1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

4 bài văn mẫu phân tích tác phẩm Người lái đò sông Đà của nhà văn Nguyễn Tuân

15 10 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 118,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dù chưa nghe nói đến cách mạng mà năm trăm thanh niên chèo đoàn thuyền hàng trăm chiếc xuôi về Hà Nội chở thóc lên Hòa Bình cho Tây đã không chịu được cảnh mưa trên nguồn giội xuống đầu,

Trang 1

VĂN MẪU LỚP 12

4 BÀI VĂN MẪU PHÂN TÍCH TÁC PHẨM NGƯỜI LÁI ĐÒ

SÔNG ĐÀ CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN TUÂN

BÀI MẪU SỐ 1:

Một trong những nhà văn tùy bút nổi tiếng của Việt Nam là Nguyễn Tuân Với nhiều tác phẩm văn xuôi hiện đại nổi tiếng, ông được coi là cây bút xuất sắc Và tác phẩm thể hiện

rõ trình độ nghệ thuật bậc thầy của ông là tùy bút "Sông Đà"

"Sông Đà" được viết ở thể tùy bút Tùy bút là bút kí ghi chép về người thật việc thật,

in đậm cảm xúc chủ quan của người viết và đậm chất trữ tình Cách phóng bút bộc lộ cảm xúc một cách tự do, phóng túng, biến hóa linh hoạt, ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu, nhiều cách so sánh liên tưởng Tùy bút "Sông Đà" được viết năm 1958 trong thời kỳ miền Bắc đang đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Với mục đích kiếm tìm chất vàng trong thiên nhiên và chất vàng mười qua thử lửa trong tâm hồn con người lao động, tùy bút là sự kết tinh của nhiều truyện ngắn độc đáo Và "người lái đò sông Đà" là một trong số ấy

"Người lái đò Sông Đà" được viết năm 1960 Với nội dung miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc và vẻ đẹp của người lao động Tây Bắc, hình ảnh con sông Đà và người lái đò trên sông được tác giả tập trung khai thác

Nội dung chính của tác phẩm "người lái đò sông Đà" là hình tượng sông Đà và hình tượng người lái đò Hình tượng sông Đà nổi bật và xuyên suốt tác phẩm Được miêu tả như một nhân vật thực thụ trong trang văn của Nguyễn Tuân, sông Đà hiện lên vừa hung bạo, vừa trữ tình, có lai lịch rõ ràng Ngay từ hai câu thơ đề từ, tác giả đã cho người đọc thấy được điều đó Tác giqr miêu tả sông Đà rất kĩ càng Từ vách đá bờ sông, đoạn ghềnh Hát Lóng, hút nước sông Đà, đá sông Đà rồi đến cảnh sắc sông Đà ở nhiều phương diện cùng với quang cảnh hai bên bờ sông Tất cả những chi tiết liên tưởng ấy đã tạo nên nhân vật Sông Đà hung hãn nhưng trữ tình, hoang sơ lại thơ mộng Một dòng sông nham hiểm như

kẻ thù số một của con người nhưng lại đẹp như một bức tranh thủy mặc Ngoài sự dữ dội hung ác của cửa sông là cảnh đi thuyền hoang sơ thơ mộng mang nét cổ kính thiêng liêng Sông Đà mang một vẻ đẹp của hồn thiêng sông núi mà thiên nhiên ban tặng

Bên nền của hình tượng Sông Đà là ông lái đò Lai Châu Ông hiện lên là một con người được tôi luyện qua lao động, đúng chất "vàng mười qua thử lửa" Là người từng trải, hiểu biết và thành thạo trong nghề lái đò, ông hiện lên như một ngưòi anh hùng bản lĩnh cao cường Điều này được thể hiện rõ qua những đoạn văn miêu tả cuộc vượt thác của ông Với

Trang 2

ba thạch trận của đá, của thác, của thiên nhiên sông Đà hung hãn dữ tợn, ông lái đò Lai Châu vẫn bình tĩnh vượt qua và thành thục bẻ lái

