1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kỹ năng giao tiếp của sinh viên ngành tâm lý học thuộc khoa tâm lý giáo dục trường đại học sư phạm đại học đà nẵng

84 61 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (10)
  • 2. Mục đích nghiên cứu (10)
  • 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu (11)
    • 3.1. Khách thể nghiên cứu (11)
    • 3.2. Đối tượng nghiên cứu (11)
  • 4. Giả thuyết khoa học (11)
  • 5. Nhiệm vụ nghiên cứu (11)
  • 6. Phạm vi nghiên cứu (11)
  • 7. Phương pháp nghiên cứu (12)
    • 7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết (12)
    • 7.2. Phương pháp trắc nghiệm (12)
    • 7.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (12)
    • 7.4. Phương pháp quan sát (12)
    • 7.5. Phương pháp thống kê toán học (12)
  • 8. Cấu trúc bài nghiên cứu (12)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN (13)
    • 1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu (13)
      • 1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài (13)
      • 1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước (15)
    • 1.2. Một số lý luận về vấn đề nghiên cứu (17)
      • 1.2.1. Kỹ năng (17)
        • 1.2.1.1. Khái niệm kỹ năng (17)
        • 1.2.1.2. Sự hình thành kỹ năng (17)
      • 1.2.2. Giao tiếp (19)
        • 1.2.2.1. Khái niệm giao tiếp (19)
        • 1.2.2.2. Chức năng của giao tiếp (21)
        • 1.2.2.3. Phương tiện trong giao tiếp (23)
      • 1.2.3. Kỹ năng giao tiếp (25)
        • 1.2.3.1. Khái niệm (25)
        • 1.2.3.2. Phân loại kỹ năng giao tiếp (25)
      • 1.2.4. Đặc điểm lứa tuổi và hoạt động giao tiếp của sinh viên (0)
        • 1.2.4.1 Đặc điểm lứa tuổi sinh viên (31)
        • 1.2.4.2. Đặc điểm hoạt động giao tiếp của sinh viên (32)
      • 1.2.5. Kỹ năng giao tiếp của sinh viên (32)
        • 1.2.5.1. Khái niệm (32)
        • 1.2.5.3. Yếu tố ảnh hưởng đến sự sự phát triển kỹ năng giao tiếp của sinh viên 25 CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (34)
    • 2.1 Một số nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu (37)
      • 2.1.1 Địa bàn nghiên cứu (37)
      • 2.1.2 Khách thể nghiên cứu (38)
    • 2.2 Tổ chức nghiên cứu (39)
    • 2.3 Phương pháp nghiên cứu (39)
      • 2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết (39)
      • 2.3.2 Phương pháp trắc nghiệm (40)
      • 2.3.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (41)
      • 2.3.4 Phương pháp quan sát (41)
      • 2.3.5 Phương pháp thống kê toán học (42)
  • CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN (37)
    • 3.1. Thực trạng chung về KNGT của sinh viên (43)
    • 3.2 Thực trạng biểu hiện KNGT của sinh viên thuộc khoa Tâm lý- giáo dục trường Đại học Sư phạm- đại học Đà Nẵng (45)
    • 3.3 Thực trạng KNGT của sinh viên thuộc khoa Tâm lý- giáo dục trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng theo khách thể (59)
      • 3.3.1 Theo năm học (59)
      • 3.3.2 Theo giới tính (60)
    • 3.4 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình giao tiếp của sinh viên (61)
    • 3.6 Nhu cầu của SV khi cải thiện KNGT (63)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (67)
  • PHỤ LỤC (69)

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp của mình với đề tài “Kỹ năng giao tiếp của sinh viên ngành Tâm lý học thuộc khoa Tâm lý- giáo dục trường Đại học Sư Phạm- Đại học Đà Nẵng”,

Lý do chọn đề tài

Kỹ năng giao tiếp đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta Trong cuộc sống, trong công việc hay trong học tập, kỹ năng giao tiếp đều là cầu nối quan trọng giữa con người với con người Đối với những ngành học có liên quan trực tiếp đến con người như Tâm lý học thì vai trò của kỹ năng giao tiếp càng được đề cao hơn

