Vì khối lượng tri thức tạo ra phẩm chất trí tuệ nên trong bài dạy ðịa lý thế giới, khi ñặt vấn ñề phát triển tư duy, không nên chỉ nhấn mạnh vào việc bồi dưỡng các tha[r]
Trang 1BÀN VỀ MỘT SỐ VẤN ðỀ TRONG VIỆC DẠY ðỊA LÝ
KINH TẾ - XÃ HỘI THẾ GIỚI HIỆN NAY
NGUYỄN ðĂNG CHÚNG Khoa ðịa lý, Trường ðHSP Hà Nội
I MỞ ðẦU
Trong bối cảnh những chuyển biến của giáo dục Việt Nam, khi mà nước ta ngày càng hòa nhập vào ñời sống kinh tế xã hội thế giới, việc dạy học môn ðịa lý kinh tế xã hội thế giới ñã có những thay ñổi Chúng tôi xin nêu ý kiến của mình về một số vấn ñề nổi lên trong việc dạy môn học này
II CÁC Ý KIẾN TRAO ðỔI
1 Dạy kinh tế trong môn học ñịa lý kinh tế - xã hội thế giới
ðịa lý kinh tế xã hội thế giới là một bộ môn có chứa ñựng các nội dung kinh tế Dạy và học kinh tế là nhiệm vụ của thầy trò trong quá trình thực hiện chương trình môn ñịa lý kinh tế - xã hội thế giới Khái niệm dạy - học kinh tế trong môn học này có thể bao gồm 2 khía cạnh Thứ nhất, ñó là những tri thức về kinh tế bao gồm các sự kiện, các quá trình kinh tế Thứ hai, ñó là tư duy của học sinh dựa trên nền những tri thức ñó mà chúng ta thường gọi là tư duy kinh tế
Thực tế là trong quá trình giảng dạy, giáo viên rất chú ý dạy kinh tế Nhưng cũng rất thực tế việc dạy các nội dung kinh tế thường nông, và có nhiều sai lạc Trong việc sử dụng các kiến thức về kinh tế, có những sai sót về các khái niệm, các thuật ngữ Ví dụ ñiển hình là “Tổng sản phẩm quốc nội" (GDP) và "Tổng thu nhập quốc gia" (GNI) GDP và GNI có ý nghĩa khác nhau nhưng không ñược phân biệt rõ ràng nên dẫn ñến những nhầm lẫn khi ñánh giá các vấn ñề kinh tế Trong quá trình thực hiện các thao tác tư duy kinh tế, thường thể hiện sự ấu trĩ, ñơn giản hóa vấn ñề dựa trên kinh nghiệm, theo kiểu thầy bói bình voi Việc tuân thủ các quan ñiểm mang tính phương pháp luận, chẳng hạn như quan ñiểm mac-xit phần nhiều mới ở mức giáo ñiều Chính vì thế chúng ta thường nói rất nhiều về kinh tế, nhưng nếu vấp phải một vấn ñề kinh tế cụ thể trong ñời sống muôn màu hiện nay ñòi hỏi người dạy phải phân tích, thì phần nhiều là không thể cắt nghĩa ñến mức khả dĩ
có thể chấp nhận
Lý do quan trọng là phần lớn giáo viên ñịa lý thiếu kiến thức cơ bản về kinh tế học, ñặc biệt là kiến thức kinh tế học của nền kinh tế thị trường, từ những học thuyết kinh tế cho ñến những quan hệ kinh tế cụ thể Những kiến thức ñó chưa ñược trang
bị một cách hệ thống trong các khoa ñịa lý của nhà trường sư phạm ðể ñáp ứng nhu cầu dạy kinh tế cho học sinh trong ñiều kiện hiện nay, mỗi giáo viên cần có một vốn hiểu biết sâu hơn về kinh tế học ở mức ñộ nhất ñịnh
Trang 2Trước hết, người giáo viên cần trang bị cho mình những kiến thức tối thiểu về kinh tế vĩ mơ
Kinh tế vĩ mơ đề cập đến những vấn đề chung, những cân đối chung trong một nền kinh tế Nội dung của nĩ bao gồm các vấn đề về sản lượng và thu nhập, các quan hệ cung cầu, tài chính tiền tệ, kinh tế đối ngoại, vai trị của nhà nước Ở đây chúng ta khơng chỉ hiểu được các khái niệm kinh tế, mà cịn hiểu được các cơng cụ điều tiết kinh tế vĩ mơ Nhờ vậy người thày khi dạy kinh tế sẽ phản ánh đúng bản chất kinh tế của vấn đề mình đang dạy Những câu hỏi như ngoại thương cĩ vai trị thế nào với nền kinh tế, vì sao các nhà tư bản lại đầu tư hay khơng đầu tư vốn ra nước ngồi, vì sao các nước cĩ chính sách tiền tệ thế này hay thế khác, vì sao nước nào cũng cĩ một tỷ lệ người thất nghiệp sẽ trở lên dễ dàng với người giáo viên khi
