1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu Những vấn đề địa lý kinh tế hiện nay trên thế giới

261 1K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những vấn đề địa lý kinh tế hiện nay trên thế giới
Tác giả Vũ Tuấn Anh
Trường học Đại học Sư phạm Huế
Chuyên ngành Địa lý kinh tế
Thể loại Báo cáo tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 261
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Anh bắt đầu áp dụng phương pháp chụp ảnh bằng máy bay trong những côngtrình nghiên cứu địa lý lịch sử, R.A.French, học trò của H.Đarley và thực tập sinhtrường đại học tổng hợp Maxcơva

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

CHƯƠNG I - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐỊA LÝ KINH TẾ HIỆN NAY TRÊN THẾ GIỚI 4

Các trường phái khoa học truyền thống lịch sử 4

Những tìm tòi các tính quy luật về không gian 8

Sự phân tích tổ chức không gian 15

Những vấn đề phân bố dân cư 20

Địa lý thành phố trên thế giới 22

Công nghiệp hoá và địa lý kinh tế 24

Những vấn đề địa lý của việc phát triển nông nghiệp 26

Những vấn đề địa lý giao thông vận tải hiện nay 28

Những lĩnh vực mới của địa lý ktế trên thế giới 32

Phân tích vùng và quy hoạch vùng 33

Công tác dự báo địa lý KT và các dự báo phát triển địa lý 41

Những đề nghị và tiếp tục phát triển địa lí học 42

CHƯƠNG II - VẤN ĐỀ TƯƠNG TÁC GIỮA TỰ NHIÊN VÀ SẢN XUẤT XÃ HỘI 45

Những luận cứ xuất phát 45

Những phạm vi cơ bản của khái niệm 47

Vấn đề môi trường xung quanh 50

Triển khai sơ đồ, mô hình của hệ thống lãnh thổ tự nhiên 57

Triển khai sơ đồ mô hình sản xuất theo lãnh thổ 60

Tác động của sản xuất xã hội tới tự nhiên 69

Ảnh hưởng của môi trường xung quanh tới sản xuất xã hội và đời sống con người 74

Tính toán những hiện tượng cực đoan của tự nhiên trong sự phát triển sản xuất xã hội 76

Tối ưu hóa môi truờng xung quanh dưới chế độ xã hội chủ nghĩa 77

CHƯƠNG III - NHỮNG VẤN ĐỀ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG THEO LÃNH THỔ 83

Ý nghĩa của việc nghiên cứu phân công lao động theo lãnh thổ đối với Địa lí kinh tế 83

Hệ thống phân công lao động theo lãnh thổ: 86

Giao thông vận tải và sự phân công lao động theo lãnh thổ 88

Tập trung sản xuất và phân công lao động theo lãnh thổ 91

Phân công lao động theo lãnh thổ và môi trường xung quanh 92

Vai trò của các nguồn lao động 95

Các dạng phân công lao động theo lãnh thổ 96

Qui mô của phân công lao động theo lãnh thổ 97

Phân công lao động giữa các nước XHCN 99

Phân công lao động theo lãnh thổ và sự tạo vùng 103

Những chỉ số cơ bản của chuyên môn hoá vùng 107

Những vấn đề phân loại các thành phố theo sự tham gia của các thành phố ấy vào phân công lao động theo lãnh thổ 109

CHƯƠNG IV - TỔ CHỨC XÃ HỘI THEO LÃNH THỔ 114

Sự thống nhât giữa chế độ xã hội và tổ chức xã hội theo lãnh thổ 114

Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và tổ chức xã hội theo lãnh thổ 116

Thành phố tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn của tổ chức thành phố, tìm kiếm cách giải quyết mới 119

Nền sản xuất xã hội chủ nghĩa và tổ chức xã hội theo lãnh thổ riêng cho nên sản xuất ấy 121

Phân bố sản xuất dưới chế độ xã hội chủ nghĩa 126

Trang 2

Tổ chức thành phố theo lãnh thổ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa 142

Lí thuyết hội tụ về vấn đề tổ chức lãnh thổ trong địa lí khinh tế tư sản 145

CHƯƠNG V - NHỮNG VẤN ĐỀ PHÂN VÙNG KINH TẾ 150

Những vẫn đề phân vùng trên thế giới hiện nay 150

Phân dị địa lí và phân vùng 152

Vùng như là một hệ thống trong một hệ thống lớn hơn 155

Vùng kinh tế, tính năng động và tính ổn định của vùng 157

Những vấn đề phân vùng kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa và các nước xã hội chủ nghĩa 162

Cơ cấu lãnh thổ của vùng 166

Tính tổng hợp của sự phát triển vùng kinh tế 168

Tổng hợp thể sản xuất theo lãnh thổ và vùng kinh tế 169

Mô hình hoá các vùng kinh tế và các tổng hợp thể sản xuất theo lãnh thổ 172

Phân vùng kinh tế và điều khiển 175

CHƯƠNG VI - NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ KINH TẾ 181

Những đặc điểm của nghiên cứu địa lý kinh tế 181

Phân tích các quan hệ không gian và thời gian trong nghiên cứu địa lý kinh tế 184

Nghiên cứu thực địa 188

Nghiên cứu xí nghiệp 189

Nghiên cứu điểm kinh tế và hệ thống cơ sở sản xuất 192

Nghiên cứu các điểm dân cư 195

Nghiên cứu các hệ thống dân cư 198

Nghiên cứu các cụm công nghiệp 199

Nghiên cứu giao thông vận tải 202

Nghiên cứu vùng kinh tế 205

Nghiên cứu cả nước 208

Phương pháp nghiên cứu so sánh 209

Vai trò của địa đồ học, kinh tế - xã hội trong nghiên cứu địa lí kinh tế 212

Chụp ảnh từ vũ trụ đối với địa lí kinh tế 214

Những phương pháp toán học trong nghiên cứu địa lý kinh tế và vai trò của chúng trong việc đổi mới những phương pháp truyền thống 217

CHƯƠNG VII - Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỊA LÝ KINH TẾ 218

Ý nghĩa thực tiễn của địa lý kinh tế hiện nay 218

Ý nghĩa thực tiễn của việc đánh giá địa lý kinh tế các điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên 222

Ý nghĩa thực tiễn của địa lí dân cư 225

Địa lí kinh tế và xây dựng thành phố 229

Vai trò trong phát triển công nghiệp 231

Vai trò trong phát triển nông nghiệp 233

Vai trò trong phat triển lâm nghiệp 236

Vai trò trong sử dụng các nguồn hải sản 237

Vai trò trong phát triển giao thông 238

Vai trò trong phát triển khu vực phục vụ 240

Vai trò trong phát triển xây dựng 241

Địa lý kinh tế và kế hoạch hóa lãnh thổ 242

CHƯƠNG VIII - TRIỂN VỌNG CỦA ĐỊA LÝ KINH TẾ 246

Sự phát triển địa lý kinh tế theo chiều rộng 246

Sự phát triển của địa lý kinh tế theo chiều sâu 249

Dự báo trong địa lý kinh tế 251

Trang 4

CHƯƠNG I - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐỊA LÝ KINH TẾ HIỆN NAY

TRÊN THẾ GIỚI

Các trường phái khoa học truyền thống và lịch sử Những tìm tòi

về quy luật không gian, phân tích tổ chức lãnh thổ không gian Nhữngvấn đề về địa lí dân cư Địa lí thành phố trên thế giới CNH và địa lýkinh tế Những vấn đề địa lý của sự phát triển nông nghiệp Những vấn

đề địa lý GTVT hiện nay Những lĩnh vực mới của địa lý kinh tế trên

TG Phân tích vùng và quy hoach vùng Công tác dự báo địa lý kinh tế

và các dự báo phát triển địa lý học

Địa lý kinh tế học trên thế giới rất khác nhau Nguyên nhân của sự khác nhau

đó không phải chỉ do sự khác biệt xã hội giữa các nước đó xuất hiện các trường phái khoa học về địa lý có tính dân tộc riêng biệt, mà vì những truyền thống lịch sử, những nhiệm vụ thực tiễn, những lợi ích của các nhà bác học Có một vài đề tài lớn của địa

lý kinh tế được nghiên cứu chủ yếu ở một số nước nào đó hoặc bao trùm phần lớn các nước trên thế giới Chương này sẽ nghiên cứu những đề tài chủ yếu nhất trong số đó

và nêu rõ, các vấn đề khoa học thực tiễn ra vũ đài thế giới như thế nào, trở thành có tính chất toàn cầu như thế nào, và được khoa học địa lý kinh tế trên thế giới nhìn nhận ra sao

Các trường phái khoa học truyền thống lịch sử

Phải cho rằng việc đề ra nguyên tắc truyền thống trong khoa học địa lý là một thành tựu khoa học to lớn Nguyên tắc đó đã được V.N Tachisep, M.V.Lômônôxôp, A.Humbold áp dụng vào khoa học Nhưng trong một thời gian dài, nó được áp dụng nhiều vào các khoa học địa lý tự nhiên hơn là khoa học xã hội Điều khó khăn là không đủ số lượng tài liệu so sánh để có thể vạch ra những tính quy luật không gian

và thời gian trong tổ chức sản xuất và đời sống con người theo lãnh thổ, thiếu một phương pháp đã được nghiên cứu và những quan niệm hoàn chỉnh Trong khi đó việc

Trang 5

xác định các tính quy luật về không gian và thời gian trong lĩnh vực tác động qua lại giữa thiên nhiên và xã hội vạch ra quá trình khai thác lãnh thổ, xây dựng mạng lưới vùng dân cư, hình thành các cảnh quan văn hoá, tập trung theo lanhc thổ các giá trị vật chất và tinh thần, thì không những có ý nghĩa khoa học, mà còn có ý nghĩa thực tiễn hàng đầu Chính hiện nay, khi vai trò của dự báo dài hạn trở nên to lớn như vậy, thì khoa học càng muốn ra sức hiểu sâu hơn về quá khứ Đối với địa lý kinh tế, đó là một quá khứ nghiên vật chất hoá, đã để lại những vùng dân cư, những đường sá, những thói quen lao động và kinh nghiệm của nhân dân, những cảnh quan văn hoá, những đất đai nông nghiệp và những giá trị vật chất khác do con người tạo nên, hợp thành những bộ phận nào đó của lãnh thổ của lực lượng sản xuất hiện nay

Trong khoa học hiện nay đã hình thành ba trường phái địa lý lịch sử Liên Xô, Mỹ(K.Zaure), Anh (H.Đarby)

Karl Zauer nhận các học vị ở Mỹ và Đức Từ năm 1923 ông đã giảng dạy tại trường đại học tổng hợp Berkeley (Cali-fornia), ở đó ông ta xây dựng một trường phái khoa học nổi tiếng trên thế giới Bản chất quan niệm của ông là, địa lý học không chỉ nghiên cứu sự phụ thuộc của đời sống con người voà môi trường thiên nhiên, mà cả sự phụ thuộc lẫn nhau giữa tất cả các sinh vật sống, tức địa lý học là môn sinh thái học chung nhất Trong quan hệ phụ thuộc lẫn nhau đó con người đóng vai trò chủ đạo K.Zaure viết trong cuốn sách "Nguồn gôc và tính phổ biến của nông nghiệp" rằng: "Nhà địa lý chân chính bao giờ cũng phải nghiên cứu những kỹ năng

mà con người có được, và nghiên cứu nhãng đối tượng hữu sinh cũng như vô sinh tức toàn bộ môi trường mà nó áp dụng những kỹ năng đó" Nhà địa lý chú ý khám phá những loại hình khác nhau nhưng có liên quan với nhau của đời sống dưới dạng

-mà chúng đã hình thành trên thế giới-các khu vực văn hóa Những loại hình đó rất lý thú và quan trọng, nếu như chúng ta biết chúng đã ra đời như thế nào Tuy nhiên, nhà địa lý phải "nghiên cứu sự phân bố trên bề mặt Trái đất những kỹ năng của dân cư và những tác phẩm do con người làm ra để biế từ đâu mà chúng sinh ra và phổ biến như thế nào, để xác định điều chủ yếu trong quan hệ của chúng với môi trường văn hoá và thiên nhiên"

Trang 6

Muốn trả lời vấn đề các trung tâm (các vùng) phát sinh và những con đường lantràn của con người, kỹ năng của họ, các kiến thức, thành quả lao động, cần phải đi sâu voàquá khứ, điều mà khoa học hiểu biết còn ít và không thể tái tạo bằng thực nghiệm.Những điều kiện quá khứ khác hẳn so với những điều kiện hiện nay cần đựơc tái tạo,cần phải so sánh lịch sử tự nhiên với lịch sử xã hội Trong tiến trình lịch sử xã hội kiếnthức cnàg mở rộng thì việc sử dụng tài nguyên càng nhiều và theo ya kiên của K.Zaure,phần lớn đó là kết quả của kiến thức

K.Zauer đua ra thuật ngữ innovation (cái mới) mà sau đó như ta sẽ thấy dưới đây,các nhà địa lý "toán học", trước hết là nhà bác học Thuỵ Điển T.Hagerstend, đã tìm cáchphổ biến nó Ở K.Zaure, người ta còn gặp thuật ngữ diffusion innovation (sự phổ biến cáimới), mà sau này được chứng minh bằng toán học

K.auer suy nghĩ rằng: Phải chăng con người đã vượt quá bản thân mình trong quá trình biến đổi môi trường hữu cơ chung quanh, và phải chăng "trật tự mới", mà con người thiệt lập trong thiên nhiên, có thể kết thúc một cách bi thảm? Ông ta nghiên cứu các trung tâm phát sinh cây trông và gia súc, và con đường phổ biến chúng trên bề mặt trái đất, và rồi cuối cùng điều đó cũng đã đưa ông ta đến chỗ phân tích mức độ khai thác bề mặt Trái đất về nông nghiệp hiện nay Trên một chừng mực nào đó, tác phẩm của K.Zauer có tính chất tương đồng với các công trình nổi tiếng toàn thế giới của N.N.Vavilôp (Zauer có trích dẫn những tác phẩm đó trong sách của mình) Những N.N.Vavilôp không có khả năng dành hoàn toàn thơid gian của mình cho lịch sử các trung tâm và những con đường phổ biênd các cây trồng Ông chỉ có thế nghiên cứu các mặt sinh học và nông học của đề tài rộng lớn đó (mặt dù trong các tác phẩm của ông có nhiều câu chuyện ngoài lề về địa lý lịch sử lý thú) Trong khi đó, K.Zauer đi theo con đường nghiên cứu địa lý lịch sử nhiều hơn, bằng cách thu thậpnhiều tài liệu sinh thái thực vật và sinh thái động vật do đó mở đường phát triển sinh tháihọc con người

Trường phái khoa học truyền thống lịch sử của Anh do Henri Đarby, người lãnh đạo môn địa lý của trường đại học tổng hợp Cambridge sáng lập Ông đã tái tạo lại cảnh quan văn hoá của quá khứ một cách có hệ thống, trên cơ sở những tài liệu lịch sử, để chứng minh rằng những thuộc tính mới của chúng ta đã được tích luỹ như

Trang 7

thế nào trong quá trình lịch sử, dưới ảnh hưởng của lao động con người Nhà cách mạngdân chủ Nga Đ.I.Pixarep đã từng phát biểu ý kiến rằng ở Anh, lao động của nhiều thế hệ

đã được đưa vào môi trường địa lý, như gửi vào "quỹ tiết kiệm" và qua những đặc tínhmới của nó mà tác động đến đời sống của những thế hệ hiện nay Có thể không biết cảđến tác phẩm của Đ.I.Pixarep, H.Đarby đã vach ra tình hình đó và nhờ phương pháptruyền thống lịch sử hiện đại

Ở Anh bắt đầu áp dụng phương pháp chụp ảnh bằng máy bay trong những côngtrình nghiên cứu địa lý lịch sử, R.A.French, học trò của H.Đarley và thực tập sinhtrường đại học tổng hợp Maxcơva đã áp dụng các phương pháp đề xuất ở Anh vào việcnghiên cứu các vùng Priniatxk Pôlêxie (ở Biêlô-ruxia) và đã công bố một loạt các côngtrình về đề tài này , mà về sau đã cho phép ông tổng kết các công trình nghiên cứu về địa

có vẻ "tự nhiên", và không phải ngay lập tức con người thấy rõ sự thay thế khoa học sinh vât - tức sinh thái học - bằng một khoa học khác có tên là "sinh thái học con người" và yêu cầu giải thích trên quan điểm sinh vật học toàn bộ lịch sử loài người, đời sống xã hội, và dự đoán dài hạn sự phát triển của loài người

Hình như việc thay thế dần dần và khó thấy được lịch sử xã hội theo chủ nghĩa Mác (lịch sử sản xuất, lịch sử hình thành giai cấp và đấu tranh giai cấp, lịch sử phát triển các hình thái KT - XH) bằng "sinh thái học con người" kiểu sinh vật học, cũng

Trang 8

đang theo đuổi một mục đích giống như nhiều ý đồ khác làm cho quần chúng nhân dân không chú ý đến đấu tranh giai cấp, đến việc thấy thế hợp quy luật các hình thái lịch sử

"Sinh thái học con người" muốn "cào bằng" những đối lập xã hội, với cách giải thích rằng đó cũng là do những quy luật sinh vật học đối với toàn thế loài người, và gán cho

sự phát triển xã hội tính chất phi lịch sử

Việc "Sinh thái học hoá" nền khoa học hiện đại đã trở nên đặc biệt mạnh mẽ dovấn đề bảo vệ sự tinh khiết của môi trường chung quanh ngày càng gây gắt Vấn đề đóđược đặt ra trong những năm gần đây tại nhiều hội nghị và hội thảo khoa học Đặc biệtvào tháng 3/1972 vấn đề đó được thảo luận tại Hội thảo quốc tế của các nhà bác học Mác

- Xít về "Chủ nghĩa Mác - Lênin và các vấn đề môi trường chung quanh" ở Praha.Nhiều nhà bác học của các nước TBCN nói đến "cuộc khủng hoảng sinh thái' trong tươnglai đang đe doạ toàn thể loài người, không phân biệt chế độ xã hội Cuộc hội thảo này đãnhấn mạnh tính chất giai cấp của vấn đề môi trường chung quanh, chống lại "sinh thái họchoá" cách đặt vấn đề đó

Cần chú ý rằng "sinh thái học con người" đang vấp phải sự phản ứng của cả một số các nhà bác học các nước TB Thái độ của chúng ta đối với "sinh thái học con người" là: quan điểm phi xã hội của nó đang né tránh những động lực thực sự của sự phát triển xã hội, lẫn tránh cuộc khủng hoảng của CNTB và thắng lợi của CNXH Tuy nhiên trong quá trình phát triển của mình, sinh thái học đã tích luỹ được nhiều thực tế liên quan với mặt sinh học của tác động qua lại giữa người với người (chứ không phải xã hội) với các sinh vật chung quanh và các yếu tố khác của môi trường,

mà việc nghiên cứu tác động đó có lợi về mặt khoa học và thực tiễn

Những tìm tòi các tính quy luật về không gian

Năm 1826, vượt lên trước tư tưởng của thời đại mình, I.G.Tunen đã lập ra mô hinh toán học đầu tiên về không gian của hệ thống vùng nông nghiệp, đang hình thành dưới ảnh hưởng của thành phố (trung tâm thị trường) Những mô hình không gian về công nghiệp của W.Launhardt cũng xuất hiện trong thế kỷ trước Người phổ

Trang 9

cập mô hình đó là A.Weber Sau này người ta đã đánh giá rất cao, răng ông thậm chí đãlàm lu mờ các bậc tiền bối độc đáo hơn minh

Vào đầu những năm 1930, hầu như cũng lúc đã xuất hiện những tác phẩm mà tácgiả là bác học Đức Waller Christaller và A.Losch đã góp phần to lớn vào việc tìm kiếmnhững quy luật về không gian của sự phát triển lực lượng sản xuất và lĩnh vực phi sảnxuất

Tác phẩm của W.Chistaller về các địa phương trung tâm ở nam Đức, một tác phẩm được nhiều người biết tiếng, đã xuất hiện vào năm 1993 Về lịch sử biên soạn

nó, thì chính tác giả đã kể lại trước khi chết ít lâu Ngay từ những năm 20, tác giả đã quan tâm đến tính chất đúng đắn nhất định của sự bố trí tương quan các điểm dân cư

và khả năng thiết kế một mạng lưới tối ưu các điểm đó (khả năng này xuất hiện khi phân tích các tính quy luật của sự phân bố tương quan các thành phố), tức khả năng chuyển ừt địa lý kinh tế miêu tả sang địa lý kinh tế cấu trúc Christaller đã vạch rõ thí nghiệm sáng tạo của mình như sau: "Tôi nối các thành phố có cùng quy mô trên bản

đồ lại bằng những đường thẳng Qua đó bản đồ đầy rẫy những hình tam giác thường,

có cạnh bằng nhau: khoảng cách giữa các thành phố có quy mô giống nhau thì xấp xỉ bằng nhau và tạo thành những hình sáu cạnh Tôi đã xác định răng, ở miền Nam nước Đức, các thành phố nhỏ thường nằm cách nhau 21km, và khoảng cách đó rất chính xác Rõ ràng là, để nghiên cứu về vùng, tôi đã lập một sơ đồ lý thuyết chung (như trong quốc gia biệt lập của Tunen) "Nhưng tôi đi theo con đường ngược lại với Tunen Ông giả định thành phôg trung tâm đã được cho trước và hỏi rằng các vùng nông nghiệp được phân bố như thế nào chung quanh nó, còn tôi lại xuất phát từ một lãnh thổ có dân cư cho sẵn và sau đó hỏi rằng những thành phố phải được bố trí ở đâu Trước hêt tôi xây dựng, như ngày nay người ta thường nói, một mô hình kinh tế trừu tượng, mặc dù trong thực tế không thầy nó ở dạng nguyên sơ ở đâu cả Núi non, những sự khác nhau về đất đai, mật độ dân cư khác nhau, điều kiện thu nhập khác nhau, cơ cấu xã hội của dân cư, sự phát triển trong lịch sử và các nhân tố chính trị làm cho các mô hình đó chênh lệch nhau Sau đó tôi phải kiểm tra tất cả các điểm dân cư hiện có - xem chúng có thực hiện, và thực hiện mức nào các chức năng trung tâm đối với vùng ngoại thành, và những vùng ngoại thành đó vươn xa đến đâu Do

Trang 10

đó, tôi đã dùng thuật ngữ "địa điểm trung tâm" mà cho đến ngày nay chưa đượcdùng Các nhà địa lý và kinh tế tiếp đón công trình nghiên cứu của tôi như thế nào? Cácnhà địa lý nói: cái đó thất trừu tượng, thật là lý thuyết, đó là kinh tế, không động đếnchúng tôi Các nhà kinh tế thì khẳng định răng, đó là địa lý, môn học mà họ khôngliên quan gì đến Người ta bắt đầu thừa nhậ ở Mỹ (Ullman, Harris, Berry, Bunge), ở

Hà Lan và Thuỵ Điển"

Khi cuốn sách của W.Christaller ra đời (năm 1933) thì A.Losch đang giảng dạy

ở Mỹ cùng một đề tài đó mà không biết gì về tác phẩm của W.Ch A.Losch ngạc nhiên,khi có những thính giả ở một trong các trường đại học tổng hợp của Mỹ lại gần ông tavới quyển sách trên tay của W.Chris trong tay và hỏi rằng có phải ông trình bày vấn đềtheo quyển đó không W.Chris cũng thừa nhận tính đồng thời của sự phát sinh các tưtưởng "Điều thú vị là, hầu như cùng một lúc, không phụ thuộc vào tác phẩm của tôi,ông Losch ở Mỹ đã đi đến hệ thống các điểm trung tâm tương tự Có lẽ, vấn đề "đangtreo lơ lửng"

A.Losch quyết định không vội vã, và mãi đến năm 1940, quyển sách đã đượcsuy nghĩ kỹ của ông mới xuất bản

Công lao của W.Christaller và A.Losch là ở chỗ các ông đã có ý định khám phá quy luật phân bố không gian tương quan giữa các điểm dân cư, phát hiện một trật

tự được tính toán trong cái đám hình như hỗn loạn của sự phân bố các thành phố và nông thôn, sau khi đã nhận thức được quy luật khách quan, sẽ áp dụng nó vào quy hoạch các điểm dân cư trên những lãnh thổ mới khai phá Công lao thứ hai của hai nhà bac học đó là ở chỗ hai ông bắt đầu nghiên cứu những đặc điểm địa lý thuộc lĩnh vực không sản xuất, trong khi trước họ đã có những ý định xác minh quy luật phân bố các ngành công nghiệp, nông nghiệp, Các nhà bác học ấy xác định cấp bậc của hệ thống lãnh thổ các điểm dân cư và mối liên hệ giữa vị trí của điểm dân cư trong hệ thống đó với những đặc điểm chức năng của nó - cơ cấu dân cư, trình độ phục vụ dân

cư, Các tác phẩm của W.Chritaller và A.Losch đã mở đường cho việc nghiên cứu các hệ thống không gian, việc tính toán chúng và sử dụng rộng rãi các phương pháp toán học vào địa lý kinh tế

Trang 11

Trên cơ sở những quan niệm lý luận và các phương pháp do W.Christaller và A.Losch đề ra, những năm sau đó, người ta đã nghiên cứu mô hình địa lý kinh tế, mà môhình quan trọng nhất trong số đó sẽ được đề cập đến

Vào đầu những năm 60, đã xuất bản một bản chỉ dẫn thư mục chuyên đề các tác phẩm (sách và bài báo) về lý luận và ứng dụng "học thuyết về các địa điểm trung tâm" Bản chỉ dẫn này đã nêu lên tác phẩm của gần 500 tác giả Từ đó số lưọng tác phẩm có khuynh hướng tăng lên nhanh chóng Học thuyết các địa điểm về trung tâm

đã trở thành một "mốt" mới, nhưng trong những cuốn sách và bài báo viết về học thuyết ấy thì tương đối ít những sách và bài báo có ý định nghiên cứu phê phán Phần lớn là gải thích những vấn đề phương pháp, "kỹ thuật" xác định các địa điểm trung tâm và giải những bài toán dẫn xuất, và một phần nhỏ là những vấn đề về phương pháp luận