Việc dạy và học kỹ năng giao tiếp đối với sinh viên Sư phạm nói chung và sinh viên ngành Tâm lý học của khoa Tâm lý- giáo dục nói riêng đóng một vai trò vô cùng quan trọng Tâm lý học là ngành học đòi hỏi sinh viên phải có kỹ năng giao tiếp tốt nếu muốn phát triển nghề nghiệp,đây là ngành học đòi hỏi phải giao tiếp trực tiếp với con người để giải quyết những vấn đề trong công việc Vì thế giao tiếp có vai trò vô cùng quan trọng đối với sinh viên ngành Tâm lý học

Trong báo Sinh Viên số 61 ra tháng 12 năm 2000, tác giả Thu Trang viết: “Đã có người nước ngoài kết luận học sinh, sinh viên Việt Nam sau khi ra trường thường thiếu 3 yếu tố: sức khoẻ, thực tiển và năng lực giao tiếp” [Châu Thúy Kiều, Luận văn thạc sĩ, 2010 ]

Qua tìm hiểu và tiếp xúc với sinh viên khoa Tâm lý giáo dục nói chung và sinh viên ngành Tâm lý học nói riêng, đa phần các bạn sinh viên chưa chủ động trong việc tìm hiểu và trao đồi kỹ năng giao tiếp, có rất nhiều nguyên nhân khác nhau như: môi trường học tập, bạn bè, hứng thú với ngành học hay chính bản thân các bạn, điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trao dồi và rèn luyện kỹ năng giao tiếp của sinh viên

Với những yêu cầu ngành nghề, công việc trong xã hội hiện nay bên cạnh việc học tập kiến thức, thay đổi thái độ nếu các bạn sinh viên không trao dồi kỹ năng mềm trong đó có kỹ năng giao tiếp thì việc các bạn có được một công việc đúng với đam mê là vô cùng khó khăn Từ đó chúng ta có thể thấy được tầm quan trọng của việc hình thành kỹ năng giao tiếp cho sinh viên nói chung và sinh viên ngành Tâm lý học nói riêng ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường

Với những lý do trên chúng tôi chọn đề tài “Kỹ năng giao tiếp của sinh viên ngành Tâm lý học thuộc khoa Tâm lý- giáo dục trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu.

Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên ngành Tâm lý học thuộc khoa Tâm lý- giáo dục trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng.

Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu

- 77 sinh viên ngành Tâm lý học thuộc khoa Tâm lý- giáo dục trường Đại học

Sư phạm- Đại học Đà Nẵng trong đó:

Đối tượng nghiên cứu

Kỹ năng giao tiếp của sinh viên ngành Tâm lý học thuộc khoa Tâm lý- giáo dục trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng.

Giả thuyết khoa học

- Kỹ năng giao tiếp của sinh viên ngành Tâm lý học đang ở mức chưa cao

- Trong quá trình học tập tại trường SV chưa chủ động trong việc học tập, trao dồi kiến thức

- Khả năng diễn đạt vấn đề của sinh viên còn rất hạn chế, trong quá trình học chưa hoàn toàn tập trung vào bài học

- Trong lớp, khả năng thiết lập mối quan hệ của các bạn SV còn rất yếu

- Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: môi trường học tập, mối quan hệ giữa bạn bè trong lớp, hứng thú với ngành nghề,

Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận về giao tiếp và kỹ năng giao tiếp của sinh viên Nghiên cứu thực trạng mức độ kỹ năng giao tiếp của SV ngành Tâm lý học thuộc khoa Tâm lý- giáo dục trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng.

Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Tìm hiểu về thực trạng kỹ năng giao tiếp của SV với bạn bè trong lớp học, và bạn bè ngoài lớp học về những khía cạnh: KN thiết lập mối quan hệ,

KN cân bằng nhu cầu cá nhân, KN lắng nghe, KN tự chủ cảm xúc hành vi, KN tự kiềm chế, KN diễn đạt cụ thể dễ hiểu, KN linh hoạt mềm dẻo trong đối tượng GT, KN thuyết phục đối tượng GT, KN chủ động điều khiển quá trình GT và cuối cùng là KN nhạy cảm trong GT của sinh viên đối với bạn bè trong lớp học và ngoài lớp học

- Về khách thể và địa bàn:

+ Khách thể: Sinh viên ngành Tâm lý học thuộc khoa Tâm lý- giáo dục trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng

+ Địa bàn: Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu và hệ thống hoá những lý luận về giao tiếp và kỹ năng giao tiếp của các nhà khoa học cũng như những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước trên cơ sở các công trình đã được đăng tải trên các sách báo và tạp chí về các vấn đề liên quan đến đề tài

- Từ kết quả nghiên cứu lý luận xác định khung cơ sở phương pháp luận định hướng quy trình, phương pháp nghiên cứu.