ta cĩ những kiến thức kinh tế vĩ mơ
Bên cạnh đĩ, người giáo viên địa lý cần tự trang bị kiến thức về kinh tế vi mơ,
để cĩ hiểu biết về những quan hệ cung cầu cụ thể ðiều này cho phép ta giải thích, phán đốn những động thái thị trường của từng hoạt động, từng loại sản phẩm Vì sao giá thép tăng, vì sao giá dầu tăng, xu hướng thay đổi nĩ như thế nào? Những câu hỏi đại loại như thế sẽ được trả lời một cách thỏa đáng nếu ta vận dụng các kiến thức kinh tế vi mơ
Ở mức độ cao hơn, người giáo viên cần tìm hiểu những học thuyết của kinh tế học Cĩ rất nhiều học thuyết trong kinh tế học Mỗi học thuyết cĩ những thế mạnh
và điểm yếu riêng nên cĩ giá trị khác nhau tuỳ từng nước, tuỳ từng giai đoạn lịch sử, nghĩa là tuỳ hồn cảnh cụ thể Khơng cĩ cơng cụ nào là vạn năng, cũng như thế, khơng cĩ học thuyết nào là tuyệt đối đúng và đủ trong mọi hồn cảnh Chúng ta là những người theo các học thuyết kinh tế học mac-xit, nhưng với tinh thần biện chứng và phát triển, thì việc hiểu và vận dụng những học thuyết kinh tế khác nhau là rất cần thiết ðể kịp thời đáp ứng cho nhu cầu dạy học trước mắt, giáo viên hãy tìm đọc những bài giới thiệu về các học thuyết kinh tế cơ bản nhất của các danh nhân như Adam Smith, David Ricardo, Karl Marx, Thomas Robert Malthus, John Maynard Keynes ; Nếu cĩ điều kiện, thì đọc tác phẩm nguyên bản của các danh nhân ấy Những hiểu biết cĩ được sẽ giúp cho người giáo viên tránh được bệnh tuyệt đối hĩa, cĩ được bản lĩnh của một người thầy biết suy xét vấn đề trong tính đa chiều
và sự vận động của nĩ
2 Dạy các nội dung dân cư - xã hội trong mơn học ðịa lý kinh tế - xã hội thế giới Với tên gọi là ðịa lý kinh tế xã hội thế giới thì các nội dung dân cư xã hội khơng chỉ được dạy như là một nhân tố kinh tế mà phải được dạy như là một yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế xã hội, cĩ vai trị ngang bằng với các nội dung kinh tế Hiện nay, giáo viên địa lý dạy các nội dung dân cư - xã hội theo nhiều cách khác nhau Một số thiên về dạy kinh tế, nghĩa là chỉ coi dân cư, xã hội như là nguồn
Trang 3lực cho việc phát triển kinh tế Số khác lại say sưa khai thác các khía cạnh xã hội và dân số mà quên ñánh giá ý nghĩa kinh tế của chúng
Tuy nhiên, tình trạng phổ biến hiện nay là việc thể hiện nội dung dân cư, xã hội mờ nhạt và hình thức Khi dạy với tư cách là nguồn lực thì ñại khái là dân ñông thì lao ñộng rẻ thuận lợi cho kinh tế, dân số trẻ thì năng ñộng dễ tiếp thu cái mới, trình ñộ kỹ thuật cao thì Nghĩa là những thứ nói ra ai cũng hiểu là thế Nhưng thực
ra nó không hẳn là thế hay nói ñúng hơn, nó không chỉ có thế, những thứ ai cũng biết thì không phải là kiến thức của bài học Trên cái nền chung phải khắc vào cái riêng của từng lãnh thổ, ñó mới là cần, ñó mới là hứng thú, ñó mới là khoa học ðiều này thì Baranxki ñã nói từ lâu lắm rồi, dạy ñịa lý mà không ñịa lý, mọi thứ cứ mờ
