Nghị quyết đã nêu rõ, cần chuyển mạnh quá trình giáo dục từ truyền thụ kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho người họ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG
-
NGUYỄN THỊ HIỀN
TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG CÁC BÀI TẬP HÓA HỌC
CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC CÁC BÀI VỀ CHẤT CHƯƠNG TRÌNH HÓA LỚP 8
Ở TRƯỜNG THCS
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đà Nẵng, 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG
-
NGUYỄN THỊ HIỀN
TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG CÁC BÀI TẬP HÓA HỌC
CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC CÁC BÀI VỀ CHẤT CHƯƠNG TRÌNH HÓA LỚP 8
Ở TRƯỜNG THCS
Chuyên ngành : Sư phạm Hóa học
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đà Nẵng, 2019
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
LỜI CẢM ƠN iv
LỜI CAM ĐOAN v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 2
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Điểm mới của đề tài 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Đổi mới giáo dục ở trường phổ thông 4
1.1.1 Xu hướng đổi mới giáo dục trên thế giới và Việt Nam 4
1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học nhằm chú trọng phát triển năng lực của học sinh 4
1.2 Định hướng phát triển năng lực cho học sinh trong giáo dục phổ thông 6
1.2.1 Khái niệm năng lực 6
1.2.2 Cấu trúc của năng lực 6
1.2.3 Các năng lực cốt lõi cần phát triển cho học sinh phổ thông 7
1.2.3.1 Khái niệm 7
1.2.3.2 Phân loại 7
1.3 Bài tập hóa học 15
1.3.1 Khái niệm 15
1.3.2 Ý nghĩa tác dụng của bài tập hóa học 15
1.3.3 Phân loại bài tập hóa học 16
1.3.4 Ý nghĩa tác dụng của bài tập hóa học có nội dung gắn với thực tiễn trong phát triển năng lực cho học sinh 22
1.4 Thực trạng dạy học việc sử dụng hệ thống bài tập nói chung và bài tập thực tiễn trong dạy học Hóa học lớp 8 24
Trang 41.4.1 Mục đích điều tra 24
1.4.2 Nội dung điều tra 24
1.4.3 Phương pháp điều tra 24
1.4.4 Đối tượng điều tra 24
1.4.5 Xây dựng phiếu điều tra 24
1.4.6 Kết quả điều tra 24
CHƯƠNG 2: TUYỂN CHỌN VÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÁC BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA LỚP 8
Ở TRƯỜNG THCS 28
2.1 Nội dung nghiên cứu kiến thức Hóa học lớp 8 ở THCS 28
2.1.1 Chương 4: Oxi - Không khí 28
2.1.2 Chương 5: Hidro - Nước 28
2.2 Tuyển chọn và xây dựng hệ thống câu hỏi và dạng bài tập có nội dung gắn với thực tiễn theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh THCS 28
2.2.1 Nguyên tắc 28
2.2.2 Quy trình xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập có nội dung gắn với thực tiễn 30
2.3 Hệ thống các câu hỏi và bài tập có nội dung gắn liền với thực tiễn 32
2.4 Hệ thống câu hỏi và bài tập đánh giá theo các mức độ 46
2.4.1 Bài tập trắc nghiệm 46
2.4.2 Bài tập tự luận 53
CHƯƠNG 3: SỬ DỤNG CÁC BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC CÁC BÀI VỀ CHẤT CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC LỚP 8 62
3.1 Phương hướng sử dụng bài tập gắn với thực tiễn 62
3.1.1 Sử dụng khi mở đầu bài giảng 62
3.1.2 Sử dụng khi xây dựng kiến thức mới 64
3.1.3 Sử dụng khi củng cố vận dụng kiến thức 66
3.1.5 Sử dụng trong giờ thực hành 72
3.1.6 Sử dụng trong kiểm tra, đánh giá 73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
DANH MỤC THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến cô giáo ThS Nguyễn Thị Lan Anh, người đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm khóa luận
Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Thầy (cô) giáo trong khoa hóa học, các thầy cô giáo trong tổ phương pháp dạy học đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Xin được cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của Ban giám hiệu, các thầy cô và các em học sinh THCS Lương Thế Vinh, đã tạo điều kiện cho em khảo sát các vấn đề thực tiễn có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mặc dù rất cố gắng để hoàn thành đề tài một cách tốt nhất, song do thời gian có hạn và mới làm quen với công tác nghiên cứu nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những đóng góp của quý thầy, cô cùng toàn thể các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày 09 tháng 01 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Hiền
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận được hoàn thành do sự cố gắng và nỗ lực của bản thân cùng với sự giúp đỡ tận tình của ThS Nguyễn Thị Lan Anh
Nội dung khóa luận không sao chép, trùng lặp với bất kì đề tài nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Đà Nẵng, ngày 10 tháng 01 năm 2019 Sinh viên
Nguyễn Thị Hiền
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế giới đang phát triển như vũ bão với sự bùng nổ của khoa học, kĩ thuật và những bước tiến nhảy vọt của tri thức nhân loại Trong sự phát triển kì diệu ấy, Việt Nam đang tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước Thời đại văn minh công nghiệp đòi hỏi người lao động phải có khả năng thích ứng, khả năng nghiên cứu và vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức của nhân loại vào điều kiện, hoàn cảnh và gắn liền với thực tế
Trong sự tồn tại, phát triển bền vững của quốc gia, giáo dục đóng vai trò vô cùng quan trọng Trước đòi hỏi của xã hội đối với giáo dục, Đảng đã ra nghị
quyết về: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Nghị quyết đã nêu rõ, cần chuyển
mạnh quá trình giáo dục từ truyền thụ kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho người học, đổi mới nội dung giáo dục và đào tạo theo hướng tinh giản, cơ bản, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, gắn lí thuyết với thực hành ứng dụng, phù hợp với từng cấp học, bậc học.[11]
Hóa học là bộ môn khoa học vừa lí thuyết vừa thực nghiệm, có vai trò vô cùng quan trọng trong nền giáo dục và kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Xuất phát
từ những yêu cầu của xã hội và thực tế giáo dục hiện nay, để phát triển các năng lực chung cốt lõi và năng lực chuyên môn cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn Hóa học, đòi hỏi giáo viên cần đổi mới nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức dạy học và kiểm tra đánh giá
Tuyển chọn và sử dụng bài tập Hóa học có nội dung gắn liền với thực tiễn là việc làm cần thiết giúp học sinh thấy được mối liên hệ giữa các kiến thức được học với thực tiễn, từ đó nâng cao chất lượng dạy và học theo định hướng đổi mới của
Bộ Giáo dục và Đào tạo Tuy nhiên, thực tế quá trình dạy và học hiện nay chủ yếu còn tập trung vào bài tập lí thuyết, bài tập tính toán nhiều khi xa rời với thực tiễn Việc khai thác các bài tập có sử dụng kiến thức hóa học, kiến thức liên môn giải quyết các vấn đề thực tiễn có liên quan là một việc làm cần thiết hiện nay
Trang 9Chương trình hóa học THCS, nhất là ở khối lớp 8 có rất ít bài tập liên quan đến việc giải quyết các vấn đề thực tiễn, các tư liệu tham khảo còn lan man, chưa
có hệ thống Xuất phát từ những lí do trên tôi đã chọn đề tài: “Tuyển chọn và sử dụng các bài tập Hóa học có nội dung thực tiễn trong dạy học các bài về chất chương trình hóa lớp 8 ở trường THCS”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc xây dựng, tuyển chọn và sử dụng một số bài tập Hóa học có nội dung gắn với thực tiễn trong dạy học Hóa học lớp 8 ở trường THCS nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh
3 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về xây dựng, tuyển chọn và sử dụng bài tập trong dạy học hóa học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh
- Xây dựng hệ thống câu hỏi và các dạng bài tập hóa học có nội dung gắn với thực tiễn trong chương trình Hóa lớp 8
- Sử dụng các bài tập hóa học có nội dung gắn với thực tiễn đã xây dựng và sưu tầm được trong dạy học Hóa học lớp 8
- Thực nghiệm sư phạm: tuyển chọn và sử dụng các câu hỏi và dạng bài tập đã xây dựng để phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh
- Phạm vi nghiên cứu
Chỉ nghiên cứu học sinh thuộc khối lớp 8 của trường THCS Lương Thế Vinh-TP
Đà Nẵng
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Hóa học ở trường THCS
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống câu hỏi, bài tập có nội dung gắn với thực tiễn trong dạy học phần Hóa học lớp 8
5 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng kết hợp các nhóm phương pháp sau đây:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết: phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa trong nghiên cứu tổng hợp tài liệu lí luận có liên quan
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Trang 10+ Điều tra, phỏng vấn, trao đổi, hỏi ý kiến giáo viên trong trường
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Nhóm phương pháp xử lý thông tin: Áp dụng phần mềm xử lý số liệu thống kê
để xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm thu được.[13]
6 Điểm mới của đề tài
Các bài tập Hóa học được sử dụng nhiều trong dạy học trước đây chủ yếu là những bài tập nặng về lí thuyết về tính toán, nhiều bài tập còn mang tính giả định chưa gắn liền với thực tiễn Do đó, việc nghiên cứu xây dựng, tuyển chọn và sử dụng các câu hỏi, dạng bài tập hóa học có nội dung gắn với thực tiễn trong dạy học Hóa học THCS sẽ góp phần khắc phục những tồn tại trên, giúp học sinh củng
cố kiến thức, phát triển tư duy, hình thành các năng lực chung cũng như các năng lực chuyên biệt thông qua môn Hóa học, giúp việc học của HS trở nên có ý nghĩa hơn, tạo hứng thú và động lực học tập cho các em
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Đổi mới giáo dục ở trường phổ thông
1.1.1 Xu hướng đổi mới giáo dục trên thế giới và Việt Nam
Hiện nay, trên thế giới có một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học như sau:
- Chuyển từ mô hình truyền thụ một chiều sang mô hình dạy học hợp tác hai chiều
- Chuyển từ quan điểm phương pháp dạy học “lấy GV làm trung tâm” sang quan điểm “lấy HS làm trung tâm”
- Dạy cách học, bồi dưỡng năng lực tự học, tự đánh giá
- Học không chỉ để nắm kiến thức mà còn nắm cả phương pháp giành lấy kiến thức
- Học việc áp dụng kiến thức và bồi dưỡng thái độ làm trung tâm
ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức tạp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức tạp hơn Những định hướng chung, tổng quát về đổi mới phương pháp dạy học các môn học thuộc chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là:
Trang 12- Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin,…) trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của
tư duy
- Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”
- Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học Tùy theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm, học trong lớp, học ở ngoài lớp,…Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học
- Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Việc đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên được thể hiện qua các đặc trưng cơ bản sau:
a/ Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, từ đó giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn Theo tinh thần này, giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành
b/ Chú trọng rèn luyện cho học sinh những tri thức phương pháp để họ biết cách đọc sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, biết cách suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới,…Các tri thức phương pháp thường là những quy tắc, quy trình, phương thức hành động, tuy nhiên cũng cần coi trọng cả các phương pháp có tính chất dự đoán, giả định (ví dụ: các bước cân bằng phương trình phản ứng hóa học, phương pháp giải bài tập hóa học,…) Cần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy như phân tích,
Trang 13tổng hợp, đặc biệt hóa, khái quát hóa, tương tự, quy lạ về quen…để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo của học sinh
c/ Tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác theo phương châm
“tạo điều kiện cho học sinh suy nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn” Điều đó có nghĩa, mỗi học sinh vừa cố gắng tự lực một cách độc lập, vừa hợp tác chặt chẽ với nhau trong quá trình tiếp cận, phát hiện và tìm tòi kiến thức mới Lớp học trở thành môi trường giao tiếp thầy-trò và trò-trò nhằm vận dụng
sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung
d/ Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học) Chú trọng phát triển kĩ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức như theo lời giải/ đáp án mẫu, theo hướng dẫn hoặc tự xác định tiêu chí để
có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót
Như vậy có thể thấy rằng, xu hướng đổi mới các phương pháp dạy học hiện nay là chú trọng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong tổ chức các hoạt động học tập để học sinh chủ động tìm tòi khám phá kiến thức để hình thành phẩm chất và năng lực con người lao động trong xu thế hội nhập và phát triển.[1]
1.2 Định hướng phát triển năng lực cho học sinh trong giáo dục phổ thông
1.2.1 Khái niệm năng lực
Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn
có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,…thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đợi kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.[1]
1.2.2 Cấu trúc của năng lực
Để hình thành và phát triển năng lực cho HS cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng Cấu trúc chung của năng lực được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cụ thể
Trang 14- Năng lực chuyên môn: Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung- chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức tâm lý vận động
- Năng lực phương pháp: Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn Trung tâm của phương pháp nhận thức là ngừng khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận- giải quyết vấn đề
- Năng lực xã hội: Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp
- Năng lực cá thể: Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc- đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm.[3]
1.2.3 Các năng lực cốt lõi cần phát triển cho học sinh phổ thông
1.2.3.1 Khái niệm
Năng lực cốt lõi là năng lực cơ bản thiết yếu mà bất kỳ ai cũng cần phải có
để sống, học tập và làm việc hiệu quả.[1]
* Năng lực tự chủ và tự học
- Tự lực: Chủ động, tích cực thực hiện những công việc của bản thân trong học tập và trong cuộc sống, không đồng tình với những hành vi sống dựa dẫm, ỷ lại
Trang 15- Tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu cá nhân chính đáng: Hiểu biết về quyền, nhu cầu cá nhân, biết phân biệt quyền, nhu cầu chính đáng và không chính đáng
- Tự kiểm soát tình cảm, thái độ, hành vi của mình:
+ Nhận biết tình cảm, cảm xúc của bản thân và hiểu được ảnh hưởng của tình cảm, cảm xúc đến hành vi
+ Biết làm chủ tình cảm, cảm xúc để có hành vi phù hợp trong học tập và đời sống
+ Kiên trì thực hiện kế hoạch học tập, lao động
+ Không đua đòi ăn diện lãng phí, nghịch ngợm
+ Không nghe theo người xấu làm những việc xấu
- Tự định hướng nghề nghiệp:
+ Nhận thức được sở thích, khả năng của bản thân
+ Hiểu được vai trò của các hoạt động kinh tế trong đời sống xã hội
+ Nắm được một số thông tin chính về các ngành nghề ở địa phương, ngành nghề thuộc các lĩnh vực sản xuất chủ yếu, lựa chọn được hướng phát triển phù hợp sau trung học cơ sở
+ Nhận thức được cá tính và giá trị sống của bản thân
+ Nắm được những thông tin chính về thị trường lao động, về yêu cầu và triển vọng của các ngành nghề
+ Xác định được hướng phát triển phù hợp sau trung học phổ thông, lập được
kế hoạch, lựa chọn học các môn học phù hợp với định hướng nghề nghiệp của bản thân
- Tự học, tự hoàn thiện
+ Tự đặt được mục tiêu học tập để nỗ lực phấn đấu thực hiện
+ Lập và thực hiện kế hoạch học tập, lựa chọn được các nguồn tài liệu học tập phù hợp, lưu giữ thông tin có chọn lọc bằng ghi tóm tắt, bằng bản đồ, bảng, các từ khóa; ghi chú bài giảng của giáo viên theo các ý chính
+ Nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi được giáo viên, bạn bè góp ý, chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ của người khác khi gặp khó khăn trong học tập
Trang 16+ Rèn luyện, khắc phục những hạn chế của bản thân tới các giá trị xã hội
* Năng lực giao tiếp và hợp tác
- Khả năng xác định mục đích, nội dung, phương tiện và thái độ giao tiếp: + Bước đầu biết đặt ra mục đích giao tiếp và hiểu được vai trò quan trọng của việc đặt mục tiêu trước khi giao tiếp
+ Hiểu được nội dung và phương thức giao tiếp cần phù hợp với mục đích giao tiếp và biết vận dụng để giao tiếp hiệu quả
+ Tiếp nhận được các văn bản về những vấn đề đơn giản của đời sống, khoa học, nghệ thuật, có sử dụng ngôn ngữ kết hợp với biểu đồ, số liệu, công thức, ký hiệu
+ Biết sử dụng ngôn ngữ kết hợp với biểu đồ, số liệu công thức, ký hiệu để trình bày thông tin, ý tưởng và thảo luận những vấn đề đơn giản về đời sống, khoa học, nghệ thuật
+ Lắng nghe và có phản hồi tích cực trong giao tiếp, nhận biết được ngữ cảnh giao tiếp và đặc điểm, thái độ của đối tượng giao tiếp
- Thiết lập, phát triển các quan hệ xã hội, điều chỉnh và hòa giải các mâu thuẫn
+ Biết cách thiết lập, duy trì và phát triển các mối quan hệ với các thành viên của cộng đồng (họ hàng, bạn bè hàng xóm, …)
+ Nhận biết được mâu thuẫn giữa bản thân với người khác hoặc giữa những người khác với nhau; có thiện chí dàn xếp và biết cách dàn xếp mâu thuẫn
- Xác định mục đích và phương thức hợp tác: Chủ động đề xuất mục đích hợp tác thì được giao nhiệm vụ, xác định được những công việc có thể hoàn thành tốt nhất bằng hợp tác theo nhóm
- Xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân: Hiểu rõ nhiệm vụ của nhóm, đánh giá được khả năng của mình và tự nhận công việc phù hợp với bản thân
- Xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác: Đánh giá được nguyện vọng, khả năng của từng thành viên trong nhóm để đề xuất phương án tổ chức hoạt động hợp tác Qua theo dõi, đánh giá được khả năng hoàn thành công việc của từng thành viên trong nhóm để đề xuất điều chỉnh phương án phân công công việc và tổ chức hoạt động hợp tác
Trang 17- Tổ chức và thuyết phục người khác: Chủ động và gương mẫu hoàn thành việc được giao, góp ý điều chỉnh thức đẩy hoạt động chung, khiêm tốn học hỏi các thành viên trong nhóm
- Đánh giá hoạt động hợp tác: Nhận xét được ưu điểm, thiếu sót của bản thân, của từng thành viên trong nhóm và của cả nhóm trong công việc
* Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
- Nhận ra ý tưởng mới: Xác định và làm rõ thông tin ý tưởng mới, phân tích, tóm tắt những thông tin liên quan từ nhiều nguồn khác nhau
- Phát hiện và làm rõ vấn đề: Phân tích được tình huống trong học tập, phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập
- Hình thành và triển khai ý tưởng mới: Phát hiện yếu tố mới, tích cực trong những ý kiến của người khác; hình thành ý tưởng dựa trên các nguồn thông tin đã cho; đề xuất giải pháp cải tiến hay thay thế các giải pháp không còn phù hợp; so sánh và bình luận được về các giải pháp đề xuất
- Đề xuất, lựa chọn giải pháp; Xác định được và biết tìm hiểu các thông tin liên quan đến vấn đề; đề xuất được giải pháp giải quyết vấn đề
- Thực hiện và đánh giá giải quyết vấn đề: Thực hiện giải pháp giải quyết vấn đề và nhận ra sự phù hợp hay không phù hợp của giải pháp thực hiện Thực hiện và đánh giá giải quyết vấn đề, suy ngẫm về cách thức và tiến trình giải quyết vấn đề điều chỉnh và vận dụng trong bối cảnh mới
- Tư duy độc lập: Đặt các câu hỏi khác nhau về một sự vật, hiện tượng, chú ý lắng nghe và tiếp nhận thông tin; ý tưởng với sự cân nhắc, chọn lọc quan tâm tới các chứng cứ khi nhìn nhận; đánh giá sự vật, hiện tượng, đánh giá vấn đề, tình huống dưới những góc nhìn khác nhau.[2]
b Năng lực chuyên môn
Trang 18Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẫm mỹ, năng lực thể chất.[2]
- Năng lực sử dụng thuật ngữ hóa học
- Năng lực sử dụng các danh pháp hóa học
- Nghe và hiểu được nội dung các thuật ngữ hóa học, danh pháp hóa học và các biểu tượng hóa học (kí hiệu, hình vẽ, mô hình cấu trúc phân tử các chất, liên kết hóa học…)
- Viết và biểu diễn đúng công thức hóa học của các hợp chất vô cơ và hữu cơ, các dạng công thức (CTPT, CTCT, CT lập thể,…), đồng đẳng, đồng phân
- Hiểu và rút ra được các quy tắc, đọc tên và đúng theo các danh pháp khác nhau đối với các hợp chất hữu
cơ
- Trình bày được các thuật ngữ hóa học, danh pháp hóa học và hiểu được ý nghĩa của chúng
- Vận dụng ngôn ngữ hóa học trong các tình huống mới
Trang 19Năng lực
- Năng lực quan sát, mô tả, giải thích các hiện tượng TN và rút ra các kết luận
- Năng lực xử lý thông tin liên quan đến TN
- Hiểu được tác dụng và cấu tạo của các dụng cụ và hóa chất cần thiết để làm TN
- Lựa chọn dụng cụ và hóa chất cần thiết chuẩn bị cho các TN
- Lắp các bộ dụng cụ cần thiết cho từng TN, hiểu được tác dụng của từng bộ phận, biết phân tích sự đúng sai trong cách lắp
- Tiến hành đọc lập một số TN hóa học đơn giản
- Tiến hành đọc lập một số TN hóa học đơn giản
- Tiến hành có sự hỗ trợ của GV một số TN hóa học phức tạp
- Biết cách quan sát, nhận ra được các hiện tượng TN
- Mô tả chính xác các hiện tượng
TN
- Giải thích một cách khoa học các hiện tượng TN đã xảy ra, viết được các PTHH và rút ra những kết luận cần thiết
- Xác định mối tương quan giữa
Trang 20- Sử dụng được thành thạo phương pháp đại số trong toán học và mối liên hệ với các kiến thức hóa học
để giải các bài toán hóa học
- Sử dụng hiệu quả các thuật toán
để biện luận và tính toán các dạng bài toán hóa học, áp dụng trong các tình huống thực tiễn
- Phân tích được tình huống trong học tập, trong cuộc sống Phát hiện
và nêu tình huống co vấn đề trong học tập môn hóa học
- Xác định được và biết tìm hiểu các thông tin liên quan đến vấn đề phát hiện trong các chủ đề hóa học
- Thu thập và làm rõ các thông tin
có liên quan đến vấn đề phát hiện trong các chủ đề hóa học
- Đề xuất được giải pháp giải quyết vấn đã phát hiện
+ Lập được kế hoạch để giải quyết một số vấn đề đơn giản
+ Thực hiện được kế hoạch đã đề ra
có sự hỗ trợ của giáo viên
- Đề xuất được giả thuyết khoa học khác nhau
+ Lập được kế hoạch để giải quyết vấn đề đặt ra trên cơ sở biết kết hợp các thao tác tư duy và các phương pháp phản đoán, tự phân tích, tự giải quyết đúng với những vấn đề mới
+ Thực hiện kế hoạch độc lập sáng tạo hoặc hợp tác trong nhóm
Trang 21Năng lực
- Thực hiện giải pháp giải quyết vấn
đề và nhận ra sự phù hợp hay không phù hợp của giải pháp thực hiện đó
Đưa ra kết luận chính xác và ngắn gọn
đó
- Thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề suy ngẫm về cách thức và tiến trình giải quyết vấn đề
để điều chỉnh và vận dụng trong tình huống mới
- Có năng lực hệ thống hóa kiến thức - Có năng lực hệ thống hóa kiến
thức, phân loại kiến thức hóa học, hiểu rõ đặc điểm, nội dung, thuộc tính của loại kiến thức hóa học đó Khi vận dụng kiến thức chính là việc lựa chọn kiến thức một cách phù hợp với mỗi hiện tượng, tình huống cụ thể xảy ra trong cuộc sống, tự nhiên và xã hội
- Năng lực phân tích tổng hợp các kiến thức hóa học vận dụng vào cuộc sống thực tiễn
- Định lượng được các kiến thức hóa học một cách tổng hợp và khi vận dụng kiến thức hóa học có chú
ý rõ ràng về loại kiến thức hóa học
đó được ứng dụng trong các lĩnh vực gì, nghành nghề gì, trong cuộc sống tự nhiên và xã hội
- Năng lực phát hiện nội dung kiến thức hóa học trong các vấn đề, các lĩnh vực khác nhau
- Phát hiện và hiểu rõ được các ứng dụng của hóa học trong các vấn đề thực phẩm, sinh hoạt, y học, sức khỏe, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và môi trường
- Năng lực phát hiện vấn đề trong thực tiễn và sử dụng kiến thức hóa học để giải thích
- Tìm mối liên hệ và giải thích được các hiện tượng trong tự nhiên
và các ứng dụng của hóa học trong
Trang 22Năng lực
cuộc sống và các lĩnh vực đã nêu dựa trên dựa vào các kiến thức liên môn khác
- Năng lực độc lập sáng tạo trong việc
xử lý các vấn đề thực tiễn
- Chủ động sáng tạo lựa chọn phương pháp, cách thức giải quyết vấn đề Có năng lực hiểu biết và tham gia thảo luận về các vấn đề hóa học liên quan đến vấn đề hóa học có liên quan đến cuộc sống thực tiễn và bước đầu biết tham gia nghiên cứu khoa học để giải quyết các vấn đề đó
1.3 Bài tập hóa học
1.3.1 Khái niệm
Khái niệm “bài tập” được hiểu theo nghĩa rộng, bài tập có thể là câu hỏi hay bài toán là loại bài ra cho HS vận dụng những điều đã học để giải quyết bằng các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa,…Thông qua việc giải bài tập hình thành các khái niệm, phát triển tư duy cho HS và rèn luyện kỹ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn gây hứng thú cho HS.[2]
1.3.2 Ý nghĩa tác dụng của bài tập hóa học
1.3.2.1 Ý nghĩa trí dục
Làm chính xác hóa các khái niệm hóa học Củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn Chỉ khi vận dụng được các kiến thức vào việc giải bài tập, học sinh mới nắm được các kiến thức một cách sâu sắc
Ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực nhất Thực tế cho thấy học sinh chỉ thích giải bài tập trong giờ ôn tập Rèn luyện kỹ năng hóa học như cân bằng phương trình phản ứng, tính toán theo công thức hóa học và phương trình hóa học
Trang 23Nếu là bài tập thực nghiệm sẽ rèn các kỹ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho học sinh Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, lao động sản xuất và bảo vệ môi trường Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hóa học và các thao tác tư duy Bài tập hóa học còn là phương pháp để kiểm tra kiến thức, kỹ năng của học sinh một cách chính xác.[3]
1.3.3 Phân loại bài tập hóa học
Có nhiều cơ sở để phân loại bài tập thành các dạng khác nhau:
1.3.3.1 Phân loại dựa vào nội dung hóa học của bài tập
Hệ thống hóa kiến thức hóa học dựa vào việc xây dựng bài tập theo từng chủ
đề, phục vụ một cách dễ dàng cho ôn tập hoặc dạy bài mới
Tên của loại bài tập có thể là tên của các chương, các bài trong SGK.[4]
1.3.3.2 Phân loại dựa vào khối lượng kiến thức (mức độ khó dễ của bài tập)
Có thể chia thành bài tập đơn giản (cơ bản), bài tập phức tạp (tổng hợp) Trên
cơ sở phân hóa theo năng lực học tập của học sinh có thể hệ thống hóa các bài tập hóa học ở các mức độ khác nhau Thông thường, dựa vào khối lượng kiến thức, nội dung bài tập có thể nêu ra ba mức độ
- Mức độ 1: Hướng dẫn cho HS nêu ra được các tính chất, các hiện tượng, cách lí giải những nguyên nhân cơ bản nhất, trình bày lại kiến thức cơ bản nhất dựa vào trí nhớ
- Mức độ 2: HS biết vận dụng kiến thức vào những điều kiện, hoàn cảnh mới
Để giải quyết vấn đề này HS cần có sự phân tích, so sánh các kiến thức cơ bản để
có được sự lựa chọn phù hợp nhất cho việc giải quyết vấn đề
- Mức độ 3: HS không chỉ so sánh, phân tích mà cần phải khái quát hóa các
số liệu thu được, dùng chúng trong các điều kiện mới phức tạp và khó khăn hơn
Trang 241.3.3.3 Phân loại dựa vào đặc điểm về phương pháp giải bài tập
Để giải bài tập hóa học ta có các phương pháp, cách giải khác nhau về đặc điểm Do đó ta có thể phân loại bài tập dựa theo các đặc điểm đó
Ví dụ: Các dạng bài tập:
- Cân bằng phản ứng
- Nhận biết các chất
- Tách các chất ra khỏi hỗn hợp
- Viết chuỗi phản ứng điều chế các chất
- Tính toán theo công thức hóa học, phương trình hóa học
- Lập công thức phân tử
- Xác định thành phần hỗn hợp
- Bài tập tổng hợp
1.3.3.4 Phân loại dựa vào cách thức tiến hành kiểm tra
- Kiểm tra nói: Có thể đưa ra câu hỏi về lí thuyết, bài tập hay thực hành mà học sinh có thể trả lời hay giải được trong thời gian ngắn
- Kiểm tra viết: Có hai dạng bài tập chủ yếu sau đây:
+ Bài tập trắc nghiệm tự luận: Là loại bài tập khi trình bày HS phải tự viết câu trả lời, tự trình bày, lý giải, chứng mình bằng ngôn ngữ của mình một cách chính xác
+ Bài tập trắc nghiệm khách quan: Là loại bài tập dùng để kiểm tra đánh giá kết học tập của HS bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan mà cách tính điểm hoàn toàn không phụ thuộc vào người chấm
1.3.3.5 Phân loại dựa vào tính chất của bài tập
Đây là cách phân loại có ý nghĩa và được sử dụng rộng rãi nhất
- Bài tập định tính: là những bài tập khi giải HS chỉ dựa vào sự suy luận đơn giản hoặc dựa vào nội dung lý thuyết của đề bài để trả lời Do đó HS phải hiểu rõ bản chất của các khái niệm, định luật, nguyên lý và nhận biết được những hiện tượng của chúng trong các trường hợp cụ thể
- Bài tập định lượng: là loại BT mà muốn giải được chúng ta phải thực hiện một loạt các phép tính và kết quả thu được là một đáp số định lượng BT định lượng có tác dụng củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo tính toán từ đó
Trang 25phát triển tư duy của HS thông qua việc tạo lập các mối liên hệ giữa các dữ kiện bài toán và tìm tòi các cách giải quyết BT một cách thông minh nhất.[1]
- Bài tập thực nghiệm: là loại bài tập có tính trực quan cao, để giải loại bài tập này HS phải là thí nghiệm, quan sát và nhận xét hiện tượng xảy ra Giải thích được nguyên nhân và nắm rõ các thao tác tiến hành thí nghiệm
Bài tập thực nghiệm có những tính chất sau:
+ Tính chất lí thuyết: HS phải nắm vững lí thuyết và biết vận dụng lí thuyết một cách linh hoạt
+ Tính chất thực hành: HS phải vận dụng kĩ năng thực hành để giải quyết các nhiệm vụ của bài tập đặt ra
Hai tính chất trên có mối liên hệ biện chứng thống nhất Lí thuyết chỉ đạo, hướng dẫn HS thí nghiệm đi đến kết quả, kết quả thực hành sẽ bổ sung hoàn chỉnh lí thuyết thật chính xác
- Bài tập vận dụng kiến thức hóa học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn: là những bài tập có nội dung hóa học (những điều kiện và yêu cầu) xuất phát từ thực tiễn Quan trọng nhất là các bài tập vận dụng kiến thức vào cuộc sống và sản xuất góp phần giải quyết một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn
* Dựa vào tính chất của bài tập, Có thể chia thành:
+ Bài tập định tính: Bao gồm các bài tập về giải thích các hiện tượng, các
tình huống nảy sinh trong thực tiễn; lựa chọn hoá chất cần dùng cho phù hợp với tình huống thực tiễn, nhận biết, tinh chế, đề ra phương hướng để cải tạo thực tiễn…
Ví dụ:
1) Vì sao ban đêm không nên để nhiều cây xanh trong nhà?
2) Một lượng nhỏ khí clo có thể làm nhiễm bẩn không khí trong phòng thí nghiệm Hãy tìm cách để loại bỏ lượng khí clo đó
+ Bài tập định lượng: Bao gồm dạng bài tập về tính lượng hoá chất cần dùng,
pha chế dung dịch…
Ví dụ: Theo tính toán của các nhà khoa học, mỗi ngày cơ thể người cần được cung cấp 1,5.10-4g nguyên tố iot Nếu nguồn cung cấp chỉ là KI thì khối lượng KI cần dùng cho một người trong một ngày là bao nhiêu?
Trang 26+ Bài tập tổng hợp: Bao gồm cả kiến thức định tính lẫn định lượng
Ví dụ: Hàng năm thế giới tiêu thụ khoảng 45 triệu tấn Cl2
a) Nếu lượng clo trên chỉ được điều chế từ NaCl thì cần ít nhất bao nhiêu tấn NaCl
b) Biết 1m3 Clo lỏng nặng 1400 kg, hãy tính thể tích Clo lỏng tương ứng với
45 triệu tấn nói trên
c) Thể tích clo lỏng nhỏ hơn bao nhiêu lần so với thể tích clo khí ở điều kiện tiêu chuẩn với cùng một khối lượng
d) Người ta thường kết hợp điều chế Clo với điều chế xút Viết phương trình hóa học xảy ra
* Dựa vào lĩnh vực thực tiễn gắn liền với nội dụng bài tập, có thể chia
thành:
+ Bài tập về sản xuất hóa học
+ Bài tập về các vấn đề trong đời sống, học tập và lao động sản xuất Bao
gồm các dạng bài tập về:
- Giải quyết các tình huống có vấn đề trong quá trình làm thực hành, thí nghiệm như: Sử dụng dụng cụ thí nghiệm, sử dụng hoá chất hợp lí, xử lí tai nạn xảy ra, phòng chống độc hại, ô nhiễm trong khi làm thí nghiệm…
Ví dụ :
1) Khi làm thí nghiệm với photpho trắng, cần chú ý gì?
A Cầm P trắng bằng tay có đeo găng cao su
B Dùng cặp gắp nhanh mẩu P trắng ra khỏi lọ và ngâm ngay vào chậu đựng đầy nước khi chưa dùng đến
C Tránh cho P trắng tiếp xúc với nước
Trang 27- Sử dụng và bảo quản các hoá chất, sản phẩm hoá học trong ăn uống, chữa bệnh, giặt giũ, tẩy rửa…
Ví dụ:
1) Các loại trứng gia cầm dù có dính bùn đất hoặc bị vấy bẩn cũng không nên rửa sạch vì sẽ làm trứng dễ bị hỏng Để bảo quản trứng lâu, không bị hư, người ta đem nhúng trứng vào nước vôi trong Hãy giải thích tại sao?
2) Cà rốt là loại củ có chứa đường và có hàm lượng vitamin A rất cao Nhiều người thích ăn cà rốt sống và làm nộm cà rốt vì cho rằng sẽ hấp thụ hết lượng tiền vitamin A trong đó Quan điểm đó có đúng không? Tại sao?
- Sơ cứu tai nạn do hoá chất
Ví dụ: Brom lỏng là chất độc hại, khi dây vào da nó làm bỏng rất sâu và nặng Khi bị nước brom dây vào tay cần rửa ngay bằng chất nào sau đây?
A Nước
B Dung dịch amoniac loãng
C Dung dịch giấm ăn
D Dung dịch xút loãng
Em hãy giải thích tại sao lại làm như vậy?
* Giải thích các hiện tượng, tình huống có vấn đề nảy sinh trong đời sống, lao động sản xuất
Ví dụ: Vì sao trộn phân đạm một lá (NH4)2SO4, hai lá NH4NO3 hoặc nước tiểu với vôi Ca(OH)2 hay tro bếp (hàm lượng K2CO3 cao) đều bị mất đạm
+ Bài tập có liên quan đến môi trường và vấn đề bảo vệ môi trường
Ví dụ: Mức tối thiểu cho phép của H2S trong không khí là 0,01 ml/l Để đánh giá sự ô nhiễm không khí của một nhà máy người ta làm như sau: điện phân dung dịch KI trong 2 phút bằng dòng điện 2mA Sau đó cho 2 lít không khí lội từ trong dung dịch điện phân trên cho đến khi iota hoàn toàn mất màu Thêm hồ tinh bột vào bình và tiếp tục điện phân trong 35 giây nữa với dòng điện trên thì thấy dung dịch bắt đầu xuất hiện màu xanh [7]
Giải thích thí nghiệm trên và cho biết sự ô nhiễm không khí ở nhà máy trên nằm dưới hoặc trên mức cho phép Tính hàm lượng của H2S trong không khí theo thể tích
Trang 28Mỗi lĩnh vực thực tiễn trên lại bao gồm tất cả các loại bài tập định tính, định lượng, tổng hợp, bài tập lí thuyết, bài tập thực hành
* Dựa vào mức độ nhận thức của HS Căn cứ vào chất lượng của quá trình
lĩnh hội và kết quả học tập, GS Nguyên Ngọc Quang đã đưa ra 4 trình độ lĩnh hội (4 mức độ) như sau:
+ Mức 1: Chỉ yêu cầu HS tái hiện kiến thức để trả lời câu hỏi lí thuyết
Ví dụ: Để tráng bên trong ruột phích, người ta dùng phản ứng của glucose với AgNO3 trong dung dịch NH3
a) Viết phương trình hóa học của phản ứng xảy ra
b) Vì sao người ta không dùng fomalin để tráng ruột phích?[11]
+ Mức 2: Yêu cầu HS vận dụng kiến thức để giải thích được các sự kiện, hiện tượng của câu hỏi lí thuyết
Ví dụ:
1) Trong khẩu phần ăn, tinh bột có vai trò như thế nào?
2) Vì sao xà phòng bị giảm tác dụng giặt rửa trong nước cứng còn bột giặt tổng hợp thì không?
+ Mức 3: Yêu cầu HS vận dụng kiến thức hoá học để giải thích những tình huống xảy ra trong thực tiễn
Ví dụ:
1) Dân gian có câu: “Nhai kĩ no lâu, cày sâu tốt lúa” Vì sao nhai kĩ no lâu? 2) Trong cuộc chiến tranh kháng chiến chống Pháp, nhân dân ta đã điều chế diêm tiêu (KNO3), thành phần chính của thuốc nổ, bằng cách lấy đất ở trong các hang đá vôi có dơi ở trộn với tro bếp rồi dùng nước sôi dội nhiều lần qua hỗn hợp
đó để tách ra KNO3 Hãy giải thích cách làm đó[12]
+ Mức 4: Yêu cầu HS vận dụng kiến thức, kĩ năng hoá học để giải quyết những tình huống thực tiễn hoặc để thực hiện một công trình nghiên cứu khoa học nhỏ, đơn giản, đề ra kế hoạch hành động cụ thể, viết báo cáo
Ví dụ: Điesel sinh học là một loại nhiên liệu có tính chất tương đương với nhiên liệu dầu điesel nhưng không phải sản xuất từ dầu mỏ mà từ dầu thực vật (cây cải dầu, cây đậu nành, cây hướng dương, dầu dừa, dầu hạt cau) hay mỡ động vật (cá da trơn) Nhìn theo phương diện hoá học thì điesel sinh học là metyl este
Trang 29của những axit béo Để sản xuất điesel sinh học người ta pha khoảng 10% metanol vào dầu thực vật (mỡ động vật) và dùng nhiều chất xúc tác khác nhau (KOH, NaOH, ancolat) Phản ứng tiến hành ở áp suất thường, nhiệt độ 600℃ Hãy viết phản ứng hoá học xảy ra trong quá trình sản xuất điesel sinh học Phân tích ưu, nhược điểm của việc sản xuất loại nhiên liệu này [7]
Từng mức độ trên có thể được chia làm nhiều mức độ nhỏ hơn nữa để phù hợp với trình độ của HS đồng thời cũng thể hiện sự phân hoá HS trong cùng một bài, trong hệ thống BTHH thực tiễn
Trên đây là một số cách phân loại BTHH thực tiễn Tuy nhiên, có nhiều BTHH thực tiễn lại là tổng hợp của rất nhiều loại bài
1.3.4 Ý nghĩa tác dụng của bài tập hóa học có nội dung gắn với thực tiễn trong phát triển năng lực cho học sinh
Bài tập hóa học có nội dung gắn với thực tiễn mang đầy đủ các vai trò chức năng của một số bài tập hóa học Ngoài ra dạng bài tập này còn có ý nghĩa đặc trưng riêng
1.3.4.1 Về kiến thức
- Thông qua hoạt động giải bài tập hóa học thực tiễn, HS hiểu kĩ hơn các khái niệm, tính chất hóa học, củng cố kiến thức một cách thường xuyên, mở rộng sự hiểu biết cho HS một cách sinh động, phong phú
- Bài tập thực tiễn giúp HS thêm hiểu biết về thiên nhiên, môi trường sống, những vấn đề mang tính thời sự
- Bài tập thực tiễn giúp HS bước đầu biết vận dụng kiến thức để lí giải và cải tạo thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống.[4]
1.3.4.3 Về giáo dục tư tưởng
- Rèn luyện cho HS tính kiên nhẫn, tự giác, chủ động, sáng tạo trong học tập
và trong quá trình giải quyết các vấn đề thực tiễn
Trang 30- Thông qua nội dung bài tập, giúp HS thấy rõ lợi ích của việc học môn Hóa học từ đó tạo động cơ học tập tích cực, kích thích trí tò mò, óc quan sát, sự ham hiểu biết, làm tăng hứng thú học tập và từ đó có thể giúp HS say mê nghiên cứu khoa học, công nghệ, có những định hướng nghề nghiệp trong tương lai
- Bài tập thực tiễn gần gũi, gắn liền với cuộc sống xung quanh nên góp phần rất lớn làm tăng động cơ học tập của HS để nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân và của cuộc sống
- Vấn đề về môi trường hiện nay đang trở thành vấn đề cấp bách và mang tính toàn cầu Môn hóa học có nhiệm vụ và có nhiều khả năng giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ môi trường Cần tích cực nội dung về bảo vệ môi trường vào việc dạy học Hóa học Thông qua đó, rèn luyện văn hóa lao động (lao động có tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ nơi làm việc)
- Bài tập thực tiễn có vai trò giáo dục trí dục kết hợp với thực tiễn sẽ giúp HS củng cố, vận dụng kiến thức, hình thành kĩ năng và thái độ, đây là điều liện tốt nhất để HS có thể hình thành được các năng lực chung cốt lõi cũng như các năng lực chuyên biệt thông qua môn Hóa học như: năng lực giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn…nâng cao chất lượng dạy học Hóa học ở trường THCS theo định hướng đổi mới giáo dục hiện nay.[4]
1.3.4.4 Về phát triển năng lực
Thông qua việc giải các bài tập hóa học có nội dung gắn với thực tiễn góp phần hình thành và phát huy ở HS các năng lực cốt lõi cần thiết cho học tập và cuộc sống như:
Về năng lực chung: giúp HS phát huy tốt năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác cũng như nhóm năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Về năng lực chuyên môn: góp phần hình thành và phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học, năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn hóa học, năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống của HS.[3]
Trang 311.4 Thực trạng dạy học việc sử dụng hệ thống bài tập nói chung và bài tập thực tiễn trong dạy học Hóa học lớp 8
1.4.1 Mục đích điều tra
Thực tế dạy học hóa học 8 ở trường hiện nay vẫn còn mang nặng tính chất thông báo, tái hiện Đồng thời do nhu cầu và động cơ học tập của HS đối với môn Hóa học 8 chưa đúng đắn, nên HS học tập một cách thụ động, gò ép Do đó,
GV cần phải có PPDH tích cực hơn, đặt HS trước mỗi tình huống học tập có vấn
đề để các em chủ động tham gia vào hoạt động học tập có hiệu quả hơn Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy: dạy học bằng tình huống đã được nghiên cứu và vận dụng nhiều đối với các môn học khác, riêng đối với môn hóa học 8 vẫn còn hạn chế và cần được quan tâm nhiều hơn nữa
1.4.2 Nội dung điều tra
Trong giảng dạy hóa học ở phổ thông, chủ yếu tập trung vào việc nắm kiến thức hóa học mà hạn chế việc đánh giá kỹ năng tự học, kỹ năng làm việc khoa học, kỹ năng thực hành…
Về nội dung, còn ít các nội dung thực hành thí nghiệm, kiến thức gắn liền với thực tế cuộc sống, kỹ năng vận dụng kiến thức vào đời sống sản xuất Chưa chú ý đánh giá năng lực thực hành, tổng hợp kiến thức, vận dụng kiến thức vào thực tiễn
1.4.3 Phương pháp điều tra
Chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát bằng phiếu hỏi trên 20 GV dạy hóa học thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo TP Đà Nẵng để xác định chất lượng dạy và học Từ đó, tìm nguyên nhân hạn chế, chất lượng dạy và học Các kết quả được chúng tôi xử lí bằng phần mềm Microsoft Excel 2013
1.4.4 Đối tượng điều tra
Nguồn tư liệu hiện nay: chúng tôi đã thực hiện phương pháp điều tra, tham khảo ý kiến của 20 GV dạy ở các trường THCS thuộc thành phố Đà Nẵng,
1.4.5 Xây dựng phiếu điều tra
( Mục lục)
1.4.6 Kết quả điều tra
Trang 32Bảng 1.2 Mức độ sử dụng BTHH gắn với thực tiễn trong dạy học của GV
Rất thường xuyên
Thường xuyên
Đôi khi Không sử
dụng
Khi luyện tập, ôn tập, tổng kết 10,71% 28,57% 53,57% 7,14% Khi kiểm tra – đánh giá kiến thức 12,5% 25,00% 51,79% 10,71% Hoạt động ngoại khóa 23,21% 35,71% 21,43% 19,64%
Bảng 1.3 Tình hình sử dụng dạng BTHH gắn với thực tiễn trong dạy học theo các mức độ nhận thức của HS
Rất thường
xuyên
Thường
xuyên Đôi khi Không
sử dụng
Chỉ yêu cầu HS tái hiện kiến thức để
trả lời câu hỏi lí thuyết 8,93% 55,36% 5,71% 0%
Yêu cầu HS vận dụng kiến thức để giải
thích được các sự kiện, hiện tượng của
câu hỏi lí thuyết
8,93% 28,57% 60,7% 1,79%
Yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức
hoá học để giải thích những tình huống
xảy ra trong thực tiễn
8,93% 28,57% 60,7% 1,79%
Yêu cầu HS vận dụng kiến thức, kĩ
năng hoá học để giải quyết những tình
huống thực tiễn hoặc để thực hiện một
công trình nghiên cứu khoa học nhỏ,
đơn giản, đề ra kế hoạch hành động cụ
thể, viết báo cáo
1,79% 14,29% 50,0% 33,93%
Trang 33Bảng 1.4 Tình hình sử dụng dạng BTHH thông qua việc giải các bài tập hóa học gắn với thực tiễn sẽ giúp cho học sinh:
Nhiều Vừa
phải
Ít Không
Tăng vốn kiến thức về hóa học có nội
dung liên quan đến thực tiễn 15,3% 28,5% 46,7% 9,5% Vận dụng các kiến thức hóa học giải
Có hứng thú tìm tòi, tham khảo các tài
liệu (trong sách giáo khoa, báo chí,
internet, ) có liên quan đến ứng dụng
- Dạng bài tập đưa vào chủ yếu ở mức độ tái hiện kiến thức và vận dụng kiến thức để giải thích được các sự kiện, hiện tượng của câu hỏi lí thuyết (mức độ 1 và 2) Còn ở mức độ cao hơn thì ít sử dụng
- Các thầy cô giáo có đưa ra những lí do vì sao ít hoặc không sử dụng BTHH gắn với thực tiễn trong dạy học Đó là:
Không có nhiều tài liệu : 5/20 chiếm 25,0%
Mất nhiều thời gian tìm kiếm tài liệu : 7/20 chiếm 35%
Trang 34 Trong các kì kiểm tra, kì thi không yêu cầu có nhiều câu hỏi có nội dung gắn với thực tiễn : 10/20 chiếm 50,0%
Lí do khác: + Thời lượng tiết học ngắn, không cho phép đưa nhiều kiến thức bên ngoài vào bài dạy
+ Trình độ của HS còn hạn chế
+ Các đề thi tuyển sinh có hỏi về vấn đề này nhưng quá ít, chương trình quá nặng nề, dạy không kịp chương trình
+ Chỉ sử dụng khi nội dung bài học có liên quan
+ Mất nhiều thời gian, nếu HS chỉ làm dạng bài tập này thì
không còn nhiều thời gian cho các dạng khác
Nhận xét chung:
- GV ít liên hệ kiến thức hóa học với thực tế Do cách thi cử có ảnh hưởng quan trọng tới cách dạy vì trong các kì kiểm tra, kì thi không yêu cầu có nhiều câu hỏi có nội dung gắn với thực tiễn Do vậy, đa số GV chỉ đưa những kiến thức hóa học thực tiễn vào các hoạt động ngoại khóa, còn những tiết học tuyền thụ kiến thức mới thì ít đưa vào hoặc tiết luyện tập, ôn tập, tổng kết chuẩn bị cho các
kì kiểm tra thì GV chỉ tập trung các kĩ năng khác có nội dung thuần túy hóa học
để có thể đáp ứng được yêu cầu của bài kiểm tra
- Thời gian dành cho tiết học không nhiều do đó giáo viên không có cơ hội đưa những kiến thức thực tế vào bài học
- Năng lực vận dụng kiến thức hoá học để giải thích những tình huống xảy ra trong thực tế của HS còn hạn chế
- Vốn hiểu biết thực tế của HS về các hiện tượng có liên quan đến hóa học trong đời sống hàng ngày còn ít
Trang 35CHƯƠNG 2: TUYỂN CHỌN VÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÁC BÀI TẬP
CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA LỚP 8
Ở TRƯỜNG THCS
2.1 Nội dung nghiên cứu kiến thức Hóa học lớp 8 ở THCS
2.1.1 Chương 4: Oxi - Không khí
Bài 24: Tính chất của oxi
Bài 25: Sự oxi hóa, phản ứng hóa học Ứng dụng của oxi
Bài 26: Oxit
Bài 27: Điều chế Oxi Phản ứng phân hủy
Bài 28: Không khí Sự cháy
Bài 29: Bài luyện tập số 5
Bài 30: Bài thực hành: Điều chế- Thu khí oxi và thử tính chất của oxi
2.1.2 Chương 5: Hidro - Nước
Bài 31: Tính chất: Ứng dụng của hidro
Bài 32: Luyện tập: Tính chất của hidro
Bài 33: Điều chế hidro Phản ứng thế
Bài 34: Bài luyện tập số 6
Bài 35: Bài thực hành số 5: Điều chế - Thu khí hidro và thử tính chất hóa học của khí hidro
Bài 36: Nước
Bài 37: Axit - Bazo - Muối
Bài 38: Bài luyện tập 7
Bài 39: Bài thực hành số 6: Tính chất hóa học của nước
2.2 Tuyển chọn và xây dựng hệ thống câu hỏi và dạng bài tập có nội dung gắn với thực tiễn theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh THCS
Trang 36xác không tùy tiện thay đổi một cách vô lí, thiếu cơ sở khoa học Các vấn đề đưa
ra phải cập nhật với khoa học hiện đại, không nên sử dụng các bài tập với nội dung đã quá cũ, không phù hợp với xã hội hiện nay
2.2.1.2 Câu hỏi, bài tập phải có ngữ cảnh thực hiện, gần gũi với kinh nghiệm của học sinh
Câu hỏi, bài tập được xây dựng phải có ngữ cảnh thực hiện xác định Các bối cảnh này có thể là các tình huống trong cuộc sống có liên quan đến Hóa học, khoa học liên ngành và công nghệ Những vấn đề thực tiễn này rất nhiều, rất rộng Nếu bài tập hóa học thực tiễn có nội dung về những vấn đề gần gũi với kinh nghiệm, với đời sống và môi trường xung quanh học sinh thì sẽ tạo cho HS động cơ và hứng thú mạnh mẽ khi giải
Học sinh với kinh nghiệm có được trong quá trình tham gia sản xuất và kiến thức hóa học đã có sẽ lựa chọn phương án trả lời, giải thích sự lựa chọn của mình Học sinh sẽ có sự háo hức chờ đợi thầy cô đưa ra đáp án đúng để khẳng định mình Giải quyết được các bài tập về các hiện tượng tự nhiên xung quanh làm cho học sinh thấy các quá trình hóa học xảy ra quanh ta Giải thích được các hiện tượng tự nhiên, học sinh sẽ yêu thích môn Hóa học hơn
2.2.1.3 Bám sát nội dung học tập
Các bài tập thực tiễn cần có nội dung sát với chương trình mà học sinh được học Nếu bài tập thực tiễn có nội dung hoàn toàn mới về kiến thức hóa học thì sẽ không tạo được động lực cho học sinh để giải bài tập đó
2.2.1.4 Đảm bảo tính logic sư phạm
Các tình huống thực tiễn thường phức tạp hơn những kiến thức hóa học phổ thông trong chương trình nên khi xây dựng bài tập thực tiễn cho học sinh phổ thông cần phải có bước xử lí sư phạm để làm đơn giản tình huống thực tiễn Các yêu cầu giải bài tập thực tiễn cũng phải phù hợp với trình độ, khả năng của học sinh
2.2.1.5 Bài tập thực tiễn phải có tính hệ thống, logic
Các bài tập thực tiễn trong chương trình cần phải sắp xếp theo chương, bài, theo mức độ phát triển của học sinh Trong mỗi chương nên có tất cả các loại, dạng bài tập thực tiễn
Trang 37Trong quá trình dạy học, thông qua kiểm tra, đánh giá, cần phải xây dựng những bài tập thực tiễn ở mức độ vừa và cao hơn một chút so với mức độ nhận thức của học sinh để nâng dần trình độ, khả năng nhận thức của học sinh
2.2.1.6 Phải đảm bảo tính định hướng năng lực
Thực hiện theo kế hoạch đổi mới giáo dục ở trường phổ thông, hướng tới mục tiêu dạy học lấy HS làm trung tâm, phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, khả năng tự học của học sinh, hệ thống câu hỏi, bài tập thực tiễn xây dựng phải góp phần vào việc thực hiện mục tiêu này, qua đó hình thành cho HS các năng lực cốt lõi cần thiết trong học tập bộ môn và ứng dụng trong cuộc sống Những năng lực các bài tập Hóa học có nội dung gắn với thực tiễn hướng đến bao gồm các năng lực chung và năng lực chuyên môn của Hóa học Chẳng hạn năng lực ngôn ngữ Hóa học bao gồm trả lời các câu hỏi, giải thích hiện tượng một cách khoa học và đưa ra các kết luận dựa trên những căn cứ và lí lẽ mang tính thuyết phục Về thái độ, các bài tập hóa học có nội dung gắn với thực tiễn hướng đến việc HS đáp ứng trước các vấn đề trong khoa học với một cách có trách nhiệm đối với môi trường và các tài nguyên thiên nhiên