Phương pháp trắc nghiệm

Sử dụng trắc nghiệm kỹ năng giao tiếp V.P.Dakharop với hệ thống 80 câu hỏi để xác định được mức độ kỹ năng giao tiếp của SV.

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Dùng bảng hỏi để tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn trong việc giao tiếp của SV và những nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp của SV.

Phương pháp quan sát

Phương pháp nhằm quan sát biểu hiện trong quá trình giao tiếp của SV với bạn bè trong lớp học và ngoài lớp học tại trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng.

Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phần mềm SPSS for Window 10 để xử lý các số liệu điều tra khảo sát.

Cấu trúc bài nghiên cứu

Ngoài mở đầu và tài liệu tham khảo, thì khóa luận có:

Chương 1: Cơ sở lý luận về kỹ năng giao tiếp của sinh viên

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên ngành Tâm lý học thuộc khoa Tâm lý- giáo dục của trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN

Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Vấn đề giao tiếp đã được con người xem xét từ thời cổ đại, nhà triết học Socrate (470-399TCN) và Platon (428-347 TCN) đã nói tới đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ, phản ánh mối quan hệ qua lại giữa con người với con người Khoa học ngày càng phát triển, những tri thức về lĩnh vực giao tiếp cũng không ngừng tăng lên Các nhà triết học, xã hội học, tâm lý học… càng quan tâm nghiên cứu đến vấn đề này, nổi lên trong đó là những vấn đề sau:

Hướng thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về giao tiếp như bản chất, cấu trúc, cơ chế, phương pháp luận nghiên cứu giao tiếp, mối quan hệ giữa giao tiếp và hoạt động…Thuộc xu hướng này có công trình của A.A.Bođaliov, Xacopnhin, A.A.Léonchiev, B.Ph.Lomov

Hướng thứ hai: Nghiên cứu giao tiếp với nhân cách có công trình của A.A.Bohnheva…

Hướng thứ ba: Nghiên cứu các dạng GT nghề nghiệp như GT Sư phạm có công trình của A.A.Leonchiev, A.V Petropxki, V.A.Krutetxki, Ph.N.Gonobolin,…

Hướng thứ tư: Nghiên cứu các dạng giao tiếp như KNGT trong quản lý, trong kinh doanh và những bí quyết trong quan hệ giao tiếp có công trình của Allan Pease, Derak Torrington… [ Châu Thúy Kiều, Luận văn thạc sĩ, 2010 ]

- Tâm lý học Gestalt nghiên cứu GT như một cấu trúc trọn vẹn Họ phân tích GT thành các yếu tố và đặt chúng trong hệ thống các yếu tố rộng hơn, các quan hệ xã hội Khi nghiên cứu các yếu tố GT, nhà tâm lý học Pháp Bateson đã phân biệt thành hai hệ thống GT là GT đối xứng và GT bổ sung Theo ông, mọi GT đều biểu hiện ra ở một trong những phương thức ấy thể hiện tính hệ thống khi thiết lập được sự bình đẳng hay sự tương hỗ và tính bổ sung khi thể hiện sự khác nhau [15]

- Học thuyết về nhu cầu của A Maslow đưa ra hệ thống năm bậc về nhu cầu của con người Trong quá trình GT, cá nhân cần có khả năng nhận diện và khêu gợi ở người khác những nhu cầu nhất định vì thông qua GT các chủ thể mới có thể được thỏa mãn và làm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân [10]

- Học thuyết phân tích giao tiếp dựa trên cơ sở mọi hành vi của con người đều xuất phát từ một trong ba trạng thái bản ngã là phụ mẫu, thành niên và trẻ con Trong quá trình GT với nhau, khi người này đưa ra một tác nhân từ một trong ba trạng thái bản ngã thì người kia cũng đáp lại một phản hồi từ một trong ba trạng thái bản ngã Do đó, mối quan hệ GT giữa hai người được coi là có hiệu quả khi người đưa ra tác nhân nhận lại được sự phản hồi như mong muốn đồng đường đi của tác nhân và phản hồi không chồng chéo lên nhau [10]

