muốn Cũng như các hiện tượng, các quátrình các sự kiện trong thế giới khách quan, quá trình sư phạm nóichung, quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp nói riêng thường có nhữngmâu thuẫn sau:
a) Mâu thuẫn bên ngoài của quá trình giáo dục là mâuthuẫn
giữa các nhân tố của quá trình giáo dục với các yếu tố của môi trường, đặc biệt là môi trường kinh tế - xã hội - chính trị, … Ví dụ: Trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện độ hoá đất nước, cơ chế thị trường, nền kinh tế tri thức, luôn yêu cầu cao đối với
sự nghiệp giáo dục nhưng phẩm chất đạo đức của học sinh thì ngày một giảm sút chưa đáp ứng với những đòi hỏi của xã hội,
… Những mâu thuẫn bên ngoài nếu được phát hiện và giải quyết kịp thời, có hiệu quả sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy quá
Trang 16trình giáo dục phát triển Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh đặc biệt vào thời điểm nhất định nào độ, những mâu thuẫn bên ngoài lại có thể chuyển hóa thành mâu thuẫn bên trong và có tác dụng quyết định xu hướng phát triển không ngừng của quá trình giáo dục
b) Mâu thuẫn bên trong của quá trình giáo dục là mâuthuẫn
giữa các nhân tố của quá trình giáo dục với nhau hoặc mâu thuẫn giữa các yếu tố trong từng nhân tố Ví dụ: Các mâu thuẫn giữa nội dung giáo dục với phương pháp giáo dục không phù hợp; mâu thuẫn giữa phương pháp giáo dục của thầy không phù hợp với đặc điểm tâm - sinh lí của trò hoặc mâu thuẫn nảy sinh chính trong quá trình giáo dục, tự giáo dục, tự rèn luyện của bản thân nhà giáo dục hay người được giáo dục như mâu thuẫn giữa lời nói với việc làm giữa tình cảm với lí trí của học sinh; giữa năng lực chuyên môn với phương pháp, nghệ thuật sư phạm của giáo viên, v.v Việc phát hiện kịp thời và giải quyết
có hiệu quả các mâu thuẫn bên trong này sẽ tạo nên hệ thống động lực thúc đẩy quá trình giáo dục không ngừng vận động phát triển
c) Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa những yêu cầu cao của mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục về đạo đức, hành vi, lối sống
có văn hóa… đối với học sinh với thực trạng suy giảm về đạo đức, về lối sống… hiện nay của các em trong các loại hình trường Đó chính là mâu thuẫn giữa yêu cầu cao của những chuẩn mực xã hội về giáo dục đạo đức, lao động, thể chất, thẩm
mĩ với trình độ được giáo dục nói riêng, trình độ phát triển các phẩm chất nhân cách nói chung ở học sinh Mâu thuẫn cơ bản này tồn tại trong suốt cả quá trình giáo dục Nếu được phát hiện kịp thời và có các giải pháp giải quyết hợp lí, có hiệu quả thì sẽ
Trang 17tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết hàng loạt các mâu thuẫn khác Nghĩa là, khi mâu thuẫn nảy sinh, dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục, với các hình thức tổ chức các loại hình hoạt động phong phú đa dạng hấp dẫn, phù hợp có tác dụng thu hút, lôi cuốn học sinh tích cực tham gia… Thông qua hoạt động, học sinh không ngừng phấn đấu, rèn luyện và tự hoàn thiện mình đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của những chuẩn mực xã hội Như vậy, cùng với mâu thuẫn cơ bản, hàng loạt các mâu thuẫn khác cũng được giải quyết tạo ra động lực thúc đẩy học sinh không ngừng phát triển và tự hoàn thiện nhân cách của mình Kết quả của việc giải quyết các mâu thuẫn đó lại tạo ra tiền đề mới, cơ sở và điều kiện mới để tiếp tục nâng cao hơn nữa những yêu cầu và chuẩn mực xã hội, và từ đó mâu thuẫn cơ bản mới lại xuất hiện, lại được giải quyết và người học sinh cũng như toàn bộ quá trình giáo dục không ngừng vận động, phát triển
Vậy động lực của quá trình giáo dục chính là việc
Trang 18- Các mâu thuẫn phải được học sinh ý thức đầy đủ và quyết16
Trang 19tâm tìm tòi biện pháp giải quyết có hiệu quả
2 Lôgic của quá trình giáo dục
Lôgic của quá trình giáo dục là trình tự thực hiệnhợp lí các khâu của qua trình đó nhằm thực hiện tốtmục đích, nhiệm vụ giáo dục
Giáo dục là một quá trình tổ chức các loại hình hoạt động nhằm biến những yêu cầu khách quan thành nhu cầu phát triển chủ quan của đối -tượng giáo dục Quá trình giáo dục và tự giáo dục đó diễn ra theo các giai đoạn, các bước hay các khâu mà mỗi khâu nhằm giải quyết tương đối trọn vẹn một nhiệm vụ cụ thể từ nhận thức đến thái độ, động cơ, tình cảm, niềm tin và hành vi, thói quen, nếp sống có văn hóa của bản thân người học Với cách hiểu như vậy, quá trình giáo dục có thể diễn ra theo ba khâu cơ bản sau:
a) Khâu thứ nhất: Nâng cao nhận thức về các yêu cầu, chuẩn mực đạo đức, các giá trị văn hóa, thẩm mĩ … do xã hội quy định Với vai trò chủ đạo của nhà giáo dục, trước hết phải làm cho học sinh nhận thức đầy đủ, sâu sắc được những chuẩn mực
về đạo đức, những giá trị văn hóa, thẩm mĩ, những lối sống, nếp sống văn minh, … Các chuẩn mực do xã hội quy định nói chung vừa có tính chất pháp chế, bắt buộc, vừa mang tính truyền thống được lựa chọn đưa vào nội dung giáo dục như hệ thống các chuẩn mực về pháp luật, về phong tục tập quán, về văn hóa, thẩm mĩ,… Trong quá trình giáo dục, giáo viên cần làm cho học sinh hiểu sâu sắc về các chuẩn mực, giúp họ có tri thức cơ bản
về các chuẩn mực xã hội như: ý nghĩa xã hội và ý nghĩa cá nhân của các chuẩn mực; nội dung của chuẩn thực bao gồm cả những khái niệm tương ứng; cách thức thực hiện các chuẩn mực, v.v
Trang 20Đó là những phương tiện có giá trị định hướng cho thái độ, tình cảm và niềm tin; có chức năng điều chỉnh hành vi thói quen của cá nhân hay của nhóm xã hội trong những hoàn cảnh và điều kiện nhất định Mặt khác, nhận thức về các chuẩn mực do xã hội quy định còn là phương tiện để xã hội đánh giá hành vi của cá nhân và mỗi cá nhân tự kiểm tra, tự đánh giá hành vi, thói quen của chính mình
b) Khâu thứ hai: Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành thái
độ niềm tin và tình cảm tích cực đối với các chuẩn mực xã hội đãquy định
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn và hiểu biết sâu sắc về các chuẩn mực xã hội, ở mỗi học sinh dần dần hình thành thái độ, niềm tin và tình cảm đạo đức trong sáng, đúng đắn về các chuẩn mực xã hội Đó là những thái độ phản ánh các quan điểm của cá nhân về các chuẩn mực xã hội; những niềm tin tuyệt đối, bền vững của mỗi người vào chân lí của các chuẩn mực xã hội thông qua những khái niệm, những giá trị đạo đức, văn hóa thẩm mĩ ; những tình cảm, xúc cảm tích cực về các chuẩn mực xã hội, đặc biệt là những tình cảm, xúc cảm đạo đức và thẩm mĩ Chính những thái độ, niềm tin và tình cảm tích cực đúng đắn đó là cơ
sở hình thành động lực nội sinh, là nguồn gốc tạo nên động cơ thôi thúc tính tích cực hoạt động cá nhân của mỗi con người Trong quá trình giáo dục, thông qua việc tổ chức, điều khiển và
tự tổ chức, tự điều khiển các hoạt động nội khóa và ngoại khóa thuộc các lĩnh vực giáo dục đạo đức, văn hóa, thẩm mĩ, xây dựng nếp sống văn minh… thái độ và niềm tin đối với các chuẩn mực đạo đức dần dần hình thành và phát triển Những niềm tin
về các chuẩn mực xã hội không những được thể hiện trong lí thuyết mà còn được thể hiện thực tiễn Chính những niềm tin và
Trang 21sự ý thức sâu sắc về những yêu cầu và chuẩn mực xã hội quy định là cơ sở để nảy sinh hàng loạt xúc cảm và dần dần hình thành những tình cảm tốt đẹp bền vững về đạo đức, về lối sống văn hóa, Những xúc cảm, tình cảm đó chính là động cơ, là chất men thôi thúc cho hành động, ý chí tự giáo dục, tự tu dưỡng, rèn luyện và tự hoàn thiện mình, tránh xa mọi ảnh hưởng xấu trong cuộc sống đầy biến động và phức tạp hiện nay Trên
cơ sở nhận thức đúng đắn về những chuẩn mực đạo đức về lối sống văn hóa thẩm mĩ, ở mỗi cá nhân hình thành được những thái độ, niềm tin và tình cảm đạo đức, xúc cảm thẩm mĩ từ đó
họ có động cơ tu dưỡng, rèn luyện hành vi, thói quen tương ứng
c) Khâu thứ ba: Tổ chức, điều khiển học sinh rèn luyện hành
vi và thói quen phù hợp với những chuẩn mực xã hội đã quy định Mục đích cuối cùng của quá trình giáo dục là hình thành
và phát triển những phẩm chất đạo đức, những nét tính cách, những hành vi và thói quen, những lối sống có văn hóa ở người được giáo dục Những biểu hiện trong lối sống, hành vi văn minh chính là bộ mặt đạo đức, thẩm mĩ của mỗi con người trong cộng đồng Vì vậy, vấn đề quan trọng đặc biệt trong quá trình giáo dục là phải tổ chức các loại hình hoạt động phong phú
và đa dạng, tạo môi trường thuận lợi để học sinh tự giáo dục, tự
tu dưỡng và rèn luyện những nét tính cách, những hành vi và thói quen những nếp sống có văn hóa, những giá trị truyền thống
đã được xã hội thừa nhận Những hành vi, những nếp sống văn minh và sự ứng xử có văn hóa, cần được thường xuyên luyện tập, rèn luyện, củng cố trở thành kĩ xảo, thành động hình, thành thói quen bền vững Đó là nhu cầu không thể thiếu được trong cuộc sống của mỗi con người Các khâu của quá trình giáo dục
Trang 22không tách biệt mà có mối quan hệ mật thiết với nhau, bởi lẽ giáodục là một quá trình toàn vẹn việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dụcđòi hỏi phải tiến hành đồng bộ cả ba khâu trong mối quan hệtương tác, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, thậm chí thâm nhập vào nhauthông qua các hoạt động giáo dục cụ thể
Để đạt được chất lượng và hiệu quả giáo dục tối ưu, nghệthuật sư phạm của nhà giáo dục là phải biết kết hợp các khâu mộtcách hợp lí Tùy theo đặc điể tính chất và nội dung các tình huống
cụ thể; căn cứ vào đặc điểm của đối tượng vào các điều kiện và cácphương tiện giáo dục, mà kết hợp các khâu của quá trình giáodục một cách linh hoạt, sáng tạo, không nhất thiết phải tiến hành đầy
đủ cả ba khâu hoặc bắt buộc theo đúng trình tự các khâu một cáchmáy móc
Trang 23CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Hãy trình bày khái niệm và cấu trúc của quá trình giáo dục theo quan điểm tiếp cận hệ thống - cấu trúc, cho ví dụ minh họa
2 Hãy phân tích bản chất và những đặc điểm của quá trình giáodục Cho một ví dụ thực tiễn giáo dục để minh họa cho một trongnhững đặc điểm đó
3 Hãy so sánh bản chất của quá trình giáo dục với bản chất của quá trình dạy học, liên hệ với thực tiễn và rút ra kết luận sư phạm
4 Hãy phân tích động lực của quá trình giáo dục, cho ví dụminh họa
5 Hãy phân tích các khâu của quá trình giáo dục và mối quan hệgiữa các khâu đó, cho ví dụ minh hoạ
Trang 24CHƯƠNG XV QUY LUẬT VÀ NGUYÊN TẮC GIÁO DỤC
I Những quy luật của quá trình giáo dục
Quá trình giáo dục luôn vận động và phát triển không ngừng theonhững quy luật phổ biến và đặc thù vốn có của nó Quy luật giáo dụcphản ánh các mối quan hệ, liên hệ tương tác và bền vững giữacác nhân tố các yếu tố trong quá trình giáo dục với nhau hoặc mốiquan hệ chi phối của môi trường tới từng nhân tố của quá trình giáodục Cho đến nay các nhà giáo dục học vẫn còn có nhiều ý kiếnchưa hoàn toàn nhất trí về các quy luật và tính quy luật trong quátrình giáo dục
Chúng ta có thể kể tới một số quy luật đặc trưng, điển hình sauđây của quá trình giáo dục:
1 Quá trình giáo dục thống nhất biện chứngvới môi trường kinh tế- xã hội
Đây là quy luật phổ biến phản ánh mối quan hệ chi phối, quan hệ thường xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp của môi trường
xã hội tới từng nhân tố của quá trình giáo dục Các nhân tố của quá trình giáo dục chịu ảnh hưởng tác động từ nhiều phía của điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội nhưng hoàn toàn không thụ động mà ngược lại, các nhân tố của quá trình giáo dục không ngừng phát huy tác dụng tích cực trở lại môi trường, góp phần cải tạo môi trường Ví dụ: Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, cơ chế thi trường thường xuyên ảnh hưởng tới quá trình tổ chức điều khiển, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động giáo dục, tự giáo dục của giáo viên và học sinh Song chính trong quá trình đó,
Trang 25giáo viên và học sinh lại tham gia nhiều hoạt động góp phần cải tạo,nâng cao chất lượng của môi trường
Trong tương lai, người học sinh sẽ là những nhà khoa học,những nhà quản lí giỏi và sẽ có những cống hiến lớn lao trong xâydựng, phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước
2 Mục đích giáo dục, nội dung giáo dục và cácphương pháp giáo dục thống nhất biện chứng với nhauTrong quá trình giáo dục, mục đích, nhiệm vụ, nội dung giáo dục và các phương pháp, phương tiện giáo dục là các nhân tố cơ bản của quá trình giáo dục Các nhân tố đó có mối quan hệ thống nhất chặt chẽ với nhau Mục đích, nhiệm vụ giáo dục chi phối và định hướng việc xác định nội dung giáo dục Ngược lại, nội dung là sự cụ thể hóa, chi tiết hóa mục đích giáo dục Nội dung giáo dục còn có mối quan hệ chi phối các phương pháp, phương tiện và hình thức giáo dục Ngược lại, phương pháp là hình thức về cách thức vận động bên trong của nội dung, là cách thức tổ chức các loại hình hoạt động nhằm thực hiện tốt mục đích và nội dung giáo dục Mối quan hệ chi phối chặt chẽ, bền vững giữa ba nhân tố cơ bản của quá trình giáo dục phản ánh tính quy luật đặc thù của quá trình giáo dục
3 Hiệu quả của quá trình giáo dục phụ thuộc vào
Trang 26của mỗi cá nhân, phụ thuộc vào cách thức tổ chức các hình thức hoạt động và giao lưu Việc tổ chức các hình thức hoạt động, giao lưu càng khoa học, hợp lí, càng phong phú, hấp dẫn, bổ ích,
có tính giáo dục sâu sắc thì càng mang lại hiệu quả giáo dục tối
ưu
4 Tác động sư phạm của nhà giáo dục và hoạtđộng tự giáo dục của học sinh thống nhất biện chứngvới nhau
Sự thống nhất biện chứng giữa hoạt động giáo dục của người giáo viên và hoạt động tự giáo dục, tự tu dưỡng và rèn luyện của học sinh trong quá trình giáo dục có mối quan hệ tương tác với nhau, nó phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể và đối tượng, giữa hai nhân tố đặc trưng của quá trình giáo dục Quá trình giáo dục mà thiếu vắng một trong hai nhân tố đó thì quá trình đó không tồn tại Vì vậy, mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa tác động sư phạm của nhà giáo dục và hoạt động tự giác, tích cực tự giáo dục, tự tu dưỡng, rèn luyện các hành vi, thói quen phù hợp vôi các chuẩn mực xã hội của người được giáo dục là quy luật cơ bản của quá trình giáo dục
5 Quá trình giáo dục và quá trình dạy học thốngnhất biện chứng với nhau
Giáo dục (theo nghĩa hẹp) và dạy học là hai hoạt động cơ bản đặc trưng nhất của quá trình sư phạm nhằm thực hiện mục đích giáo dục toàn diện Hai hoạt động đó thống nhất, bổ sung, hỗ trợ cho nhau: dạy học là con đường, là phương tiện thực hiện nhiệm
vụ giáo dục và ngược lại nếu học sinh được giáo dục tốt thì tất yếu sẽ học tập tự giác, tích cực có hiệu quả cao hơn Vì lẽ đó chúng ta có thể nói: mối quan hệ giữa dạy học và giáo dục là mối quan hệ giữa phương tiện và mục đích, đó là một quy luật
Trang 27Trong thực tiễn giáo dục, các cấp quản lí, các cán bộ nghiên cứu
và giáo viên cần ý thức một cách đầy đủ về quy luật và tính quy luậtcủa quá trình giáo dục để tổ chức điều khiển quá trình giáo dục và
tự giáo dục đạt kết quả tối ưu Những quy luật và tính quy luậttrong quá trình giáo dục được phản ánh đậm nét thông qua cácnguyên tắc giáo dục
II - Các nguyên tắc giáo dục
1 Khái niệm nguyên tắc giáo dục
Quá trình giáo dục tồn tại như là một hệ thống luôn vận động, phát triển theo những quy luật vốn có của nó Hoạt động giáo dục muốn đạt được kết quả mong muốn, nhà giáo dục không những phải nắm được các quy luật giáo dục mà còn phải biết vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các quy luật giáo dục trong việc lựa chọn nội dung, vận dụng phối hợp các phương pháp, phương tiện và các hình thức tổ chức giáo dục sao cho phù hợp với đặc điểm tâm - sinh lí, đặc điểm nhân cách của người được giáo dục Những quy luật giáo dục được phản ánh trong những luận điểm chung, cơ bản, đó là các nguyên tắc giáo dục Nguyên tắc giáo dục có cơ sở khách quan là những mối liên
hệ có tính quy luật được nảy sinh trong thực tiễn giáo dục và được hình thành, phát triển trên cơ sở nhận thức, vận dụng linh hoạt, sáng tạo những quy luật khách quan đó trong thực tiễn giáo dục Nguyên tắc giáo dục là những luận điểm mang tính chuẩn mực, được kế thừa và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn trong lịch sử phát triển của giáo dục và nhà trường
Vậy nguyên tắc giáo dục là những luận điểm cơ
Trang 2825
Trang 29giáo dục nhằm thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ giáo dục
2 Hệ thống các nguyên tắc giáo dục
Để xác định các nguyên tắc giáo dục trong nhà trường, cần căn cứ vào mục đích mục tiêu giáo dục và các nhiệm vụ giáo dục; căn cứ vào đặc điểm của người được giáo dục, đặc biệt là phải dựa vào các quy luật của quá trình giáo dục và thông qua kinh nghiệm hoạt động thực tiễn giáo dục Quá trình giáo dục cần thực hiện tốt bảy nguyên tắc giáo dục cơ bản sau:
a) Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích của giáo dục Giáo dục về thực chất là quá trình tổ chức các loại hình hoạt động phong phú và đa dạng nhằm chuyển hóa những yêu cầu khách quan thành nhu cầu phát triển chủ quan của mỗi cá nhân người được giáo dục Trong thực tiễn, mọi lĩnh vực hoạt động của con người nói chung, hoạt động giáo dục và tự giáo dục nói riêng bao giờ cũng hướng tới một mục đích, mục tiêu nhất định
Cụ thể là, quá trình giáo dục phải góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Trong phạm vi nhà trường, hoạt động giáo dục phải nhằm hướng tới mục đích đào tạo những con người phát triển toàn diện Đó là mẫu người lí tưởng mà mọi hoạt động giáo dục - đào tạo phải đạt tới Trong quá trình giáo dục thông qua các loại hình hoạt động nội khóa và ngoại khóa phải giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan khoa học biện chứng và các phẩm chất nhân cách cho học sinh; giáo dục ý thức và năng lực tham gia tích cực các hoạt động xã hội, qua các loại hình hoạt động và giao lưu, các em sẽ nhận thức được ý nghĩa và mục đích của cuộc sống, có thái độ đúng đắn và rèn luyện được những hành
vi, thói quen văn minh hướng tới sự hoàn thiện nhân cách theo
Trang 30những chuẩn mực mà xã hội đã quy định
Như vậy nguyên tắc đảm bảo tính mục đích trong quá trìnhgiáo dục là nguyên tắc quan trọng, nó có vai trò chỉ đạo và địnhhướng cho mọi hoạt động giáo dục thông qua việc xác định cácnhiệm vụ giáo dục cụ thể; việc lựa chọn và đổi mới nội dung; việcvận dụng phối hợp các phương pháp, các hình thức giáo dụcnhằm đạt kết quả giáo dục mong muốn
b) Nguyên tắc đảm bảo giáo dục phải gắn liền vớicuộc sống, với lao động
Giáo dục là quá trình chuyển hóa những giá trị xã hội thànhnhững thang giá trị và thước đo giá trị của từng cá nhân làm cho mỗi
cá nhân có cuộc sống phong phú về cả thể chất và đời sống tâm lí.Những giá trị của nhân cách phản ánh bản chất xã hội của cá nhân chỉđược hình thành và phát triển thông qua hoạt động và giao lưu,thông qua cuộc sống thực tiễn muôn màu muôn vẻ đặc biệt thôngqua lao động
Lao động là loại hình hoạt động cơ bản bởi lẽ những mốiquan hệ, những phẩm chất, những nét tính cách, những tình cảmnhững thói quen tốt được hình thành trong lao động có ýnghĩa sâu sắc và luôn giữ lại những dấu ấn đậm nét trong cuộcsống của con người Vì vậy quá trình giáo dục phải gắn liền với cuộcsống, gắn liền với lao động và hoạt động xã hội thông qua thực tiễnhoạt động và giao lưu; qua giáo dục lao động thì nhân cách càngphát triển hoàn thiện
Để thực hiện nguyên tắc giáo dục gắn liền với thực tiễn cuộcsống, gắn liền lao động, việc tổ chức các loại hình hoạt độngnhằm giáo dục nhân cách cho học sinh, cần chú ý:
- Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động xã hội phong
Trang 31phú và đa dạng ở địa phương nhằm gắn liền hoạt động giáo dục vớithực tiễn cuộc sống Thông qua hoạt động thực tiễn qua giao tiếp vớimọi người trong xã hội, bản thân mỗi học sinh nhận thức đượctính phức tạp trong các mối quan hệ giữa người và người, giữacác nhóm xã hội Trong cộng đồng: Từ đó, bản thân các em cóthái độ đúng đắn và tự nhận thức được nghĩa vụ trách nhiệm của bảnthân đối với xã hội
- Tổ chức cho học sinh tự giác, tích cực tham gia các hoạtđộng lao động góp phần xây dựng cơ sở vật chất cho nhàtrường, góp phần tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần cho bảnthân, cho gia đình và phần nào có sự đóng góp cho xã hội Thôngqua lao động, những phẩm chất nhân cách tốt đẹp dần dần đượchình thành và những tình cảm, niềm tin, những thái độ đúng đắn vềgiá trị, về những chuẩn mực do xã hội quy định cũng phát triển
và được củng cố bền vững
- Trong thực tiễn giáo dục cần tạo điều kiện để học sinh có thểhòa nhập với thực tiễn cuộc sống, tránh tình trạng tách rời quátrình giáo dục với cuộc sống, với thực tiễn lao động xây dựng đấtnước
c) Nguyên tắc giáo dục trong tập thể
Tập thể là một nhóm, một cộng đồng người cùng chung hoạt động vì một mục đích nhất định Tập thể sư phạm là một phương tiện giáo dục là môi trường hoạt động, giao lưu giữa các thành viên, là phương thức giáo dục nhằm hình thành, phát triển nhân cách cho mỗi cá nhân Trong tập thể, mỗi cá nhân đều
ý thức về vai trò, trách nhiệm của bản thân mình; đều tích cực tu dưỡng, rèn luyện va liên kết với nhau vì một mục đích chung chân chính, thông qua những hoạt động chung có kế hoạch, có
Trang 32nội dung và được tổ chức chặt chẽ nhằm mang lại lợi ích chung chotập thể và riêng cho mỗi cá nhân
Vì vậy, tập thể vừa là môi trường sư phạm, vừa là phương tiện giáo dục, rèn luyện, hình thành và phát triển nhân cách Trong tập thể, mỗi cá nhân, một mặt chịu sự ảnh hưởng tác động của bạn bè, của dư luận chung một cách thường xuyên để không ngừng tự giáo dục tự hoàn thiện mình về phẩm chất nhân cách, về năng lực, về tình cảm, hành vi, thói quen Mặt khác, mỗi thành viên trong tập thể lại có ảnh hưởng tác động tích cực trở lại góp phần xây dựng, củng cố tập thể và qua đó họ không ngừng vươn lên, trưởng thành cùng với sự phát triển bền vững của tập thể học sinh
Để tập thể học sinh vừa là đối tượng, là phương tiện giáo dục củanhà sư phạm, vừa là môi trường tự giáo dục tự rèn luyện, có hiệu quảcủa học sinh trong quá trình giáo dục, chúng ta cần chú ý một số biệnpháp chính sau đây:
- Cần tổ chức xây dựng tập thể học sinh (tập thể sư phạm) theo đúng nghĩa của nó: một tập thể bao gồm các cá nhân có cùng chung những hoạt động nhằm thu hút lôi cuốn mọi thành viên trong tập thể cùng tích cực tham gia và hướng tới mục đích giáo dục toàn diện; Trong tập thể cần tạo ra được những dư luận lành mạnh nhằm tác động tới mọi cá nhân, động viên, khuyến khích họ hưởng ứng dư luận tốt và có thái độ phê phán, đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực những lối sống buông thả, những hành vi, thói quen thiếu văn hóa
- Cần phát huy những ảnh hưởng, tác động tích cực của mỗi
cá nhân đối với sự phát triển không ngừng của tập thể; phát huy vai trò của cá nhân trong việc đấu tranh chống những biểu hiện
Trang 33tiêu cực, những lối sống, những hành vi, những thói quen không phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, thẩm mĩ, của xã hội;
- Cần coi trọng đúng mức lợi ích của cá nhân trong sự thống nhấtvới lợi ích chung của tập thể lợi ích cá nhân chân chính sẽ là độnglực thúc đẩy trực tiếp sự hình thành, phát triển và hoàn thiện nhâncách Tuy nhiên trong quá trình giáo dục, nhà sư phạm cũngkhông nên "cực đoan hóa": quá đề cao lợi ích của cá nhân hoặc quácoi trọng lợi ích cửa tập thể tạo ra sự đối lập, mâu thuẫn giữa cá nhân
cá nhân Với tư cách là một cá nhân, một con người, một nhân cách, lại là chủ thể tự giáo dục, mỗi học sinh đều có mong mưun được tôn trọng và tự khẳng định mình Vì vậy, nhà giáo dục phải tôn trọng nhân cách của học sinh, đặc biệt là tôn trọng đời sống nội tâm với những nét cá tính những tình cảm riêng tư Việc tôn trọng, thông cảm, tin tưởng và đánh giá đúng bản chất đối tượng giáo dục của mình, nhà giáo dục sẽ nâng cao lòng tự trọng , tự tin, kích thích tính tích cực phấn đấu vươn lên của học sinh và sẽ có cơ hội đạt được hiệu quả giáo dục mong muốn Song, càng tôn trọng nhân cách của học sinh bao nhiêu
Trang 34đó phải phù hợp với mục tiêu và nội dung giáo dục; phù hợp với trình độ phát triển và những điều kiện tự giáo dục, tự hoàn thiện của học sinh Mặt khác, việc tôn trọng và yêu cầu cao sẽ có tác dụng kích thích tính tích cực tu dưỡng rèn luyện của các em trong hoạt động và cuộc sống Tuy nhiên, những yêu cầu cao phải có tính khả thi, có khả năng mang lại hiệu quả giáo dục và
tự giáo dục
Trong quá trình giáo dục, với tư cách là nhà sư phạm, giáo viên cần đề ra những yêu cầu ngày càng cao đối với học sinh; luôn nghiêm khắc nhưng chân thành, tin tưởng, thiện chí và thương yêu học sinh; kịp thời phát huy ưu điểm và động viên, giúp đỡ các em khắc- phục những thiếu sót khuyết điểm trong cuộc sống Đặc biệt, nhà giáo dục phải luôn là tấm gương sáng
về đạo đức, về lối sống, phải có nghệ thuật sư phạm điêu luyện, tuyệt đối tránh sự thô bạo, thiếu tôn trọng, định kiến: hoặc quá nuông chiều, dễ dãi, bỏ qua những sai sót của các em,
e) Nguyên tắc đảm bảo sự kết hợp thống nhất giữahoạt động giáo dục của giáo viên và tự giáo dục củahọc sinh trong quá trình sư phạm
Quá trình giáo dục chỉ có thể đạt được kết quả tối ưu khi mọi tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà sư phạm được diễn
ra một cách có hệ thống, liên tục và kế tiếp nhau Điều đó cũng
có nghĩa là, trong quá trình giáo dục giáo viên giữ vai trò chủ đạo, vai trò tổ chức, điều khiển các loại hình hoạt động phong phú và đa dạng nhằm hình thành và phát triển các phẩm chất, các nét tính cách, các hành vi, thói quen cho học sinh Người học sinh trong quá trình giáo dục không tiếp nhận những tác động giáo dục từ phía giáo viên một cách thụ động mà họ luôn tồn tại với tư cách vừa là đối tượng, là khách thể đồng thời là
Trang 35chủ thể tích cực tự giáo dục, tự tu dưỡng, rèn luyện và tự hoàn thiện mình Mối quan hệ tương tác giữa hoạt động của nhà giáo dục và hoạt động tự giác, tích cực, chủ động của người được giáo dục diễn ra thường xuyên trong môi trường sư phạm và luôn ảnh hưởng, chi phối, phụ thuộc lẫn nhau, thống nhất biện chứng với nhau, phản ánh tính quy luật của quá trình giáo dục
Để đạt hiệu quả giáo dục cao, trong quá trình giáo dục, người giáoviên với tư cách là nhà giáo dục phải có năng lực tổ chức, điềukhiển hoạt động giáo dục có phương pháp và nghệ thuật sư phạm,biết cách ứng xử sư phạm khéo léo Và người học sinh, với tưcách là chủ thể tự giáo dục, tự đào tạo phải tự giác, tích cực, tự vậnđộng, phát triển không ngừng dưới vai trò chủ đạo của nhà giáodục
g) Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa giáodục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội Nhà trường, gia đình và xã hội là những môi trường Giáo dục quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ
Sự phát triển nhân cách luôn bị chi phối bởi những tác động, ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp, thường xuyên, tự phát và có mục đích của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường cũng như vai trò của gia đình, ảnh hưởng giáo.dục của ông bà, cha
mẹ, anh chị em và những tác động từ nhiều phía trong môi trường xã hội Những tác động phức hợp đó đã tạo nên sức mạnh tổng hợp thúc đẩy sự hình thành và phát triển các phẩm chất, các nét tính cách cần thiết phù hợp với những yêu cầu khách quan của đời sống xã hội với mỗi cá nhân Trong những ảnh hưởng tác động phức hợp giữa nhà trường gia đình và xã hội đó tác động giáo dục có mục đích có kế hoạch, có nội dung, có phương pháp của nhà trường nói chung, của giáo viên
Trang 36chủ nhiệm lớp nói riêng giữ vai trò chủ đạo Giáo dục gia đình vàcác lực lượng giáo dục của các đoàn thể xã hội cũng có vị trí, tầmquan trọng đặc biệt:
- Vai trò chủ đạo của giáo dục nhà trường được thể hiện ở chỗ nó định hướng cho toàn bộ quá trình hình thành, phát triển nhân cách của học sinh mà gia đình và xã hội cùng kết hợp thực hiện Mặt khác, hoạt động giáo dục của nhà trường còn khai thác
có chọn lọc những tác động tích cực của giáo dục gia đình, xã hội, đồng thời góp phần điều chỉnh hoặc ngăn chặn những ảnh hưởng, tác động tiêu cực của một số gia đình và môi trường xã hội
- Vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục gia đình được thể hiện ngay từ khi đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời Sự giáo dục gia đình là cơ sở là nền tảng cho giáo dục nhà trường và giáo dục
xã hội Truyền thống gia đình, nề nếp gia phong và lối sống văn hóa của các thế hệ trong gia đình, trong nội tộc, có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển nhân cách của trẻ em
Giáo dục xã hội với các hình thức tổ chức hoạt động phongphú, đa dạng trong cuộc sống có tác dụng bổ sung, hỗ trợ và nối tiếpcủa quá trình giáo dục trong nhà trường cũng như các hình thứcgiáo dục của gia đình đối với sự hình thành, phát triển năng lực vàtính cách của trẻ em
Để thực hiện việc kết hợp các lực lượng giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hộ.i, nhà trường cần phát huy vai trò chủ đào trong việc tổ chức, điều khiển các loại hình hoạt động, thường xuyên kết hợp chặt chẽ với giáo dục gia đình và giáo dục
xã hội Ngược lại, gia đình và xã hội cũng cần chủ động kết hợp với nhà trường theo định hướng giáo dục chung của ngành giáo
Trang 37dục và tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để hạn chế đến mức tối
đa những ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động giáo dục của nhàtrường
h) Đảm bảo tính vừa sức và tính cá biệt trong quá
dục
Trong lí luận giáo dục hiện đại, cá biệt hóa quá trình giáo dục
là một trong những xu hướng góp phần quan trọng nhằm đổi mới, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục trong các loại hình trường Điều đó có nghĩa là sự phân hóa trình độ phát triển nhân cách ở các đối tượng khác nhau theo các lứa tuổi khác nhau, thậm chí ngay trong cùng một độ tuổi là quy luật tất yếu khách quan Vì thế mọi tác động có phương pháp sư phạm của nhà giáo dục phải phù hợp với đặc điểm đối tượng, phải vừa sức, phù hợp với đặc điểm nhân cách đặc điểm cá biệt phù hợp với nhịp độ phát triển riêng của từng cá nhân học sinh
Tính vừa sức, tính cá biệt trong giáo dục đòi hỏi việc xác định yêu cầu nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức quá trình giáo dục phải phù hợp với lứa tuổi và đặc điểm phát triển nhân cách của đối tượng giáo dục Mặt khác, để quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao, nhà giáo dục cần quan tâm tới những đặc điểm tâm sinh lí, những nét cá tính, những hoàn cảnh riêng tư để kịp thời có các biện pháp giáo dục cá biệt phù hợp Chính vì vậy, trong quá trình giáo dục việc cá biệt hóa, cá nhân hoá hoạt động giáo dục vừa là phương pháp vừa là nghệ thuật sư phạm của người giáo viên nhằm đảm bảo cho những tác động giáo dục: vừa thúc đẩy sự phát triển nhân cách chung của cả tập thể, đồng thời lại có tác dụng thúc đẩy sự phát triển ở mức độ cao đối với mỗi cá nhân học sinh
Trang 38Các nguyên tắc giáo dục cơ bản trên đây không tách biệt mà
có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau, nó bổ sung, hỗ trợ, có quan hệ mật thiết với nhau Trong quá trình giáo dục, để đạt được chất lượng và hiệu quả giáo dục, người giáo viên với tư cách là chủ thể thống nhất các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường cần thực hiện các nguyên tắc giáo dục một cách linh hoạt, sáng tạo tùy theo mục đích, yêu cầu giáo dục Đặc biệt, trong những tình huống giáo dục cụ thể với các đối tượng giáo dục cá biệt thì càng đòi hỏi người giáo viên phải áp dụng các nguyên tắc giáo dục một cách khôn ngoan khéo léo và sáng tạo
Trang 39CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Hãy phân tích những quy luật của quá trình giáo dục Thử vậndụng các quy luật giáo dục để giải quyết một tình huống sư phạm cụthể
2 Bằng lí luận và thực tiễn giáo dục, hãy chứng minh luậnđiểm cho rằng: Quá trình giáo dục là một quá trình phát triển biệnchứng
3 Trình bày hệ thống các nguyên tắc giáo dục và mối quan hệgiữa các nguyên tắc đó
4 Cho ví dụ về việc thực hiện các nguyên tắc giáo dục thông quaviệc giải quyết một tình huống sư phạm cụ thể
Trang 40CHƯƠNG XVI NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP
VÀ CÁC CON ĐƯỜNG GIÁO DỤC
I - Nội dung giáo dục
Nội dung giáo dục là một nhân tố cơ bản của quá trình giáo dục,
nó tạo nên nội dung hoạt động giáo dục của giáo viên và hoạtđộng tự giáo dục, tự rèn luyện của học sinh nhằm góp phần thực hiệnmục đích, mục tiêu giáo dục - đào tạo Đó là hệ thống những trithức những thái độ, hành vi và thói quen liên quan đến nhữngchuẩn mực xã hội về đạo đức lao động, về thể chất và thẩm mĩ cầngiáo dục cho học sinh
1.Những nguyên tắc xây dựng nội dung giáo dục Nội dung giáo dục trong nhà trường phổ thông được xâydựng theo các nguyên tắc cơ bản sau:
a) Nội dung giáo dục trong nhà trường phải phù hợpvới mục đích, mục tiêu giáo dục - đào tạo
Trong quá trình giáo dục, mục đích, mục tiêu giáo dục có chức năng định hướng trong việc xây dựng nội dung giáo dục -đào tạo nói chung cho các ngành học, bậc học, các loại hình trường Đó là sự cụ thể hóa, chi tiết hóa về những yêu cầu giáo dục các phẩm chất, hành vi, thói quen về đạo đức, về lao động, thể chất và văn hóa thẩm mĩ phù hợp với những chuẩn mực do
xã hội quy định và được thực tiễn cuộc sống thừa nhận, đáp ứng với yêu cầu của mục đích, mục tiêu giáo dục - đào tạo trong các loại hình trường
Vì vậy, nội dung giáo dục luôn bị chi phối, định hướng bởi