2.2.2 Quy trình xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập có nội dung gắn với thực tiễn
2.2.2.1 Lựa chọn đơn vị kiến thức và mục tiêu giáo dục
a Lựa chọn đơn vị kiến thức
Với những định hướng đổi mới trong kiểm tra, đánh giá môn Hóa học ở trường phổ thông, khi xây dựng hệ thống bài tập hóa học theo hướng gắn với đời sống thực tiễn, cần lựa chọn những đơn vị kiến thức không chỉ có ý nghĩa về đơn thuần về mặt hóa học mà còn gắn liền với đời sống của cá nhân và cộng đồng như sử dụng phân bón hóa học, bảo vệ và sử dụng hợp lí nguồn nước, ô nhiễm môi trường không khí,… thông qua đó phát huy được năng lực khoa học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề của HS nhưng không quá khó, quá trừu tượng, làm mất đi bản chất hóa học
GV cần nghiên cứu kĩ nội dung các tài liệu giáo khoa, tài liệu tham khảo về nội dung hóa học và các ứng dụng hóa học của các chất trong thực tiễn, tìm hiểu các công nghệ, nhà máy sản xuất có liên quan đến nội dung hóa học của bài cũng như đặc điểm trình độ nhận thức của học sinh, kinh nghiệm sống của học sinh để
Trang 38thiết kế bài tập thực tiễn cho phù hợp, tạo hứng thú cho học sinh khi giải các bài tập thực tiễn đó
b Xác định mục tiêu giáo dục của đơn vị kiến thức
Đơn vị kiến thức lựa chọn khi thiết kế bài tập theo hướng gắn với đời sống thực tiễn cần thực hiện được mục tiêu giáo dục là định hướng phát triển năng lực bao gồm kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm của môn Hóa học nói riêng và mục tiêu giáo dục ở trường THCS nói chung
2.2.2.2 Thiết kế hệ thống câu hỏi, bài tập theo mục tiêu giáo dục
Bám sát nội dung học tập và các vấn đề thực tiễn có liên quan phát sinh trong cuộc sống GV thiết kế hệ thống câu hỏi, bài tập đảm bảo đáp ứng được mục tiêu giáo dục đề ra, phù hợp với khả năng, kinh nghiệm của HS Thông qua việc giải quyết vấn đề đặt ra trong câu hỏi, bài tập hình thành cho HS các năng lực chung
và năng lực chuyên môn cần thiết
Có 2 cách để xây dựng bài tập:
Cách 1: Xây dựng bài tập dựa trên hệ thống bài tập sẵn có
Trên cơ sở các bài tập sẵn có, GV có thể thay đổi một vài dữ kiện để trở thành bài tập khác phù hợp với hoàn cảnh sử dụng, năng lực của HS
Với bài tập thực tiễn có thể thay đổi ngữ cảnh, các dữ liệu đã cho, dữ liệu cần tìm, các thông số thực tế,… hay lựa chọn các dữ kiện hay trong các bài tập đưa vào một cách hợp lí để được bài tập mới
Cách 2: Xây dựng bài tập hoàn toàn mới
Thông thường có hai cách để xây dựng bài tập mới là:
- Dựa vào tính chất hóa học và các quy luật tương tác giữa các chất để đặt ra bài tập mới
- Lấy những ý tưởng, nội dung, những tình huống hay và quan trọng ở nhiều bài, thay đổi nội dung, cách hỏi, số liệu… để phối hợp lại thành bài mới
2.2.2.3 Thực nghiệm
Thực nghiệm áp dụng bài tập hóa học đã thiết kế trên đối tượng học sinh thực nghiệm để kiểm tra hệ thống bài tập đã thiết kế về tính chính xác, khoa học, thực tế của kiến thức hóa học, toán học cũng như độ khó, độ phân biệt,… cũng như tính khả thi, khả năng áp dụng của bài tập
Trang 392.2.2.4 Chỉnh sửa
Thay đổi, chỉnh sửa nội dung, số liệu, tình huống…trong bài tập sau khi đã cho kiểm tra thử sao cho hệ thống bài tập có tính chính xác, khoa học về mặt kiến thức, kỹ năng, có giá trị về mặt kinh tế và phù hợp với đối tượng HS, với mục tiêu kiểm tra - đánh giá, mục tiêu giáo dục của môn Hóa học ở trường THCS
2.2.2.5 Hoàn thiện
Sau khi đã chỉnh sửa, bài tập đã xây dựng được hệ thống lại một cách khoa học, hợp lí, phục vụ quá trình dạy và học Hóa học
2.3 Hệ thống các câu hỏi và bài tập có nội dung gắn liền với thực tiễn
Các bài tập đã được xây dựng dưới dây dựa trên tính chất sẵn có của các chất
và hợp chất của chúng để giải thích những hiện tượng, ứng dụng trong tự nhiên, thông qua đó giúp học sinh phát triển được những năng lực chung cũng như năng lực chuyên môn của bộ môn Hóa học
Dạng bài tập 1: Xử lý tình huống
Câu 1: Hiện nay, biến đổi khí hậu đang là vấn đề đáng báo động đối với tất
cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, Mỗi năm có hàng chục cơn bão, lũ đổ bộ vào nước ta Bão lũ làm ngập úng nhiều diện tích đất trồng Sau khi nước lũ rút, ta thấy nhiều cây trồng bị chết, ảnh hưởng lớn đến kinh tế của người nông dân Bằng kiến thức đã học và thực tiễn, em hãy giải thích nguyên nhân của hiện tượng cây trồng bị chết sau khi ngập úng
Gợi ý trả lời:
Oxi tồn tại trong thực tế dưới dạng phân tử O2, có trong đất, nước và bầu khí quyển Rễ cây tham gia quá trình hô hấp cần có oxi Ngập úng lâu làm giảm lượng oxi trong đất dẫn tới sự thiếu oxi, gây cản trở và phá hoại tiến trình hô hấp của rễ, làm cho các lông hút trên bề mặt rễ cây bị chết, không hình thành được lông hút mới, hạn chế quá trình hấp thụ và trao đổi chất, lâu ngày cây sẽ chết
GV phân tích:
Để giải quyết bài tập này HS cần biết được trạng thái tồn tại của oxi trong tự nhiên (Hóa học lớp 8), cấu tạo và khả năng hút nước, muối khoáng của rễ (Sinh học lớp 6) từ đó có biện pháp điều chỉnh lượng nước thích hợp trong thực tế trồng trọt tại gia đình và địa phương để đạt hiệu quả kinh tế cao Giáo dục HS ý thứ bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai
Trang 40Câu 2: Trong chuyến đi du lịch tại đỉnh núi Bà Nà do nhà trường tổ chức
cho các bạn học sinh giỏi, Thanh và Đạt cùng các bạn đi cáp treo lên thăm đỉnh núi Ngồi trong cáp treo, càng lên cao Thanh càng cảm thấy khó thở, mệt mỏi Điều này làm Thanh thấy vô cùng hoang mang, lo lắng Nếu là Đạt, em sẽ giải thích cho Thanh như thế nào về hiện tượng trên?
Gợi ý trả lời:
Khi chúng ta ở trên núi cao cảm thấy mệt mỏi và khó thở vì tỉ khối của oxi lớn hơn không khí cùng với tác động của lực hút trái đất nên oxi tập trung chủ yếu ở dưới gần mặt đất Do đó càng lên cao thì không khí càng loãng, lượng oxi giảm làm cho quá trình hô hấp gặp khó khăn hơn Đó là yếu tố làm cho chúng ta cảm thấy mệt mỏi và khó thở Hiện tượng này khá phổ biến với nhiều người khi thay đổi vị trí lên những độ cao nhất định Do vậy giáo viên cần nói đó là hiện tượng không quá nguy hiểm với Thanh, khuyên bạn ấy cố gắng hít thật sâu và thở từ từ để dần quen với môi trường mới, sức khỏe sẽ ổn định hơn
GV phân tích:
Để giải quyết bài tập này HS cần nắm vững được thành phần của không khí,
tỉ khối của oxi so với không khí Vận dụng một cách linh hoạt kiến thức của môn sinh học: Hô hấp ở người (Sinh học 8), môn vật lí : Tỉ khối, trọng lượng (Vật lí 6) để giải quyết tình huống Từ đó hình thành cho học sinh năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
Câu 3: Rừng là lá phổi xanh của Trái Đất, cây xanh là nhà máy sản xuất
khổng lồ cung cấp oxi cho quá trình hô hấp của con người và động vật Cây xanh
có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống nên sau khi học xong ứng dụng của oxi, quang hợp ở cây xanh (Sinh học 6), bạn An quyết định sẽ trồng thật nhiều cây xanh xung quanh nhà, đặc biệt trong phòng ngủ để có nhiều oxi phục vụ quá trình hô hấp Theo em, việc làm trên của bạn An có đúng không? Vì sao?