- Thuyết X, thuyết Y và thuyết Z nghiên cứu vấn đề GT trong quản lý Thuyết X và thuyết Y do Douglas Mc Gregor đưa ra là hai hệ thống giả thuyết về bản chất con người Công tác quản lý phải bắt đầu từ câu hỏi là các nhà quản lý có thể nhìn nhận bản thân họ như thế nào trong mối liên hệ với người khác để có cách quản lý hiệu quả Thuyết Z do Sven Lung Stendt chủ trương giảm mức tối thiểu sự chỉ huy trong quản lý nhằm tạo tính tự lập, tự chủ của người dưới quyền giúp họ thi thố sáng kiến, tính sáng tạo và chịu trách nhiệm Quan điểm của thuyết này chủ yếu dựa trên niềm tin và sự tinh tế trong quan hệ GT trong quá trình quản lý [10]

- Học thuyết giao tiếp xã hội nhấn mạnh vai trò của các năng lực GT, năng lực và cái tôi của cá nhân trong mối quan hệ giữa xã hội và cá nhân trong quá trình xã hội hóa

- quá trình hình thành cá thể người với tư cách là một cơ cấu sinh học mang tính người thích nghi với cuộc sống xã hội Qua đó, hấp thụ và phát triển những năng lực người đặc trưng trưởng thành như một nhân cách [6]

Về vấn đề KNGT cũng được nhiều nhà TLH quan tâm nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau Có thể kể đến một số nghiên cứu sau:

- A.A.Leonchiev đã nghiên cứu và liệt kê các KNGT Sư phạm như KNĐK hành vi bản thân, KN quan sát, KN nhạy cảm xã hội, biết phán đoán nét mặt người khác,

KN đọc, hiểu, biết mô hình hóa nhân cách học sinh, KN làm gương cho học sinh, KNGT ngôn ngữ, KN kiến tạo sự tiếp xúc, KN nhận thức

- IP.Dakharov nghiên cứu và đề ra trắc nghiệm 10 KNGT gồm các KN như KN tiếp xúc, thiết lập quan hệ; KN cân bằng nhu cầu bản thân và đối tượng trong quá trình GT; KN lắng nghe; KN tự kiềm chế, kiểm tra người khác; KN tự chủ cảm xúc hành vi;

KN diễn đạt cụ thể dễ hiểu; KN linh hoạt, mềm dẻo trong GT; KN thuyết phục; KN chủ động điều khiển quá trình GT; KN nhạy cảm trong GT [7]

- Allan Pease -TS Tâm lý học Mỹ - đã xuất bản cuốn “Body language” (1988) với bản tiếng Việt là “Cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơ thể” (Lê Huy Lâm dịch-

2008) đã phân tích KN phát hiện các trạng thái tâm lý thông qua những động tác, cử chỉ, điệu bộ, tư thế,… của con người trong GT [19]

Nhìn chung, các tài liệu trên đã cung cấp một số vấn đề lý luận về KNGT và cũng đã nêu lên nhiều KNGT cần thiết đối với cá nhân trong quá trình GT như: KN điều khiển hành vi bản thân; KN phán đoán nét mặt và cảm xúc của người khác; KN sử dụng phương tiện GT, KN lắng nghe; KN diễn đạt; KN điều khiển nhu cầu của đối tượng GT; KN điều khiển quá trình GT; KN thuyết phục

1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước

Vấn đề giao tiếp được nghiên cứu từ những năm 60 của thế kỷ XX, có thể phân thành một số hướng nghiên cứu sau:

Hướng thứ nhất: Nghiên cứu bản chất tâm lý học của giao tiếp, đặc điểm giao tiếp của con người, chỉ ra nội dung, hiệu quả, phương tiện giao tiếp…trong đó có công trình của tác giả Phạm Minh Hạc, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ngọc Bích, Trần Trọng Thuỷ, Nguyễn Sinh Huy…

Một số lý luận về vấn đề nghiên cứu

Theo Từ điển Tiếng Việt 2000, Nhà Xuất bản Thanh Niên, Viện Ngôn ngữ học Việt Nam thì KN là năng lực làm việc khéo léo Trong tâm lý học nhiều tác giả đưa ra những định nghĩa về KN khác nhau như:

+ Tác giả Trần Trọng Thủy quan niệm KN là mặt kỹ thuật của hoạt động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có KN [21]

+ Tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn, Trần Quốc Thành…quan niệm KN là năng lực của con người khi thực hiện một công việc có kết quả trong những điều kiện nhất định, trong một khoản thời gian tương ứng [22]

- Như vậy có hai quan niệm khác nhau về KN

+ Quan niệm thứ nhất: Xem xét KN nghiêng về mặt kỹ thuật của hành động, người có KN là người nắm vững trí thức về hành động và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó mà không cần tính đến kết quả hành động

+ Quan niệm thứ hai: Xem xét KN là một biểu hiện năng lực con người chứ không phải đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành động Coi KN là năng lực thực hiện một công việc kết quả với chất lượng cần thiết trong một thời gian nhất định

Trong đề tài nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi chọn quan niệm thứ hai về

KN “Xem xét KN là một biểu hiện năng lực con người chứ không phải đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành động Coi KN là năng lực thực hiện một công việc kết quả với chất lượng cần thiết trong một thời gian nhất định.”

1.2.1.2 Sự hình thành kỹ năng

Các giai đoạn hình thành và phát triển KN tạo thành một quy trình rèn luyện KN Các giai đoạn được sắp xếp theo trình tự hợp lý, chặt chẽ nhằm hình thành KN nhất định Nếu ta rèn luyện KN nào đó theo trình tự hợp lý và chặt chẽ thì tất yếu sẽ đạt được hiệu quả, tránh được nhiều sai sót

Có hai loại quy trình: Quy trình vĩ mô là quá trình rèn luyện KN được sắp xếp thành những giai đoạn khái quát, các bước lớn; quy trình vi mô là những bước nhỏ, những thao tác, những công việc chi tiết được sắp xếp theo trình tự để ta tiến hành trong từng giai đoạn khái quát, trong từng bước lớn của quy trình vĩ mô Khái niệm quy trình vĩ mô và quy trình quy mô được phân tích với ý nghĩa tương đối tuỳ thuộc vào điều kiện các KN nhất định

- Các tác giả K.K.Platônov và G.G.Gôlubev nêu rõ: Khi huấn luyện bất cứ một hoạt động nào, hành động mới nào, trước hết ta cần xác định mục đích, sau đó phải thông hiểu việc thực hiện hoạt động đó như thế nào, theo một trình tự hợp lý ra sao, cần trang bị cho người ta cả kỹ thuật tiến hành hành động nữa [Châu Thúy Kiều, Luận văn thạc sĩ, 2010 ]

Như vậy, hai tác giả đã coi việc hình thành KN bao hàm cả việc nắm vững mối quan hệ qua lại giữa mục đích hành động, các điều kiện và cách thức thực hiện hành động đó Vì cấu trúc KN bao gồm cả tri thức, kỹ xảo và tư duy độc lập, sáng tạo nên khi rèn luyện KN cho SV ta cần chú ý xác định mục đích, trang bị tri thức, và cách thức rèn luyện, vận dụng các KN đã có một cách hợp lý và hiệu quả, phát huy tư duy độc lập, sáng tạo, vận dụng các thao tác trí tuệ một cách nhanh chóng, chặt chẽ, lôgic Hai tác giả trên đã nêu ra các giai đoạn hình thành KN sau đây:

+ Giai đoạn thứ nhất (Có KN sơ đẳng): Ý thức được mục đích hành động và tìm kiếm cách thức thực hiện hành động dựa trên vốn hiểu biết và các kỹ xảo đã có, hành động được thực hiện theo cách “thử và sai” có kế hoạch

+ Giai đoạn thứ hai (biết cách làm nhưng không đầy đủ): Có hiểu biết về các phương thức thực hiện hành động, sử dụng được những kỹ xảo đã có nhưng không phải đã sử dụng được những kỹ xảo chuyên biệt dành cho hoạt động này + Giai đoạn thứ ba (Có những KN chung chung, còn mang tính chất riêng lẻ): Có hàng loạt KN phát triển cao nhưng còn mang tính chất riêng lẻ, các KN này cần thiết cho các dạng hoạt động khác nhau

+ Giai đoạn tứ tư (có những KN phát triển cao): Sử dụng sáng tạo vốn hiểu biết và các kỹ xảo đã có, ý thức được không chỉ mục đích hành động mà cả động cơ lựa chọn cách thức để đạt mục đích