Cả hai hình tượng nổi bật của tác phẩm đều được miêu tả một cách cụ thể và chi tiết Nghệ thuật của tác phẩm này cũng đạt tới trình độ đỉnh cao Không chỉ miêu tả, so sánh đơn thuần, Nguyễn Tuân còn sử dụng ngôn ngữ tạo hình, động từ mạnh, vận dụng tri thức điện ảnh của mình để kể và tả hình tượng Sông Đà Cách sử dụng ngôn ngữ cũng chọn lọc mà không đơn thuần chỉ là cảm hứng Sự tinh tế và tài hoa trong miêu tả cũng là một lợi thế trong các trang văn này Đặc biệt là khi miêu tả những hòn đá, Nguyễn Tuân đã có sự liên tưởng tưởng tượng phong phú khiến những hòn đá mang sinh khí, tư thế, dáng vẻ của con người Cách viết phóng túng, vốn ngôn ngữ giàu có, tài quan sát và trí tưởng tượng độc đáo

đã giúp tác giả thành công trong xây dựng hình tượng người lái đò trên sông Mang đến một hơi thở mới cho văn học Việt

Tóm lại, tác phẩm "Người lái đò Sông Đà" là một tác phẩm hết sức độc đáo Thiên tùy bút này đã khẳng định phong cách và tài năng nghệ thuật bậc thầy của Nguyễn Tuân Ông viết văn không chỉ bằng con mắt mà còn là trái tim và tâm hồn của người nghệ sĩ

Trang 3

BÀI MẪU SỐ 2:

Nguyễn Tuân sinh năm 1910, trong một gia đình nhà Nho, quê ở làng Nhân Mục (làng Mọc), huyện Từ Liêm, Hà Nội Ông học Trung học ở Nam Định, tham gia bãi khóa chống thực dân Pháp rồi bỏ học Nguyễn Tuân viết văn, làm báo sớm, nổi tiếng với loạt truyện ngắn đăng trên các báo Tao Đàn, Tiểu thuyết thứ bảy và được đánh giá là cây bút tiêu biểu cho văn xuôi lãng mạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 với tập truyện ngắn nổi tiếng Vang bóng một thời, các tập Tùy bút I (1941), Tóc chị Hoài (1943), Tùy bút II (1943) Sau Cách mạng tháng Tám, cùng với phẩn lớn văn nghệ sĩ, Nguyễn Tuân tham gia kháng chiến, theo sát bộ đội trong các chiến dịch lên Tây Bắc, vào Quảng Trị… Nhiều tập tùy bút đã ra đời, khẳng định sở trường của ông: Đường vui (1949), Tùy bút kháng chiến (1955) Trong giai đoạn xây dựng xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống Mĩ – ngụy, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Nguyễn Tuân sáng tác tùy bút Sông Đà (1960) và Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972)

Nguyễn Tuân có vốn văn hóa uyên bác, có tác phong làm việc rất nghiêm túc, viết gì cũng nghiên cứu, điều tra kĩ lưỡng Khi viết, ông thường chú trọng lời văn sao cho thật vừa

ý mình, thật mới, thật hay, có dấu ấn riêng rõ rệt, không thể lẫn với bất kì ai

Người lái đò Sông Đà trích trong tập tùy bút Sông Đà, kết quả chuyến đi thực tế của Nguyễn Tuân ở Tây Bắc năm 1958 Ông sống với bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân cầu đường và đồng bào các dân tộc từ Lai Châu về Sơn La Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới sau 1954 và phong cảnh, con người Tây Bắc đã đi vào trang sách của ông với một niềm vui to lớn bao trùm tất cả, xen lẫn những xúc cảm trữ tình trước vẻ đẹp lạ lùng vồ hấp dẫn của đất nước, con người Tây Bắc

Tùy bút Người lái đò Sông Đà lấy ông lái đò làm nhân vật trung tâm của câu chuyện

về Sông Đà, nhưng thực chất là để biểu lộ cảm nghĩ, nghe nhìn, quan sát, nghiền ngẫm và

Trang 4

sáng tạo của Nguyễn Tuân Mượn lời ông lál đò nói về Sông Đà nhưng chính là tác giả miêu

tả con sông từ nhiều góc độ khác nhau, qua đó bộc lộ tâm tư tình cảm mình đổi với con sông tiêu biểu cho núi non, con người xứ Tây Bắc xa xôi Với lối viết đặc sắc, độc đáo, Sông Đà

đã trở thành Sông Đà – Nguyễn Tuân Đó là con sông của đất nước có lịch sử chống ngoại xâm, lịch sử cách mạng ; là con sông trữ tình, anh hùng cà, tạo nên những con người anh hùng, bình thường mà vĩ đại Tất cả đều được vẽ nên bằng ngòi bút biến hóa tài tình thể hiện sự gắn bó thiết tha, sâu đậm với đất nước của tác giả

