Tài liệu Thiết kế bài giảng ngữ văn 10 dùng cho các giáo viên đang dạy các trường tiểu học tham khảo, tài liệu giới thiệu cách thiết kế bài giảng theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh. Ngoài ra tài liệu còn mở rộng, bổ sung thêm một số nội dung liên quan đến bài giảng bằng nhiều hoạt động nhằm cung cấp thêm tư liệu để các thầy, cô giáo tham khảo vận dụng tùy theo đối tượng và mục đích dạy học....
Trang 1TS NGUYEN VAN DUGNG (Chi biên) - ThS HOÀNG DÂN
THIET KE BAI GIANG
Trang 2Loi ndi dau
Để giúp anh chị em giáo viên THPT' đang trực tiếp đứng lớp giảng dạy có hiệu
quả hơn chương trình —- SGK Ngữ văn lớp 10 theo hướng íích hợp và tích cực, chúng tôi biên soạn bộ sách tham khảo : Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10 Nâng cao, gồm hai tập
Sách bám sát chương trình, hệ thống hoá, cụ thể hoá SGK và SGV Ngữ văn 10 nâng cao thành hệ thống hoạt động dạy học trong từng tiết, từng bài, chú trọng đến các định hướng tích hợp (ngang, dọc) và tích cực hoá hoạt động học của học sinh bằng nhiều hình thức học phong phú, hấp dẫn và nhẹ nhàng : các chùm câu hỏi gợi
mở, dẫn dắt để tổ chức đàm thoại, hoạt động nhóm nhỏ và vừa, thảo luận chung cả
lớp, nêu vấn đề
Nhìn chung, thầy giáo cần kiên quyết và kiên trì đóng vai trò người tổ chức,
hướng dẫn các hoạt động học của học sinh ; không nên làm thay, làm giúp hoặc
lấn sân của các em Nhưng muốn thế, người thầy phải thực sự hiểu nhiều biết
rộng, phải khéo léo, tỉ mỉ, tâm lí, phải tin ở bản thân và học trò, phải nói ít mà làm
nhiều hơn, nghe nhiều hơn, tổ chức nhiều hơn Sao cho mỗi giờ dạy học Ngữ văn
ở trường THPT Việt Nam thế kỉ XXI không còn là giờ thầy truyền giảng thao
thao, trò ngáp ngắn ngáp dài hay là giờ giảng chính trị, đạo đức, giờ tra vấn, lên lớp khô khan mà là giờ học đàm thoại, trò chuyện tâm tình về con người và cuộc sống, qua những áng danh văn, là giờ thực hành nói và viết tiếng Việt nhẹ nhàng, đây hứng thú Học sinh được nâng cao, dù là chỉ chút ít, trên nhiều mặt : kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm
Chúng tôi cố gắng biên soạn, gợi ý trên tình thần nhận thức lí luận ấy, song vì
trình độ có hạn, chắc chắn sách không tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được
những ý kiến phê bình, góp ý của các đồng nghiệp và bạn đọc gần xa
Xin tran trong cam on !
CAC TAC GIA
Trang 3TUAN 19
Tiết 73 — 74 VĂN HỌC PHU SONG BACH DANG
(Bạch Đằng giang phú)
TRUONG HAN SIEU (? - 1354)
A Két qua cGn dat
Gitp hoc sinh (HS) :
- Cảm nhận được nội dung yêu nước và tư tưởng nhân văn của bài phú Nội dung yêu nước thể hiện ở niềm tự hào về chiến công lịch sử, đặc biệt là chiến công
thời Trần (1288) trên sông Bạch Đằng Tư tưởng nhân văn thể hiện qua hoài niệm
và suy ngẫm của tác giả về chiến công lịch sử trên sông Bạch Đằng, ở việc dé cao
vai trò, vị trí, đức độ của con người với tâm trạng hoài cổ
- Thấy được những đặc trưng cơ bản của thể phú về các mặt kết cấu, hình
tượng nghệ thuật, lời văn, từ đó biết cách đọc - hiểu một bài phú cụ thể
- Bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, trân trọng những địa danh
lịch sử, những danh nhân lịch sử
Trọng tâm bài học
Tiết 1 : Tim hiéu hình tượng nhân vật khách
Tiết 2 : Tìm hiểu lời các bô lão — kể lại trận thuỷ chiến Bạch Đảng
Những điểm cần lưu ý : Làm rõ khái niệm thể phú (cổ phú), kết cấu đối đáp
và liên ngâm giữa khách và các bô lão, vận dụng chọn lọc các điển tích, điển cố,
hình tượng dòng sông, hình tượng tác giả, từ đó đọc - hiểu nội dung tư tưởng
yêu nước và nhân văn của bài phú
B Chuan bị của thay va tro
— Ban đồ sông ngòi miền Bắc Việt Nam, hoặc bản đồ tinh Quang Ninh
- Ảnh cọc Bach Dang.,
Trang 4- HS đọc lại và sưu tầm bài thơ Cửa biển Bạch Đằng (Bạch Đằng hải khẩu
của Nguyễn Trãi, bài Hậu Bạch Đằng giang phú của Nguyễn Mộng Tuân
C Thiết kế bởi dạy học
của ông không nhiều : 2 bài kí, l bài phú và 7 bài thơ
Nói chung, nét chủ đạo của ngòi bút Trương Hán Siêu là tính thần yêu quý
non sông đất nước, tự hào với truyền thống lịch sử vẻ vang, oanh liệt Bên cạnh đó cũng bàng bạc một sắc thái trữ tình hoài cổ, tuy không mấy nặng nề Nghệ thuật ngôn ngữ của Trương Hán Siêu tinh tế, lắng đọng, man mác trong thơ, gân cốt
chắc nịch trong phú, uyển chuyển, mềm mại trong kí
2 Việt Nam là đất nước của những dòng sông Những dòng sông hoặc trong
xanh hiền hoà, hoặc ngầu đỏ phù sa không chỉ bồi đắp bờ bãi thành những dải
đồng bằng phì nhiêu nuôi sống người dân Việt mà còn là nơi chiến trường thuỷ
chiến, nơi ghi dấu ấn những chiến thắng, chiến công vang lừng của dân tộc Việt
Nam trong trường kì chống ngoại xâm Sông Bạch Đăng là một trong những dòng
sông nổi tiếng nhất (Kếf hop cho HS chỉ trên bản đồ vị trí sông Bạch Đằng) Chỉ trong vòng 3 thế kỉ (X - XIII) - nơi đây đã trở thành niềm tự hào của
quân dân Đại Việt và từ đó đến nay dòng sông và những chiến công hiển hách đã
là niềm cảm hứng hoài cổ hào hùng của bao thế hệ thi nhân mà Bạch Đẳng giang phú của Trương Hán Siêu là một trong những tác phẩm đầu tiên và thành công
nhất
- GV hỏi : Dòng sông Bạch Đằng gợi cho em những chiến công lịch sử hiển
hách nào ở những thời đại nào ? Trình bày ngắn gọn
Trang 5— HS trả lời
- GV định hướng, dẫn vào bài : 2 chiến công lịch sử chiến thắng giặc ngoại xâm phương Bắc (Irung Quốc) : năm 938, Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán, giết Lưu Hoằng Thao, năm 1288, Trần Hưng Đạo đánh tan quân Nguyên Mông, bắt sống Ô Mã Nhi Cả hai lần quân ta đều dùng mưu cắm cọc nhọn xuống lòng
sông, lợi dụng thuỷ triều và phục binh đánh tan thuỷ quân của giặc
Từ đó dòng sông Bạch Đằng và những chiến công oai hùng của dân tộc đã trở
thành nguồn cảm hứng thơ ca cho các thi sĩ Việt đời sau
_—_ Hoạt động 3
HƯỚNG DẪN ĐỌC - HIỂU KHÁI QUÁT
VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
- HS đọc mục T7ểu dẫn, SGK tr 3
- GV hỏi : Nội dung chính của Tiéu dẫn gồm những ý gì ? Tóm tắt từng ý
— HS lần lượt trả lời từng câu
Định hướng :
(GV nhấn mạnh một vài nét nổi bật.)
1 Vài nét về £ác giả Trương Hán Siêu : Từng giữ nhiều chức quan trọng trong
triều đình nhà Trần, là môn khách của Trần Hưng Dao, tính tình cương trực, học
vấn uyên thâm, sinh thời được các vua Trần và nhân dân kính trọng
2 Về văn bản tác phẩm Bạch Đằng giang phú : Hoàn cảnh sáng tác : chưa rõ
chính xác (dự đoán được sáng tác khoảng 50 năm sau chiến thắng Bạch Đằng
(1288 - 1350/54 ?) đời Trần Hiển Tông, Trần Du Tong — khi nhà Trần đã bắt đầu
có đấu hiệu suy thoái), khi Trương Hán Siêu đã già, khi ông có dịp du ngoạn qua
vùng Hải Phòng — Quảng Ninh, qua thăm sông Bạch Đằng
Về thể phú : (tóm tắt, đọc lại mục Tri thức đọc — hiểu, tr 8) Là một thể loại
tiếp nhận từ văn học Trung Quốc, được phát triển và Việt hoá ở văn học trung đại
Việt Nam Nội dung của phú trước hết là thuật, kể, tả một cách khách quan cảnh
vật, sự việc, phong tục, bàn chuyện đời, để người nghe tự xét, là tưởng tượng
nhân vật hư cấu, đối đáp giữa chủ — khách, sau đó mới dùng lời lẽ khoa trương cho hấp dẫn, truyền cảm
Phú được viết bằng văn vần, văn xuôi hoặc văn biền ngẫu, bằng chữ Hán hoặc
chữ Nôm
Phú có 4 loại chính :
Phú cổ thể (có trước đời Đường) làm theo lối văn xuôi có vần hoặc biển văn Bạch Đằng Giang phú thuộc loại này
Phú cận thể (phú Đường luật), có vần, đối, luật chặt chẽ
Bài phú : dùng hình thức biền văn, câu văn 8 chữ, 4, 6 chữ sóng đôi nhau
Trang 6Văn phú : phú phổ biến ở đời Tống (Trung Quốc, thế kỉ X — XID) tuong déi tu
do, có xen câu văn XuÔôi
3 Bố cục chung của bài phú : gồm 4 đoạn : mở, kể - tả sự vật, bình luận, kết
4 Đọc diễn cảm bản dịch
- GV hướng dẫn cách đọc : Giọng điệu chậm rãi ở đoạn đầu, hùng tráng,
nhanh, mạnh ở đoạn 2 (lời các bô lão thuật kể trận đánh), bình tính, ung dung, suy
ngẫm ở đoạn 3 và đoạn kết
— ŒV đọc trước một đoạn
— 3—4 HS đọc tiếp cho đến hết
— GV va HS nhận xét cách đọc
5, Giải thích từ khó : Kết hợp trong quá trình hướng dẫn đọc - hiểu chi tiết
theo các chú thích chân trang Chú ý các từ khách : có thể là tác giả, có thể là nhân
vật trữ tình do tác giả sáng tạo đóng vai trò người kể chuyện - người đối thoại
trong bài phú (CT1), các bô lão : những cụ già (ở đây là những cụ ông) - có thể là những người dân địa phương có thật, chào đón nhà thơ, cũng có thể là nhân vật do
tác giả sáng tạo ra theo kết cấu đối thoại chủ - khách thường gặp ở thể loại phú
6 Bố cục của bài phú
- GV hỏi : Bố cục bài phú gồm mấy đoạn ? Nêu tên và nội dung của từng đoạn
— HS quan sát SGK, trả lời
- GV hệ thống hoá, nhấn mạnh vai trò, vị trí từng phần :
Doan 1 (Khách có kẻ luống còn lưu) : Giới thiệu nhân vật khách và tráng
chí của ông, cảm xúc của khách khi du ngoạn qua sông Bạch Đằng
Đoạn 2 (Bên sông các bô láo chữ lệ chan) : Cuộc gặp gỡ bên sông và câu
chuyện của các bô lão
Đoạn 3 (Rồi vừa di luu danh) : Lời bình luận của các bô lão
Đoạn 4 (còn lại) : lời kết — bình luận của nhân vật khách - tác giả
(Tuy nhiên, cũng có thể chia theo những cách khác Chẳng hạn : 3 đoạn (ghép đoạn 3, 4 thành 1 đoạn) hoặc đoạn 3 có thể từ câu Đến nay nước sông tuy chảy
hoài anh hùng lưu danh Vì lời bình luận về ý nghĩa của chiến thắng thực ra bắt đầu từ đó.)
_ Hoạt động 4
HƯỚNG DẪN ĐỌC - HIỂU CHI TIẾT
1 Hình tượng nhân vật khách
— HS doc diễn cảm lại đoạn l1
- GV hỏi : Trong đoạn phú đầu tiên (từ đầu đến vẫn còn tha thiết) có cụm từ nào khái quát ý chung của cả đoạn ?
- HS đọc lại các chú thích từ 2 - 6 (SGK, tr 4) để cụ thể hoá cái tráng chí bốn phương cùa khách
Trang 7- GV hỏi : Có thật ông khách đã lưới bể chơi trăng đến tất cả những địa danh
nổi tiếng ấy ? Vì sao ? Điều đó chứng tỏ khách là người như thế nào ?
- HS phân tích, phát biểu
Định hướng :
Nhân vật khách có thể là chính tác giả, cũng có thể là do rác giả sáng tạo ra
theo kết cấu thường gặp của bài phú Đó là một nhà nho, một viên quan — tướng
của triều đình — một nhà thơ - nghệ sĩ tuy đã già nhưng tráng chí (ý chí hùng
tráng) bốn phương vẫn còn tha thiết, sôi nổi
Trong bài phú, có thể xem khách là nhân vật trữ tình mang tính ước lệ
Khách muốn học danh nhân Trung Hoa xưa, đi khắp đất nước để thăm ngoạn phong cảnh, mở rộng hiểu biết, di dưỡng tâm hồn, sống cuộc đời tự do, phóng
khoáng
Nhưng ở đoạn đầu, tất cả những địa danh lừng lẫy mà khách điểm tên và kể
rằng đã từng qua, thì hoàn toàn là những điển cố lấy từ văn chương Trung Quốc
Nghĩa là qua đọc sách, và hoàn toàn là tưởng tượng từ sách vở — những chuyến đi trong tưởng tượng Tất cả chỉ để thể hiện tráng chí hải hồ của chim bằng, chim phượng, bậc đại trượng phu tung hoành thiên hạ, cái thú học hỏi lịch sử qua những chuyến du lãm vừa để thưởng ngoạn phong cảnh núi sông để mở rộng vốn hiểu biết, làm phong phú tâm hồn mà thôi
— HS doc tiếp đoạn : Bèn giữa dòng luống còn luu
— GV nêu vấn đề thảo luận : Cảnh vật vùng sông nước Bạch Đằng hiện lên
trong lời tả - kể và cảm xúc của tác giả như thế nào ? Phân tích tư thế và diễn biến
tâm trạng của khách khi đứng trước dòng sông lịch sử Vì sao ông đứng lặng giờ
lâu ? Vì sao ông buồn, ông thương rồi ông tiếc ?
— HS lần lượt thảo luận và trả lời
Định hướng :
Đến đoạn này, đến chuyến thăm cảnh Bạch Đằng - nơi chiến trường xưa, mới
là chuyến đi thực sự với Trương Hán Siêu
Hành trình chuyến hải hành được vẽ với không gian cụ thể - miền duyên hải
đông bắc Đại Việt : từ Đại Than ngược bến Đông Triều rồi thuyền bơi đến sông Bạch Đằng vào một buổi chiều thu hiu hắt
Cảnh vật thiên nhiên hiện ra trước mắt khách thật bao la, hùng vĩ, hoành tráng của sóng kình (sóng to, dữ như cá kình — ấn dụ tượng trưng) lớp lớp ; biển trời một sắc xanh xoè đuôi trĩ long lanh rực rõ Lại nhớ câu thơ Đường của Vương Bột :
Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc
Mặt khác : cảnh vật hai bờ sông lại vắng vẻ, hoang vu, hiu hắt Những dấu tích của chiến trường xưa, theo dòng thời gian, ngày càng hoang phế, điêu tàn :
Bờ lau san sát, bến lách đìu hỉu,
Trang 8Sông chìm giáo gay, gò đây xương khô
Hơn một trăm năm sau, qua đây, Nguyễn Trãi lại trong Bạch Đăng hải
khẩu viết :
Biển lùa gió bấc thổi băng băng Nhẹ kéo buồm thơ vượt Bạch Đằng
Negac chat, kinh bém, non lom chom
Gido guom chim gay biết bao tầng
cũng là cùng chung một tâm trạng, một cảm xúc
Đó là nỗi buồn vì cảnh vật hiu quạnh, thương cho những anh hùng chiến trận
lừng lẫy một thời đã đi vào dĩ vãng và tiếc chỉ còn một vài dấu vết mờ dần theo
tháng năm
Đó là cảm hứng hoài cổ thường gặp trong thơ ca khi viết về đề tài lịch sử
Nhưng nếu căn cứ vào cuộc đời tác giả, vào thời điểm sáng tác bài phú, có lẽ còn
có thể nghĩ sâu thêm Phải chăng đó là nỗi buồn tiếc quá khứ hào hùng một đi
không trở lại, trong hiện tại, triều đình nhà Trần đã bắt đầu có dấu hiệu đi xuống,
sắp bước sang giai đoạn khủng hoảng mà Trương Hán Siêu — một vị đại quan —
một nhà chính trị — một nghệ sĩ đã linh cảm trong tâm thức, nay gặp địp, hé mở
trong tho van ?
Giọng văn thể hiện rất phù hợp : vừa sảng khoái vừa trầm lắng, vừa hào hùng vừa bi thiết
(Hết tiết 73, chuyển tiết 74)
- Hoạt động 5
HƯỚNG DẪN ĐỌC - HIỂU CHI TIẾT (tiếp theo)
2 Câu chuyện của các bô lão bên sông Bạch Đằng
- H§ đọc diễn cảm đoạn Bên sông các bô lão hoàn toàn chết trụi
— GV hoi : Hình ảnh các bô lão địa phương — những chàng thanh niên quả
cảm gần 50 năm trước từng chứng kiến, từng tham gia chiến trận Bạch Đằng — nay
đến gặp vị quan tướng đồng trang — đồng tuế như thế nao ?
— HS trả lời, nhận xét
Định hướng : Các bô lão địa phương hồ hởi đến gặp vị đại quan : kể sậy lê
chống trước, người thuyền nhẹ bơi sau, đón khách bằng cả 2 đường bộ, thuỷ Vừa
øặp đã chuyện trò, thăm hỏi với thái độ hiếu khách, tôn kính (vái fa mà thưa
rằng ) Sau một câu nhắc lại chiến công xưa của Ngô chúa phá Lưu Hoằng Thao,
là hào hứng kể lại chiến công buổi Trùng Hưng Nhị thánh bắt Ô Mã của bản triều.
Trang 9— GV hỏi : Các hình ảnh, sự kiện, khí thế tran đánh lịch sử đã từng diễn ra cách đó gần nửa thế kỉ đã được các bô lão kể tả như thế nào ? Những biện pháp nghệ thuật nào đã được sử dụng và hiệu quả của chúng ra sao 2
- HS lần lượt trao đổi, phát biểu
Định hướng :
Theo trình tự diễn biến trận đánh, từng cảnh, từng việc hiện ra qua lời thuật kể
vắn tắt và rất sinh động như là đang, vừa diễn ra trong hiện tại (đang khi ấy ), khí
thế quân sĩ và vũ khí, trang bị, thuyền bè, tinh kì cờ quạt tất cả đều mạnh mẽ,
oai hùng với khí thế Sái thát ! (giết giặc Thát (Thát Đát - Mông Cổ), chủ động dụ giặc, chủ động chờ giặc, chủ động tiến công giặc
Tình thế trận đánh quyết liệt, gay go, căng thắng Biện pháp khoa trương
phóng đại được sử dụng rất dúng lúc (ánh mặt trời, mặt trăng mờ cả trời đất) Tả trực tiếp chỉ ngắn gọn có vậy
Tiếp theo lại là so sánh, liên tưởng địch — ta, xưa —- nay và làm nổi bật đại bại của quân giặc như Tào Tháo đại bại ở trận Xích Bích, Bồ Kiên đại bại ở trận Hợp
Phì (dùng điển tích)
Giọng văn hào hứng, sôi nổi, khinh bỉ kẻ thù cậy mạnh, hung đồ, lừa đối : nào
Lưu Cung, nào Tất Liệt (lưu ý về sau trong Đại cáo Bình Ngô, Nguyễn Trãi cũng
viết về vua nhà Minh : Thằng nhấãi con Tuyên Đức ), tham vọng không cùng,
kiêu căng, ngạo mạn đã làm trái lòng trời, lòng người càng chuốc lấy thảm
bại mà thôi (fan tác tro bay, hoàn toàn chết trụi ) Đại tướng chỉ huy Ô Mã Nhi
dũng sĩ đã bị quân ta bắt sống
Đó là sự thật, là quy luật, là chân lí tất yếu, bất biến cũng như dòng sông Bạch
Đằng mãi mãi đồ oà ra biển rộng
— HS doc tiếp đoạn : Tuy nhiên lệ chan
— GV nêu vấn đề : Theo lời các bô lão, thử đi tìm những nguyên nhân và ý
+ Tiếp theo là đ;z lợi (địa linh) : đấf hiểm, sóng nước Bạch Dang, con nước
thuỷ triều cũng góp phần thắng giặc
+ Sau nữa là nhờ có nhân tài (nhân kiệt) — có người tài g1ỏ1 g1ữ nước Đặc biệt
là có Đại vương Hưng Đạo thần cơ diệu toán, mưu cao mẹo giỏi, biết xem thế giặc kim niên tặc nhàn năm nay đánh giặc dễ để bày mưu đặt kế giúp hai vua
thắng giặc
Trang 10+ Ý nghĩa trận đại thắng : 14 rita nhuc cho dat nuéc, tdi tao cong lao dé tiéng
thơm còn mãi với lịch sử, với thời gian Chứng minh chân lí mang tính quy luật :
Anh hùng lưu danh thiên cổ ;
Bất nghĩa mãi mãi bại nhục
3 Lời bình luận và kết thúc của các bô lão và của khách
- HS đọc diễn cảm 8 câu lục bát cuối bài
- GV nêu vấn đề thảo luận : Đoạn cuối gồm 2 lời bình luận nối tiếp nhau dưới dạng hai bài ca lên ngâm Nội dung từng bài ca có gì riêng biệt ? Có gì chung 2 Quan hệ giữa hai bài ca ? Tại sao không để cho riêng các bô lão hoặc khách ca ? Quan hệ từ (Bởi đâu cốt mình ) nhằm nhấn mạnh chân lí gì 2
- HS thảo luận nhóm, đại diện phát biểu
Định hướng :
Lời ca của các bô lão khẳng định chân lí — quy luật thiên nhiên và lịch sử : + Dòng sông Bạch Đằng mênh mông rộng lớn chảy về biển Đông
+ Kê bất nghĩa nhất định bị tiêu vong
+ Người anh hùng nghìn năm lưu danh
Như thế là các bô lão khăng định và ca ngợi bài học của nhân dân, bài học
chân chính của lịch sử ; khẳng định và ngợi ca sự bất tử của những anh hùng làm nên chiến thắng Con người là quyết định của sự phát triển lịch sử bên cạnh yếu tố
quan trọng thiên thời, đại lợi, thời cơ Nhưng thế nào là người anh hùng 2 A1 là người anh hùng ?
Bổ sung những bài học đó là nội dung lời ca nối tiếp của khách
Ông khẳng định và ngợi ca hai vị Thánh quân anh mình (hai vua Trần Thánh
Tông và Trần Nhân Tông) quả xứng đáng là các nhà lãnh đạo tối cao của nhà nước
phong kiến hết lòng, hết sức vì non sông xã tắc Hai vị cùng với Trần Hưng Đạo,
Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản, Nguyễn
Khoái là những anh hùng thời Trùng Hưng oanh liệt Là một vị quan tướng đương triều, lời ca ngợi minh quân, thánh chúa là tất nhiên và dễ hiểu
Lí thú hơn, và sâu sắc hơn là thức nhận : đại thắng quân giặc đem lại hoà bình
bền vững nghìn năm cho đất nước là người anh hùng (nhân kiệt) chứ không chỉ
nhờ đất hiểm (địa lợi - địa linh, sông Bạch Đằng hiểm trở) Đó là chỗ thống nhất giữa quan điểm của các bô lão và của ông khách
Chỗ ông khách nhấn mạnh hơn là phẩm chất của người anh hùng không chỉ
anh minh sáng láng, có tài chiến lược, chiến thuật, nắm bắt thời cơ xem thế giặc nhàn mà là ở chỗ đức cao Phẩm chất đạo đức cao cả, sáng ngời : vua tôi một
lòng, vua sáng tôi hiền, cả nước gắng sức thì giặc mới chịu bị bắt, mới làm nên
Trang 11nghiệp lớn Phẩm chất quan trọng bậc nhất của người anh hùng tài chí hơn người
là ở đạo đức cao quý, là tính nhân văn cao cả, sâu sắc của ông ta
Đó là chỗ tiếp nối suy ngẫm nhân vật trữ tình khách - Trương Hán Siêu
Quan hệ từ (bởi đâu cốt mình) nói lên vai trò của từng yếu tố và mối quan
hệ giữa chúng
_—— Hoạt động 6
HƯỚNG DẪN TỔNG KẾT VÀ LUYỆN TẬP
1 Tr trởng yêu nước trong bài phú thể hiện nổi bật, tập trung ở điểm nào ?
(Ca ngợi tinh thần anh hùng bất khuất, niềm tự hào dân tộc qua chiến thắng
trên sông Bạch Đằng, vẫn sáng ngời hào khí Đông A.)
2 Tu tudng nhân văn trong bài phú thể hiện rõ ở điểm nào 2
(Ca ngợi và khẳng định truyền thống đạo lí chính nghĩa, nhân nghĩa sáng
ngời, đề cao, ca ngợi con người.)
3 Đặc sắc về nghệ thuật 2
(Kết cấu chứ (bô lão) — khách (tác già) đối đáp ; bố cục rõ ràng, đơn giản mà chặt chẽ, hình tượng nghệ thuật sống động Đặc biệt, hình tượng hoành tráng mà trữ tình : đòng sông Bạch Đẳng trong quá khứ oai hing và trong hiện tại bát ngát hoang vu, hiu quạnh Hai không gian, hai thời gian (quá khứ và hiện tại) và một
truyền thống dân tộc được nối kết, thống nhất, nghệ thuật hoá hoàn hảo Lời văn khoa trương, tự nhiên, phóng túng Chọn lọc, sử dụng nhiều hình ảnh điển tích
mà không rối, không gây cảm giác khó hiểu )
4 HS làm bài tập nâng cao (Phân tích triết lí của tác giả về chiến công lịch sử)
(Anh hùng lưu danh, chiến công của chính nghĩa, đạo đức sống mãi trong
lòng đất nước và nhân dân)
Bài tập ï : đọc thuộc lòng ngay tại lớp những câu mà em thích nhất
Bài tập 2 : So sánh bài thơ Sông Bạch Đăng (Nguyễn Sưởng) và đoạn kết Bạch
Đẳng giang phú :
Gần sữi : Cùng ca ngợi chiến thắng Bạch Đằng thời Trùng Hưng ; cùng ca
ngợi các yếu tố thiên nhiên và con người làm nên chiến thắng ; cùng nhấn mạnh thiên nhiên hiểm trở, hùng tráng, càng nhấn mạnh yếu tố con người ; cùng viết
Quan hệ giữa thiên | Hai nửa : nứa nua Bởi đâu cốt mình
nhiên và con người Không thật nổi rõ, hơn yếu | Khẳng định yếu tố quyết định
tố con người nhất là con người anh hùng với
Trang 12
Không rõ yếu tố phẩm chất | phẩm chất đạo đức cao cả
người anh hùng
Bài tập 3 : Giải thích tâm trạng của khách trong câu :
Đến thăm sông chừ u mat !
Nhớ người xưa chữ lệ chan !
(ú mặt vì xấu hồ từ hiện tại triều chính, lớp con cháu không kế được nghiệp cha
ông, lại có nguy cơ đưa vương triều sang thời suy bại ; i¿ chan vì xúc động thương nhớ, tiếc nuối những chiến công hào hùng một di không trở lại.)
5 Đọc thêm ở nhà : Nhà nho vui cảnh nghèo (Hàn nho phong vị phú —
Nguyễn Công Trứ), Tr¡ thức đọc — hiểu về thể phú, SGK tr 8 - 9
Quan hà bách nhị do thiên thiết,
Hào kiệt công danh thử địa tằng
Kình ngạc băm vầm non mấy khúc
Giáo gươm chìm gấy bãi bao tầng
Quan hà hiểm yếu trời kia đặt, Hào kiệt công danh đất ấy từng
Việc trước quay đầu ôi đã vắng,
Tới dòng ngắm cảnh dạ báng khuâng
(Nguyễn Đình Hồ dịch, Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi,
NXB Văn hoá, Hà Nội, 1962)
Trang 13Tiét 75 VAN HOC
Doc thém
NHA NHO VUI CANH NGHEO
(Trich Han nho phong vi phi)
NGUYEN CONG TRU
A Két qua cGn dat
Giúp HS:
— Thấy được cái gọi là phong vi của hàn nho
- Hiểu được nghệ thuật trào phúng của tác giả
- Củng cố về thể loại phú
B Thiết kế bòi dạy học
Hoạt động 1
TỔ CHỨC KIEM TRA BAI CU
(Hinh thitc : van dap)
1 Đọc thuộc lòng và diễn cảm 1 đoạn tự chọn (từ 10 câu trở lên) trong bai
Phú sông Bạch Đảng Trinh bày đặc sắc nội dung và nghệ thuật của đoạn phú vừa đọc ấy
2 Em hiểu gì về các nhân vật khách và nhân vật bó lão trong bài phú 2
3 Tư tưởng nhân văn sâu sắc trong bài phú của tác giả được biểu hiện như thế nào ? (nói ngắn gọn)
_ Hoạt động 2
DÂN VÀO BÀI MỚI
- HS đọc mục Tiểu dân tr 9 để hiểu thêm về Nguyễn Công Trứ và bài phú sẽ
đọc thêm
- ŒV nhấn mạnh :
Trang 14+ Ủy viễn tướng quân Nguyễn Công Trứ (1778 —- 1858) quê Nghi Xuân, Hà Tĩnh (đồng hương với Nguyễn Du) đồng thời là nhà kinh tế, nhà thơ, văn võ song
toàn, tài năng xuất chúng nhưng cuộc đời sự nghiệp lại thăng trầm hiếm có — một
cá tính văn chương rất đặc sắc Ông là người sáng tác nhiều bài hát nói — ca tri,
phú, câu đối nổi tiếng
+ Giải thích nhan đề chữ Hán : Hàn nho phong vị phú (Bài phú về phong vị
của nhà nho nghèo) Có thể Nguyễn Công Trứ sáng tác bài phú này trong thời gian
ông còn trẻ, đang sống cảnh hàn nho 2 Ì
2 Tim hiéu va phan tich b6 cuc
- GV giảng khái niệm vế và phân tích nội dung khái quát từng vế trong đoạn trích (chú thích 1, tr 9) : I dòng trong cặp câu sóng đôi trong bài phú
a Thái độ với cái nghèo
b Trào phúng cái nhà nghèo
c Trào phúng các dụng cụ, đồ đạc, vật nuôi của nhà nghèo
d Trào phúng cảnh ăn mặc của hàn nho
3 Giải thích từ khó : Kết hợp trong quá trình hướng dẫn đọc — hiéu chỉ tiết
Giải thích từ phong vị (phong cách, lối sống, ý vị của đời sống) dùng với nghĩa mia mai, châm biếm, tự trào
4 Đọc — hiểu chi tiết (đối thoại với HS qua từng câu hỏi trong SGK, kết hợp với đọc diễn cảm) :
Câu 1: Bốn vế đầu là tình cảm, thái độ của tác giả đối với cái nghèo (khó) Đó
là thái độ, tinh cam gi ?
+ Vé1 : cau chu ngoa ngoat lap lại 2 lần, chứng tỏ sự căm ghét cao độ Có
ghét, có khinh mới chửi
+ Vế 2 : nhận xét quyết liệt : nghèo là xấu, là vụng Thật ra, nhận xét này chưa hắn đúng Giải thích, chứng minh, nhưng càng khẳng định thái độ cực đoan
của tác giả với cái nghèo (chứ không phải với người nghèo !) Nói như dân gian sẽ
thoả đáng hơn : Cái khó bó cái khôn ! Giàu vì gạo, bạo vì tiền
Hoặc :
Trang 15Tay mang tui bac ke ke,
Nói trí nói trá người nghe âm âm ! + Vế3 : dẫn lời dạy của thánh nhân để nói về cái nghèo : một trong lục cực (6
cái khổ) của con người : chết non, bệnh tật, buồn lo, nghèo khó, xấu xa, yếu hèn
Đến thánh nhân cũng chăng thích nghèo !
+ Vế4 : dẫn lời ngạn ngôn : vạn tội bất như bần : muôn tội chẳng tội gi bang tội nghèo Nghèo sinh ra tội lỗi (Đói ăn vụng, túng làm càn !) ấy ấy, rành rành
làm cho lời chứng càng thêm rõ ràng thuyết phục
Câu 2 : Ngữ kìa ai đặt đầu đoạn 2 dùng để chỉ : phiếm chỉ, ai cũng được, tất
cả những ai rơi vào hoàn cảnh nghèo, có thể chỉ chính bản thân tác giả vừa khách quan vừa chủ quan để người đọc rộng đường suy ngẫm, liên tưởng, tưởng tượng Câu 3 : Nội dung chủ yếu của đoạn trích là miêu tả bằng cảm hứng tự trào,
trào lộng nội dung và hình thức, cách thức cuộc sống nghèo ở nó tự toát lên phong
vị đặc biệt lí thú Ì
+ Trước hết là cái nhà
(—- HS đọc từ câu 5 — 10, nêu nhận xét
- GV nhấn mạnh, giảng thêm :)
Nhà có ba gian (không nhỏ), có vách, có tường, có đấu, kèo, sân, màn, phên,
giường đủ cả vẻ phong lưu nhưng về vật liệu, và chất lượng thì thật thảm hại : nhà lợp bằng cỏ, kèo mọt, sân bẩn nhếch nhác nhện giăng màn, ngăn giữa bếp và buồng bằng tấm phên trúc đơn sơ, giường tre mối dõi, tường đất giun bò
+ Sau đó là tả các đồ đạc và vật nuôi trong nhà : Lợn đói nằm gam mang, niêu
nồi bỏ không lâu, chuột không buồn cậy, thằng bé tri trô vì đói
Cách nói phô trương nhưng vẫn không giấu nổi sự nghèo túng cứ lộ ra trong
tiếng cười trào phúng cay đắng
+ Trong cách ăn uống và thức mặc :
Về ăn, ăn hiểu theo 2 nghĩa : Bữa ăn nghèo chỉ toàn rau, ít hoặc không có cá thịt, không đủ no nhưng đã là nhà nho quân tử thì học đạo mới là chính, ăn đói
cũng không sao Nghèo nhưng trong sạch, lương tâm thanh thản, không phải lo
lắng, áy náy, day dứt (an giấc ngáy kho kho) Nhưng đó cũng là cách nói tự trào, đùa cợt với cái nghèo
Về đồ uống và thức mặc, thì chỉ một giọng bông đùa, lỡm cợt một cách phô
trương
_—— Hoạt động 4
HUONG DAN TONG KET VA LUYEN TAP
1 Tóm lại, thái độ, tình cảm của Nguyễn Công Trứ với cái nghèo, với lối sống nghèo như thế nào ? Em có đồng tình với quan điểm của ông 2 Giải thích ?
Trang 16(Mia mai, trào phúng cái nghèo, nhà nho nghèo, an phận sống nghèo Đó là
quan điểm táo bạo và tiến bộ Trong đời, tác giả đã làm hết sức mình để giúp dân
nơi ông cai trị, được khẩn hoang, được giàu có.)
2 Đặc sắc nghệ thuật của bài phú : Giọng điệu trào phúng, lối nói khoa
trương, đối lập giữa số và chất lượng, nội dung và hình thức
3 Học thuộc lòng I đoạn mà em thích
4 Sưu tầm những câu danh ngôn, ngạn ngữ, tục ngữ nói về nghèo, giàu, về lối sống nghèo, giàu
(Ai giàu ba họ, ai khó ba đời ; Nhà giàu húp tương ; Nghèo rớt mồng tơi ;
Lành cho sạch, rách cho thơm ; .)
5 Soạn bài 7h dụ Vương Thông lần nữa
Tiết 76 LAM VAN CAC HINH THUC KET CAU
CUA VAN BAN THUYET MINH
A Két qua cGn dat
Gitp HS :
- Ôn tập, củng cố các hình thức kết cấu của văn bản nói chung ; từ đó nắm được kết cấu của văn bản thuyết minh nói riêng
— Tích hợp các kiến thức về văn, tiếng Việt và vốn sống thực tế vào việc viết
văn bản thuyết minh
— Rèn luyện kĩ năng viết văn bản thuyết minh có kết cấu phù hợp
B Thiết kế bòi dạy học
Ộ Hoạt dong 1
ON TAP VE VAN BAN THUYET MINH
- GV nêu vấn đề và yéu cau HS suy nghi, thảo luận :
1 Văn bản thuyết minh là gì ?
2 Theo cách hiểu như trên thì chúng ta thường gặp các dạng văn bản thuyết minh nào ?
Trang 173 Theo em, có thể chia văn bản thuyết minh làm mấy loại ?
- HS trao đối, thảo luận và trả lời :
1 Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời
sống nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân
của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích
Tri thức trong văn bản thuyết minh đòi hỏi khách quan, xác thực, hữu ích cho
COn người
Văn bản thuyết minh cần được trình bày chính xác, rõ ràng, chặt chẽ và hấp dẫn
Ví dụ : Cây đừa Bình Định
Cây dừa gắn bó với người dân Bình Định chặt chẽ như cây tre đối với người
dân miền Bắc Cây dừa cống hiến tất cả của cải của mình cho con người : thân cây
làm máng, lá làm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách Gốc dừa già làm chõ đồ xôi,
nước dừa để uống, để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước mắm Cùi dừa ăn sống với bánh đa, làm mứt, làm bánh kẹo, ép lấy dầu dùng để thắp, để ăn, để chải
đầu, nấu xà phòng So dita lam khuy áo, làm gáo, làm muôi Vỏ dừa bện dây rất
tốt đối với người đánh cá vì nó mềm, dẻo, dai, chịu mưa, chịu nắng Cây dừa gắn
bó với đời sống hằng ngày là như thế đấy
Dân Bình Định có câu ca dao :
Dừa xanh sừng sững giữa trời
Dem than minh hién cho đời thuỷ chung
Ở Bình Định, dừa là chủ yếu, dừa là tất cả Dừa ở đây như rừng, đừa mọc ven
sông, men bờ ruộng, leo sườn đồi, rải theo bờ biển Trên những chặng đường dài
suốt 50, 60 km chúng ta chỉ gặp cây dừa : dừa xiêm thấp lè tè, quả tròn, nước ngọt, dừa nếp lơ lửng giữa trời, quả vàng xanh mơn mởn, dừa lửa lá đỏ, vỏ hồng
(Hoàng Văn Huyền)
2 Theo cách hiểu như trên thì một số văn bản trong SGK như các bài khái
quát, các phần "tiểu dẫn", các bài báo khoa học, giới thiệu đồ vật, đồ dùng, đều
là văn bản thuyết minh
3 Có thể chia văn bản thuyết minh làm ba loại :
a Loại văn bản thuyết minh trình bày, giới thiệu các sự vật, hiện tượng thông thường, nghiêng về mặt cung cấp tri thức Ví dụ : Cây đừa Bình Định, Tác hại của
bao bì mi lông đối với môi trường, Sự độc hại của thuốc lá,
b Loại văn bản thuyết minh ứng dụng, thường chỉ cung cấp những thông tin vắn tất, nghiêng về việc hướng dẫn sử dụng Ví dụ : các tờ rơi giới thiệu sản phẩm
thuốc men, thực phẩm, đồ điện tử,
Trang 18c Loại văn bản thuyết minh có tính chất nghệ thuật, tức là có sử dụng các yếu
tố tưởng tượng, cung cấp tri thức theo kiều "học mà chơi, chơi mà học" Ví dụ : Hai vạn dặm dưới biển, Đường lên mặt trăng, Đường máu vào tim
Chương trình lớp 10 tập trung vào việc tìm hiểu loại a
Hoạt động 2
XÁC ĐỊNH CÁC HÌNH THỨC KẾT CẤU
CỦA VĂN BẢN THUYẾT MINH
- GV yêu cầu HS tìm hiểu SGK và trả lời các câu hỏi :
1 Các đối tượng thuyết minh thường gặp là gì ?
2 Tương ứng với các đối tượng ấy, có những hình thức kết cấu văn bản thuyết
minh như thế nào 2
- HS trao đối, thảo luận và trả lời :
1 Đối tượng thuyết minh thường gặp là :
- Một sự vật cụ thể như : cây dừa, con giun đất, núi, đồi, biển, đền, tháp, lăng
tầm, cung điện
- Một hiện tượng cụ thể như : màu xanh của lá, mây, mưa, sấm, chớp, thuỷ
triều, sao đổi ngôi
— Mot vấn đề cụ thể như : giới thiệu một tác phẩm văn học, mĩ thuật, âm nhạc ;
giới thiệu một phong tục tập quán ; giới thiệu một quan niệm về cuộc sống
* Nói chung, nhu cầu hiểu biết của con người là vô cùng phong phú, đa dạng
và phức tạp ; do đó đối tượng của văn bản thuyết minh cũng như vậy Tức là ta khó
mà có thể liệt kê thật đầy đủ các đối tượng của văn bản thuyết minh
2 Tương ứng với các đối tượng ấy, ta có thể gặp một số hình thức kết cấu của
văn bản thuyết minh như sau :
a Kết cấu theo trình tự thời gian : Trình bày sự vật, vấn đề theo quá trình hình
thành, vận động và phát triển : từ phát sinh, phát triển đến trưởng thành, từ trước
đến sau, từ trẻ đến già
b Kết cấu theo trình tự không øian : Trình bày sự vật, vấn đề theo cấu tạo vốn
có của nó : bên trên, bên dưới, bên ngoài, bên trong ; hoặc theo trật tự quan sát, từ
xa đến gần, từ trung tâm đến các bộ phận xung quanh
c Kết cấu theo trình tự lô-gic : Trình bày sự vật, vấn đề theo các mối quan hệ
nhân — quả, chung — riêng, chủ yếu — thứ yếu, hiện tượng — bản chất, tương đồng —
đối lập ; theo trình tự từ thấp lên cao, từ quan hệ của vật này với vật khác, từ cái đã
biết đến cái chưa biết
* Nói chung, các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh đều tuân theo quy luật nhận thức của con người là : từ thấp đến cao, từ hiện tượng đến bản chất,
từ riêng lẻ đến hệ thống Việc lựa chọn hình thức kết cấu nào còn tuỳ thuộc vào
đối tượng (sự vật cụ thể hay vấn đề tư tưởng trừu tượng), mục đích thuyết minh
Trang 19(cung cấp tri thức thuần tuý hay dùng tri thức để tranh luận, phản bác) va hoàn
cảnh giao tiếp (với các nhân tố giao tiếp cụ thể)
1 Văn bản này thuyết minh vấn đề gì ?
2 Hình thức kết cấu thuyết minh trong văn bản như thế nào 2
3 Hình thức kết cấu như vậy có thích hợp không 2
— GV gợi dẫn HS trả lời :
1 Văn bản này thuyết minh về Lịch sử vấn đề bảo vệ môi trường, bao gồm :
- Khởi đầu từ nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường : " một lượng khổng lồ các chất phế thải công nghiệp một lượng lớn các chất độc hoá học sau khi thải vào môi trường đã khuếch tán làm môi trường không ngừng xấu ởi, uy hiếp
nghiêm trọng đến sự sống của loài người và các sinh vật khác"
— Tiếp theo là những tác hại của việc ô nhiễm môi trường : "Những bệnh tật kì
dị không lường được đã giết chết hàng loạt chim muông, làm cho bò, cừu lâm
bệnh đột tử Trẻ em đang chơi đùa bỗng nhiên ngã quy, sau mấy giờ chết ngay
không chữa nổi Trên mặt đất chỉ còn sót lại một vài con chim lẻ loi thoi thóp
Đó là một mùa xuân không có sự sống”
- Cuối cùng là : "Loài người bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường Do đó, khởi đầu từ thập kỉ sáu mươi, ở những nước công nghiệp phát triển đã day lên phong trào bảo vệ môi trường, yêu cầu chính phủ phải
có biện pháp để giải quyết vấn đề ô nhiễm"
2 Hình thức kết cấu của văn bản này là : theo quan hệ nhân — quả và trình tự
thời g1an
3 Hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh này là phù hợp vì đã nói đến
"lịch sử" thì phải có "nguyên nhân, diễn biến, kết quả hoặc hậu quả” và phải được
trình bày theo trình tự thời g1an
* Thao tác 2
- GV yêu cầu HS đọc văn bản Thành cổ Hà Nội và trả lời các câu hỏi :
1 Văn bản này có kết cấu hình thức như thế nào ?
2 Kết cấu ấy có phù hợp với văn bản không ? Tai sao ?
Trang 20- HS trao đối, thảo luận và trả lời :
1 Văn bản này trình bày theo trình tự không gian :
a Khởi đầu là lời giới thiệu chung : "Kết cấu thành cổ Hà Nội xưa có ba vòng (am trùng thành quách)
b Tiếp theo là cách trình bày “bóc tách” từng vòng :
— "Thành nhỏ nhất ở trong cùng là Tử Cấm Thanh "
— "Vòng thành thứ hai (ở giữa) là Hoàng Thành "
- "Vòng thành ngoài cùng đắp bằng đất, gọi là Kinh Thành "
2 Kết cấu này phù hợp với văn bản, vì :
- Đối tượng thuyết minh là một sự vật cụ thể, cách trình bày này giúp người nghe, người đọc không chỉ hiểu biết, mà con dễ dàng hình dung ra vóc dáng của
đối tượng
- Đây là cách trình bày phù hợp với quy luật nhận thức của con người nói chung Tất nhiên cũng có thể trình bày ngược lại : từ vòng ngoài cùng, đến vòng thứ hai và vòng trong cùng
* Thao tác 3
— GV yêu cầu HS đọc văn bản Học thuyết nhân ái của nhà nho và trà lời các câu hỏi :
1 Văn bản này có kết cấu hình thức như thế nào ?
2 Tại sao kết cấu hình thức của văn bản này không giống kết cấu hình thức của hai văn bản trên ?
- HS trao đối, thảo luận và trả lời :
1 Văn bản này được trình bày theo hình thức kết cấu lô-gic của vấn đề
2 Cách trình bày không giống hai văn bản trên, vì :
a Đối tượng thuyết minh là một vấn đề trừu tượng, vì vậy cần phải chia đoạn
để giải thích các khái niệm
b Để người nghe, người đọc có thể hiểu rõ một vấn đề tư tưởng thì phải thuyết minh bằng phương pháp "tổng — phân — hợp", cụ thể :
+ Tổng hợp : "Học thuyết nhân ái của nhà nho có thể gọi là tinh hoa của Nho
học và tinh hoa này có thể cung cấp cơ sở tư tưởng quan trọng cho sự chuyển đổi
và phát triển cao hơn của văn minh nhân loại"
+ Phân tích : Giải thích các chữ "nhân, trung, thứ”
+ Tổng hợp : "Đạo rung, thứ của nhà nho được dùng tương đối nhiều vào việc
tu dưỡng đạo đức cá nhân
2 Bài tập 2 (Phân tích kết cấu của phan Tri thitc đọc — hiểu về thể loại Phú) :
Trang 21Đây là văn bản thuyết minh về một thể loại văn học được trình bày theo kết cấu trình tự lô-gíc, cụ thể :
a Doan 1 giới thiệu chung về thể "phú", có thể đặt tiêu đề : Phú Id gi ?
b Đoạn 2 giới thiệu về "cổ phú, có thể đặt tiêu đề là : Cổ phú là gì ?
c Đoạn 3 giới thiệu về bài Phú sông Bạch Đằng, có thể đạt tiêu đề là Cổ phú
sông Bạch Đằng
d Đoạn 4 nêu mục đích, ý nghĩa của "cổ phú" nói chung, "Cổ phú sông Bạch
Đằng" nói riêng, có thể đặt tiêu đề là : Ý nghĩa của bài "Cổ phú sông Bạch Đằng"
3 Bài tập bổ trợ
CHUA TAY HO Trên bờ bắc Hồ Tây, lối ra bán đảo Quảng Khánh (thuộc thôn Hồ Tây, xã
Quảng An) có ngôi chùa cổ được nhiều sử sách giới thiệu là danh lam thắng
cảnh của kinh thành Thăng Long xưa
Chùa xây theo kiểu "nội công ngoại quốc", Tam bảo 7 gian xây trên khu đất cao nhìn ra Hồ Tây, hậu cung 3 gian, xung quanh là nhà tổ 2 lớp 6 gian
Trong chùa còn có nhiều di vật quý Cửa tam quan phía bên phải còn tấm bia
lớn cao 1m, rộng 0,7m đặt trên lưng rùa, hoa văn rồng chầu mặt nguyệt dựng năm
Vĩnh Tộ thứ tư (1622) đời vua Lê Thần Tông Văn bia do Nguyễn Lai Dần, đỗ tiến
sĩ khoa Kỉ Mùi (1559), làm quan tới chức Cần sự tá Lang, Hàn Lâm viện hiệu lí soạn, cho biết chùa tên chữ là "Phổ Linh tự" thuộc phường Tây Hồ, huyện Quảng
Đức, phủ Phụng Thiên, kinh thành Thăng Long
Cửa Tam bảo bên trái còn tấm bia cao 1m, rộng 0,6m, dựng năm Chính Hoà thứ 17 (1696) cho biết chùa Phổ Linh được trùng tu xây dựng gác chuông và được
cấp một mẫu quan điền để làm ruộng Tam bảo Tấm bia cũng giới thiệu : "Phường
Tây Hồ có chùa Phổ Linh là nơi thắng cảnh có con sông Nhị uốn quanh " Gác chuông được xây dựng năm 1696, sau bị đồ nên chuông phải treo trong Tam bảo Đây là quả chuông quý, cao 1,5m, đường kính 1m, đúc năm Cảnh Thịnh
thứ ba (1795) cho biết chùa Phổ Linh được đối tên là "Địa Linh tự" Quả chuông
cũ đúc đời Lê đã bị mất nên đến thời Tây Sơn, dân trong phường mới đúc lại được chuông "Địa Linh tự chung” có hoa văn đẹp còn lại đến nay
Năm 1823, vua Minh Mệnh từ kinh đô Huế ra miền Bắc, đến vãng cảnh chùa,
đã công đức cho chùa 30 lạng bạc để trùng tu chùa
( Nay là phường Quảng An, quận Tây Hồ
Trang 22Chùa Tây Hồ với các di vật thời Lê, Tây Sơn, Nguyễn còn lại giúp việc nghiên
cứu về xã hội và cảnh quan của kinh thành Thăng Long xưa nên rất đáng được xếp
hạng di tích lịch sử — văn hoá để tiếp tục tôn tạo, bảo quản
(Theo Đỗ Thỉnh, Địa chí vùng ven Thăng Long, NXB Van hoá Thông tin, Hà Nội, 2000)
* Gợi ý phân tích kết cấu -
a Theo không gian : từ vị trí ngôi chùa đến kiến trúc cụ thể của ngôi chùa
b Theo thời gian : lịch sử xây dựng và các lần sửa chứa, tôn tạo, trùng tu
c Theo 16-gic : gia tri lich su — văn hoá của ngôi chùa
TRANH DAN GIAN HANG TRONG Tuy nhiên, được biết đầy đủ hơn cả là "tranh dân gian Hàng Trống” mà cho đến trước năm 1945 vẫn rất phổ biến Hiện nay, dường như chỉ còn hoạ sĩ —
nghệ nhân Lê Đình Nghiên là còn theo nghề của ông cha Nghệ nhân dòng tranh
này là một trong số những người ở làng Tự Tháp (nay là phố Hàng Trống), một số
khác từ các nơi về làm thuê, trong đó có "tho vé" Binh Vong (Thanh Tri), ho kết hợp lối vẽ tranh quê mình với lối vẽ tranh Tết Trung Quốc, lại dùng giấy và màu nhập của Trung Quốc, vừa phục vụ việc chơi Tết vừa phục vụ việc thờ cúng quanh
năm của thị dân Ván khắc nét cho tranh khổ lớn nên phải in ngửa, trên cơ sở đó tô
mau bang tay và vẽ thêm chi tiết, do đó có thé can mau với nhiều sắc độ đậm nhạt Nổi bật ở tranh Hàng Trống là các bộ tranh Tết được gọi là "Tứ bình" như bốn cô
Tố nữ, bốn mùa xuân, hạ, thu, đông với các cặp thú và cây như Mai - Điều (mùa xuân), Liên — Áp (mùa hè), Cúc - Điệp (mùa thu) và Tùng — Lộc (mùa đông) Phổ biến là cặp đôi Lí ngư vọng nguyệt — Thiên hạ thái bình vẽ cá chép đớp trăng và
chim công múa Cũng còn nhiều đề tài về các lớp người lao động như Ngư — Tiéu — Canh — Mục, về các cảnh chợ quê và canh nông chi đồ, về các tích 7ruyện Kiểu,
Thạch Sanh, Bích Câu kì ngộ ; về các ước mơ hạnh phúc như Tam đa, Thất đồng,
Tử tôn vạn đại, cả các trò chơi như Bịt mắt bắt dê, Chuột đỗ cao cưới vợ Bên
cạnh đó là những tranh thờ về tín ngưỡng đạo Mẫu như các tranh Thượng thiên, Thượng ngàn, Mẫu Thoải, Đức Thánh Trần, Ông Hoàng, Cậu Quận, Ngũ hổ, Bạch
hổ, Hắc hồ Loại tranh thờ này được bán quanh năm
Tranh Hàng Trống thường ¡n nét đen, song cơ bản là tô màu bằng tay, do đó phụ thuộc vào tài nghệ của từng nghệ nhân với bàn tay vàng của mình Bảo tàng
lịch sử hiện có ván khắc tranh Hàng Trống ghi rõ làm năm Quý Mùi, niên hiệu Minh Mạng thứ tư, tức năm 1823 Cho đến đầu thế ki XX, ở Hà Nội vẫn còn vài nơi khắc ván in tranh Song, do cách chơi tranh, thường vào cuối năm thay tranh mới huỷ tranh cũ, nên không còn giữ được tranh cổ
Trang 23(Chu Quang Trứ, Mĩ thuật Thăng Long — Hà Nội,
trong Văn hoá Thăng Long — Hà Nội hội tụ và tod sáng
(GS TS Trần Văn Bính chủ biên), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000)
%* GỢI ý -
a Về nội dung : văn bản trên thuyết minh về "dòng tranh dân gian Hàng Trống"
b Về kết cấu :
- Theo thời gian : lịch sử phát sinh, phát triển và tồn tại
- Theo lô-gic : các giá trị về thấm mĩ và văn hoá của "dòng tranh dân gian
Hàng Trống” đối với đời sống tinh thần của người Việt
mỗi người nghệ sĩ Việt Nam" và trong công chúng yêu nghệ thuật Ông được đánh giá là một nghệ sĩ lớn, một tài năng và một trí thức yêu nước Đồng thời ông còn là
một bậc thầy lớn song rất gần gũi, thân thương, yêu quý đối với các thế hệ hoạ sĩ
sau này Tuy ông đã hi sinh năm 1954, trên đường tham gia chiến dịch Điện Biên
Phủ, song những tác phẩm của ông (dù không nhiều) đã trở thành những bài học
vô cùng quý giá Không chỉ những tác phẩm mà cả cuộc đời lao động nghệ thuật của ông cũng là một tấm gương sáng để mọi thế hệ nghệ sĩ sau này noi theo
và học tập
Quê ông ở làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên
Ông sinh ra tại Hà Nội ngày 15 tháng 12 năm 1906 Hai mươi tuổi, sau khi học hết năm thứ ba trường Bưởi, ông thi đỗ vào khoá II của trường Cao đẳng MI thuật Đông Dương bằng tài năng và lòng say mê nghệ thuật Trường Cao đẳng Mí thuật Đông Dương với các giảng viên và giám đốc Vic-to Tác-đi-ơ là những nghệ sĩ chân chính Họ đã mở ra một "chân trời" mới lạ về nghệ thuật để các sinh viên Việt Nam tìm hiểu và học tập Tô Ngọc Vân đã từng viết : "Vui vẻ, mê yêu, tin
tưởng, chúng tôi vào cửa trường Mi thuật dé tới thâm cung của Cái Đẹp" Năm
1931, Tô Ngọc Vân tốt nghiệp trường Cao đẳng Mi thuật Đông Dương Từ năm
1935 đến năm 1939 ông được bổ nhiệm đi dạy ở trường Sisovath ở Phnom Pênh (Cam pu chia) Trong khoảng thời gian này, ông vẽ nhiều tranh phong cảnh về đất
nước Cam-pu-chia, nhất là cảnh chùa và các sư Trở về nước năm 1930, ông là giáo sư trường Cao đẳng MI thuật Đông Dương, vừa dạy học vừa vẽ tranh Có thể nói thời gian từ năm 1935 dến năm 1945 là giai đoạn vàng trong sự nghiệp sáng