+ Giai đoạn thứ năm (có tay nghề): Sử dụng một cách thành thạo, sáng tạo đầy triển vọng các cách khác nhau

Tuy năm giai đoạn hình thành KN trên chưa hẳn là một quy trình rèn luyện KN, nhưng đó là cột mốc định hướng và giúp SV dựa trên các giai đoạn, các mức độ hình thành KN đó mà thực hiện theo quy trình hợp lý từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp

Những tình huống giao tiếp trong cuộc sống vô cùng phong phú và đa dạng Vì vậy, trong quá trình rèn luyện KNGT SV phải linh hoạt, mềm dẻo khi thực hiện nội dung các giai đoạn trên

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về giao tiếp Mỗi quan niệm có những cơ sở khoa học riêng của nó

- Các quan niệm về giao tiếp của các nhà tâm lý học Tư sản [16]

+ M.AC Gain (Anh) xem giao tiếp như là một quá trình hai mặt của sự thông báo, thiết lập, sự tiếp xúc và trao đổi thông tin

+ T.Stecren (Pháp) quan niệm giao tiếp là sự trao đổi ý nghĩ, tình cảm, cảm xúc giữa con người với nhau

Một số nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu

+ Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, được thành lập theo Nghị định 32/CP ngày 04/04/1994 của Chính phủ Là trường thành viên thuộc Đại học Đà Nẵng Trường có chức năng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên các cấp, đào tạo cử nhân khoa học và đào tạo sau đại học; giảng dạy các bộ môn khoa học cơ bản cho các trường thành viên của Đại học Đà Nẵng Đồng thời là trung tâm nghiên cứu khoa học giáo dục và triển khai công nghệ phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh, thành phố miền Trung - Tây Nguyên

Với Cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học (NCKH) của cán bộ và sinh viên nhà trường ngày càng khang trang, hiện đại Bao gồm một hệ thống các giảng đường, phòng học với hàng trăm phòng khác nhau với tổng diện tích 10.000 m², 6 phòng multimedia với 300 máy vi tính (laptop) nối mạng,

1 phòng máy chủ, 3 phòng sản xuất giáo trình điện tử Hệ thống 39 phòng thí nghiệm

Lý, Hoá, Sinh, Địa phòng thực hành Âm nhạc với nhiều thiết bị hiện đại Hội trường lớn có sức chứa trên 600 chỗ Thư viện tổng hợp với hàng vạn bản sách Tất cả các phòng, khoa, đơn vị trực thuộc đều được kết nối mạng cáp quang nội bộ Đại học Đà Nẵng và trong khuôn viên nhà trường có thể kết nối mạng Internet không dây

Trường Đại học Sư phạm hiện có 247 giảng viên, trong đó có 1 giáo sư, 17 phó giáo sư, 80 tiến sĩ, 156 thạc sĩ và 11 giảng viên có trình độ Đại học Chương trình đào tạo có 40 chuyên ngành, trong đó gồm 17 chuyên ngành khối sư phạm, 23 chuyên nghành khối cử nhân, 16 chuyên nghành thạc sĩ và 4 chuyên nghành tiến sĩ

Qua hơn 40 năm xây dựng, phát triển và gần 25 năm hội nhập Đại học Đà Nẵng, trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã đào tạo được hàng trăm thạc sĩ và tiến sĩ, hơn 15.000 cử nhân sư phạm và cử nhân khoa học, hơn 14.000 cử nhân cao đẳng sư phạm, 17.500 trung cấp sư phạm tiểu học và mầm non Chuẩn hoá gần 18.000 giáo viên các cấp, đào tạo gần 5.000 cán bộ quản lý giáo dục

+ Về Khoa Tâm lý- giáo dục trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng

Khoa Tâm lý – Giáo dục là đơn vị trực thuộc trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, được thành lập từ năm 1995 đến nay trải qua 22 năm xây dựng và phát triển Địa điểm trụ sở chính: tầng 3, nhà B1 trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng

Các mốc thời gian phát triển của Khoa gắn liền với việc mở ra các chuyên ngành đào tạo đặc thù như: Cao đẳng sư phạm Nhạc – Đoàn – Đội (1995); Thạc sĩ Quản lý giáo dục (2001), cử nhân sư phạm Giáo dục đặc biệt (2004), cử nhân Tâm lý học (CTL) (2005) và cử nhân Công tác xã hội (CTXH) (2012), thạc sĩ Tâm lý học, thạc sĩ Giáo dục học (2017), chương trình cử nhân Tâm lý học chất lượng cao (2018) và tiến sĩ Quản lý giáo dục (2018)