Xưa nay, đã có nhiều tác phẩm viết về Sông Đà Dân gian có truyện cổ tích về Thác

Bờ, có thành ngữ về ma thiêng nước độc: Nước Sông Đà, ma Tà Bú Vua Lê Thái Tổ đi đánh giặc Đèo Cát Hãn từ Lai Châu về qua Sông Đà đã có câu thơ : Đồn đại những ba trăm thác dữ, Mà nay chỉ thấy một dòng xuôi, ý lấy Sông Đà để nói chuyện dẹp giặc thành công Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Quang Bích và các nhà văn trong cuộc kháng chiến chống Pháp đều đã nói đến Sông Đà

Văn chương thế giới cũng có nhiều tác phẩm bất hủ tả vẻ đẹp của các dòng sông Văn chương Trung Quốc đã sớm in vào trí nhớ nhiều thế hệ người Việt hình ảnh sông Lang Thương dòng trong dòng đục gắn với Khuất Nguyên Dòng sông Hoàng Hà như từ trời cao rơi xuống trong thơ Lí Bạch Bến sông Trường Giang và cảnh dương liễu rủ bóng làm cho khách qua sông sầu đến chết lòng Bến Tầm Dương với lau lách đìu hiu và cái khí lạnh của sông Dịch trước sự hi sinh hào hùng của tráng sĩ Kinh Kha Trong văn chương Pháp còn ngân vang giọng thác Niagara kéo dài qua thảo nguyên mênh mông trong đêm trăng thanh vắng với lời văn đầy chất thơ của Satôbriăng Sống Hằng hùng vĩ, linh thiêng được miêu tả trong tác phẩm Mahabharata lại hiện ra hiền hòa, kì diệu ở thơ Tago Sông Vônga, sông Đơnhiép êm đềm, mở mộng trong văn Mácxim Gorki, Sôlôkhốp… Mỗi dòng sông có một

vẻ đẹp riêng nhưng không con sông nào đặc biệt như Sông Đà của Nguyễn Tuân

Sông Đà có nguồn gốc rõ ràng : Nó khai sinh ở huyện Cảnh Đông, tỉnh Vân Nam bên Trung Quốc lấy tên là Li Tiên, đi qua một vùng núi ác, rồi đến nửa đường thì xin nhập quốc tịch Việt Nam, trưởng thành mãi lên và đến ngã ba Trung Hà thì chan hòa vào sông Hồng Tác giả nói về dòng sông mà như nói về con người : nào khai sinh, hào xin nhập quốc tịch, nào trưởng thành… Ngôn ngữ học cho rằng đó là nhân hóa, kì thực nó là nghệ thuật hóa, coi dòng sông có đời sống, có tính cách, có cá tính vô cùng độc đáo

Ngoài các yếu tố địa lí, Sông Đà còn có các yếu tố lịch sử Thời xưa, triều đình nhà Trần lấy Sông Đà đặt tên cho một lộ là Đà Giang Lộ Chính vì vậy trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ có truyện Đà Giang dạ ẩm mà bối cảnh là cuối đời Trần Đà Giang Lộ là vùng đất tính từ Hưng Hóa trở lên, bây giờ gọi là vùng Tây Bắc Từ Lai Châu xuôi về Hòa Bình, nối nhau bằng sợi dây thừng (chữ của Nguyễn Tuân) khổng lồ là Sông Đà, nếu nhìn

từ trên máy bay xuống

Trang 5

Sông Đà còn cố yếu tố cách mạng Con sông trước tiên là một nguồn sống Miếng nước, con cá, đường thủy, lưu vực phù sa, cơn gió mát mùa hè, nơi tụ họp đâu tiên để lập nghiệp thành tộc này tộc nọ là ở ven các bờ sông Nhiều nền văn minh bắt nguồn từ những dòng sông Con sông là trời sinh, nhưng con sông cũng do con người tạo nên bằng công sức mình Lịch sử dù biến thiên, Sông Đà vẫn là của dân xứ Tây Bắc Nó dữ, nó hiền là một chuyện và con người vẫn ăn ở đời đời kiếp kiếp với nó Không nói chuyện ngày xưa, chỉ nhắc lại hồi Tây mới sang cướp nước ta, người dân xứ này đã cùng nhà yêu nước cần vương Nguyễn Quang Bích (tuần phủ Hưng Hóa) chiến đấu đến cùng Trong nhật kí hành quân bằng thơ của ông đã ghi lại bao nhiêu tên đất, tên nước thuộc vùng Sông Đà Tiếp theo đó là thời thực dân Pháp cai trị cùng với bọn lang đạo, địa chủ gian tham, độc ác: Con sông bị chúa đất từng vùng đem cắt ngang ra thành từng khúc nhỏ làm cho con sông ác thêm Đế quốc đóng đồn bốt ven sống, tính dữ ác của con sống lại càng tăng thêm mấy lần

Tuy vậy, người dân Tây Bắc không chịu rời Sông Đà Dù chưa nghe nói đến cách mạng mà năm trăm thanh niên chèo đoàn thuyền hàng trăm chiếc xuôi về Hà Nội chở thóc lên Hòa Bình cho Tây đã không chịu được cảnh mưa trên nguồn giội xuống đầu, gió sống táp vào mặt cùng những lời chửi mắng, roi vọt của bọn quan lính áp tải, nên vào một buổi chiều Sông Đà nổi sóng, cá Sông Đà quẫy mạnh, họ nhất loạt rút cọc chèo, bơi chèo tiêu diệt gọn cái trung đội áp giải ấy Người lái đò Quỳnh Nhai kể như vậy, rồi tiếp : Bây giờ thỉnh thoảng đi chở hàng mậu dịch cho chính phủ, vẫn gặp lại một số anh em cũ của cái đêm mưa bão đi trốn khỏi bến Tà Bú ấy… Mười lăm năm đã qua đi trên Sông Đà, con Sông Đà quê hương ngày nay đã khác trước rồi… Đoàn chuyên gia ta và chuyên gia bạn đi nghiên cứu Sông Đà, để rồi trị con sóng dữ tợn này, bắt nó phải phục vụ cuộc sống Tây Bắc Từ đó tới nay đã trên hai mươi năm Công trình thủy điện Hòa Bình đã xong Con Sông Đà đã được chặn lại để làm ra điện Hồ chứa nước dài hàng trăm kilômet là khu du lịch, nơi nuôi

cá, là đường giao thông thuận lợi, không còn cảnh lên thác xuống ghềnh nguy hiểm mặc dù vẫn rất hào hùng như thuở trước

Năm 1958, nhìn thấy đoàn chuyên gia nước bạn sang khảo sát Sông Đà, Nguyễn Tuân

đã nổi hứng muốn làm một cán bộ thông tin để ghé khắp các bến lớn bến nhỏ ở bờ bên phải,

ở bờ bên trái Sông Đà mà chuyển đi cái tin mới ngồn ngộn sức sống này Niềm vui ấy không riêng cho một ai mà cho tất cả nhân dân Tây Bắc, nhân dân cả nước Nó hết sức lớn lao vì nó mang rất nhiều ý nghĩa

Người lái đò Sông Đà tuyên bố: Chợ Bờ, cái biên giới thủy phận cuối cùng của đá thác Sông Đà… Từ chợ Bờ xuôi dòng, hết ghềnh hết thác Sông Đà hình như hết cả đậm đà với nhà đò Như vậy, Sông Đà đúng với cái danh của nó là từ chợ Bờ trở lên Phải đúng ba trăm cái thác đá mới là Sông Đà Để làm chứng cho lời nói của mình và thêm chút mắm muối cho câu chuyện đậm đà chất sống, người lái đò già bình thêm : Chạy thuyền trên khúc sông

Trang 6

không có thác, nó đến dại tay dại chân và buồn ngủ Sông Đà đối với ông giống như một trường thiên anh hùng ca

Tạo được môi trường anh hùng ca phải là cái gì dữ dội, nguy hiểm cao độ, khắc phục được phải là thiên tài, tối thiểu là tài ba hiếm có Phải kiên trì, có khi liều xông vào chỗ chết

để giành lấy sự sống và tất nhiên cuối cùng phải chiến thắng vẻ vang

Sông Đà quả là một môi trường như thế Bản chất nó đã vậy, tài ba của nhà văn càng làm cho bản chất ấy sắc nhọn thêm, dữ dội, nguy hiểm thêm bội phần Cây cối, cỏ hoa hai bên bờ, ánh sáng nhà cửa, làng bản ven sông là nằm trong cảnh quan của sông, những cái đó thường hiền hòa, tươi đẹp… Nhưng trước hết, chúng ta hãy nói đến những nét đặc trưng nhất của Sông Đà

Cát là thứ bình thường nhất Cát trên sông có hại chăng là khi nó nổi lên thành bãi, thành gò làm cho thuyền bị mắc cạn Có mấy ai nghĩ rằng thứ hạt nham nhám ấy của Sông

Đà lại làm loét cả da, còn lội nước thì đục thủng gan bàn chân lỗ rỗ như những vệt hà đục thủng đáy và mạn dưới các thuyền gỗ Như thế là cát dữ

Bờ cũng chẳng hiền Có nơi nó dựng vách thành, mặt sống chỗ ấy đúng ngọ mới thấy mặt giời Có chỗ vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu… Có quãng con nai, con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa

hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy minh như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện…

Lời văn ở đoạn này gồm những chi tiết chính xác, khoa học xen lẫn cảm quan của tác giả, tạo nên cảnh Sông Đà khi thì dữ dội, nguy hiểm trong cái hùng vĩ không ngờ, khi thì pha chút hóm hỉnh trong những nét rất hiện thực như con nai con hổ vọt từ bờ này sang bờ kia, tưởng như lòng sống chỉ còn là cái dải yếm trong ca dao xưa

Gió Sông Đà cũng đáng sợ Ở quãng ghềnh Hát Loóng là vương quốc của gió phối hợp với nước, với đá, với sóng thành những chỗ xoáy: nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt, (nợ xuýt là nợ không

có cũng đòi), mà không đòi được thì cố bắt người lái đò và lật ngửa bụng thuyền ra

Cát, vách đá, gió đều đáng sợ cả, nhưng không gì đáng sợ bằng cái hút nước Chắc tên gọi này không phải do tác giả đặt ra mà là của đồng bào sở tại, hoặc của những người lái đò trên Sông Đà Nó là chỗ nước xoáy, dòng nước đường chảy xuôi êm ả, bỗng dưng tới đó cứ xoáy tròn thành vòng rất đẹp rồi trũng xuống như cái lúm đồng tiền trên đôi má xinh xinh

Ai ngờ đó là chỗ nguy hiểm nhất cho thuyền đi trên sông Ban trưa thanh vắng ra sông, chỗ

bờ hõm thành vực, thấy những vòng xoáy ấy, trẻ con người lớn đều sợ hãi bởi đã từng nghe lời đồn đại mê tín rợn tóc gáy là chỗ đó Hà Bá và các vị thủy thần thường bắt người xuống hầu hạ hoặc lấy gỗ xây cung điện dưới Thủy cung Bất cứ vật gì lọt vào đó là chìm mất tăm Cái hút nước ở Sông Đà được Nguyễn Tuân miêu tả hiện đại hơn : nó như cái giếng bê tông

Trang 7

thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu Nước ở đó ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào Tiếng nước ặc ặc ấy có lẽ chỉ Sông Đà mới có Còn những bè gỗ rừng đi ngênh ngang vô ý

là bị những cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống Vừa đáng sợ vừa buồn cười là chi tiết thuyền

mà lạc vào đó thì thuyền giồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mười phút sau mới thấy tan xác ở khuỳnh sông dưới

Cái đáng sợ nhất của Sông Đà chưa phải là những cái hút nước mà là đá và thác Thác

và đá bày thành Thạch Trận, hay nói đúng hơn là Thạch Thủy Trận Nguyễn Tuân có dụng ý trình bày một thứ trận chiến như kiểu Bát trận đồ theo binh pháp Tôn Ngô mà Khổng Minh sáng tạo lại, cố nhiên có pha chút hiện đại Không có Long Xà Trận nhưng có Thạch Trận Thạch Trận cũng đủ cửa tử, cửa sinh Tuy không đủ Bát Trận nhưng cũng có trận trước trận sau, trận trên, trận dưới, nhiều lớp nhiều tuyến, có tiên phong, có dự bị… Không có các tướng trấn cửa như Ngụy Diên, Mã Siêu, Quang Hưng, Trương Bào… nhưng có những tướng đá và quân nước Đá thì ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông… có chiếc thuyền nào xuất hiện… là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy… Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm, méo mó… Tưởng chừng như chúng nằm ngồi rải rác tùy tiện, nhưng hình như sông đã giao việc cho mỗi hòn, sông bày Thạch Trận

