+ Kết tinh những tình cảm lớn của con người Việt Nam trong kháng chiến:... Những chặng đường thơ của Tố Hữu luôn gắn với chặng đường cách mạng của bản thân, với những giai đoạn phát triể
Trang 1(Tố Hữu)
Phần một: Tác giả
Trang 3huyện Quảng Điền, tỉnh
Thừa Thiên - Huế
Trang 5Cửu đỉnh – Thế
Miếu
Tháp Ph ớc Duyên – Chùa Thiên Mụ
Trang 6nhà Nho, thuộc rất nhiều
ca dao - dân ca xứ Huế và
từng đọc cho Tố Hữu
nghe ngay từ nhỏ.
Chính gia đình và quê
hương đã tạo điều kiện
thuận lợi phát triển hồn
thơ Tố Hữu sau này Tố Hữu lúc nhỏ
Trang 7- Các chặng đường hoạt
động cách mạng:
+ Năm 1937: Hăng say
hoạt động trong Đoàn
Thanh niên dân chủ ở
Trang 8+ Năm 1939: bị thực dân
Pháp bắt giam ở nhà lao
Thừa Thiên, rồi lần lượt bị
giam giữ trong nhiều nhà
Trang 9+ Cách mạng tháng Tám 1945: là Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa ở Huế.
+ Kháng chiến chống Pháp: đặc trách văn hoá văn nghệ ở Cơ quan Trung ương Đảng.
Trang 10
Tố Hữu ở chiến khu Việt Bắc trong thời kì kháng chiến
chống Pháp
Trang 11+ Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ
1986: liên tục giữ những cương vị quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
- 1996: được tặng Giải thưởng HCM về Văn học nghệ thuật.
Tố Hữu làm việc với Bác Hồ tại nhà sàn, 9-4-1960
Trang 12II Đường cách mạng, đường thơ:
Trang 13Một tiếng đờn
(1992)
Ta với ta
(1999)
Trang 151 “Từ ấy” (1937 - 1946):
- Tập thơ đánh dấu bước trưởng thành của người thanh niên quyết tâm đi theo ngọn cờ của Đảng.
II Đường cách mạng, đường thơ:
Trang 16II Đường cách mạng, đường thơ:
- Tập thơ gồm có ba phần:
+ “Máu lửa” (1937 - 1939):
Sáng tác trong thời kì Mặt trận Dân chủ.
Thể hiện nỗi cảm thông sâu sắc với cuộc sống cơ cực của lớp người nhỏ bé, nghèo khổ (lão đầy tớ, chị vú em, cô gái
giang hồ, những em bé mồ côi, đi ở, hát dạo…)
Khơi dậy ở họ ý chí đấu tranh và niềm tin vào tương lai
Trang 17Một tiếng rao đêm
Ai ăn bánh bột lọc không?
Tiếng rao sao mà ướt lạnh tê lòng
………
Mà giọng ngân còn vương vẫn dại khờ
Trên môi mỏng hãy thơm mùi sữa mẹ
Lão đày tớ
Đến già còn bửa củi
Gánh nước cuốc vườn rau
Đất bụi lấm đầy đầu
Mà chủ còn hắt hủi
………
Trang 18Nuôi đi em, cho đến lớn, đến già
Mầm hận ấy trong lồng xương ống máu
Để thêm nóng mai kia hồn chiến đấu
Mà hôm nay anh đã nhóm trong lòng!
(Đi đi em, 2/1938)
Khóc là nhục Rên, hèn Van, yếu đuối
Và dại khờ là những lũ người câm
Trên đường đi như những bóng âm thầm Nhận đau khổ mà gửi vào im lặng
…………
Quyết chiến đấu! Nào, ta liên hiệp lại
Hội tù nhân khốn nạn của bần cùng
Ngày mai đây tất sẽ là chung
Tất cả sẽ là vui và ánh sáng
(Liên hiệp lại, 7/1938)
Trang 19II Đường cách mạng, đường thơ:
Trang 20Cô đơn thay là cảnh thân tù,
Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực.
Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức,
Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu
Trang 23II Đường cách mạng, đường thơ:
+ “Giải phóng” (1942 -
1946):
Sáng tác từ khi vượt ngục đến những ngày đầu giải phóng dân tộc.
Ngợi ca thắng lợi của cách mạng.
Khẳng định niềm tin của nhân dân vào chế độ mới
Trang 24Giải phóng
Chừ đây Huế, Huế ơi! Xiềng gông xưa đã gãy
Hãy bay lên! Sông núi của ra rồi!
Nước mắt ta trào, húp mí, tràn môi
cổ ta ré trăm trận cười, trận khóc!
(Huế tháng Tám - 1945)
Ta hát suốt đêm nay vui bất tuyệt
Trống rung tim ta đập nhịp bồn chồn
Đầu ta qua lớp lớp khải hoàn môn
Hồn ta cháy sáng ngời trên ngọn đuốc
Trang 252 “Việt Bắc” (1946 - 1954):
- Nội dung chính:
Là tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc kháng chiến và những con người kháng chiến trong suốt chặng đường chống pháp của dân tộc:
+ Miêu tả và ca ngợi anh Vệ quốc quân, bà
mẹ nông dân, chị phụ nữ, em liên lạc…
Trang 26Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân
Con đi xa cũng như gần
Anh em đồng chí quây quần là con
Bầm yêu con, yêu luôn đồng chí
Bầm quý con, bầm quý anh em
(Bầm ơi !)
Chú bé loắt choắt, Cái xắc xinh xinh.
Cái chân thoăn thoắt, Cái đầu nghênh nghênh.
Ca-lô đội lệch, Mồm huýt sáo vang.
Như con chim chích, Nhảy trên đường vàng.
Em là con gái Bắc Giang Rét thì mặc rét, nước làng em lo
Nhà em phơi lúa chưa khô
Ngô chửa vào bồ, sắn thái chưa xong
Trang 27+ Ngợi ca Đảng và Bác Hồ đã
khơi nguồn và phát huy được
sức mạnh của dân quân ta để
Tiếng ngày xưa và tiếng cả mai sau.
Bác ngồi đó, lớn mênh mông
Trời xanh, biển rộng, ruộng đồng, nước non Bác Hồ cha của chúng con
Trang 28• tình quân dân “cá nước”,
• tiền tuyến với hậu phương,
• miền xuôi với miền ngược,
• cán bộ với quần chúng,
• nhân dân với lãnh tụ,
• tình yêu thiên nhiên, đất
nước,
• tình cảm quốc tế vô sản,…
+ Kết tinh những tình cảm lớn của con người Việt Nam trong kháng chiến:
Trang 29Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên
Chiến sĩ anh hùng Ðầu nung lửa sắt Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi ngủ hầm, mưa dầm
cơm vắt Máu trộn bùn non Gan không núng Chí không mòn Những đồng chí thân chôn làm giá súng
Ðầu bịt lỗ chân mai Băng mình qua núi thép gai ào ào vũ bão Những đồng chí chèn lưng cứu pháo
Nát thân, nhắm mắt còn ôm Những bàn tay xẻ núi, lăn bom Nhất định mở đường cho xe ta lên chiến trường tiếp viện
Trang 30Ta đi tới trên đường ta
(Ta đi tới)
Ta đi tới trên đường ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
(Việt Bắc)
Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
(Việt Bắc)
VIỆT BẮC
(1947-1954)
Trang 323 “Gió lộng” (1955 - 1961):
Nội dung chính:
- Ghi sâu ân tình cách mạng.
- Ca ngợi cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc
- Thể hiện tình cảm sâu nặng với miền Nam ruột thịt.
Trang 33Gió lộng
(1955-1961)
Yêu biết mấy, những dòng sông bát ngát,
Giữa đôi bờ dào dạt lúa ngô non.
Yêu biết mấy, những con đường ca hát, Qua công trường mới dựng mái nhà son.
(Mùa thu mới)
Yêu biết mấy, những dòng sông bát ngát,
Giữa đôi bờ dào dạt lúa ngô non.
Yêu biết mấy, những con đường ca hát, Qua công trường mới dựng mái nhà son.
(Mùa thu mới)
Trang 35Đồng bào ơi, anh chị em ơi!
Hỡi lương tâm tất cả loài người
Hãy nghe tiếng của nghìn người bị giết Không sống nữa, nhưng không chịu chết Nghìn hồn oan bay khắp nhân gian
Thù muôn đời, muôn kiếp không tan!
Trang 374 “Ra trận” (1962 - 1971):
Nội dung chính:
Là bản hùng ca về những tấm gương anh hùng và khí thế ra trận của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
ở hai miền Nam Bắc.
Trang 38Miền Nam
Nếu tâm sự cùng ta, bạn hỏi:
Tiếng nào trong muôn ngàn tiếng nói Như nỗi niềm nhức nhối tim gan
Trong lòng ta, hai tiếng: miền Nam!
…
Có phải hỡi miền Nam anh dũng
Khi ta đứng lên cầm khẩu súng
Ta vì ta, ba chục triệu người
Cũng vì ba ngàn triệu trên đời!
…Ôi Tổ quốc giang sơn hùng vĩ
Đất anh hùng của thế kỷ hai mươi !
Hãy kiêu hãnh: trên tuyến đầu chống Mỹ
Có miền Nam anh dũng tuyệt vời.
Miền Nam trong lửa đạn , sáng ngời !
Trang 39"Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai
… Chưa bao giờ đẹp thế sắc trời xanh
Trang 405 “Máu và hoa” (1972 – 1977):
Nội dung chính:
- Ghi lại chặng đường cách mạng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mĩ đầy gian khổ, hi sinh.
- Khẳng định niềm tin sâu sắc vào sức mạnh tiềm tàng của quê hương cũng như mỗi con người Việt Nam.
- Biểu hiện niềm tự hào và niềm vui phơi phới khi đất nước giành thắng lợi.
Trang 41Việt Nam máu và hoa
Khao khát trăm năm, mãi đợi chờ Hôm nay vui đến, ngỡ trong mơ
Một trời êm ả, xanh không tưởng Mặt đất bình yên giấc trẻ thơ
Đây cuộc hồi sinh, buổi hóa thân Mùa đông thế kỷ chuyển sang xuân
Ôi Việt Nam! Từ trong biển máu
Người vươn lên, như một thiên thần!
Trang 436 “Một tiếng đờn” (1992) và “Ta với ta” (1999):
Trang 44Mới bình minh đó đã hoàng hôn,
Vừa nụ cười tươi giọt lệ tuôn.
Đời thường sớm nắng chiều mưa vậy, Khuấy động lòng ta những nỗi buồn.
(Một tiếng đờn)
Trang 45Bài thơ cuối cùng của nhà thơ Tố Hữu
Trang 46Những chặng đường thơ của Tố Hữu luôn gắn
với chặng đường cách mạng của bản thân, với những giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam.
Trang 47III Phong cách thơ Tố Hữu:
1 Về nội dung: Thơ Tố Hữu mang phong cách trữ tình - chính trị rất sâu sắc:
a Trong việc biểu hiện tâm hồn, thơ Tố Hữu luôn hướng tới cái "ta" chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn:
- Hướng tới cái “ta” chung:
Cái "tôi" trữ tình trong thơ Tố Hữu là cái tôi - chiến sĩ, cái tôi - công dân, về sau là cái tôi nhân danh Đảng và cộng đồng dân tộc
Trang 48III Phong cách thơ Tố Hữu:
Chào xuân đẹp! Có gì vui đấy
Hỡi em yêu? Mà má em đỏ dậy
Như buổi đầu hò hẹn, say mê
Anh nắm tay em, sôi nổi, vụng về
Mà nói vậy: “Trái tim anh đó
Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ:
Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều
Phần cho thơ, và phần để em yêu…”
Em xấu hổ: “Thế cũng nhiều anh nhỉ!”
Rồi hai đứa hôn nhau, hai người đồng chí
Dắt nhau đi, cho đến sáng mai nay
Anh đón em về, xuân cũng đến trong tay!
Trang 49III Phong cách thơ Tố Hữu:
Trang 50- Tình cảm lớn:
Thơ Tố Hữu không đi sâu vào cuộc sống và những tình cảm riêng tư mà tập trung thể hiện những tình cảm lớn của con người cách mạng :
+ tình yêu lí tưởng ( Từ ấy …),
+ tình cảm kính yêu lãnh tụ ( Sáng tháng năm …),
+ tình cảm đồng bào đồng chí, tình quân dân ( Cá nước …),
+ tình cảm quốc tế vô sản ( Em bé Triều Tiên …).
Trang 51- Niềm vui lớn:
niềm vui trong thơ Tố Hữu là niềm vui trước
những chiến thắng vẻ vang của dân tộc
(Huế tháng Tám, Hoan hô chiến sĩ Điện
Biên, Toàn thắng về ta…)
Chừ đây Huế, Huế ơi! Xiềng gông xưa đã gãy
Hãy bay lên! Sông núi của ta rồi!
Nước mắt ta trào híp mí, tràn môi
Cổ ta ré trăm trận cười, trận khóc!
Gió gió ơi! Hãy làm giông, làm tố Cuốn tung lên cờ đỏ máu thơm tươi Vàng vàng bay đẹp quá sao sao ơi
Ta ngã vật trong dòng người cuộn thác
Trang 52- Niềm vui lớn:
niềm vui trong thơ Tố Hữu là niềm vui trước
những chiến thắng vẻ vang của dân tộc
(Huế tháng Tám, Hoan hô chiến sĩ Điện
Biên, Toàn thắng về ta…)
Hoan hô đồng chí Võ Nguyên Giáp Sét đánh ngày đêm xuống đầu giặc Pháp Vinh quang Hồ Chí Minh - cha của chúng ta
ngàn năm sống mãi!
Quyết chiến quyết thắng cờ đỏ sao vàng vĩ đại!
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên)
Trang 53b Trong việc miêu tả đời sống, thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi :
- Thơ Tố Hữu luôn đề cập đến những vấn
đề có ý nghĩa lịch sử lớn lao và có tính chất toàn dân:
+ Công cuộc xây dựng đất nước (Bài ca mùa xuân 1961…),
+ cả nước ra trận đánh Mĩ (Chào xuân 67…)
Trang 54- Cảm hứng chủ đạo trong thơ Tố Hữu là cảm hứng lịch sử - dân tộc, không phải là cảm hứng thế
sự - đời tư.
- Nổi bật trong thơ Tố Hữu là vấn
đề vận mệnh cộng đồng, chứ không phải là vấn đề số phận cá nhân.
Trang 55- Nhân vật trữ tình trong thơ mang phẩm chất tiêu biểu cho dân tộc, mang tầm vóc lịch
sử và thời đại:
+ anh vệ quốc quân (Lên Tây Bắc…),
+ anh giải phóng quân (Tiếng hát sang xuân…),
+ anh Nguyễn Văn Trỗi (Hãy nhớ lấy lời tôi),
+ chị Trần Thị Lý (Người con gái Việt Nam)
…
Trang 56Em là ai? Cô gái hay nàng tiên?
Em có tuổi hay không có tuổi?
Mái tóc em hay là mây là suối?
Đôi mắt em nhìn hay chớp bê đêm đông?
Thịt da em là sắt hay là đồng?
Ôi trái tim em, trái tim vĩ đại
Còn một giọt máu tươi còn đập mãi
Không phải cho em Cho lẽ phải trên đời
Cho quê hương em Cho Tổ quốc, loài người
(Người con gái Việt Nam)
Trang 57c Những sự kiện chính trị lớn lao của dân tộc, của cộng đồng được Tố Hữu thể hiện qua giọng thơ mang tính chất tâm tình:
- Cơ sở:
+ Thừa hưởng từ tâm hồn con người xứ Huế, những câu ca, giọng hò ngọt ngào của quê hương.
+ Từ quan điểm sáng tác: “Thơ là chuyện đồng điệu (…) trên cơ sở đồng ý đồng tình”
Trang 58- Biểu hiện:
Nói chuyện chính trị với đồng bào bằng những lời hô gọi ngọt ngào trìu mến của tình bạn, tình yêu, tình cảm gia đình: "bạn đời ơi", "hỡi người bạn", "đồng bào ơi",
"anh chị em ơi", "em ơi"…
Lời hô gọi ngọt ngào trìu mến :
Anh chị em ơi!
Hãy giương súng lên cao chào xuân 68
(Chào xuân 68)
Mẹ ơi! Lau nước mắt
(Ta đi tới)
Các em ơi! Đã học chưa?
Trang 59- Biểu hiện:
Nói chuyện chính trị với đồng bào bằng những lời hô gọi ngọt ngào trìu mến của tình bạn, tình yêu, tình cảm gia đình: "bạn đời ơi", "hỡi người bạn", "đồng bào ơi",
"anh chị em ơi", "em ơi"…
Lời ru mà cũng thực sự trang nghiêm:
Con ong làm mật yêu hoa Con cá bơi yêu nước, con sơn ca yêu trời
Con người muốn sống con ơi!
Phải yêu đồng chí, yêu người anh em
(Tiếng ru)
Trang 60- Biểu hiện:
Nói chuyện chính trị với đồng bào bằng những lời hô gọi ngọt ngào trìu mến của tình bạn, tình yêu, tình cảm gia đình: "bạn đời ơi", "hỡi người bạn", "đồng bào ơi",
"anh chị em ơi", "em ơi"…
Giọng thơ thủ thỉ tâm tình:
Nỗi niềm xưa nghĩ mà thương Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng Nhân tình nhắm mắt chưa xong Biết ai hậu thế khóc cùng Tố Như
(Kính gửi cụ Nguyễn Du)
Trang 612 Về nghệ thuật biểu hiện, thơ Tố Hữu mang tính dân tộc rất đậm đà :
a Về thể thơ: Thành công khi vận dụng những thể thơ truyền thống của dân tộc:
- Lục bát, song thất lục bát: mang sắc thái ca dao và cổ điển (Khi con tu hú, Việt Bắc, Bầm
ơi, Kính gửi cụ Nguyễn Du…)
- Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
(Việt Bắc)
Trang 622 Về nghệ thuật biểu hiện, thơ Tố Hữu mang tính dân tộc rất đậm đà :
a Về thể thơ: Thành công khi vận dụng những thể thơ truyền thống của dân tộc:
- Lục bát, song thất lục bát: mang sắc thái ca dao và cổ điển (Khi con tu hú, Việt Bắc, Bầm
ơi, Kính gửi cụ Nguyễn Du…)
Bầm ơi có rét không bầm Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn
Bầm ra ruộng cấy bầm run Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non
(Bầm ơi!)
Trang 63- Thất ngôn: trang trọng cổ điển nhưng linh hoạt trong việc gieo vần, tạo nhịp và diễn tả tình cảm của thời đại mới (Mẹ Tơm, Bác ơi, Theo chân Bác…)
Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa Một buổi trưa nắng dài bãi cát Gió lộng xôn xao sóng biển đu đưa Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát
(Mẹ Tơm)
Trang 65c Về giọng điệu:
Tâm tình ngọt ngào tha thiết.
Trang 66IV Tổng kết:
Ghi nhớ - SGK