Cần chú ý rằng, W.Christaller và A.Losch đã xây dựng học thuyết của mình về các địa điểm trung tâm không phải trên cơ sở khoa học địa lý kinh tế, mà là trên cơ sở phương pháp luận của trường ơhái sinh thái học, mà như trên đã nói, cơ sở của nó là

do K.Zaure đề ra Trong khi xác định quy luật phân bố tương quan về không gian của các điểm dân cư, các nhà lkhoa học đã nhìn thấy cái chủ yêu đó không phải trong tổ chức sản xuất theo không gian, do sự phân công lao động xã hội theo lãnh thổ, mà là trong nguyên tắc phi lịch sử "chi phí ít nhất" (năng lượng thời gian, vốn lao động) để thoả mãn các nhu cầu của dân cư về các loại phục vụ khác nhau (thương nghiệp, y tế, văn hoá, ) Thay cho sản xuất, những nguyên lý này đề lên hàng đầu "hành vi" của con người như của một sinh vật, sống theo cùng một nguyên tắc như các sinh vật khác của các hệ sinh thái, theo nguyên tắc lựa chon của quá trình "hành vi" các khoảng cách ngắn nhất (thời gian ngắn nhất hay chi phí năng lương ngắn nhất)

A.Losch đã sử dụng rộng rãi khái niệm "cảnh quan văn hoá" (hay "cảnh quan kinh tế") xuất phát từ những quan điểm địa lý nhân loạ của F.Ratxel Những sự tìm tòi các quy luật của các điểm trung tâm trên thực chất đã đưa ông ta dến những kết luận địa lý chính trị Ông viết rằng "xu hướng bình quân hoá quy mô của các lãnh thổ

là vốn có đối với các quốc gia, cũng như đối với các cảnh quan kinh tế", và sau đó đã nối gót F.Ratxel và cũng như Ratxel, khẳng đinh rằng "các quốc gia đang tiến hành

Trang 12

đấu tranh để bình quân hoá quy mô lãnh thổ, để đạt được trạng thái cân bằng" : "đặc điểmcủa vị trí trung tâm trong điều kiện áp lực và nhượng bộ qua lại như thế đã thế hiệngiống nhau trong cả hai trường hợp: chúng làm tăng thêm sức mạnh của kẻ mạnh vàchứa chất sự đe doạ đối với kẻ yếu"

Như ta biết, trong khi một tổ chức một hệ thống xây dựng theo tầng bậc điểm dân cư, xã hội không tuân theo quy luật "hành vi" sinh vạt học (sinh thái hoc) của các

cơ thể, mà tuân theo những quy luật của cơ sở kinh tế - xã hội, quy luật khai thác lãnh thổ mới và phát triển nền kinh tế quốc dân Sự thật nói lên rằng, những sự nhảy vọt (đột biến) trong phát triển xã hội, kèm theo sự cải tổ mạnh mẽ tổ chức lực lượng sản xuất theo lãnh thổ đã dẫn đến chỗ mạng lưới các điểm dân cư này chồng lên các điểm dân cư khác mạng lưới thành phố và các điểm dân cư khác thông thường cũng là kết quả của sự phát triển kinh tế - xã hội lâu dài và đầy mâu thuẫn, vì vậy không thể phản ánh trực tiếp lĩnh vực phục vụ hiện nay, và "hành vi" của dân cư hiện nay

Quy luật phân bố không gian tương quan của những điểm dân cư lệ thuộc nhautheo tầng lớp mà W.Christaller và A.Losch phát biểu, không phải là chung nhất Nó có

ya nghĩa hạn chế riêng, chỉ hoạt đọng trong những nước và những vùng có sự phân bố dân

cư tương đối đồng đều và các laọi hình kinh tế "rural" (nông thôn) và "bán rural" (ví dụcác loại hình có tính chất an dưỡng và giải trí) chiếm ưu thế

Tác giả của cuốn sách này đã quan sát cơ cấu của "dân cư trực giao" mà W.Christaller và A.Losch đã khám phá ra, trong phạm vi giải đất trồng ngô ở Mỹ (bang Illinoi) và hiểu răng điều đó đã có thể gây cho A.Losch, một ấn tượng như thế nào trong thời kỳ ông làm việc ở Mỹ Ở đây, trong điều kiện diện tích các trang trại tương đối như nhau và cư dân tương đối đồng điều, các thị trấn nhỏ xuáta hiện ở xung quanh cac trang trại và có bán kính ảnh hưởng, dân số và các dịch vụ như nhau Rồi đến lượt 5 hay 6 thành phố nhỏ, có những loại dịch vụ khác nhau đối với dân cư trong trang trại và dân cư của các thị trấn nhỏ lại hướng về một thành phố trung bình, Toàn bộ hệ thống tâng cấp đó được xây dựng trên những quan hệ thuần tuý TBCN

là "bòn rút" từ hầu báo của các trang chủ những món thu nhập mà họ nhận được từ

100 - 200ha ruộng đất băng cách bán ngô, thịt lợn, Có thể so sánh một cách gượng

Trang 13

ép với những máy bơm công suất khác nhau, bố trí cách nhau một khaỏng cách đã quy định chặt chẽ để hút và bơm nước hoặc dầu từ dưới đất lên chỗ cao hơn

Thêm một ví dụ khác Các cơ cấu "trực giao" của dân cư được nhìn thấy rất rõ

từ máy bay trên tuyến đường từ Đêli - Băngalo khi ta bay trên vùng Trung - Ấn bao

la, cư dân tương đối đồng điều Sở dĩ có cơ cấu đó là do tính chất bảo thủ của mạng lưới dân cư, là do, trong nhiều thập kỷ qua, phương thức tiến hành nông nghiệp vẫn như nhau Trên cái "biển" làng mạc đó, trong một thời kỳ dài đã nổi lên những "địa điểm trung tâm", có những chức năng bổ sung, và giữa chúng xuất hiện những địa

điểm lớn hơn nữa,

Các điểm dân cư trên cac vùng công nghiệp trên những lãnh thổ cư trúmới thì được phân bố hoàn toàn khác nhau

Các tác phẩm của W.Christaller và A.Losch đã tạo một sức đẩy lớn cho khuynh hướng mới trong khoa học Mỹ, Thuỵ Điển, và phần nào ở Anh, mà người ta gọi là "kinh tế không gian", "vật lý xã hội" hay "hành vi luận không gian" (khoa học

về "hành vi không gian" của con người) Khuynh hướng mới đó khi thì gõ vào của của địa lý học một cách dai dẳng khi thì không muốn quan hệ gì với nó Một số đông nhà nghiên cứu hiện nay hoạt động theo hướng đó Họ đang tìm tòi những quy luật phân bố không gian và tác động qua lại của những hiện tượng xã hội và kinh tế khác nhau, chủ yếu xuất ("quy luật" (quy tắc) phụ thuộc của quy mô thành phố vào "hạng " của nó mà G.K.Zipf đã phát biểu tính quy luật của sự phổ biến theo địa lý "những cái mới" (kiến thức, tư tưởng, cũng như kiểm tra sức khoẻ), do Torsten Hagerxtend đề ra; những công trình về địa lý thương nghiệp (trên cơ sở các quy luật thu hút cả "hành vi" của khách hàng vào những trung tâm thương nghiệp khác nhau của Braian Berry,

Các tư tưởng "vật lý xã hội" được nêu lên nhiều hơn cả trong các tác phẩm của các nhà bác học Mỹ - nhà thiên văn J.Stuart và nhà địa lý W.Warntz Những tác phẩm

đó đã được nhà kinh tế Xô Viết O.X.Ptselinxtep phân tích Thuật ngữ "vật lý xã hội" lập tức bị chú ý, vì nó gây ra một sự nghi ngờ rằng những người sàng tạo và ủng hộ

nó định dùng những quy luật vật lý để giải thích các hiện tượng xã hội.Trên thực tế thì đây là nới về mô hình trọng lực và một số điểm tương tự giữa sức hút lẫn nhau

Trang 14

giữa các vật thể tự nhiên với các loại sức hút khác được sử dụng khi tính toán những

"khối kinh tế" (hay như một số nhà địa lý không liên quan gì với nhà kinh tế gọi chung là "khối địa lý") O.X.Ptselintxep viết: "Như vậy quy luật tác động qua lại giữa các khối kinh tế giống một cách kỳ lạ với những quy luật về quan hệ qua lại của các đối tượng trong các môi trường vật lý như trường điện từ và trường trọng lực đặc biệt, ta nhận thấy sự giống nhau đáng kể của các biểu thức số lượng, chẳng hạn, giữa các thể nhân khẩu và thể điện tĩnh" Và tiếp đó: "Luận thuyết trọng lực về sự tác động qua lại của nhân khẩu đã giải thích thành công những hình thức liên hệ kinh tế như tao đổi hành khách và dòng thông tin, đặc biệt là phân phối những cuộc nói chuyện điện thoại giữa các thành phô " Tuy nhiên O.X.Ptselintxep còn phát hiện một số khả năng khác trong việc ứng dụng vào thực tiễn phương pháp trường học trọng lực, cụ thể là để nghiên cứu những sự di động của dân cư các thành phồ, các vùng, để phân tích sự phân bố các xí nghiệp trong những trường tác động qua lại giữa tài nguyên, các thu nhập khác nhau,

Cơ sở của tác phẩm về "vật lý xã hội" là ý muốn tính toán chính xác hơn về số lượng những quá trình nhân khẩu học và kinh tế theo biểu hiẹn không gian của chúng Dĩ nhiên, mức độ chính xác của nó rất tương đối, bởi vì ngay cra những quá trình thoạt nhìn thì đơn giản, mà trên thực tế, lại phức tạp hơn nhiều cũng như những

mô hình khác, các mô hình trọng lực đơn giản hoá, sơ đồ hoá thực tế Chúng đòi hỏi phải sửa chữa và bổ sung nhiều, và phải chú ý đến tình hình cụ thế, phải xác định những thông số tác dụng của mô hình đó Cái chủ yếu ở đây là xác định những thông

số và "những giới hạn lịch sử", bởi vì không một tác đoọng qua lại nào của "khối" nhân khẩu và kinh tế lại có thế nằm ngaòi lịch sử, lại có thể "tự do" không chịu ảnh hưởng của những quan hệ xã hội và tính chất của lực lượng sản xuất nào đó

Khi đánh giá toàn bộ những tìm tòi đó và những phát hiện khoa học mà chúng đưa lại, cần phải chú ý tính chất hạn chế của chúng, có liên quan với - đây là điều chủ yếu nhất - cơ sở phương pháp luận sai lầm, quan điểm kinh nghiệm chủ nghĩa chiếm

ưu thế, sự kiểm tra rộng rãi bằng thực tiễn còn kém Trong nhiều trường hợp, bằng cái logíc "dòng chảy tự do" của việc nghiên cứu, được xây dựng trên cơ sở tài liệu thực tế phong phú, các tác giả của những tác phẩm cụ thể hoặc tự mình bác bỏ

Trang 15

phương pháp luận đó, hoặc đóng khung trong những nguyên lý chật hẹp cí tính chất kinh nghiêm chủ nghĩa và lẫn tránh việc giải quyết những vấn đề về lí luận

Đồng thời, trong những tìm tòi của W.Christaller, A.Losch và những người ủng hộ cũng như kế tục của họ cũng có điểm hợp lí, trước hết là tính kết cấu, là việc dựa vào những tính toán chặt chẽ, là ý muốn xác định những quy luật khách quan của

sự phân bố - các điểm dân cư, thị trường, lĩnh vực phục vụ Không nên vứt bỏ những tìm tòi khoa học đó, mặc dù chúng dựa trên cơ sở phương pháp luận ban đầu sai lầm,

và hạn chế Nhiệm vụ là pahỉ phân tích những tìm tòi đó dưới ánh sáng của lý luận Mác - Lênin, của địa lý kinh tế làm cho hoạt động xoay theo hướng biểu hiện những thành quả về phương pháp luận hiện đại khoa học đó Bước ngoặc này còn đang ở phái trước xa

Sự phân tích tổ chức không gian

"Cuộc cách mạng số lượng" trong địa lý kinh tế trên thế giới, như nhà địa lý kinh tế Canađa Jean Barton gọi, đã xảy ra trong thời kỳ giữa những năm 1956 và

1960 và kéo dài đên ngày nay Theo J.B, các công trình của những nhà toán học Johannes von Neiman, O.Morgenstern, N.Viner và của G.Zipf có tác động quyết định đến sự phát sinh và phát triển của cuộc cách mạng đó Tác phẩm của các nhà toán học, vật lý học, kinh tế học đã cung cấp cho các nhà địa lý cái mà trong sách giáo khoa nước ngoài thường gọi là"technics" - nghĩa là tât cả những thủ pháp mà người ta bắt đầu áp dụng vào các mặt khác nhau của các công trình nghiên cứu địa lý kinh tế

Trong số các nhà bác học đầu tiên ủng hộ "cuộc cách mạng số lượng" cần chú

ý là các nhà địa lý Mỹ như W.Garrison, B.Berry, W.Warntz và nhiều người khác Trước hết nói đến việc áp dụng vào địa lý kinh tế những thủ pháp thống kê toán học,

và trong những bài tổng kết đầu tiên đã xuất hiện thuật ngữ "địa lý thống kê" Rất nhièu các thủ pháp phân tích số lượng (thống kê và toán học trong kỹ thuật do các nhà bác học Mỹ, Anh, Thuỵ Điển đề xuất có thể đã được các nhà địa lý kinh tế đem ứng dụng (và áp dụng) ở các nước XHCN như Liên Xô, Balan, Nhưng các thủ pháp chưa thể sản sinh ra "cách mạng số lượng", chúng chỉ có thể đưa tới đó, chuẩn bị cơ