Về đội ngũ, năm học 2017-2018 có 7 giảng viên chính, 14 giảng viên Trong đó có

01 PGS, 07 tiến sĩ, 15 thạc sĩ Hiện có 2 nghiên cứu sinh (NCS) học nước ngoài, 4 nghiên cứu sinh học trong nước Ngoài ra còn có đội ngũ cán bộ, giảng viên làm việc ở các Phòng, Ban của Trường và Đại học Đà Nẵng tham gia giảng dạy một số học phần chuyên môn thuộc Khoa quản lý, trong đó có 7 Phó Giáo sư, Tiến sĩ, 1 Thạc sĩ Có 4 tổ bộ môn trực thuộc: tổ Giáo dục học và Giáo dục đặc biệt, tổ Tâm lý học, tổ Quản lý Giáo dục, tổ Công tác xã hội

Về các tổ chức chính trị, đoàn thể, Khoa có 1 Chi bộ bao gồm 11 đảng viên Các tổ chức đoàn thể của Khoa gồm: Công đoàn khoa có 22 công đoàn viên là cán bộ viên chức của Khoa; Đoàn Thanh niên có 01 Chi Đoàn Cán bộ giảng viên (gồm 9 Đoàn viên và Liên chi đoàn Khoa có 12 Chi Đoàn dưới sự lãnh đạo của của Chi bộ Khoa và

Tổ chức Đoàn cấp trên

Về công tác quản lý: Khoa quản lý xây dựng và phát triển các chương trình đào tạo từ chính quy đến các chương trình bồi dưỡng của Khoa; quản lý các môn học thuộc giáo dục học, quản lý giáo dục, tâm lý học và công tác xã hội trong các chương trình đào tạo sư phạm và cử nhân của nhà trường; quản lý các tổ chuyên môn (tổ Giáo dục học và Giáo dục đặc biệt, tổ Tâm lý học, tổ Công tác xã hội, tổ Quản lý giáo dục;); quản lý đội ngũ, quản lý đào tạo, các hoạt động nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế, công tác sinh viên, cơ sở vật chất…

Năm học 2017 – 2018, khoa Tâm lý – Giáo dục quản lý 10 đơn vị lớp sinh viên, tổng cộng là 442 sinh viên (14CTL: 42 sinh viên, 14CTXH: 66 sinh viên 15CTL: 61 sinh viên, 15CTXH: 61 sinh viên; 16CTL: 57 sinh viên; 16CTXH: 31 sinh viên; 17CTL1: 62 sinh viên; 17CTL2: 57 sinh viên; 17CTXH1: 50 sinh viên; 17CTXH2: 48 sinh viên) Tổng số sinh viên hiện tại cùng với các lớp sinh viên mới nhập học của Khoa đang theo học là: 535 sinh viên

2.1.2 Khách thể nghiên cứu Đề tài nghiên cứu trên khách thể là sinh viên ngành Tâm lý học thuộc khoa Tâm lý- giáo dục Với số lượng sinh viên ngành Tâm lý học trong năm học của khoa Tâm Đề tài đã sử dụng phương pháp chọn mẫu theo công thức chọn mẫu sau:

Với sai số tiêu chuẩn e= 0.1 (10%) thì mẫu tương ứng là 77 sinh viên Đề tài tiến hành lấy 77 mẫu khách thể phân loại theo năm học Sau khi tổng hợp thì có 0/77 phiếu là không đạt yêu cầu

Bảng 2.1 Thông tin mẫu nghiên cứu

Nhóm khách thể Phân loại khách thể Số lượng Chiếm

Tổ chức nghiên cứu

+ Nghiên cứu lý luận, xây dựng công cụ nghiên cứu: 27/03/2019 - 08/04/2019 + Tiến hành thu thập, xử lý số liệu nghiên cứu: 04/04/2019- 22/04/2019

+Viết báo cáo kết quả nghiên cứu: 23/04/2019-26/04/2019

+ Chỉnh sửa, in ấn và nộp luận văn tốt nghiệp: 29/04/2019-02/05/2019

THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN

Ngày đăng: 01/05/2021, 23:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm