1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

De cuong tot nghiep DH Su 2

7 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 71,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các thành tựu điêu khắc và hội hoạ của nền mĩ thuật chùa tháp Vnam, cho đến ngày nay triết lí phật giáo với tinh thần bao dung nhân hoà, khuyến thiện vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc tron[r]

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN TỐT NGHIỆP LỊCH SỬ VIỆT NAM

CỔ TRUNG ĐẠI

Câu 1: Kể tên và tóm tắt những truyền thuyết tiêu biểu

thời văn lang âu lạc.

1 Lạc long Quân và Âu cơ:

Vua đầu nước ta là Kinh Dương Vương cháu bốn đời Viêm

Đế Dương cháu bốn đời Viêm Đế Thần Nông (vị thần coi về

nông nghiệp của Trời) Kinh Dương Vương lấy thần Long

nữ sinh ra Lạc Long Quân Lạc long quân đi tuần thú gặp Âu

Cơ ở động Lăng Xương kết làm vợ chồng, đưa về núi Nghĩa

Lĩnh Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng nở thành trăm con

trai Khi các con lớn khôn, Lạc Long Quân nói: "Ta giống

Rồng, nàng giống Tiên không thể ở lâu với nhau được” bèn

chia 50 con cho Âu Cơ lên núi, Lạc Long Quân dẫn 49

người con xuống biển, phong cho con trưởng làm Hùng

Vương nối ngôi

Hùng Vương lên ngôi Vua, đặt quốc hiệu là Văn Lang, đóng

đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Phú Thọ)

Các đời Vua sau đều gọi là Hùng Vương, có 18 đời vua

Hùng Vương(*) Đặt các tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng

võ gọi là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái

Vua gọi là Mỵ Nương, các quan nhỏ gọi là Bồ Chính

Nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng là nhà nước phôi

thai đầu tiên của Việt Nam, còn rất đơn giản, mặc dù mới

hình thành nhưng đã cố kết được lòng người Từ tình cảm

cộng đồng dẫn đến ý thức cộng đồng, thể hiện rõ tình đồng

bào ruột thịt Họ bước đầu hiểu được mối quan hệ giữa thiên

nhiên và con người, thấy được sức mạnh của cộng đồng

trong việc làm thủy lợi, trao đổi sản phẩm và đấu tranh giữ

gìn bản làng, đất nước

Thời đại Hùng Vương có hai truyền thuyết được loan truyền mãi trong dân gian thể hiện rõ tinh thần đoàn kết của cộng đồng các dân tộc Việt

(Ngôi Hùng Vương cha truyền con nối 18 đời, kéo dài hơn 2000 năm làm cho nhiều người hoài nghi và có nhiều cách giải thích khác nhau Trong truyền thuyết con số 9 và bội số của 9 (18,36 99 ) thường mang tính chất biểu tượng (số thiêng) chứ không có ý nghĩa toán học Phải chăng 18 đời vua cũng có ý nghĩa là nhiều đời, truyền nối lâu dài?)

2 Truyền thuyết Thánh Gióng:

Về thời Hùng Vương thứ 6, nước Văn Lang bị giặc Ân xâm lược Vua cho sứ giả đi rao người tài giỏi ra giúp nước Ở làng Phù Đổng, bộ Võ Ninh có một cậu bé 3 tuổi, nghe tiếng

sứ giả bèn vươn thành người cao lớn, xin vua rèn ngựa sắt, nón sắt, roi sắt để đánh giặc Đuổi xong giặc Ân chàng cưỡi ngựa bay lên trời Vua Hùng phong là Phù Đổng Thiên Vương, lập miếu thờ trên đỉnh Nghĩa Lĩnh

3 Sơn Tinh – Thuỷ Tinh:

Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đều đến cầu hôn công chúa Ngọc Hoa con Vua Hùng 18 Nhà Vua hẹn ai đem lễ vật đến trước

sẽ được lấy công chúa Sơn Tinh nhờ có sách ước và các thần thổ địa giúp sức nên sớm có lễ vật đem đến trình Vua Vua bèn gả Ngọc Hoa cho Sơn Tinh đem về núi Tản Viên Thuỷ Tinh đến sau thất bại, liền hô phong hoán vũ đánh đuổi Sơn tinh Sơn Tinh huy động các loài dã thú đánh lui các loài thuỷ tộc, và làm cho núi luôn luôn cao hơn nước Thuỷ tinh thua nhưng vẫn chưa nguôi tức giận, mỗi năm dâng nước đánh Sơn Tinh một lần, gây ra lũ lụt