Trang 16

sở cho nó, bởi vì những bước ngoặt của cách mạng trong khoa học xảy ra không hẳn

là trong kỹ thuật nghiên cứu, mà chủ yếu là trong phương pháp luận khoa học

Ý định làm một cuộc cách mạng lý luận trong địa lý kinh tế (và rộng hơn địa

lý nói chung) nhờ vào cơ sở toán học của nhà bác học Mỹ Ư.Bunge, người đã phát biểu và nguyên lý cơ bản của "địa lý toán học" được xem như là địa lý lỹ thuyết Trong tác phẩm của ông có nhiều cái mới, cái hay và cái tiến bộ, điều đó cũng đã giải thích tại sao ở Mỹ người ta có thái độ im lặng và lạnh lùng đối với chúng Nhưng vì

đã thắt một cái "nút" quan trọng trên con đường toán học hoá địa lý và phát triển địa

lý lý thuyết, cả Bunge vẫn không xây được một quan niệm mới trong khoa học Ông chỉ phát triển một cách sáng tạo những tư tưởng ly luận của W.Chirtaller, A.Losch và một số nhà địa lý khác

Hiển nhiên, những tư tưởng của W.Bunge mà ông đã phát biểu trong cuốn sách "Địa lý lý thuyết", đã làm sống lại tư tưởng của các nhà địa lý, đã chỉ ra nhiều con đường áp dụng toán học vào địa lý, đã góp sức vào cuộc đấu tranh với những quan điểm cũ, cúng nhắc của địa lý miêu tả Những nguyên lý của "địa lý lý thuyết" sau này được phản ánh trong một loạt các báo cáo khoa học mà một số trường đại học

và các viện địa lý ở Mỹ và các nước khác bắt đầu xuất bản Các chuyên san về địa lý

lý thuyết ở Mỹ và Anh bắt đầu ấn hành Các tạp chí cũ mà trớc đây không lâu lắm chống lại việc áp dụng toán học vào địa lý kinh tế (và địa lý nói chung) cũng dần dần bắt đầu "toán học hoá"

Việc toán học hoá địa lý kinh tế đã đạt tới mức là nếu không hiểu biết toán học hiện địa thì khó lòng đọc được các tạp chi và ấn phẩm khác về địa lý

Số lượng dồi dào các tác phẩm về địa lý tăng lên rất nhanh và trong nhièu trường hợp, chúng đã bắt đầu thoát ly xa với thực tế đến nỗi đã có nguy cơ làm lu mờ bản thân của môn địa lý kinh tế, làm mất đí bản chất và những vấn đề phườn pháp luận và thực tiến địa lý đằng sau là những tính toán toán học Đặc biệt cuộc trang luận

mà tác giả cuốn sách này đã tiến hành với những nhà địa lý trẻ tuổi của một trường đại học ở Anh (11/1969) đã buộc tác giả phải suy nghĩ Những nhà bác học trẻ tuổi đó

đã bắt đầu bác bỏ, nói chung, nội dung địa lý (và nói riêng là môn bản đồ) trong địa

lý kinh tế và khanửg định tất vả những số liệu của nó có thể biểu thị dưới hình thức

Trang 17

toán học trừu tượng thật đầy đủ tới mức toán học sẽ thay thế địa lý, làm cho địa lý troẻnên không cần thiết, Dĩ nhiên đó là một quan điểm cực đoan, nhưng trên một mức độnào đó nó đã trở thành điển hình đối với một bộ phận các nhà địa lý kinh tế "toán học"

Số lượng lớn các tác phẩm địa lý toán học đã dẫn đến sự cần thiết phải tổng kết chúng và nêu lên một điều chủ yếu, đièu căn bản Về mặt này, các nhà địa lý Anh P.Hagget và R.Chorly đã đóng một vai trò quan trọng Tồng kết của P.Hagget đã đặt

cơ sở cho việc khái quát các phương pháp toán học địa lý kinh tế dưới một hình thức

dễ hiểu đối với đông đảo các nhà nghiên cứu với một cơ cấu toán học đơn giản nhất

Mô hình hoá trở thành đề tài trung tâm trong địa lý toán học Một công trình tập thể xuất bản dưới sự chủ biên của 2 ông, đã đề cập đến vấn đề mô hình hoá trong địa lý Nhiều tài liệu về phân tích toán học các mạng lưới địa lý khác nhau (sông ngòi, đường sá ) và đã được tổng kết trong tác phẩm chuyên khảo của P.H và R.Ch

"Phân tích mạng lưới trong địa lý" Và còn nhiều tác phẩm khác như "Sự giải thích trong địa lý" đày những tư tưởng độc đáo, nhưng con bàn cãi và đôi khi không đúng

Có thể nói rằng "cơn lũ" toán học đã tràn lan và bắt đầu nhập vào dòng khoa học địa

Những công trình nghiên cứu của Christaller - Losch và những người kế tục

họ, những tìm tòi về địa lý lý thuyết của Bunge về việc xác định các loại hình tổ chức lãnh thổ của hoạt động con người cơ kết hợp với bộ máy toán học đã đưa đến việc đặt vấn đề tổ chức không gian của xã hội trong số những tác phẩm gần đây trong lĩnh vực khoa học cực ky quan trọng này, cần lưu y một số cuốn sách đã xuất bản ở Mỹ:

"Tổ chức không gian của xã hội" của R.Morill và "Tổ chức không gian" của R.Adler, J.Adams và P.Gould

Các vấn đề tổ chức không gian (lãnh thổ) của xã hội (đặc biệt là sản xuất xã hội,dân cư )đang thu hút sự chú ý của mọi người Khoa học Xô Viết cũng đang tích cựcnghiên cứu vấn đề này Ở Liên Xô, địa lý kinh tế được định nghĩa ngắn gọn là khoa học

về tổ chức đời sống xã hội theo lãnh thổ Vì vậy bản thân ý muốn của một số bác họcđịnh nghiên cứu vấn đề tối ưu hoá tổ chức không gian của xã hội nhờ phương pháptoán học hiện đại là rất quan trọng

Trang 18

Tuy nhiên, khi phân tích những tác phẩm nói trên của Mỹ, không thể không cónhững sự hoài nghi nghiêm trọng Trước hết ở đây nói đến tổ chức lành thổ của xã hộinào? Vì rằng không có một xã hội chung chung, mà chỉ có những chế độ kinh tế xã hội

cụ thể, và tổ chức lãnh thổ trong khuôn khổ mỗi chế độ đó phụ thuộc vào những quyluật đạc thù của sự páht triển các chế độ đó Còn các nhà địa lý kinh tế Mỹ thì thường nóiđen một xã hội trừu tượng, phi giai cấp, trong đó động lực là hành vi của con ngườimuốn tiến đến chi phí tối thiểu về sức lực và thời gian để di chuyển theo một con đườngngắn nhất trên quan điểm chi phí tối thiểu

Quan điểm sinh thái học của K.Rauer, W.Christaller, A.losch hiện nay biểu hiện

ở quan điểm hành vi luận của một số nhà khoa học Mỹ Sự khác nhau không cơ bản lắm:

cơ sở của "sinh thái học con người" cũng như hành vi luận hiện đại là lẫn tránh sự phântích hiện tượng về mặt xã hội, ý nghĩa quyết định của cơ cấu giai cấp trong xã hội, việcnghiên cứu nền sản xuất, ccó ý quy tổ chức không gian của xã hội thành hành vi khônggian của đông đảo cá nhân và xuất phát từ lợi ích cá nhân "trung bình" Các nhà địa lý

Mỹ viết về hành vi của một con người trừu tượng như một không gian trừu tượng

R.Morill định nghĩa địa lý hiện đại như sau: "Không gian, các quan hệ không giannhững sự thay đổi trong không gian, cũng như cơ cấu không gian tự nhiên như thế nào,con người liên hệ qua không gian ra sao, con người tổ chức xã hôi của mình trong khônggian như thế nào và những kiến thức cùng việc sử dụng các thay đổi không gian củachúng ta ra sao, đấy là những thành phần then chốt của địa lý với tư cách là một khoahọc "

Ta nhận thấy rằng, R.Morill, cũng như một số nhà bác học Mỹ khác hình như ngượng vì phải dùng cái từ "kinh tế" trong tên gọi môn khoa học của chúng ta, bởi vì mặt kinh tế nghiên cứu địa lý phá vỡ những cơ cấu giả tạo cuả "hành vi không gian" Tiếp đó, R.M viết rằng địa lý cũng nghiên cứu ảnh hưởng lớn của những thuộc tính trừu tượng nhất của không gian - hình dáng, kích thước, khoảng cách, tầm với của nó

- đối với đời sống con người : "Toàn bộ lý luận về tổ chức không gian đòi hỏi rằng cơ cấu không gian đặt cơ sở trên những nguyên tắc cực tiểu hoá các khoảng cách và cực đại hoá việc sử dụng các điểm và các miền trong cơ cấu mà không cần chú ý đến

Trang 19

những đặc điểm của môi trường cũng như những khác biệt khác của những thuộc tínhkhông gian nào"

R.Morill thuộc vào số những nhà khoa học tiến bộ điều này đã đựoc chứng minh bằng các bản báo cáo của ông tại Hội nghị địa lý quốc tế ở Luân Đôn năm 1964

và bằng một loạt các tác phẩm của ông chống tệ phân biệt chủng tộc và các ghét-tô trong các thành phố Mỹ Khác với nhiều nhà địa lý Mỹ khác, Morill không nhắm mắt làm ngơ trước những sự khác biệt xã hội trong thế giới hiện nay Trong khi đề ra đề

ra nhiệm vụ tối ưu hoá tổ chức lãnh thổ của xã hội, ông đã suy nghĩ cả vấn đề chế độ

xã hội nào có thể thực hiện điều đó Đấy là điều ông viết về CNXH: "Trong nền kinh

tế XHCN, vốn đầu tư xây dựng cơ bản và giá cả được kế hoạch hoá và kiểm sáot tập trungvà những sự khác biệt trong tính chất phân bố có thế dự kiến trước Các mục tiêu sử dụng tốt nhất không gian và tài nguyên có thể đồng nhất (với xã hội TBCN -Lu.X), nhưng vì các quyết định được đưa ra do một số ít người, mà là những người

có kiến thức phong phú về tất cả các miền và nhìn thấy toàn bộ hệ thống, cho nên dưới CNXH đạt được kết quả lớn hơn Bởi vì Nhà nước XHCN có khả năng chịu đựng được những tổn thất trong một thời gian dài hạn hơn, so với các chủ xí nghiệp

tư nhân, nên Nhà nước có thể đạt được sự phát triển và sử dụng tài nguyên một cách hợp lý và thường xuyên hơn Trong tương lai những sự khác biệt về vùng sẽ phản ánh thực tế một cách đúng đắn hơn nữa và sẽ gắn bó hơn với tiềm lực hiện thực của vùng

so với tiềm lực đã hình thành trong quá trình lịch sử của nó, và những sự khác biệt giữa các vùng về mức sống phải ít hơn so với điều kiện TBCN "

Tổ chức xã hội theo lãnh thổ là vấn đề then chốt của địa lý kinh tế hiện nay trênthế giới mà người ta không thể giửi quyết bằng phương pháp trừu tượng trên lập trườngcủa chủ nghĩa hành vi Nó đoài hỏi phải hiểu một cách rõ ràng các quá trình xã hội đangdiễn ra hiện nay và cuộc đấu trang giai cấp đang diễn ra Tổ chức hợp lý xã hội theo lãnhthổ, kể cả việc đảm bảo môi trương chung quanh trong sạch, chỉ có thể thực hiện mộtcách đầy đủ trong điều kiện XHCN - ngày càng có nhiều nhà bác học các nước TBCN đitới kết luận đó

Trang 20

Những vấn đề phân bố dân cư

Trong tất cả các trường phái địa lý dân tộc chủ yếu của thế giới, vấn đề phân

bố dân cư ngày nay đã trở thành một trong những vấn đề chủ yếu nhất Sản xuất, đặc biệt là công nghiệp, việc khai thác mỏ, khoáng sản, một ngành cơ động, luôn luôn thay đổi sự phân bố của mình đã vượt xa trước hệ thống các điểm dân cư Các hệ thống điểm dân cư bảo thủ nhiều hơn rất nhiều, chúng không kịp thích nghi với những thay đổi của hệ thống xản xuất đó Vì thế phải có những thay đổi trong hệ thống dân cư, điều đó đòi hỏi phải đẩu tư xây dựng cơ bản rất nhiều Chính vì vậy phải tốn tiền để cải tổ hệ thống các điểm dân cư mà cần phải giải quyết vấn đề một cách khoa học, phải xây dựng hệ thống phân bố dân cư một cách hợp lý hơn

Phần lớn các nước trên thế giới đều tiến hành những công trình về phân bố dân cư.Các tác phẩm này được biên soạn ở các nước CNXH như Ba Lan, Hungari, ở các nướcTBCN vấn đề này được nghiên cứu nhiều nhất ở Pháp

Ở pháp, chú ý đến địa lý dân cư là một truyền thống "địa lý nhân văn" Thế hệ trẻ hơn, vẫn giữ được những mặt giá trị của phái truyền thống, những đã đi xa hơn, nhờ khắc phcụ địa lý quyết định và sự chủ ý chủ yếu các loại hình cư dân cổ, Một

số nhà địa lý kinh tế Pháp đã đi theo hướng phân tích lịch sử và kinh tế xã hội các hiện tượng của địa lý dân cư Đó là do những thay đổi trong nền kinh tế Pháp, với quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá mạnh mẽ của nó Đã xuất hiện một số tác phẩm

cá biệt dựa trên nguyên tắc chủ nghĩa Mác; và đã được các nhà địa lý Liên Xô đánh giá cao

Trong số các nhà bác học Pháp tiêu biểu là P.George và J.Beaujeu, hai ông đã viết một số phần chuyên khảo về địa lý dân cư của tất cả các vùng trên Trái đất, trong

đó có ý đinh kết hợp sự miêu tả địa lý với việc phân tích kinh tế - xã hội và nhân khẩu học P.G công bố công trình nghiên cứu đầu tiên trong tư liệu thế giới nói về cư dân nông thôn ở các nước khác nhau trên Trái Đất Ông đã nghiên cứu phân bố dân cư nông nghiệp trong mối liên hệ với các đặc điểm xã hội và thiên nhiên việc làm nông nghiệp trong điều kiện nông nghiệp lạc hậu "truyền thống" về mặt ký thuật ở nhiều nước châu Á, nông nghiệp của các nước CNTB Tây Âu, nông nghiệp của phát TBCN

Trang 21

phát triển hàng hoá ở Châu Mỹ, nông nghiệp của các nước XHCN Quan điểm đó nói lênrăng những tác phẩm mới nhất của Pháp về địa lý dân cư đã vượt hơn so với trườngphái "địa lý nhân văn"

Khác với Pháp, địa lý dân cư Mỹ mới bắt đầu gần đây thôi Ở Liên Xô nod đã được V.N.Gokhman phân tích Những tác phẩm vững vàng nhất của các nhà khoa học Mỹ dành cho vấn đề nhân khẩu học, trong số đó cũng đã dành cho sự phân bố dân cư một vị trí nhất định Mãi đến năm 1966 mới xuất hiện một tác phẩm tổng hợp đầu tiên của Mỹ về địa lý dân cư do Vilbur Delinxki viết Ông cũng viết một công trình bình luận sách báo về địa lý dân cư Trong khi những tác phẩm tổng kết có số lượng ít ỏi, các nhà đại lý Mỹ tiến hành khá nhiều công trình nghiên cứu riêng về địa

lý dân cư từng vùng và thậm chí từng địa phương nhỏ, trong đó một số công trình có giá trị về phương pháp Mỹ chú ý nhiều hơn đến việc phân tích bằng toán học các hệ thống cư dân Tuy nhiên, phần nhiều trình bày lý thuyết "địa điểm trung tâm" của

W.Christaller, mà ở trên đã nói tính phiếm diện của nó

Không còn nghi ngờ gì nữa thực tế hiện thức dưới hình thức các hệ thống cư dântheo không gian khác nhau cho phép rút ra những tổng kết rộng rãi hơn nhiều so với lýluận của W.Christaller nhưng đáng tiếc là các trường phái địa lý kinh tế dân tộc lớnnhất của các nước TBCN không đi đến những tổng kết như thế Ngoài ra, ít khi có thểgặp được ngay cả việc đặc vấn đề nghiên cứ địa lý kinh tế kết hợp về cư dân thành phố

và nông thôn như một chỉnh thể thống nhất

Khi so sánh địa lý dân cư Xô Viết, Ba Lan, Hungari với những lĩnh vực khoa học tương ững ở Mỹ, Anh, Pháp, Canađa, Thuỵ Điển và các nước TBCN khác, điều này V.V.Posisepxki đã làm trong một loạt tác phẩm của mình thì có thể nói rằng, khoa học của các nước XHCN không có những tác phẩm tương đương về quan điểm phương pháp luận trong việc phân bố dân cư, trong việc nêu lên các hệ thống và cơ cấu dân cư về sức khái quát, về tính xây dựng của các quyết định thực tiễn và về quy

mô, nhằm đạt đến được sự phân bố dân cư hợp lý Những chỗ yếu nhất của công trình nghiên cứu (ví dụ, hiện nay việc sử dụng các phương pháp toán học còn chưa đầy đủ) hiện nay đang được khắc phục có kết quả Điều đó sẽ cho phép lý luận và thực tiễn cư

Trang 22

dân cở các nước XHCN đạt được những đỉnh cao hơn nữa trong nền khoa học thế giới,

dĩ nhiên là trong điều kiện chú ý đến lĩnh vực này của khoa học địa lý

Địa lý thành phố trên thế giới

Hiện tượng đô thị hoá nhanh chóng ở đa số các nước trên thế giới đã đặt ra nhiều vấn đề gay gắt trong sự phát triển các hệ thống thành phố và thành phố Đại biểu của một loạt các ngành khoa học - các nhà xã hội học, kinh tế học, kiến trúc sư, nhà sử học, nhân khẩu học và các nhà địa lý đều đang nghiên cứu những vấn đề này Đại lý thành phố giữ một vị trí vững chắc trong khoa học nghiên cứu các quá trình đô thị hoá Ở Liên Xô và các nước XHCN khác cùng nói đến địa lý thành phố Trong các nước CNTB nổi bậc nhất là Pháp, Mỹ sau đó đến Hy Lạp, Canađa, Nhật

Những cái mới trong địa lý thành phố được viêt trong cuốn "Thành phố" của P.George mà nhiều người biêt Các thành phố trên Trái Đất đã được J.Beaujan -Garnier và George Chatbot miêu tả Nhưng độc đáo hơn cả là những tác phẩm của J.Gottmann - trước hết là cuốn "thành phố không lồ" Megalopolis nổi tiếng của ông, nói

về "vòng đai" thành phố ở Đông Bắc Mỹ

Ngành địa lý thành phồ Mỹ trẻ hơn, và nó đã trưởng thành hội "những lánggiềng" rất mạnh từng nghiên cứu các khía cạnh đô thị hoá khác nhau.Qua vài năm sau khituyển tập nghiên cứu thành phố phát hành và được thu thập thành một quyển đã đóng vaitrò quan trọng trong việc phát triển ngành địa lý thành phố trên thế giới, các nhà địa lý

Mỹ đã tích cực tham gia vào một công trình tập thể khác giành cho các chuyên đề về

đô thị hoá nói chung

Họ đã làm nhiều việc để "toán học hoá" địa lý thành phố Họ bắt đầu dùng cácphương pháp toán học để nghiên cứu các hệ thống thành phố và từng thành phố với cáchtính là các hệ thống phức tạp Và hiện nay các nhà địa lý cũng đã áp dụng rộng rãi cácphương pháp táon học trong việc nghiên cứu địa lý thành phố

Các phương pháp mới trong địa lý thành phố hết sức phổ biến ở Thuỵ Điển Cuộc hội thảo về địa lý thành phố của Liên đoàn địa lý quốc tế (tổ chức 1960 tại Lund, cùng lúc đó Hội nghi địa lý quốc tế lần thứ 19 lai Stốckhom) đóng vai trò tích

Trang 23

cực trong vấn đề này Các tác phẩm của hội tháo vẫn giữ nguyên ý nghĩa khoa học củachúng Trong đó nổi bậc tác phẩm của Warneryd về tác động qua lại trong các hệ thốngthành phố

Ở nhiều nước khác cũng tiến hành các công trình về địa lý thành phố Chẳng hạn

ở Anh, đã chuyển từ các tác phẩm miêu tả phân tích cổ điển đến việc nghiên cứu chínhxác bằng toán học các hệ thống và cơ cấu bên trong của thành phố Nhà thống kê họcAnh Côlin Clark, là người đầu tiên xác định tính quy luật táon học của những sự thay đổimật đọ dân cư trong thành phố đã đóng một vai trò to lớn trong lĩnh vực này Quanđiểm đó cũng được phát triển mạnh trong các tác phẩm của nhà địa lý Phần LanAynô Ariô

Cần chú ý sự phát triển một khoahọc mới về các vùng dân cư (thực tê là cácthành phố) ở Hy Lạp - nhân trú học Người sáng lập ra nhân trú học là một kiến trúc sưhiện đại nổi tiếng và là nhà bác học tiến bộ của Hy lạp, Constantin Đôcxiađis Ông hiểunhân trú học là một khoa học tổng hợp về các trung tâm cư trú của loài người, nó gắn vớiđịa lý thành phố Và ông đã nhấn mạnh mối liên hệ giữa nhận trú học và địa lý tại hộinghị châu Âu của Hiệp hội khoa học vùng, bởi vì cả hai môn khoa học này đều nghiêncứu các quan hệ không gian

Khi so sánh các tác phẩm của Liên Xô và Mỹ về địa lý thành phố, nàh địa lý

Mỹ Rôlanđ Fuchs đã nêu lên một số mặt mạnh của địa lý thành phố Xô Viết: tác phẩm về các thành phố khác nhau trong nước rất dồi dào, có nguyện vọng tiến hành những công trình nghiên cứu có tính chất xây dựng, chú ý đến các hệ thống thành phố Đặc biệt ông đã đánh giá cao tác phẩm của V.G.Đaviđôvit và các tác phẩm về địa lý lịch sử các thành phố Và ông đã chú ý đến việc các nhà bác học Xô viết phân tích những sự biến đổi vị trí địa lý kinh tế của các thành phố, những quan điểm đáng chú ý của họ về việc phân loại thành phố; bên cạnh đó ông còn có ít các tác phẩm đề cập đến các vấn đề như cơ sở kinh tế của sự phát triển thành phố, cấp bậc của thành phố, việc nghiên cứu vi địa lý các thành phố, sự lạc hậu trong các phương pháp chính xác để nghiên cứu các thành phố, thiếu sót của các công trình nghiên cứu mà trong đó

có lẻ đã tiến hành một sự tổng hợp hoá rộng rãi và được xác định những quy luật lớn

Trang 24

Điều đó có nghĩa là "so với sự phát triển của địa lý kinh tê hay địa lý tự nhiên ở Liên Xô,địa lý thành phố hiện là một lĩnh vực phát triển chậm hơn"

Sau đó gần 10 năm, ở Liên Xô số lượng lớn các tác phẩm nói về địa lý thành phố và gần 400 nhà bác học đã có công trình về vấn đề này Mặc dù đã có sự phát triển như vậy, mặc dù đã có sự chú ý áp dụng các phương pháp táon hcọ và phương pháp mới khác vào môn địa lý thàng phô ở Xô viết nhưng kết luận chung của

R.Fuchs hiện nay vẫn giũ nguyên giá trị của nó

Công nghiệp hoá và địa lý kinh tế

Quy mô của việc CNH nhiều nước trên thế giới kể cả TBCN, lẫn XHCN, đang đềlên hàng đầu các vấn đề tổ chức Cn theo lãnh thổ, trong đó việc phân bố các những xínghiệp mới và thể tổng hợp công nghiệ Trong điều kiện có nhiều nước và vùng thiếudiện tích đât, nước, sức lao động và các tài nguyên khác, thì vấn đề phân bố lại và sửdụng đầy đủ hơn những tài nguyên đó, việc tăng cương các "tầng cao" của công nghiệp,

và viêc j tạo ra quần tụ công nghiệưp (các kết hợp các tổng hợp thể, các vùng) đưngđược đặt ra một cách gay gắt

Ở các nước TBCN và XHCN, việc tổ chức công nghiệp theo lãnh thổ được thựchiện trên cơ sở những quy luật kinh tế khác nhau, điều đó cũng đưa đên những kết quảthực tiễn khác nhau Nhưng ở đây pahỉ chú ý một điều là, quy trình kỹ thuật sản xuấtcông nghiệp giống nhau trong điều kiện CNTB và CNXH cho phép so sánh tính chất của

sự phân bố các xí nghiệp công nghiệp, các ngành và các kết hợp công nghiệp Dĩ nhiên,khí so sánh không thể bỏ qua những quy luật khi tế khác nhau của sự phát triên côngnghiệp - về thời gian, cơ cấu, không gian (địa lý)

Ta đã nói đến phương hướng phát triển địa lý công nghiệp ở Liên Xô và các nước XHCN khác Người ta cũng đã nói đến những tác phẩm thuộc lĩnh vực hình chuẩn của công nghiệp TBCn đã được biên soạn trong những thế kỷ trước và đầu thế

kỷ này (A.Weber ) Thời đại mới có những quan điểm mới Lý thuyết hình chuẩn công nghiệp của A.Weber đã gặp phải thái độ phê phán kích liệt của A.losch nhưng không phải trên quan điểm Mác-xít mà trên quan điểm của các tổ chức lũng đoạn, mà

Trang 25

các tổ chức này thì hoàn toàn khồn có ý định che giấu những mục đích phân bố côngnghiệp - đạt được lợi nhuận tối đa - và đang đề ra cho các nhà bác học nhiệm vụ thực hiệnnững tính toán chính về chính sự phân bố sẽ đem lại lợi nhuận đó và nguy vơ mất mát ítnhất

Nhiệm vụ phân bố công nghiệp trong điều kiện CNTB lũng đoạn thật vô cùng khó khăn, bởi vì điều quyết định việc tính toán không hẳn là sự phân tích về phân bố nguyên liệu, nhiên liệu, người tiêu dùng, cung cấp sức lao động và những nhân tố khác mà A.Weber và những người theo quan điểm của ông chú ý, mà đúng hơn là cuộc đấu trang giữa các tổ chức lung đoạn, chính sách chính trị và kinh tế, kỹ thuật công nghệ và các chính sách khác của chúng Do xem xét vấn đề một cách khoa học, thấy răng sự phân bố công nghiệp dưới chủ nghĩa tư bản là một “trò chơi” phức tạp nhất, nó chỉ có thể được phân tích bằng lý thuyết trò chơi, còn những tính toán của Webber “về chi phí sản xuất ít nhất” thì không thích hợp với việc đó

Trong các nước tư bản chủ nghĩa có khá nhiều phương pháp xác định tính quy luật của sự phân bố CN và những biện pháp phân bố xí nghiệp mới cùng các tổ hợp xí nghiệp theo lãnh thổ Phần lớn các tác phẩm trong lĩnh vực này được biên soạn trong những năm sau chiến tranh, đặc biệt là trong những năm 50, và đầu những năm 60

Về sau người ta bắt đầu hơi chán các lý luận về phân bố CN và do đó số lượng tác phẩm giảm xuống Những tác phẩm viết về phân bố CN là những nhà kinh tế và địa

lý nổi tiếng của Anh, Mỹ và các nước khác Trong số đó nổi bật lên các cuốn sách của Piter Floreous M Greenhut, Edgar Huver, Erich Tximeran, W Isard và những nhà bác học khác

V.I Lênin rất chú ý đến liên hợp hoá CN trong điều kiện CNTB lũng đoạn Từ đó,trong mấy chục năm qua, quá trình liên hợp hoá và hợp tác hoá trong CN các nướcTBCN vẩn tiếp tục phát triển

Thành công của sự phát triển tổng hợp và tổ chức công nghiệp theo vùng ỏ Liên Xô và các nước XHCN khác, và những tác phẩm nói về các tổng thể CN đc thế giới biết tiếng của các nhà bác học các nước đó làm cho các nhà kinh tế và địa lý các

nc TBCN càng chú ý nhiều hơn đến những vấn đề quần tụ (liên hợp hoá) CN hiện đại Trong số những người đầu tiên nghiên cứu các quần tụ đó là Y.Chardonnet ở

Trang 26

Pháp, H.Mac carty ở Mỹ Sau đó W I sard và những người cộng tác bắt đầu nghiên cứucác kết hợp công nghiệp trên cơ sở những p pháp mới nhất, xem xét chúng qua ví dụ về

“chuỗi” xí nghiệp CN hoá dầu - kỹ nghệ sợi tổng hợp của Puecto Rico Các nhà ktế học

Hà Lan Jan Tinbergen Henđricus Bos và những nhà bác học khác cũng bắt đầu sử dụngcác p pháp toán học trong phân bố CN

P Pháp toán học cho phép đánh giá đúng hơn so với các p pháp “cổ điển” cái “tròchơi” phức tạp về sự lựa chọn quyết định của các tổ chức lũng đoạn, mà chúng đang tiếnhành nhằm thu hút lợi nhuận cao nhất Việc áp dụng lý thuyết trò chơi vào sự phân bốcông nghiệp TBCN là do M Greenhut đề xuất từ năm 1957, và sau đó là BenjamainStvenxo va W I sard

Mặc dù có những p pháp mới trong việc phân tích những tài liệu cụ thể phong phú, nhiều nhà bác học ở các nước TBCN rõ ràng là chưa hài lòng với những công trình nghiên cứu của mình về quá trình phân bố tự phát đấy mâu thuẩn của các tổ chức độc quyền CN, sự phân bố đang tiến đến chổ mâu thuẫn rõ rệt với lợi ích kinh tế của các nước đó Gắn bó chặt chẽ với các tổ chức lũng đoạn, bộ máy nhà nước không thể nào đề ra những biện pháp để tổ chức hợp lý công nghiệp theo lãnh thổ Vì vậy, một số trong các nhà bác học đó phê phán chính sách phân bố CN đang hình thành trong quá trình đấu tranh giữa các tổ chức lũng đoạn Ví dụ, nhưng xu hướng đó xuất hiện trong giới bác học Nhật Bản Trong nhiều tác phẩm ( chẳng hạn, của

M.Greenhut v.v…) người ta nhận xét rằng, những p pháp tính toán sự phân bố CNkhông thể áp dụng được cho nền sản xuất TBCN và chỉ có thể thực hiện trong các nước

có nền kinh tế phát triển có kế hoạch

Đã đến lúc phải xây dựng những tác phẩm mà trong đó, xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và dựa vào p pháp so sánh mà phân tích tổ chức CN hiện đại theo lãnh thổ ở các nc TBCN và XHCN, đưa ra dự báo về những xu hướng sau này

Những vấn đề địa lý của việc phát triển nông nghiệp

Trang 27

Phạm vi các loại hình sx NN được biểu thị bằng các trình độ sản xuất khácnhau của nó, các đặc điểm cơ sở xã hội của nó, của việc cơ khí hoá, tỷ xuất hàng hoá, cũngnhư chuyên môn hoá, thật vô cùng rộng lớn Địa lý NN trên thế giới nghiên cứu cả nhữnghoạt động kinh tế nguyên thuỷ tự nhiên của các nc lạc hậu, lẫn những hoạt động kinh tếlớn nhất của Liên Xô Tất cả những sự đa dạng đó của loại hình NN hiẹn thời vẩn chưa đctổng kết một cách đúng mức Những công trình tổng kết địa lý kinh tế hiện có- đã quá lỗithời- của Đeruent Uytxli, Samuel Van Valkenburg và những người khác đôi lúc có đềcập đến NN toàn thế giới, nhưng thường là chỉ từng lục địa Con số những công trìnhnghiên cứu địa lý kinh tế dành cho từng nghành và từng loại cây, cho nông nghiệp từngvùng ( nhiều hơn cả là vùng nhiệt đới ), các nc và đặc biệt là từng loại doanh nghiệp, rấtlớn

Những công trình miêu tả các doanh nghiệp điển hình với những điều kiệnthiên nhiên và ktế xã hội khác nhau vế sx NN đc giới thiệu trong sách báo địa lý trên thếgiới qua các luận án, các tác phẩm chuyên khảo, các bài báo, các báo cáo chuyên đề ởnhững hội nghị quốc tế và quốc gia Thông thường, đó là những tài liệu tốt để tổng kết,nhưng các công trình tổng kết vẩn chưa xuất hiện Một trong những nguyên nhân của tìnhhình đó là sự khác biệt to lớn trong quan điểm đánh giá NN, những p pháp nghiên cứu

NN khác nhau

Địa lý Ktế hiện đại đòi hỏi vạch rõ những hệ thống hoạt động ktế theo lãnh thổ vàbản thân các hoạt động kinh tế như là những hệ thống tương đối đơn giản hay phứctạp Từ đó cũng có thể chuyển sang mô hình hoá các hệ thống hoạt động ktế và các hoạtđộng ktế điển hình

Các mô hình về loại hình NN bắt đấu đc lập từ giữa những năm 1950 Hiện naythì chúng còn tương đối ít, mặc dù hiển nhiên là việc mô hình hoá đánh dấu một giai đoạnmới trong địa lý NN thế giới

Những công trình nghiên cứu trong lĩnh vực địa lý NN Liên Xô và các nc XHCN khác cũng đi theo phương hướng vạch ra những hệ thống lãnh thổ, những liên

hệ của các hoạt động kinh tế chuyên môn hoá khác nhau, xem xét những hoạt động ktế điển hình như là những hệ thống không gian đặc biệt Nhưng giũa các công trình nghiên cứu có hệ thống và việc mô hình hoá các loại hình NN ở các nc TBCH và

Trang 28

XHCN có những sự khác nhau căn bản: Ở các nc XHCN chúng có mục đích cải tạo nền

NN, xây dựng các hoạt động ktế lớn hiện đại, còn trong các tác phẩm của các nhà khoa họccác nc TBCN, ngay cả với những p pháp nghiên cứu mới đi nữa vấn đề cải tạo cũngkhông đc đặt ra, và hơn nữa, thông thường các mô hình đều đc xây dựng trên tài liệu vềnhững hoạt động ktế NN tương đối cơ sở

Những vấn đề địa lý giao thông vận tải hiện nay

Trong nửa thế kỷ vừa qua đã diển ra những sự thay đổi lớn trong các phương tiện vận tải, công suất và phương hướng của các luồng hàng và hành khách Vận tải hàng không, mạng lưới các trục đường ô tô với hàng trăm triệu chiếc chạy trên đường, các tàu biển có động cơ nguyên tử, trong đó có những tàu phá băng mạnh, những tàu biển chở dầu khổng lồ ngang dọc trên các đại dương, mạng lưới dày đặc các tuyến đường ống dẫn dầu mỏ và khí đốt, việc nâng cao tốc độ xe lửa, tàu thuỷ có cánh ngầm chạy trên sông hồ, sự xuất hiện những tổ chức rõ rệt các loại vận tải mới như đường sắt một ray, giao thông trên đệm không khí, đường ống để chuyển bùn nguyên liệu khoáng chất Tất cả những điều đó đã ảnh hưởng căn bản đến địa lý giao thông vận tải, đến việc nghiên cứu giao thông vận tải của các nhà địa lý kinh tế

Trước chiến tranh thế giới lần thứ hai (và ngay sau đó) các tác phẩm về địa lý giaothông vận tải có tính chất miêu tả của Pháp và Đức chiếm ưu thế Sau chiến tranh thếgiới lần thứ hai, tính chất của công trình nghiên cứu trong lĩnh vực địa lý giao thông vậntải đã thay đổi rõ rệt Bên cạnh các tác phẩm miêu tả có hệ thống bắt đầu xuất hiệnnhững tác phẩm phân tích và xây dựng Các p pháp toán học đã tìm thấy ở địa lý giaothông vận tải một địa bàn hoạt động rộng rãi

Trên kia đã nói về địa lý giao thông vận tải ở Liên Xô và các nước XHCN khác Trong các nc TBCN về lĩnh vực này của địa lý ktế có những tác phẩm của các nhà bác học Mỹ, Thuỵ Điển và Anh Công trình tổng kết mới nhất và đầy đủ nhất về địa lý giao thông vận tải là của các nhà địa lý Mỹ Edward Taaffe và H L.Gauthier

Trang 29

Địa lý vận tải hàng không bắt đầu bằng tác phẩm của K.K.sealy, phân tích sự chuyển vận trên các đường hàng không của toàn thế giới, chủ yếu là ở Châu Âu và

Mỹ

Một vài tác phẩm lớn khác, trong đó nổi bật lên công trình nghiên cứu của các nhàđịa lý ktế Thuỵ Điển G.Ale-xanđerson và G Norstrom, đã đề cập đến địa lý giao thôngvận tải đường biển

Trong lĩnh vực nghiên cứu địa lý giao thông vận tải đường sắt cần lưu ý công trình tổng hợp của nhà địa lý Anh Andrew Ơ Đel Tác phẩm của nhà địa lý Mỹ

E.Ullman, trong đó (qua ví dụ về Mỹ) phân tích tác động qua lại giữa vận tải đường sắt và vận tải đường thuỷ về mặt không gian của chúng và nêu lên sự phân bố các luồng khác nhau trên các tuyến đường giao thông như là kết quả của sự phân công lao động theo lãnh thổ là một tác phẩm rất có ý nghĩa về p pháp luận Tác phẩm này của E.Ullman phản ánh những nguyên tắc lý luận mà ông ta đã phát biểu trước đây trong

“Địa lý nước Mỹ” (năm 1954): “Vận tải là thước đo các liên hệ không gian và vì vậy

là mặt cơ bản của địa lý Những quan hệ và liên hệ ktế giữa các vùng được phản ánh trong tính chất của các phương tiện vận tải và cơ cấu các luồng hàng…Nhiều nhà địa

lý ở cả Châu Âu lẫn Châu Mỹ đều thừa nhận rằng, việc nghiên cứu những liên hệ giữa các lãnh thổ riêng rẽ và những sự trao đổi không gian có thể cung cấp một cách hiểu mới và sâu sắc hơn ý nghĩa của sự khác biệt lãnh thổ Họ nhìn thấy trong nghành giao thông vận tải cái chìa khoá để đánh giá ý nghĩa của những sự kết hợp và những

sự khác biệt giữa các địa điểm riêng rẽ trên trái đất Đối với những nhà địa lý cho rằng bản chất của địa lý trước hết là phân tích các tác động qua lại trong không gian, thì nghiên cứu giao thông vận tải , và theo nghĩa rộng hơn - là nghiên cứu sự lưu thông nói chung có ý nghĩa quyết định” theo phương hướng mà E.Ullman đã vạch ra, người ta bắt đầu nghiên cứu địa lý vận tải của một loạt nc: B.Berry phân tích các luồng vận tải của Ấn Độ với tư cách là biểu hiện của sự tác động qua lại giữa các vùng của Ấn Độ, các luồng vận tải của Gana…v v

Sự phát triển của giao thông vận tải ô tô và việc xây dựng tốn kém các trục đường ô tô (tiếng Mỹ là “highways”, tiếng Ý là “autostrade”; cả hai thuật ngữ này đều bắt đầu đc sử dụng cả trong sách báo Nga) đã đề ra những yêu cầu đặc biệt đối

Trang 30

với nghành khoa học mới- địa lý giao thông vận tải ô tô Cần có những tính toán chính xác về địa lý ktế để với một số vốn đầu tư xây dựng cơ bản định trước có thể xây dựng một mạng lưới đường thoả mản tối đa những yêu cầu của cả nước và từng vùng và sử dụng đất đai ít phí phạm nhất W.Garrison cùng với các nhà địa lý “toán học” Mỹ khác- B.Berry, D Marble, J.Nystwen và R.Morrill là những người về sau này đã đẩy tới rất mạnh môn địa lý toán học ở Mỹ và trong nền khoa học nói chung trên toàn thế giới, đã đặt cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc tính toán xây dựng các

“highways” Trong tác phẩm chuyên khảo do các nhà bác học trên viết vào năm 1959, thì mục đích của tác phẩm đc trình bày như sau: “ Nghiên cứu tìm tòi về phân bố không gian của các trung tâm thương nghiệp đối với các trục đường ô tô đã đc cải tổ, nghiên cứu quan hệ qua lại giữa sự chuyển vận trên những đường trục đó với đời sống ktế địa phương ; nghiên cứu việc sử dụng các đường trục vận tải để tổ chức cung cấp các khu vực địa phương và các trung tâm cung cấp trong phạm vi địa phương, vùng và quốc gia”

Sau tác phẩm của W.Garrison cùng với những người cộng tác, đã xuất hiệnnhững công trình nghiên cứu khác, trong đó đã sử dụng ngày càng nhiều các thủ pháp toánhọc, đặc biệt là p pháp đô thị Năm 1963, đã ra đời cuốn sách của K.Kansky trong đó

đã chứng minh bằng toán học (tính chất nửa định lý) của việc xây dựng mạng lướivận tải Những tác phẩm tiếp sau đó nói về việc mô hình hoá toán học trong phân bốmạng lưới đường sá đã tăng nhanh về số lượng

Chính những công trình nghiên cứu về địa lý giao thông vận tải ô tô trong đó

có sự tham gia của những nhà bác học trẻ đầy tài năng và đựơc đào tạo nhiều về toán học, đã làm cơ sở cho những nguyên lý lý luận về mạng lưới giao thông vận tải và xác định các luồng vận tải, nói khác đi tức là lý luận về các hệ thống giao thông vận tải theo không gian Ở đây người ta đã phát hiện một sự tương tự nhất định giữa các

hệ thống giao thông vận tải và sông ngòi và khả năng sử dụng những thủ pháp toán học tương tự để nghiên cứu những hệ thống nào đó Tư tưởng này đã đc B.Berry và Maicol Voldenberg trình bày năm 1967 và sau đó năm 1969 đc các nhà địa lý Anh P.Hagget và R Chorly đã vượt xa khuôn khổ của địa lý vận tải, đúng hơn là nó đã thuộc về địa lý lý thuyết Đồng thời, cuốn sách của họ một lần nữa nhấn mạnh rằng,

Trang 31

bản thân địa lý vận tải là một môn khoa học tổng hợp và có ý nghĩa lý luận to lớn đối vớiđịa lý ktế, vì nó nghiên cứu các liên hệ không gian và thời gian, tạo thành bản chất củacác hệ thống địa lý

Nhìn chung, trình độ địa lý giao thông vận tải thế giới trong mấy chục năm sau chiến tranh đã đc nâng cao mạnh mẽ Nó đứng ở một vị trí cao hơn hẳn so với địa lý giao thông vận tải miêu tả trước kia Không những ở các nc XHCN, mà cả ở nhiều nc TBCN, trước hết là ở Mỹ và Anh, đã hoàn thành những công trình nghiên cưu lý thú,

có giá trị về mặt lý luận và quan trọng về mặt thực tiễn Đồng thời, các nhà địa lý ktế

tư sản có tên tuổi, bằng toàn bộ lô-gích của những công trình nghiên cứu của mình tuy đã tiến gần đến những tư tưởng xây dựng một mạng lưới giao thông vận tải thống nhất và phát triển tổng hợp các kết hợp của tất cả các loại giao thông vận tải, vẩn không thể vượt qua đc một ranh giới rất quan trọng Bản chất của vấn đề là, trong điều kiện xã hội TBCN các loại giao thông vận tải khác nhau luôn luôn cạnh tranh với nhau, các đường giao thông đc xây dựng vì lợi ích của các tổ chức độc quyền và các nhóm tư bản tham gia cạnh tranh, vì những lợi ích chính trị nào đó, kể cả việc đảm bảo chính sách đối ngoại xâm lược, bành trướng của các nc đế quốc chủ nghĩa

Đứng ngoài cuộc đấu tranh thực sự giữa các lợi ích chính trị và ktế thì cũngkhông thể đánh giá đúng đắn sự phân bố mạng lưới giao thông vậntải, lẫn phương hướng và thành phần các luồng hàng và hành khách

V.I Lênin yêu cầu khi lập các bản đồ kinh tế-xã hội và khi ghi lên đấy các đường sắt trên thế giới phải chỉ rõ “Trong từng nc, đường sắt thuộc về ai nhiều hơn (người Anh, người Pháp, Bắc Mỹ…v.v)”Không thể chỉ xem xét mạng lưới giao thông vận tải và các luồng của nó trên quan điểm kỹ thuật (hay kinh tế kỹ thuật), bởi

vì chúng biểu hiện những quan hệ xã hội nhất đinh Sự phân tích Mac-xit Lêninit trong địa lý giao thông vận tải cho phép kết hợp làm một khối các quan điểm ktế xã hội và ktế kỹ thuật Ở đây cũng nên sử dụng cả các phương pháp tính toán toán học, những trình tự các mạng lưới không gian và các luồng đã đc nghiên cứu trong khoa học địa lý nc ngoài

Trang 32

Những lĩnh vực mới của địa lý ktế trên thế giới

Ngoài những nghành đã đc xác định tương đối lâu và vững chắc của địa lý ktế(hiểu theo nghĩa rộng- địa lý dân cư, địa lý thành phố, địa lý công nghiệp, địa lý nôngnghiệp, địa lý giao thông vận tải) trong vài chục năm gần đây, do ảnh hưởng của nhu cầuthực tiễn, đã bắt đầu phát sinh những nghành khoa học mới

Ở Liên Xô (và một số nc XHCN khác) nhu cầu thực tiễn đã đưa đến sự hình thành địa lý xây dựng và địa lý năng lượng (cả hai nghành này bắt đầu phát triểnrộng

và đồng thời rất đặc thù, đến nổi không thể đưa vào khuôn khổ của địa lý công nghiệp nữa

Ở các nc TBCN phát triển thì địa lý tiêu thụ (thương nghiệp) và địa lýnghỉ

ngơi (chủ yếu là du lịch và giải trí) có một ý nghĩa thực tiễn “địa lý nc Mỹ” định nghĩa như sau về nghành thứ nhất: “Địa lý tiêu thụ nghiên cứu việc xác định biên giới

và quy định dung lượng của thị trường, cũng như những kênh phân phối mà theo đó hàng hoá vận động từ người sản xuất đến người tiêu dùng” Còn về địa lý nghỉ ngơi

và giải trí, cũng theo cuốn “Địa lý nc Mỹ” đó, thì trung tâm chú ý của nó là xác định những lãnh thổ tốt nhất( tức là đem lại nhiều thu nhập nhất) đc chuyên môn hoá vào việc phục vụ những người đi nghĩ (trong đó có những người du lịch, đi săn, đi câu),

và những địa điểm tốt nhất để tổ chức việc giải trí, kể cả thể thao

Ở các nc XHCN, trong một thời gian địa lý tiêu thụ (thương nghiệp) và địa lý nghỉngơi và giải trí phát triển chậm hơn, song trong những năm gần đây những vấn đề đó đãbắt đầu đc chú ý rất nhiều

Về phần mình, các nhà địa lý Mỹ cũng đã nhận thấy sự lạc hậu của họ trong một

số nghành mới của địa lý ktế: “Đã làm đc rất ít trong lĩnh vực địa lý các nguồn thuỷ năng

và việc sử dụng chúng” Địa lý xây dựng, một nghành mới của địa lý ktế, ở Mỹ và các ncTBCN khác, hiện chưa hình thành

Những tác phẩm đầu tiên về địa lý thương nghiệp ở Mỹ xuất hiện ngay từ những năm 1930 Sau chiến tranh, người ta bắt đầu nghiên cứu nghành địa lý ktế này

Trang 34

những công tác nghiên cứu về địa lý tiêu thụ và thương nghiệp ở Liên Xô, dù rằng giữacác nc XHCN và TBCN có những sự khác nhau rất xa trong tổ chức và ktế của nghànhthương nghiệp

Về địa lý nghỉ ngơi và giải trí (các nghành của địa lý nghỉ ngơi), đó là mộtnghành hoàn toàn mới: Ở Mỹ nghành khoa học này phát triển (trong khuôn khổ khoa học

xã hội) ngay sau chiến tranh thế giới lần thứ hai trên cơ sở những công trình nghiêncứu đã tiến hành rộng rãi Những tác phẩm chủ yếu đã ra đời từ cuối những năm 50 ỎLiên Xô, nghành khoa học này trở thành một nghành tổng hợp, tập hợp lực lượng các nhàđịa lý tự nhiên và địa lý ktế để nghiên cứu các hệ thống không gian nghỉ ngơi giải trínhằm tổ chức hợp lý việc sử dụng chúng vì lợi ích của đông đảo quần chúng nhân dân

Phân tích vùng và quy hoạch vùng

Ở Tây Âu, chủ nghĩa vùng là một hiện tượng của cuối thế kỷ trước và đầu thế kỷnày Ở Pháp, ở Anh và một số các nc khác thuộc Tây Âu đã hình thành những miềnvăn hoá lịnh sử có nền ktế, sinh hoạt, văn hóa độc đáo của chúng Trong thời đại CNTBlũng đoạn , công nghiệp hoá và thành thị hoá mạnh mẽ, những miền văn hoá- lịch sử đãbắt đầu “bị xói mòn”

Một số nhà địa lý, lịch sử và nhà văn đã đối lập quá trình khách quan của sự điềuhoà đặc thù địa phương và xoá bỏ những sự khác biệt của vùng với ý định bảo toàn, trântrọng, nâng cao “chủ nghĩa yêu nc”theo vùng Chính do đó mà xuất hiện những côngtrình miêu tả địa lý tổng hợp một số tủnh của Pháp, do các học trò của Viđal delaBlache, thực hiện một cách tài tình Ở Anh, chủ nghĩa vùng có trung tâm ở Oxford nơi mà

4 giáo sư của trường đại học tổng hợp Eđmund Hilbert đã có ý định dùng khoa học đểchứng minh nó, nhưng không đứng trên quan điểm thuần tuý địa lý mà trên quan điểm vănhoá lịch sử

Ở Mỹ, chủ nghĩa vùng có những gốc rễ khác so với ở Tây Âu, bởi vì ở Mỹ chưa kịp hình thành những miền tương đối ổn định về văn hoá- lịch sử như ở Tây Âu Việc nghiên cứu địa lý một cách tổng hợp đối với các vùng khác nhau ở Mỹ, như

Trang 35

Đeruent Uytxli viết trong “địa lý nc Mỹ”, là sự phản ánh những chuyển biến đang diễn

ra trong địa lý của Châu Âu, trong khoảng giao thời của thế kỷ, Uytxli trắng trợn thừa nhậnrằng, ở Mỹ, việc nghiên cứu địa lý vùng thuộc các nc khác nhau trên trái đất có ý nghĩalớn nhất đối với các mục đích quân sự

Ý nghĩa to lớn của việc phân vùng ktế như là một công cụ quan trọng của tổchức lực lượng sản xuất theo lãnh thổ đã thu hút sự chú ý của Chính phủ và các nhà báchọc Mỹ ngay từ những năm 30 Vào tháng 4 năm 1930 Hội đồng nghiên cứu quốc giacủa Mỹ đã tổ chức ở Oasington một cuộc hội nghị bàn về Uỷ ban tài nguyên quốc gia của

Mỹ đã tổ chức một cuộc hội nghị nữa bàn về các mặt của vùng trong kế hoạch hoá quốcgia

Cuối những năm 1930 đã xuất hiện một loạt tác phẩm của các nhà địa lý Mỹ vềnhững nguyên tắc phân vùng và nghiên cứu các vùng- của Rôbert Plat, Havôt Ôđun,Harry mor, Jio Wyteiker, v v Quan điểm vùng trong việc nghiên cứu tài nguyên ktếcủa Mỹ và việc sử dụng chúng đã đc áp dụng trong tác phẩm của H Mác Carty Sau này,nhiều tác phẩm cũ cùng với các tác phẩm mới hơn đã đc đưa vào một tuyển tập bài viết về

“ Chủ nghĩa vùng ở Mỹ”, do M.Jensen biên soạn

Ngay trong những năm 1920 Mackaye đã công bố công trình nghiên cứu đầu tiên

ở Mỹ về những nguyên tắc của quy hoạch vùng, lần xuất bản thứ hai có bổ sung những

số liệu mới, ra đời năm 1962

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, số lượng tác phẩm có tính chất lý luận về các vấn đề phân vùng hơi giảm đi, ngựơc lại xuất hiện những công trình nghiên cứu

về các quy hoạch vùng Nhiều công trình nghiên cứu cơ bản về phân vùng ktế ở Mỹ

đc tiến hành D.J Bogue và C Beale giữ vai trò nổi bật trong sự xuất hiện của các công trình ấy Tác phẩm của họ về các khu vực ktế của Mỹ miêu tả một cách tỉ mỉ các vùng ktế nhỏ và lớn Những tác phẩm này không làm sáng tỏ vấn đề phân vùng, không xác định p pháp phân vùng , thiếu những mục tiêu có tính chất xây dựng Cũng đã xuất hiện một số tác phẩm khác của Mỹ về những vấn đề phân vùng ktế và quy hoạch vùng

Những công trình nghiên cứu của các nhà địa lý Anh trong lĩnh vực quy hoạch vùng

đã đc tổng kết trong tác phẩm của T W Freeman

Trang 36

Năm 1954, nhà ktế Mỹ M Isard đã đặt cơ sở cho hiệp hội khoa học vùng, đưa những tư tưởng mới vào chủ nghĩa vùng Trong hơn 20 năm gần đây, các báo cáo của Hiệp hội, đã nêu lên khá nhiều bài viết về đề tài “Khoa học vùng là gì? ” Việc phân tích những bài viết đó vạch rõ tính chất không ổn định cao độ của bản thân khái niệm