mờ, nhạt nhạt mà học sinh không chán học thì mới lạ Nếu chúng ta dạy ñịa lý thật, tuân thủ theo ñúng các quan ñiểm ñịa lý thì theo lẽ tự nhiên, con người luôn ham và hứng thú với những cái mới mẻ, chắc chắn mỗi bài học ñịa lý thế giới sẽ ñều hấp dẫn với học sinh
Nhưng ñể dạy ñược như thế cũng rất khó khăn Một kiểu học gạo trong trường
sư phạm, một sự lơ là trong trau dồi chuyên môn lúc ñã là giáo viên thì tất nhiên sẽ cho ra ñời những bài ngang ngang mai mái Bởi vì, thế giới là muôn màu, ðịa lý thế giới không chỉ có không gian rộng mà còn xuyên cả thời gian nữa
Dạy những cái gì trong phần dân cư xã hội? Ngoài những số liệu trong sách, rất cần có những số liệu bổ sung cần thiết và bỏ ñi những gì là thừa Nhưng quan trọng là phải cắt nghĩa những số liệu ấy không chỉ dựa vào chính sách mà còn phải trên những hiểu biết cần thiết về văn hóa và lịch sử của ñất nước Việc cắt nghĩa còn phải dựa trên những hiểu biết cần thiết về những lĩnh vực có liên quan ñến vấn ñề ñược nói ñến của lãnh thổ Các nội dung văn hóa xã hội rất ña dạng và ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực có một số nội dung nổi bật mà ta gọi là những ñặc trưng văn hóa
xã hội Bỏ qua những ñặc trưng ñó thì coi như chưa dạy về lãnh thổ ñó Ví dụ khi dạy về Ấn ðộ, nếu không có những phân tích, những lời bình về Bà la môn giáo, về các sử thi vĩ ñại thì không còn là dạy về văn hóa, xã hội Ấn ðộ!
ðể có thể dạy tốt các nội dung dân cư - xã hội, giáo viên ñịa lý không chỉ cần chăm chỉ mà còn phải có phương pháp Nhưng trước hết phải có tình yêu và trách nhiệm với nghề Trong từng bài nếu thấy có ñiều gì cần tìm hiểu thì cố tìm hiểu, không sâu sắc thì cũng phải ở mức chấp nhận ñược Tích tiểu thành ñại, theo thời gian hiểu biết sẽ ngày càng nhiều Càng hiểu biết nhiều thì càng có ñiều kiện hiểu sâu sắc hơn Ở mức ñộ cao hơn, mỗi người nên trang bị cho mình những kiến thức
về các khoa học có liên quan ñể có khả năng giải quyết vấn ñề một cách vững tin và chủ ñộng
Có rất nhiều nguồn ñể khai thác kiến thức cho bài dạy Các kênh thông tin hiện nay vô cùng nhiều Nhưng trước hết, hãy khai thác tốt các kiến thức trong chương trình phổ thông ở nước ta ðiều này ñặc biệt có ý nghĩa Thứ nhất, cần phải thừa
Trang 4nhận chương trình phổ thông của nước ta ựề cập ựến một khối lượng tri thức rất rộng lớn, có thể hỗ trợ tốt cho giáo viên trong giờ dạy ựịa lý Khi dạy về sinh vật chuyển gen ở Hoa Kỳ, hãy ựọc sinh học Khi nói về Anhxtanh, hãy ựọc Vật lý, khi viện dẫn
về văn hóa Pháp, hãy ựọc Văn học và Lịch sử phổ thông Thứ hai, xét về khoa học
sư phạm, việc khai thác tốt các kiến thức mà các em ựã, ựang và sẽ học, sẽ ựảm bảo ựược tắnh liên thông giữa các môn học đây chắnh là nhân tố tắch cực hóa học sinh trong học tập đối với các tư liệu khác, không nên quá coi trọng các bảng thống kê Cần chú ý ựến các tác phẩm văn học nghệ thuật hay ắt ra cũng là những bài giới thiệu ựáng tin cậy về chúng
3 Thời sự hóa bài dạy trong môn học địa lý kinh tế -xã hội thế giới
Thời sự hóa bài dạy là một yêu cầu rất quan trọng trong việc dạy ựịa lý thế giới Bài ựịa lý thế giới phải ựảm bảo tắnh mới của các tri thức thể hiện trong bài, một bài địa lý thế giới sẽ tẻ ngắt nếu toàn nói chuyện ngày xưa
Tắnh thời sự của bài ựịa lý thể hiện ở 2 khắa cạnh Khắa cạnh quan trọng nhất là
nó phải nêu lên ựược các quá trình, các tắnh chất còn kéo dài ựến ngày nay Chẳng hạn dạy về đông Nam Á mà ta lại dạy là kinh tế các nước này phát triển năng ựộng nhưng gần ựây lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng thì như thế là bài học ựã mất tắnh thời sự vì nó làm bài học cũ ựi ựến 10 năm Khắa cạnh thứ 2 là các dẫn chứng phải chứa ựựng những tư liệu kinh tế - xã hội mới nhất và phải ựược chỉ rõ chúng minh họa cho giá trị nào của quá trình Chẳng hạn, khi dạy về kinh tế Nhật Bản, nếu nhận ựịnh rằng hiện nay, Nhật Bản ựang từng bước hồi phục thì cần lấy tư liệu càng mới càng tốt ựể chứng minh cho nhận ựịnh ựó Tuy vậy, tư liệu ựược trắch dẫn phải là tiêu biểu chứ không ựược chọn những tư liệu mới nhất nhưng lại mang yếu tố cá biệt Việc trắch dẫn một số liệu cá biệt không kèm theo những chú giải cần thiết có thể làm thông tin sai lạc về bản chất Trừ những giá trị trung bình, các tư liệu trắch dẫn cần nằm trong một chuỗi tư liệu ựược chọn lọc một cách có chủ ựịnh Trong giảng dạy thường có hai khuynh hướng Một là sự sùng bái tư liệu mới nhất, thể hiện
ở chỗ người dạy cố tìm số liệu của một năm mới nhất ựể dẫn ra, trong khi số liệu này không phản ánh khuynh hướng chung của sự phát triển Ở ựây cần thấy rằng số liệu mới nhất chưa chắc ựã phải là tư liệu hay nhất Hai là sự duy ý chắ, thể hiện ở chỗ do có một nhận ựịnh trước về một hiện tượng nào ựó thì cố tìm những tư liệu minh họa ựược cho nhận ựịnh ựã có mà bỏ qua những tư liệu khác
Nói một cách khái quát, bài ựịa lý thế giới mang tắnh thời sự là bài ựịa lý chỉ ựược ra sự kiện của ngày hôm nay nằm ở ựiểm nào của quá trình phát triển ựã ựược xác ựịnh trong bài dạy Nếu tất cả các quá trình, các ựặc ựiểm mà ta xác ựịnh trong bài dạy không thể chứa ựựng các sự kiện của ngày hôm nay thì có nghĩa là các kiến thức cung cấp trong bài không ựầy ựủ Bài ựịa lý mang tắnh thời sự khác với bài nói
về thời sự là tác phẩm trong ựó người ta nói về những chuyện của hôm nay Thầy
Trang 5dạy địa lý cần chú ý ựiểm này ựể trong khi thời sự hóa bài dạy không bị sa ựà trở thành người nói chuyện thời sự
4 Vấn ựề ghi nhớ trong dạy ựịa lý thế giới
Yêu cầu ghi nhớ là rất quan trọng khi dạy môn ựịa lý thế giới
Nếu xét về yêu cầu phát triển trắ tuệ cho người học thì dạy ghi nhớ là một yêu cầu ựể phát triển các phẩm chất trắ tuệ Bởi vì, trắ tuệ con nguời gồm hai bộ phận cơ bản Thứ nhất, ựó là khối lượng các tri thức ghi nhớ ựược, những thứ này coi như nguyên liệu tạo lên ngôi nhà trắ tuệ Thứ 2, là khả năng thực hiện các thao tác trắ tuệ
ở các cấp ựộ khác nhau, từ thấp là ghi nhớ cho ựến cao là so sánh, tổng hợp, phân loại, ựánh giá
Với cách hiểu như vậy, dạy học phát triển trắ tuệ bao hàm cả việc dạy cách ghi nhớ và cả việc làm tăng khối lượng tri thức ựược lưu giữ trong bộ não của học sinh đối với môn ựịa lý kinh tế thế giới, ghi nhớ là rất cần Thế giới muôn màu, chỉ khi học sinh có trong ựầu một khối lượng tri thức ựủ nhiều về các sự vật và hiện tượng ựịa lý của các lãnh thổ thì mới phân biệt ựược các lãnh thổ với nhau, mới các nguyên liệu ựể thực hiện các thao tác tư duy ựịa lý
Khối lượng những tri thức cần ghi nhớ trong môn học ựịa lý thế giới là rất lớn Chúng bao gồm hệ thống các ựịa danh, các số liệu, các sự kiện, quá trình, các quy luật gốc Tuy nhiên, nếu phân loại các kiến thức tuỳ theo mức ựộ có thể vận dụng các thao tác tư duy ựể ghi nhớ thì có thể chia thành 2 loại:
- Các tri thức cần ghi nhớ chủ yếu theo cách máy móc;
- Các tri thức có thể nhớ nhờ tư duy
Các tri thức phải dựa và ghi nhớ máy móc là những tri thức mà học sinh phải nhớ thông qua cách mà ta quen gọi là học vẹt, học thuộc Chúng bao gồm những số liệu, những ựịa danh cụ thể, tên những sản phấm của nền kinh tế, tên các tổ chức kinh tế, tên người, những mốc thời gian và cả những quy luật gốc coi như tiên ựề trong môn học
Nhiều người thường phản ựối ghi nhớ máy móc nên không chú ý yêu cầu học sinh nhớ các kiến thức này đó là sai lầm nghiêm trọng vì nếu nói về ựịa lý các nước
mà không nói tới vị trắ, các ựịa danh quan trọng, các sản phẩm ựặc trưng thì nói tới cái gì? Có người lo ngại môn ựịa lý bắt học sinh phải nhớ máy móc quá nhiều Thực
tế không phải như vậy Môn địa lý thế giới không phải là môn phải nhớ máy móc nhiều so với các môn học ở phổ thông Không nên quy kết một cách sai lầm rằng ựây là môn học thuộc Môn học nào cũng cần học thuộc ở mức ựộ cần thiết và địa lý thế giới là môn học thuộc bình thường nếu không nói là ắt trong số ựó Hãy thử so với các môn Ngoại ngữ, Toán, Văn, Lịch sử hay Vật lý, Hóa học thì thấy ngay ựiều
ựó Toàn bộ các số liệu và ựịa danh mà học sinh cần nhớ trong một năm học ở môn địa lý thế giới có bằng số từ mới của vài bài khóa tiếng nước ngoài? Do thầy sợ trò
Trang 6phải nhớ nhiều và trò vừa ngại nhớ vừa có quan niệm môn ựịa là môn có thể bịa nên không coi trọng việc ghi nhớ Hậu quả tất yếu là kho tri thức ựịa lý của học sinh thường nghèo, và vì thế không có tư liệu ựể tư duy đó là nguyên nhân sinh ra những bài viết ngô nghê trong các kỳ thi của thắ sinh Nhớ máy móc ựúng là rất vất vả Cần luôn tìm ra cách nhớ dễ dàng hơn Tuy nhiên, trong khi chưa tìm ựược cách nào hay hơn thì cần phải chăm chỉ, cố gắng học thuộc Cần nhấn mạnh là nhớ máy móc là một trong những chướng ngại mà học sinh phải vượt qua nếu muốn có tiến bộ khi học các môn nói chung và môn địa lý thế giới nói riêng
Các tri thức có thể dựa vào tư duy ựể nhớ gồm các số liệu ựã ựược khái quát hóa, nâng thành khái niệm ựại lượng, diễn biến của các quá trình kinh tế, xã hội Những tri thức này ựược nhớ dễ dàng hơn do học sinh có thể dựa vào các mối quan
hệ ựể suy diễn
Vì khối lượng tri thức tạo ra phẩm chất trắ tuệ nên trong bài dạy địa lý thế giới, khi ựặt vấn ựề phát triển tư duy, không nên chỉ nhấn mạnh vào việc bồi dưỡng các thao tác tư duy mà cần phải chú ý cả việc làm ựầy thêm các kho nguyên liệu của
tư duy.Trong một bài ựịa lý thế giới, cần thiết phải xác ựịnh một số lượng thắch hợp các tri thức cần ghi nhớ cho học sinh Nên chú ý ựến tên các ựịa danh và các kiến thức có ựộ ổn ựịnh theo thời gian hoặc các kiến thức làm cơ sở ựể suy ra các kiến thức khác Cần tránh sa vào những tư liệu vụn vặt hay quá chi tiết
để ghi nhớ tốt, trong khi chúng ta rất cần phải ghi nhớ máy móc, thì vẫn rất cần
tư duy ựể nhớ Có một số yếu tố của tư duy cần vận dụng hỗ trợ cho ghi nhớ ựó là:
- Tư duy phân loại gắn với hệ thống hoá Trong khi ghi nhớ thì phân loại và hệ thống hóa là một cách làm cho người ta dễ nhớ và lâu quên điều này cũng giống như người thủ thư phân loại sách và cất giữ, hay cũng giống các chuyên gia phần mềm lưu giữ thông tin Trong học tập cần phân loại các tri thức và nhớ chúng Vắ dụ khi cần nhớ các thành phố của một nước, sẽ dễ dàng hơn nếu ta chia lãnh thổ thành các vùng và nhớ các thành phố gắn theo các vùng ấy Hay khi cần nhớ tên người, ta
có thể dựa vào ựặc trưng ngôn ngữ của ựất nước Nhớ số liệu thì hãy phân loại số liệu theo các tiêu chuẩn nào ựó Tư duy phân loại và hệ thống hóa giúp nhớ dễ hơn
vì các sự kiện ựược ghi nhớ trong các mối quan hệ
- Tư duy khái quát gắn với sơ ựồ hoá Trong ựịa lý, học sinh học vô vàn các quốc gia, lãnh thổ và các bài viết cũng theo cách thức khác nhau Cần khái quát ựể tìm ra cái chung nhất coi như khung sườn, như là bộ xương cần nhớ Chẳng hạn, khi nói về nội dung ựịa lý của một lãnh thổ, thì phải thấy cái chung nhất là: lãnh thổ nào cũng phải ựề cập tới vị trắ, các ựặc ựiểm của tự nhiên, xã hội, các nội dung kinh tế Trong từng nội dung nhỏ ấy lại chia ra các yếu tố thành phần cấp thấp hơn Cách khái quát như vậy sẽ cho phép hình thành một "sơ ựồ cấu tạo chung" của các kiến thức về lãnh thổ Học sinh cần học thuộc cái cơ cấu của bộ khung ấy Các nước hay các vùng cụ thể chỉ là trường hợp riêng, học sinh chỉ việc nhớ thêm vào cái khung
Trang 7ựã có Tư duy khái quát trong các trường hợp riêng cho phép học sinh phát hiện ra bản chất, do ựó tìm ra cái chung ựể nhớ, tránh nhớ những chi tiết vụn vặt Chẳng hạn, khi có số liệu của nhiều năm, học sinh cần khái quát ựể tìm ra nét chung như dạng thay ựổi, các giá trị trung bình, các giá trị cực
TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Chương trình môn học địa lý kinh tế - xã hội trong các cấp học của nước CHXH CN Việt Nam
[2] Sách giáo khoa địa lý kinh tế xã hội thế giới (Lớp 11) chương trình cũ và mới [3] Giáo trình và các tập bài giảng môn học địa lý thế giới của các trường ựại học Việt Nam
[4] Các giáo trình tâm lý học ựại cương
[5] Phương pháp giảng dạy địa lý kinh tế Baranxki (sách dịch)
TÓM TẮT Việc dạy ựịa lý thế giới hiện nay có nhiều thay ựổi ựể ựáp ứng nhu cầu của nhà trường và của xã hội Trong quá trình thực hiện chương trình môn học nổi lên một số vấn ựề Tác giả nêu ý kiến của mình về các vấn ựề ựược cho là ựáng quan tâm nhất
đó là việc dạy các nội dung kinh tế, dân cư - xã hội, việc thời sự hóa bài dạy và nhấn mạnh vai trò của ghi nhớ trong giảng dạy kinh tế xã hội thế giới