4 Bánh trưng, bánh dày:

Hùng Vương thứ 6 muốn chọn con hiền cho nối ngôi, mới ban lệnh thi cỗ Các hoàng tử ra sức tìm kiếm sơn hào hải vị bày biện Riêng lang Liêu mẹ mới mất không đi xa được, chàng nghĩ cách dùng gạo nếp thơm chế ra bánh dày, bánh

Trang 2

chưng Vua thấy Lang Liêu hiếu thảo siêng năng, sáng chế

ra hai loại bánh quí bèn truyền ngôi cho làm Vua Hùng thứ

7

Câu 2: Nêu các sự kiện quan trọng trong thời Lý (1010 –

1225)

- Năm 1010 sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) dời

kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La(Hà Nội) và đổi

tên Đại La thành Thăng Long

Trong Đại việt sử kí toàn thư có viết: “Vua tự tay viết

chiếu truyền rằng “Thành Đại La đô cũ của Cao Vương, ở

giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính

giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước Vùng

này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa,

dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi

tốt phồn thịnh Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa,

thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi

thượng đô kinh sư mãi muôn đời Trẫm muốn nhân địa lợi

ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?"

- Năm 1042 Ban hành bộ luật hình thư, đây là bộ luật thành

văn đầu tiên của lịch sử Việt Nam Theo sử cũ ghi, luật pháp

thời Lý quy định chặt chẽ việc bảo vệ nhà vua và cung điện,

xem trọng việc bảo vệ của công và tài sản của nhân dân,

nghiêm cấn việc mổ trâu bò, bảo vệ sản xuất nông nghiệp

Những người phạm tội bị xử phật rất nghiêm khắc

- 1054 Vua Lý Thánh Tông đặt tên nước là Đại Việt

- Năm 1075 Tổ chức kì thi tuyển quan lại đầu tiên

- Năm 1076 Nhà Lý lập Quốc Tử Giám, trường đại học đầu

tiên của nước ta

- Năm 1075 – 1077 nhà Lý tổ chức kháng chiến đánh bại

quân tống xâm lược

Cuộc kháng chiến chống Tống được chia làm 2 giai đoạn: + Giai đoạn đầu (1075) Do sớm phát hiện được âm mưu xâm lược của nhà Tống, vua tôi nhà Lý đã chủ động tiến hành các biện pháp chuẩn bị đối phó Thái Úy Lý Thường Kiệt được cử làm người chỉ huy, tổ chức cuộc kháng chiến với chủ trương độc đáo, sáng tạo “tiến công trước để tự vệ” ông thường nói: “Ngồi yên đợi giặc, không bằng đem quân đánh trước để chặn thế mạnh của giặc” Sau khi tiêu diệt các điểm trọng yếu của giặc ở Châu Ung, Châu Khâm, Châu Liêm, Ung châu thì rút quân về lập phòng tuyến chặn địch ở trong nước

+ Giai đoạn thứ 2 (1076-1077) Tại phòng tuyến Như Nguyệt quân dân nhà Lý đã tổ chức kháng chiến chống lại các cuộc tấn công của nhà Tống làm cho quân địch “mười phần chết đến năm, sáu” lâm vào tình thế hết sức khó, khăn, tuyệt vọng giữa lục ấy Lý Thường Kiệt chủ động kết thúc chiến tranh bằng biện pháp mềm dẻo, thương lượng, đề nghị

“giảng hoà” quân Tống chấp nhận và nhanh chóng rút về nước, cuộc kháng chiến chống Tống hoàn toàn thắng lợi

- Kinh tế dưới thời Lý khá phát triển + Về nông nghiệp nhà Lý quân tâm tới việc sản xuất của nhân dân, khuyến khích việc khai khẩn đất hoang, tiến hành đào kênh mương, khai ngòi, đồng thời cho đắp đê phòng lũ ngập lụt cho ban hành luật lệnh cấm giết trâu bò để bảo vệ sức kéo cho nông nghiệp- Vào thời Lý GD và khoa cử bước đầu phát triển, văn học nghệ thuật có nhiều nét đặc sắc, mang nhiều ảnh hưởng Phật giáo, có nhiều nhân vật lịch sử:

Lý Thái Tổ, Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, Sư vạn Hạnh

Câu 3: Lý do xâm lược của thực dân pháp:

Trang 3

Sau các cuộc phát kiến địa lý thế kỉ XV - XVI, chủ

nghĩa tư bản phương tây ráo riết chạy đua sang phương

Đông, tìm cách xâm lược thị trường thuộc địa Đến giữa thế

kỉ XIX, một loạt các nước Châu Á và Đông Nam Á ( trừ NB

và Thái Lan) lần lượt bị bọn thực dân xâm chiếm biến thành

thuộc địa hoặc nửa thuộc địa Việt Nam là một nước có vị trí

chiếm lược về vị trí địa lý ( của ngõ thông thương giữa 2 đại

dương là Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương), ở việt nam

đang tồn tại chế độ phong kiến, nơi đây có tài nguyên

khoáng sản phong phú, đông dân cư, có điều kiện thuận lợi

phát triển kinh tế (giàu nguyên liệu, nhân công rẻ, thị trường

lớn ) như vậy với những điều kiện trên Viêt Nam ngang

nhiên trở thành miếng mồi ngon béo bở cho thực dân Pháp

Trong cuộc chạy đua sang phương Đông tư bản Pháp

đã để ý đến Việt Nam từ rất sớm, từ TK XVII - XVIII thông

qua hội truyền giáo Ki tô ở nước ngoài của Pháp Đặc biệt

sau cuộc chiến 7 năm với tư sản Anh (1756 - 1763) Pháp bị

bại trận, nhiều thuộc địa bị Anh chiếm mất như Ấn Độ,

Ca-na-da, nên Pháp càng muốn có thêm nhiều thuộc địa ở Viễn

Đông

Nhân cơ hội các vua Nguyễn cấm đạo, giết những người

giáo sĩ ( trong đó có những giáo sĩ người Pháp), bế quan toả

cảng, không chấp nhận quốc thư, làm nhục quốc thể nước

Pháp Chính quyền Pháp đã tạo cớ để gây chiến với Việt

Nam, Pháp kêu gọi triều đình Tây Ban Nha kết hợp hành

động tấn công nước ta bằng vũ lực

chiều 31/8/1858 liên quân Pháp - Tây Ban Nha kéo

quân dàn trận trước cửa biển Đà Nẵng

Sáng 1/9/1858, 3000 quân Pháp và Tây Ban Nha nổ súng đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà => chính thức xâm lược Việt Nam

Câu 4: Ý nghĩa của mốc 1884:

Sự kiện ngày 6/6/1884 Triều đình Huế và Pháp ký Hiệp ước tại Huế Hiệp ước này còn được gọi là “Hiệp ước Patơnốt” Đại diện triều đình Huế là: Thượng thư Bộ Lại, kiêm phụ chánh thứ nhất Nguyễn Văn Tường; Thượng thư Bộ Hộ Phạm Thận Duật; quyền Thượng thư Bộ Công Tôn Thất Phan Đại diện Pháp là Giuyn Patơnôtơrơ (Jules Patenôtre), đặc phái viên của Chính phủ Pháp bên cạnh hoàng đế Trung Hoa

Hiệp ước gồm 19 điều khoản Nội dung bao trùm là: Nước

An Nam thừa nhận và chấp nhận nền bảo hộ của nước Pháp Nước Pháp sẽ thay mặt nước An Nam trong mọi quan hệ đối ngoại Người An Nam sống ở nước ngoài sẽ đặt dưới sự bảo

hộ của nước Pháp Năm 1884 cũng là năm đánh dấu việc nhà Nguyễn kí hoà ước với Pháp, công nhận sự bảo hộ của Pháp Nước Việt Nam trở thành thuộc địa của nước Pháp, đánh dấu sự thất bại và đầu hàng của nhà nguyễn thừa nhận sự thống trị của thực dân Pháp, chia nước ta thành 3 kỳ với 3 chế độ chính trị khác nhau, vừa xây dựng hệ thống chính quyền thuộc địa, vừa duy trì chính quyền phong kiến và tay sai làm chổ dựa Mọi quyền hành đều trong tay người Pháp, với âm mưu thâm độc thực hiện chính sách chia để trị, chính sách ngu dân, chính sách độc quyền về kinh tế, ra sức vơ vét tài nguyêm bóc lột sức lao động rẻ mạt của người bản xứ, cùng nhiều hình thức thuế khoá năng nề, vô lý Việc kí hiệp ước

Trang 4

năm 1884 này mang ý nghĩa như một bản khai tử đối với

chủ quyền đối ngoại của vua nước Nam

Câu 5; Một số điều kiện tiền đề của nền văn minh Đại

Việt:

Nguồn gốc của nền văn minh Đviệt là nền văn minh Văn

lang – Âu lạc trong thời Bắc thuộc một bộ máy chính trị

theo mô hình hán – đường được áp đạt lên đất nước ta từ

TW – địa phương Hình thành những thiết chế chính trị mới

chưa từng có ở thời Vlang – Âu lạc, hình thành một quan

niệm thống trị mới

Các triều đại Tquốc du nhập chữ hán, và một số lễ nghi vào

đời sống sinh hoạt của người dân Việt

Đến thời kì chính quyền đô hộ nhà Đường phát triển hơn

nữa việc GD nho học, nhiều người việt đỗ đạt làm quan (Lý

Tiến, Lý Cầm, Khương Công Phụ, Khương Công Phục …)

Đạo phật được du nhập và được truyền bá ngày càng rộng,

Lão giáo theo di dân hán du nhập dần dần hoà vào các tín

ngưỡng dân gian cổ truyền của người Việt

Nhân dân ta vừa gìn giừ những di sản văn hoá, kinh tế của tổ

tiên; vừa tiếp thu, tiếp biến các giá trị văn hoá ngoại lai cần

thiết cho việc xây dựng đất nước Phát triển nông nghiệp

dùng cày với lưỡi cày sắt làm thuỷ lợi, trồng nhiều giống

lúa, chăn nuôi gia súc gia cầm, dùng phân bón ruộng… phát

triển các nghề thủ công luyện sắt, đúc đồng, làm gốm tráng

men, dệt vải, dệt lụa, làm giấy, làm đồ trang sức, làm gạch

gói… phát triển ngành xây dựng dưới ảnh hưởng sâu sắc của

nghệ thuật kiến trúc ấn độ và trung quốc

Điều kiện tiền đề qua trọng nhất đó là nhân dân ta đã giành được độc lập ở thế kỉ X và bắt đầu bước vào xây dựng đất ước giàu mạnh noi theo mô hình trung hoa

Câu 6: Biểu hiện của trình độ văn minh Đviệt về mặt tổ chức bộ máy nhà nước.

Công cuộc xây dựng nhà nước một tiêu chí của Vminh, được bắt đầu từ thế kỉ X khi nhân dân ta giành độc lập, đạt trình độ tương dối hoàn thiện, ổn định ở cuối thế kỉ XV Nhà nước Đviệt là nhà nước quân chủ chuyên chế và phong kiến quan liêu, phù hợp với nền kinh tế nông nghiệp làng xóm đương thời

Nhiều vị vua Đviệt biết gắn liền các triều đại của mình với

sự tồn vong của tổ quốc, phần lớn các vua đều có học thức Việc tổ chức các đơn vị hành chính đạt trình độ tập quyền ngày càng cao Việc phân chia các đơn vị hành chính từ TW – địa phương thể hiện sự thống nhất của quốc gia Đviệt và tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý đất nước

Chính quyền địa phương dần dần được hoàn thiện gồm 3 bộ phận chuyên trách: quân sự, hành chính, tư pháp (binh, chính, hình)

Quan lại các cấp từ TW – địa phương đều có học thức, đỗ đạt (cử nhân, tiến sĩ) việc tuyển chọn quan chức nhà nước chủ yếu được thực hiện qua thi cử

Quan tâm đến cuộc sống của nhân dân là một nét đặc sắc của chế độ quân chủ Đviệt… sự đóng góp to lớn của nhân dân trong các cuộc kháng chiến thời Lý, Trần, Lê là nền tảng của tư tưởng “thân dân”, “trọng dân” của các triều đại này Xét về mặt Vminh, nhà nước Đviệt là một nhà nước có tổ chức ngày càng chặt chẽ và hoàn chỉnh từ TW – địa phương

Trang 5

Câu 7; Biểu hiện của trình độ Vminh Đviệt trong lĩnh vực

GD.

Khi nhà nước Đviệt tự chủ được thành lập thì chữ hán trở

thành chữ viết chính thức, được sử dụng trong ghi chép văn

bản hành chính, chép kinh phật, trong học tập, sáng tác văn

thơ, bình luận chính trị

Cữ Nôm ra đời trên cơ sở chữ hán, được sử dụng chủ yếu để

ghi tên hoặc sáng tác văn học

Từ thời Lý, Trần, Lê GD nho học được nhà nước xác lập và

phát triển, xây dựng văn miếu đặt quan lại, trông coi việc

GD, đặt lệ Tam khôi, lệ “vinh quy bái tổ” dựng bia tiến sĩ, tổ

chức thi Hương, thi hội, thi đình theo định kì

Trường công được mở đến các phủ, huyện mọi người dân

(trừ một số trường hợp như kẻ phạm tội, ả đào …) đều được

đi học, đi thi, hình thành truyền thống hiếu học “tôn sư trọng

đạo của nhân dân ta”

Việc luyện tập võ nghệ trở thành một nội dung của GD Nhà

nước mở các khoa thi võ, chọn người tài giỏi làm chỉ huy

quân sự

Chế độ koa cử ngày càng được tổ chức chặt chẽ và quy củ

hơn

Nội dung GD dựa chủ yếu vào “tứ thư, ngũ kinh”, nặng về

thơ phú Bắc sử nên có nhiều hạn chế Tuy nhiên với ý thức

dân tộc cao đã có hàng loạt nhà nho đỗ đạt hay không đỗ

đạt, làm quan hay làm thầy, biết tiếp nhận những giá trị của

nho giáo kết hợp với truyền thống và khả năng của dân tộc,

làm rạng danh đất nước bằng thơ văn, triết học, bằng nhưng

đóng góp vào sự nghiệp ngoại giao, quân sự, xây dựng chính

quyền …

Dù xuất phát từ nho học, dù mục tiêu của giáo dục là đoà tạo quan lại sự phát triển của GD Đviệt đã góp phần nâng cao dân trí, nâng cao ý thức về đạo lí làm người, góp phần quan trọng vào sự nghiệp GD lòng yêu nước thương nòi của nhân dân ta

Câu 8; Ảnh hưởng của phật giáo đối với đời sống tinh thần của người Việt Nam.

Trong bước đường phát triển, phật giáo đã được truyền bá tới Vnam Trải qua quá trình lịch sử, phật giáo đã có sự ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống tinh thần của người Vnam Ngay từ thế kỉ II đầu công nguyên những nhà sư Ấn Độ đi theo các thuyền buôn đã xó mặt tại Giao Châu Họ vừa nghiên cứu kinh phật vừa truyền đạo và đã được đông đảo nhân dân tin theo Trong đó có cả một sĩ phu Trung Quốc đến Giao Châu lánh nạn, nhiều chùa tháp được dựng lên và Luy Lâu mau chóng trở thành trung tâm phật giáo rất phồn thịnh

Đạo phật chủ trương pháp tính bình đẳng (lời phật tổ “con người có khác nhau là ở nơi tên gọi, là dáng hình, chứ xương thịt thì ai cũng giống ai Không thể có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ như nhau, không thể có đẳng cấp trong giọt nước mắt có chung vị mặn”) phật khuyên mọi người tiết chế dục vọng, có tinh thần vô ngã vị tha, làm điều lành, tránh sự ác, phật là biểu tượng của sáng suốt và từ bi

Thuyết nhân quả nghiệp báo của phật giáo phù hợp với tín ngưỡng dân gian Việt về việc ông trời trừng phạt kẻ ác, cứu giúp ban thưởng người lành (gieo gió gặp bão, ác giả ác báo,

ở hiền gặp lành…)

Trang 6

Thuyết luân hồi cũng phù hợp với quan niệm linh hồn tồn tại

sau khi xác thân tiêu hoại, phù hợp với sự nhận xét về tuần

hoàn của cỏ cây, của cư dân nông nghiệp

Thuyết thập nhị nhân duyên chủ yếu dùng để cắt nghĩa vì

sao kiếp người lại khổ, vì sao mỗi người lại có một thân

phận khác nhau Và những yếu tố này đã góp phần vào có ý

nghĩa vào việc dạy đức người

Phật giáo được nhân dân ta nhiệt thành đón nhận phù hợp

với bản chất và truyền thống nhân ái, ưa chuộng hoà bình,

lòng khao khát sống bình đẳng Bốn ngôi chùa lớn đầu tiên

thờ phật lại đồng thời thờ 4 nữ thần nông nghiệp (chùa Pháp

Vân – Mây thờ Bà Dâu, Chùa Pháp Vũ – mưa thờ Bà Đậu,

chùa Phấp Lôi – Sét thờ bà Đàn, Bà Nành, chùa Pháp điện –

chớp thờ Bà Tướng) đó là kết quả của Phật giáo hoà nhập

với tín ngưỡng cổ truyền của nhân dân ta

Đức phật trong chuyện cổ Vnam là ông Bụt, hiện thân của

sự hiền lành đức độ, luôn cứu giúp con người trong đau khổ,

khó khăn hoạ nạn (từ Buddha- giác ngộ, được người Việt

gọi là Bụt, phật đà, phật) các ngôi chùa không chỉ là nơi lễ

bái mà còn là nhà trường, nơi tổ chức hội hè

Các nhà sư vừa là người dạy chữ, dạy học, vừa là người thầy

thuốc được dân chúng nể trọng Thiện cảm đầu tiên của

nhân dân ta đối với Phật giáo trước hết là từ những hình ảnh

cụ thể của các nhà sư Sư có nếp sống rất gần giũ với đông

đảo nhân dân, sự cạo trọc đầu trần nắng gió, không mũ mão

ô lọng, sự mạc áo Cà sa (Kasaya – gồm nhiều mảnh ghép

lại) bằng vải thô bạc, nấu sòng, giống tấm áo vá trăm mảnh

của dân nghèo, không áo gấm lụa là như quan lại, mỗi ngày

sư chỉ ăn một bữa vào giờ ngọ, quanh năm râu dưa đạm bạc

như bữa cơm của người nghèo Sự không uống rượu, không

sàm sỡ, sự đi đến mọi nơi, vượt đường xa bằng chân trần lội

bộ , lam lũ như người dân khác hẳn bọn quan lại đô hộ bắt dân làm phu khiêng, phu canh …

Nhà sư lo lỗi lo của dân, cầu nguyện cho sự an bình, đến với người dân chân thành và nghiêm trang, gần giũ và đứng đắn, quá trình truyền đạo cũng là quá trình nhập thế rất tích cực

Từ thế kỉ X khi nước ta giành độc lập, phật giáo đã trở thành công cụ trị nước của tầng lớp quý tộc cầm quyền Phật giáo được coi là quốc giáo để làm thế đối trọng với nho giáo trong các thế kỉ X – XV điều này phù hợp với ý nguyện của nhân dân Vì trước đó trong suốt thời Bắc thuộc nho giáo được truyền bá vào nước ta dưới sức ép của thế lực xâm lược

Giáo lí nhà phật có nhiều điểm tương đồng với đạo lí sống

cổ truyền của nhân dân ta

Nhà phật gần gũi với tập tục thờ tổ tiên của nhà dân, khích lệ lòng hiếu thảo (lễ vu lan – báo hiếu), nhà chùa thỏ phật nhà dân thờ tổ tiên , bàn thờ khác nhau nhưng có thể đặt cạnh nhau, thậm chí hợp thành một, bệ cao nhất thờ phật, bệ thấp hơn thờ ông bà Trong nhà dân có bàn thờ phật, trong chùa

có thể đặt bài vị thờ người thân, dâng nhang đèn cúng phật cũng giành vành hương thưởng nhớ người thân Nhaf phật khuyên con người phải biết yêu thương cha mẹ (bất hiếu là muôn lần ác/ báo hiếu là muôn lần thiện)

Tinh thần bác ái của đạo phật gần gũi với truyền thống vị tha nhân ái của nhân dân “thương người như thể thương thân”,

“lá lành đùm lá rách”, “bầu ơi thương lấy bí cùng”

Chùa là nơi lánh nạn, nơi xám hối tội lỗi, nơi an ủi tinh tần khi đau khổ, tuyệt vọng … chùa là nơi hội hè, “vui như hội chùa” cảnh chùa hữu tình, cổng chùa rộng mở, gần gũi với

Trang 7

dân gian, chùa là nơi cầu an khi sống, cầu siêu khi chết,

người dân lúc gặp hoạn nạn luôn cầu mong “nghiêng vai,

ngửa vái phật trời / đương cơn hoạn nạn cứu người trầm

luân”

Phật dạy làm người bằng những triết lí thâm trầm “sai lầm

lớn nhất của đời người là đánh mất mình/ phá sản lớn nhất

của đời người là tuyệt vọng” “đáng khâm phục nhất của đời

người là đứng lên sau khi ngã/ món nợ lớn nhất của đời

người là tình cảm”

Tác dụng đoàn kết của phật giáo thể hiện trước tiên ở tinh

thần bình đẳng, đạo phật phủ nhận………

………

………

………

………

Trong triều đình (Đỗ Thuận, Mãn Giác, khuông Việtđại sư

Ngô trung Lưu …) vì bấy giờ các nhà sư là người có học,

thông hiểu sử sách và những bài học trị nước, vì phật giáo

hàm chứa tư tưởng gắn bó được mọi người sử sách cũng đã

ghi nhận lại những câu chuyện cảm động về vua Lý Thánh

Tông hành động từ bi bác ái như (phát thêm chăn chiếu,

quần áo cho tù nhân, khoan giảm hình luật, xoá thuế, giảm

thuế, chẩn cấp khi dân đói, mất mùa …) và khi đánh giặc

thắng trận cho dựng chùa đúc chuông, tô tượng, ban ruộng

đất cho nhà chùa…

Tư tưởng siêu thế của đạo phật được tầng lớp quí tộc thời

Lý, Trần tiếp thu như là một sự siêu việt “không bị danh lợi

tầm thường của thế gian quyến rũ” Vua trần Thái Tông làm

vua mà có tư ưởng siêu thế nên mới có câu nói “Ta xem ngai

vua như chiếc giày rách, bỏ lúc nào cũng được”

Như vậy người có tư tưởng siêu thế dù có làm quan hay làm vua cũng sẽ không cậy quyền cậy thế ức hiêp nhân dân Nhiều vị vua thời Lý, Trần sau khi truyền ngôi đã xuất gia tu hành, thập chí lập ra những phái thiền tông mới như (Lý Thánh Tông – phái Thảo Đường, Trần Thánh Tông – phái Trúc Lâm Yên Tử) điều đó cho thấy ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống tinh thần của tầng lớp nhân dân Việt rất sâu rộng Trong cấc phái hệ phật giáo ở nước ta phái thiền tông phát triển mạnh và có nhiều nét đặc sắc

Một biểu tượng của những ảnh hưởng đó là sự hưng khởi của một nền văn học nghệ thuật phật giáo trong các thế kỉ X – XV đậm đà tinh thần dân tộc Con người Vnam tiếp thu ở phật giáo trí tuệ và từ bi, tình thương và tinh thần khuyến thiện, ước mong giải thoát tâm hồn, khát vọng hoà bình, bình đẳng và hạnh phúc Chính lý tưởng đạo đức mà tinh thần Vnam tiếp thu từ phật giáo đã tạo nên chất nhân văn sâu sắc trong tác phẩm thơ văn Lý – Trần

Trong các thành tựu điêu khắc và hội hoạ của nền mĩ thuật chùa tháp Vnam, cho đến ngày nay triết lí phật giáo với tinh thần bao dung nhân hoà, khuyến thiện vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống tinh thần người Vnam đã hoà hợp với bản sắc dân tộc Vnam và nền tảng đạo đức của người Việt

để tạo nên một nét văn hoá không thể thiếu được của dân tộc việt nam./

Ngày đăng: 02/05/2021, 00:19

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w