“khoa học vùng” Sở dĩ như vậy là vì rằng, dù có lạ lùng đến đâu, “Khoa học vùng”

ở các nc TBCN sẽ không thể làm gì đc nếu không có lý luận phân vùng, nếu không coi trọng việc chứng minh một cách khoa học các vùng ktế trước khi phân tích sự phát triển của chúng, sự tác động qua lại, cơ cấu bên trong của chúng, vv v Theo cách hiểu của W Isard và những nhà bác học Mỹ khác cùng cộng tác với ông, thì từ

“vùng” thì thực chất là đồng nghĩa với khái niệm “lãnh thổ” Về điều này, W Isard (cùng với Thomas Reiner) vài năm trước đây đã viết khá rõ: “Khoa học vùng là một khu vực mới giữa các môn học trong nội bộ hệ thống các khoa học xã hội, dựa vào lý luận và những thành tựu của các khoa học xã hội khác Nó tập trung chú ý vào những thước đo không gian của hoạt động con người trong phạm vi các loại cơ cấu và chức năng khác nhau của hoạt động đó và chú ý đến giá trị của những thước đo đối với việc hiểu hành vi xã hội và những hình thức của hành vi Những thước đo không gian không chỉ liên quan với quan hệ lãnh thổ giữa con người và các lĩnh vực hoạt động của họ, mà còn liên quan tới những quan hệ với môi trường thiên nhiên mà con người

đã cải biến trên bề mặt Trái đất Khoa học vùng sử dụng rộng rãi những mô hình toán học cho phép xác định cái khung lý thuyết của nó Việc dùng từ “vùng” có nghĩa là quan điểm hệ thống đối với không gian tồn tại của con người Từ “khoa học” nói lên

ý định ứng dụng những nguyên lý của khoa học chính xác vào nghiên cứu, để phân tích và phát triển những cơ cấu lý luận và quan niệm có ý nghĩa chung Tiếp đó, khoa học vùng đc xây dựng như thế nào cho lĩnh vực của nó không trùng lặp với bất kỳ môn khoa học xã hội nào, trong đó từng bộ môn có p pháp riêng Nhưng bộ môn đó

có liên quan và giao kết với ktế vùng, sinh thái học, địa lý lý thuyết,với chủ nghĩa vùng hiểu là một khoa học chính trị và với các khoa học xã hội khác mà mỗi khoa học như thế có những đặc điểm độc đáo của mình ngoài những quan hệ về không gian và phần nào với các quá trình xã hội Khoa học vùng cũng rất gần gũi với một số khoa học ứng dụng đã tập trung chú ý các vấn đề có liên quan đến sự cải tạo không

Trang 37

gian Trong số những lĩnh vực khoa học đó có quy hoạch thành phố và quy hoạch vùng,giao thông vận tải, thiết chế hành chính, nông học, kỹ thuật công nghiệp”

Như vậy, bản thân nhà sáng lập “khoa học vùng” thừa nhận rằng, nó là sự kết hợp của những tài liệu rút từ các khoa học xã hội khác (W I sard đã gộp cả sinh thái học vào những khoa học đó) và đc thống nhất lại do “khoa học vùng” xem xét chúng về mặt không gian và có áp dụng các mô hình toán học

Trong “ Khoa học vùng” không có đối tượng vật chất riêng, nó không bao gồm

lý luận về phân vùng “ Khoa học vùng” (không kể việc nó sử dụng rộng rãi các mô hình toán học) gợi nhớ đến môn địa lý ktế “thống kê nghành” hay “ truyền thống” trước đây, đã từng cho rằng nhiệm vụ của mình là phân phối theo không gian những hiện tượng kinh tế- xã hội trên bề mặt Trái đất (ví dụ trong sách diễn đạt của trường phái V.E Đen)

Như đã nói trên, địa lý ktế Xô viết đã trải qua một con đường dài, để nghiên cứu các đối tượng vật chất tồn tại một cách khách quan của khoa học, ví dụ như các

hệ thống vùng ktế, các tổ hợp thể sản xuất theo lãnh thổ và những hệ thống không gian khác đc xây dựng tầng cấp theo lãnh thổ ( các thành phố, các trung tâm công nghiệp, và điểm công nghiệp, cư dân các xí nghiệp nông nghiệp, các trung tâm và điểm phục vụ dân cư, v v ) “khoa học vùng” ít đc xác định hơn nhiều về mặt này Thật là không đúng nếu nghĩ rằng khoa học vùng từ chối việc nghiên cứu những đối tượng thực tế và những hệ thống không gian của chúng, W I sard đã nghiên cứu những kết hợp không gian cụ thể nhiều người cộng tác và ủng hộ ông thì nghiên cứu các hệ thống thành phố và từng thành phố với tính cách là những hệ thống phức tạp, v v Nhưng ở đây, “ khoa học vùng” không nghiên cứu quá trình hình thành vùng ktế như là kết quả của sự phát triển phân công lao động xã hội theo lãnh thổ, và về phần mình, sự phân công đó lại phụ thuộc vào toàn bộ tiến trình lịch sử của sản xuất xã hội

Về mặt triết học, “khoa học vùng” là sự thể hiện điển hình chủ nghĩa thực dụng Mỹ, và về mặt p pháp luận nó là một trường phái khoa học tư sản Ngược với

“khoa học vùng” tư sản trường phái Xô viết của Baranxki xuất phát từ phương pháp luận Mác-xit Lêninit của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Trang 38

và rất coi trọng p pháp luận phân vùng ktế, coi trọng việc nghiên cứu quá trình lịch sử của sự hình thành các hệ thống vùng, cơ cấu bên trong và những liên hệ bên ngoài của chúng Không một tổng số thủ pháp nào (mà các đại biểu của “Khoa học vùng”

đã nghiên cứu chúng rất nhiều và phải nói rằng rất hay) có thể thay thế cho p pháp luận Về các mô hình, các thủ pháp và những tìm tòi thực tiễn khác mà “Khoa học vùng” đề nghị, thì một số trong đó có thể đc ứng dụng có phê phán ở Liên Xô và các

nc XHCN khác

Ta đã nói về những ý định (khi soạn thảo báo cáo của Uỷ ban đặc biệt của Viện Hàn Lâm quốc gia Mỹ năm 1965) “giảm” địa lý ktế trong hệ thống khoa học địa

lý và thay thế nó bằng “địa lý văn hoá” và “lý thuyết phân bố” Theo cách hiểu của

uỷ ban đặc biệt thì “lý thuyết phân bố” gần với “Khoa học vùng” Nguyên nhân của những ý định đó không phải là vì sự yếu kém của địa lý ktế, mà là vì bản chất và những công trình nghiên cứu khoa học của nó không phù hợp với những xu hướng mới của sinh thái học và hành vi luận của nền khoa học tư sản Những ý định đó xuất hiện vì người ta muốn lẩn tránh bản chất ktế của địa lý ktế Đáng ngạc nhiên hơn nữa

là những ý định của một số nhà bác học các nc XHCN chịu ảnh hưởng của “ Khoa học vùng” muốn thay thế môn địa lý ktế có vẻ “Lỗi thời” bằng môn “Kinh tế vùng” (hay “Kinh tế lãnh thổ”, “ktế không gian”) Sở dĩ có những ý định đó phần nào là địa

lý ktế hiện nay đã trở thành một khoa học phức tạp, đòi hỏi có nhiều kiến thức chuyên môn Một số người nhìn thấy ở “ ktế vùng” khả năng đi theo một con đường dễ hơn, không cần đến những kiến thức đó Dĩ nhiên đấy là những lầm lạc có tính chất tạm thời

Tác phẩm lớn của W I sard “ Các p pháp phân tích vùng” mà trong đề mục nhỏ ông gọi là “ Nhập môn khoa học vùng”, đáng đc phân tích rộng rãi về mặt khoa học A E Propxt đã tiến hành phân tích một phần trong lời tựa cho bản tiếng Nga của cuốn sách đó A E Propxt đã nhận xét rất đúng rằng, những quan niện về các hệ thống nghành, vùng và tác động qua lại của chúng mà W I sard đã phát triển là phi lịch sử và không thể chứng minh chúng nếu không biết một lý luận cụ thể nào đó ( TBCN, XHCN) về tái sản xuất xã hội Nên thêm vào đó là, các p pháp phân tích vùng chỉ có thể ứng dụng trong khuôn khổ một lý luận nhất định về phân vùng ktế, nhưng

Trang 39

việc xây dựng mạng lưới vùng ktế và hệ thống liên hệ giữa các vùng trong điều kiệnCNTB và CNXH rất khác nhau

Vùng ktế các nc XHCN là những vùng chuyên môn hoá sản xuất khác nhau ,

là những tổng hợp thể sản xuất theo lãnh thổ So với các nhà địa lý tư sản khác thì W

I sard nêu lên rất rời rạc: “ Tổng hợp thể Công nghiệp là tổng thể những loại hoạt động, đc thực hiện tại một địa điểm nhất định và thống nhất vào một nhóm (nhóm nhỏ) nhất định bởi những liên hệ sản xuất, thương mại và các liên hệ chặt chẽ khác”

Năm 1960, tác giả quyển sách này đã tiến hành so sánh các định nghĩa về tổng hợpthể sản xuất (công nghiệp) do W I sard và N.N Kôlôxôpxki (điều này phát sinh do nhữngđiều kiện xã hội chủ nghĩa của sự hình thành tổng hợp thể) Tổng hợp thể đc xây dựng theomột nguyên tắc kinh tế - năng suất lao động cao nhất, khi lựa chọn các xí nghiệp theo kếhoạch, còn ở W Isard thì “ việc lựa chọn tổng hợp thể điển hình có giá trị tương đối: nóphụ thuộc vào một loạt nguyên nhân , cụ thể là vào các mục đích nghiên cứu, những sốliệu cần thiết hiện có, vào những phương tiện đã bỏ ra cho việc tìm tòi, và cuối cùng, vàonhững thiên hướng cá nhân của nhà nghiên cứu” Do đó, trong các quan điểm của W Isard có sự chủ quan ở mức độ đáng kể, ngược với những nguyên tắc của N.N.Kôlôxôpxki

W I sard tiến hành phân tích tổng hợp thể công nghiệp nhằm mục đích nhận thức : “ việc phân tích tổng hợp thể CN nhằm nghiên cứu những đặc điểm vùng của

cơ cấu và của sự phát triển các nhóm thống nhất những loại hoạt động khác nhau theo đặc trưng có tác động qua lại về công nghệ (sản xuất) thương nghiệp và tác động khác” Và mặc dù ông nói một cách rụt rè rằng “ phân tích tổng hợp thể CN phải nêu

rõ số tiết kiệm do sự gần nhau về không gian”, nhưng lại thêm: “Vì nhiều cái lợi có liên quan với sự gần nhau về không gian “không thể cảm thấy đc”, nên việc tính toán chính xác chúng về mặt số lượng không thể thực hiện đc” Hơn nữa, W I sard cho rằng “ ngay cả khi đặt vấn đề một cách viên mãn về số tiết kiệm có liên quan với sự gần nhau về không gian, thì cũng không thể xác định về số lượng cái hiệu quả rất khó phát hiện đó”

Như vậy, “Tổng hợp thể CN” của W I sard là một nhóm (một quần tụ) xí nghiệp công nghiệp theo lãnh thổ có các dạng tác động qua lại khác nhau và nhóm đó

Trang 40

có cơ cấu và đặc biệt phát triển nhất định Không thể lẫn lộn những nhóm (nhữngquần tụ) như thế với các tổng hợp thể CN được hình thành có kế hoạch ở cácnướcXHCN ý định của W.I.Sard muốn nghiên cứu rộng rãi lĩnh vực CN trên quan điểmkhông gian là đáng chú ý, song sự thất bại của ý định đó đã rõ ràng Sự thất bại ấy khôngphụ thuộc vào ông, mà vào thực tế cuỷa hiện thực của nền sản xuất TBCN, trong đókhông có các tổng hợp thể CN

Như A.E.Propxt chỉ ra đúng trong lời tựa viết cho cuốn sách của W.I.Sard, trong tác phẩm này nhân tố cơ sở không phải là sản xuất mà là dân số, sự di chuyển (di động) của dân cư, sự tiêu dùng và phục vụ của nó, thu nhập và chi tiêu của dân cư Quan niệm đó của W.I.Sard bắt nguồn từ những tác phẩm của W.Christaller và

A.Losch, và ý định của I.Sard muốn thoát ra khỏi “cái vòng luẩn quẩn” của các tính quyluật không gian của cư dân, phân bố thị trường, mạng lưới thương nghiệp, và các mặt kháccủa lĩnh vực tiêu dùng và phục vụ dân cư, ý muốn nghiên cứu cả lĩnh vực sản xuất, đã tỏ

Việc tìm hiểu có phê phán những thủ pháp kỹ thuật do W.Isard đề nghị đã cho phép

sử dụng một số trong đó vào công tác khoa học và thực tiễn của các nước XHCN, dĩnhiên không máy móc, mà có sáng tạo, có chú ý đến những đặc điểm của nền sản xuấtXHCN Trong bất kỳ trường hợp nào “các phương pháp phân tích vùng” đều bắt buộc cácnhà địa lý kinh tế suy nghĩ đến vấn đề nên tiếp tục đi như thế nào trên con đường tìmkiếm các thủ pháp nghiên cứu mặt số lượng vào sự phát triển các hệ thống kinh tế theolãnh thổ (vùng) có liên quan với phương pháp luận (trước hết là lý luận phân vùng kinhtế)

Ngày đăng: 02/12/2013, 01:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w