Đá được “phân công” hẳn hoi, chia làm ba hàng chặn ngang trên sông Hai hòn đá canh một cửa đá giữ vai trò dụ cái thuyền đối phương vào tận tuyến giữa rồi nước sóng luồng mới đánh khuýp quật vu hồi lại Nếu thuyền không chịu chìm mà cứ tiến lên thì một thế trận khác lại đã bày sẵn Tướng đá ở đây oai phong lẫm liệt Một tướng đá như đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến Một tướng đá khác lùi tại một chút và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào Nhưng các tuyến của Thạch Trận đều lần lượt bị chọc thủng Các cửa tử đều chẳng nhử được thuyền Cuối cùng, cái thằng đá tướng đứng chắn ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng Tưởng đâu như sắp bị khép vào trọng tội trong binh pháp: quân thua chém tướng Đây là một chi tiết cực kì thú vị Hết đá đến nước Nước vốn êm dịu nhưng khi kết hợp với đá, với gió thì nó trở nên hung dữ Nước Sông Đà là như vậy Tính từ Chợ Bờ trở ngược, chỉ lắng nghe tiếng kêu đủ kiểu của nước cũng đã thấy ghê : Còn xa lắm mới đến cái thác dưới Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại, réo to mãi lên… Lúc nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo Thế rồi, nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa Tới giữa thác thì một đằng

đá chặn, một đằng sóng luồng thuyền mà đánh vu hồi, đồng thời reo hò làm thanh viện Có lúc nó reo như đun sối lên một trăm độ muốn hất cái thuyền đang phải đóng vai một cái nắp

ấm, một ấm nước sôi khổng lồ Nhưng không đâu tiếng nước nghe lạ như ở những cái hút: nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào Tiếng nước đã sợ, sức nước còn đáng sợ hơn Mặt sông cũng có ổ gà : Đi vào ổ gà sông là thuyền bị giật xuống, bị dồi lên Chỗ thác, mặt sông chia thành nhiều luồng: Có luồng đi lầm vào thì chết ngay, có luồng đi vào đúng luồng rồi

Trang 8

nhưng mà không trúng tim luồng thì vẫn có thể là thập tử nhất sinh như thường, ở những chỗ khác, nước có thể đội thuyền lên, bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng lái đò đòi lật ngửa ông lái cho phơi bụng giữa trận nước vang trời thanh la não bạt Dưới ngòi bút tài hoa, phóng khoáng của Nguyễn Tuân, nước Sông Đà đã trở thành võ sĩ thực thụ Nó đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất: bóp chặt hạ bộ người lái đò… Bây giờ thì nó là con ngựa bất kham đang tế mạnh trên sông đá Ông lái nắm chặt lấy được cái bờm sóng… ghì cương lái… phóng nhanh vào cửa sinh Nước đành chịu thua nhưng đến chỗ cái hút, nó rình sẵn, thuyền nào lơ mơ là nó rút luôn tận đáy, chết không kịp ngáp Chẳng khác gì dân gian đồn

Hà Bá lên lấy gỗ

Sông Đà dữ quả không sai với tiếng đồn Cát dữ, bờ dữ, gió dữ, hút nước dữ, tập trung cái dữ là những Thạch Trận, đá và nước hùa nhau bẫy người lái đò vào chỗ chết Tác giả đã dùng ngòi bút trăm màu và cặp mắt thiên lí nhãn của mình để đưa ra hàng loạt những hình ảnh khác nhau nhưng luôn luôn đắc địa, vừa có tính trí tuệ vừa có chất tạo hình, vượt xa thủ pháp mà ta quen gọi là nhân hóa để đi vào bản chất sâu xa nhất, độc đáo nhất của sự vật, trở thành những trang viết biến hóa khôn lường Đá dưới sông mà được tác giả miêu tả như là dân quân phục kích, là bộ đội giăng hàng bày trận, là tướng giữ cửa tử cửa sinh trong trận

đồ Khổng Minh, là tướng trên sân khấu tuồng, là tướng thua trận trên chiến trường., Nước

mà khi thì là tiếng kêu tâm trạng, khi thì là tiếng reo hò của quần chúng, khi thì là đô vật, khi là lực sĩ đội thuyền, khi thì là Hà Bá hút người xuống đáy… Do đó mà cái dữ của Sông

Đà lại càng dữ, càng trở nên môi trường anh hùng ca hoàn toàn độc đáo

Cảnh Sông Đà vừa dữ dội vừa hùng vĩ Cái hút nước rất nguy hiểm và đáng sợ, vậy

mà nhà văn tưởng tượng là cứ chui xuống đáy nước rồi tia máy quay phim ngược lên cái mặt giếng mà thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày… thì nó lại trở thành cảnh đẹp và lạ có một không hai Từ trên máy bay nhìn xuống, Sông Đà giống như cái dây thừng ngoằn ngoèo chứ không ai nghĩ rằng nó đã bao đời làm mình làm mẩy với người dân Tây Bắc Có lúc lại thấy Sông Đà như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân Màu nước Sông Đà rất đẹp : Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ không xanh màu xanh canh hến của Sống Gâm, Sống Lô Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa…

Nguyễn Tuân viết về Sông Đà bằng ngòi bút dạt dào cảm xúc Tác giả nhận xét: Con Sông Đà gợi cảm Có lần ông nhìn nó như một cố nhân lâu ngày mới gặp lại Sông Đà xuất hiện đột ngột sau một chỗ ngoặt khỏi núi thành một vệt loang loáng màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” (thơ Lí Bạch trong bài Tại lầu Hoàng Hạc, tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng), ôi, cái nắng giòn tan trên sông lấp loáng vừa khói vừa nước mới đẹp đẽ, ấm áp làm sao ! Bạn thơ của Lí Bạch ra đi vào giữa mùa hoa khói ấy có thấy rộn lên trong lòng chất men xuân hay không thì chưa rõ; nhưng ở đoạn văn

Trang 9

này thì Nguyễn Tuân như đang đắm mình vào đám hội xuân của chuồn chuồn, bươm bướm, của nắng giòn tan trên sông, của cá dầm xanh vọt lên mặt nước như bạc rơi thoi, của đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm, của cả những nương ngô mới nhú lên mấy

lá ngô non đầu mùa, của Sông Đà thơ mộng trước con mắt của thi sĩ Tản Đà : Dải Sông Đà bọt nước lênh đênh, Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình…Sông nước, bến bờ tịnh không một bóng người : Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bỗng dưng, tác giả thèm nghe một tiếng còi síplê (tiếng Pháp: sifflet là còi) của một chuyến xe lửa Yên Bái – Lai Châu để cho nỗi niềm cổ tích tuổi xưa trở màu thành hiện đại, cho cảm nghĩ đủ hai chiều kim cổ Cuối đoạn văn trữ tình này lại là một khoảng không gian khoáng đạt của dòng nước hiền hòa đang nhớ các bạn thác ghềnh ; của giọng người miền xuôi thoáng nhẹ, êm êm ; của những cánh buồm mở rộng tha hồ đón gió bốn phương trên những con thuyền mình nở chứ không phải là thuyền then đuôi én, khiến cho cảm xúc của cả người viết lẫn người đọc cứ tràn ra mênh mang, bất tận Sông Đà dữ dội nhưng Sông Đà cũng rất trữ tình

Trở lại với nhân vật chính là người lái đò Sông Đà Ông sinh ra và lớn lên bên bờ Sông

Đà, uống nước Sông Đà từ thuở còn để chỏm, chắc chắn ông cũng đã từng hằng trăm lần ngụp lặn trong dòng sông Sau mười năm lên ngược xuống xuôi, cầm lái bao phen đi về từ Lai Châu xuống tận Hà Nội, thử hỏi có bến nào, thác nào, luồng nào mà ông không thuộc ?!

Mà con Sông Đà này sức cải hóa cửa nó là ghê gớm, quyết liệt có một không hai Cái phép của sông là sắt đá số một, cho nên ở ông lái đò này có cái gì mà không in đậm dấu ấn của con sông, không là sản phẩm của Sông Đà?

Từ hình dáng bên ngoài : Tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại như kẹp lấy một cái cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù Cuộc sống sông nước đã rèn luyện cho ông một thân hình to và gọn quánh như chất sừng chất mun Cái nghề lái đò đã khiến tất thảy những người lái đò Sông

Đà chỉ khỏe có đôi tay còn chân rất yếu, chạy rất kém Cử chỉ của ông lái đò này cũng đều theo dáng lái thuyền, khi ngắt lời người khác, ông nhanh như một tay lái rẽ ngang sống miết theo luồng thác bắt chéo

Cái dữ dội của Sông Đà có các ông lái đò trị được Chiến thắng ấy là một nét đẹp : con người chiến thắng thiên nhiên Ngay trong khi miêu tả cái dữ dội, tác giả vẫn thỉnh thoảng pha một chút vui vui, nghịch nghịch để làm cho cái cứng rắn, hiểm trở của thiên nhiên mềm

đi ít nhiều

Làm nghề lái đò, ông lái hiểu rõ cấu tạo của thuyền, đò Tại sao con thuyền Tây Bắc mình thon chứ không nở ? Phải là thuyền then đuôi én thì mới lách qua được các cửa luồng

đá ép lại còn rất hẹp Cả chuyện cái buồm cũng vậy Lái đò Sông Đà ở thượng nguồn thì cần sào chống, chèo bơi, cần nữa thì thêm dây kéo, ít khi dùng buồm, về dưới xuôi, nếu cần buồm thì can hai cây sào lại thành cột buồm và căng cái mui ra làm buồm mà treo lên Có

Trang 10

điều chân trời Tây Bắc và Sông Đà thường là vướng núi, cái buồm di động trên lườn núi vốn không phải là hình ảnh quen mắt của người dân hai bờ sông Tây Bắc Ông lái đò thuộc Sông Đà như thuộc lòng bàn tay Sông Đà đối với ông chỉ có ý vị đậm đà từ Chợ Bờ trở ngược, về xuôi, hết thác, hết đá, lái thuyền dễ dại tay dại chân và buồn ngủ Sông Đà chỗ nào vách đá dựng đứng như thành cao vút, khép sông lại chỉ còn như cái eo; chỗ nào gió, sóng, đá kết hợp với nhau thành khúc nhạc rợn người; chỗ nào có những hút nước là cạm bẫy kinh khủng cho thuyền bè Đặc biệt là luồng lạch, thác đá, bao nhiêu thác, ở đâu thác liên tiếp giăng hàng, bày trận, luồng nào sinh luồng nào tử, tìm luồng ở đâu, lên thác ra sao, xuống thác thế nào… ông lái đò biết hết Không phải tự nhiên mà ông hiểu biết và thành thạo như vậy Phải rèn luyện, rèn luyện cao độ bằng cách lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng Cái nghề lái đò này thật vất vả, người cứ dựng đứng lên mà luôn tay luôn chân luôn mắt luôn gân và luôn tim nữa Lên ngược phải kéo thuyền thì ngực vú, bà vai người lái đò chống sào hay bầm lên một khoanh củ nâu, nó là vết nghề nghiệp của đầu con sào gửi lại đời đời cho người lái đò Sông Đà như một thứ huân chương lao động Sông Đà ban tặng cho họ Lên thác vất vả nhưng còn tránh được nguy hiểm chứ chẳng như xuống thác: Xuống thác, người lái đò Sông Đà linh hoạt và luôn luôn cơ động mà phối hợp đôi mắt, đôi tay, đôi chân, thần chết chỉ đến với những tay lái, kém cả tính phối hợp và tính ứng phó linh hoạt đó

Đời người lái đò Sông Đà là một cuộc đời chiến đấu thực thụ Cứ nghe ông lái đò thuật một chuyến xuống thác thì đủ biết Lúc đó, Sông Đà là kẻ thù số một Nhìn nó, có lúc thấy

nó không “thơ đời Đường” nhàn hạ mà thấy nó chính là một cuộc đấu tranh… để giành sự sống từ tay nó về tay mình Người lái đò khi nào thì đè lên đầu luồng mà tiến, khi nào thì tóm lấy bờm sóng mà vượt, vững tay lái ra sao khi chung quanh tiếng sóng nước reo hò vang lừng để thanh viện… Hỗn chiến với đá với nước đến cật lực, hết hơi, tưởng như rã rời vậy mà qua xong thác, khi sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ… Cũng chả ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đã tưởng dơ quân tợn vừa rồi Hết thác, sông nước lại thanh bình thì lòng ông lái đò cũng bình yên Chiến đấu gay go vô kể nhưng vẫn là chuyện thường ngày, không có gì đáng hồi hộp đáng nhớ Sông Đà đối với ông lái đò, quả là một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả những dấu chấm câu và những đoạn xuống dòng Bản thân ông cũng sống một đời sống hào hùng, có điều sự hào hùng ấy

là chuyện hằng ngày nên ông coi chẳng có gì đặc biệt, ông đã ép con người ông vào trong khuôn khổ của Sông Đà và Sông Đà đã rèn ông theo mẫu của mình Không có cái gì thuộc

về Sông Đà mà ông lái đò không biết Ngược lại, không có cái gì ở ông lái đò mà không mang hình ảnh Sông Đà

Đọc văn Nguyễn Tuân nhất là tùy bút, có người cho rằng như soi trong kính thiên sắc, chỉ mấy màu mà lắc bên này thì một thế giới màu, lắc bên kia lại là một thế giới màu khác

Ngày đăng: 02/05/2021, 00:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w