Tôi nhìn- tôi nh ớ.[r]
THIẾT KẾ BÀI DẠY HỌC GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
QUAN NIỆM VỀ THIẾT KẾ BÀI DẠY HỌC
Để thực hiện một bài lên lớp, công việc quan trọng đầu tiên của giáo viên (GV) là phải tiến hành thiết kế bài dạy học
Thực hiện công việc này, bất kỳ giáo viên nào cũng tiến hành một loạt công việc có liên quan chặt chẽ với nhau:
- Nghiên cứu nắm vững chương trình, nội dung sách giáo khoa (SGK) và các tài liệu tham khảo có liên quan đến bài dạy
- Nắm vững nội dung bài dạy để xác định mục tiêu, lựa chọn kiến thức cơ bản, trọng tâm
- Nắm vững đối tượng(người học) để dự kiến cách thức tác động nhằm tạo hứng thú, kích thích nhu cầu cần chiếm lĩnh tri thức của đối tượng
- Xác định các hình thức tổ chức dạy học và các phương pháp tổ chức dạy học thích hợp
Xác định hình thức củng cố kiến thức là một bước quan trọng giúp vận dụng tri thức đã học vào thực tế cuộc sống Điều này không chỉ tạo cơ sở vững chắc để tiếp nhận kiến thức mới mà còn nâng cao khả năng áp dụng và phát triển tư duy.
- Dự kiến các tình huống sư phạm có thể xảy ra trong quá trình thực hiện bài dạy và cách xử lý thích hợp của giáo viên
- Xác định các phương tiện mà GV và HS cần phải chuẩn bị để thực hiện bài dạy có hiệu quả,
Kết quả cuối cùng của việc thiết kế bài dạy học bao gồm giáo án và những suy nghĩ, ý định của giáo viên về quá trình dạy học Kết quả đầu tiên thể hiện rõ trên giấy, trong khi kết quả thứ hai thường tiềm ẩn trong tư duy và ý định của giáo viên.
Nói như thế cũng có nghĩa là, giữa giáo ánvà thiết kế bài dạy học tuy có nhiều điểm tương đồng, nhưng không phải là một
Giáo án là sản phẩm cụ thể của quá trình thiết kế bài dạy học, thể hiện dưới dạng vật chất trước khi tiến hành giảng dạy.
Giáo án Thiết kế bài dạy học
Bài soạn cụ thể được trình bày với các mục đề rõ ràng và câu chữ ngắn gọn, nhằm tổ chức một cách linh hoạt và phức tạp các hoạt động của giáo viên (GV) và học sinh (HS) Nó thể hiện những dự kiến về cách thức tổ chức hoạt động của cả GV và HS, cũng như cách xử lý các tình huống sư phạm mà GV có thể gặp phải.
Giáo viên sắp xếp và trình bày các đơn vị kiến thức theo một logic chặt chẽ và trình tự hợp lý, đồng thời vận dụng các phương pháp dạy học và thao tác tư duy để làm rõ các đơn vị kiến thức này.
Thông qua việc tổ chức hoạt động dạy và học, giáo viên giúp học sinh nắm vững kiến thức, đồng thời khuyến khích kỹ năng, sự hứng thú và thái độ tích cực của học sinh trong việc tiếp nhận kiến thức một cách chủ động.
Việc phân biệt giữa soạn giáo án và thiết kế bài dạy học rất quan trọng, bởi thiết kế bài dạy học đòi hỏi nhiều công sức và trí tuệ từ giáo viên hơn so với việc soạn giáo án.
CÁC BƯỚC THIẾT KẾ BÀI DẠY HỌC MÔN GDCD THPT
Để thiết kế bài dạy học GDCD, mọi giáo viên bao giờ cũng căn cứ vào nội dung bài dạy để xác định 5 vấn đề cốt lõi:
Để đạt hiệu quả trong việc dạy học, giáo viên cần xác định rõ mục tiêu bài học, bao gồm những kiến thức, kỹ năng và thái độ mà học sinh cần đạt được sau khi hoàn thành bài học.
Hai là: Xác định kiến thức cơ bản, trọng tâm và cấu trúc kiến thức cơ bản theo định hướng thích hợp.(dạy cái gì?)
Ba là: Xác định hình thức tổ chức và PPDH ( dạy như thế nào?)
Bốn là: Xác định hình thức củng cố, tập vận dụng kiến thức mà HS vừa tiếp nhận (HS đã đạt được mục tiêu bài dạy chưa?)
Năm là: Hướng dẫn các hoạt động nối tiếp giúp học sinh nắm vững bài học và tạo nền tảng cho việc tiếp thu tri thức mới Để đạt được điều này, học sinh cần thực hiện các bước cụ thể như ôn tập kiến thức đã học, tham gia thảo luận nhóm, và áp dụng kiến thức vào thực tiễn Việc liên kết các bài học cũ với kiến thức mới sẽ giúp học sinh phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề hiệu quả hơn.
Để giải quyết 5 vấn đề, cần thực hiện 5 bước với những nhiệm vụ cụ thể, được trình bày theo một quy trình hợp lý nhằm phát huy vai trò chủ thể nhận thức của học sinh.
1 Bước thứ nhất: Xác định mục tiêu bài dạy học GDCD
1.1 Vai trò của việc xác định mục tiêu bài dạy học GDCD
Mục tiêu là cái cần phải đạt được do chủ thể đề ra khi thực hiện một công việc nhất định
Cần phân biệt mục đích với mục tiêu
Cả hai khái niệm này đều có một nét tương đồng: “là cái nhằm đạt tới”, nhưng giữa chúng cũng có điểm khác nhau cơ bản
Mục đích là yếu tố quan trọng, thể hiện rõ ràng các mục tiêu mang tính khái quát và định hướng Nó giúp chỉ đạo hành động và trả lời cho các câu hỏi như "Để làm gì?" và "Vì cái gì?" nhằm tạo ra sự rõ ràng trong các kế hoạch và chiến lược.
Mục tiêu là một định hướng cụ thể và rõ ràng, giúp hiện thực hóa những ý tưởng và mong muốn Nó thường được sử dụng để trả lời các câu hỏi như "cần đạt được điều gì?" và "cần biết làm gì?" Việc xác định mục tiêu rõ ràng sẽ giúp cá nhân hoặc tổ chức tập trung vào những gì cần thiết để đạt được thành công.
Ví dụ 1: BÀI 1 - “NHẬN BIẾT BAN ĐẦU VỀ TRIẾT HỌC” (GDCD 10 - thí điểm)
• Mục đích: “Bước đầu hình thành thế giới quan duy vật cho học sinh”
• Mục tiêu: Học xong bài này, HS cần đạt được:
+ Hiểu được khái niệm “triết học”, mối quan hệ giữa triết học với các môn khoa học cụ thể; vai trò của triết học
+ Nhận biết được chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm trong triết học
+ Nắm được nét khác nhau chủ yếu giữa phương pháp luận biện chứng và phương pháp luận siêu hình
+ Tin tưởng vào tính khoa học của triết học DVBC, phê phán tính phản khoa học của chủ nghĩa duy tâm
+ Thấy được vai trò quan trọng của triết học DVBC trong cuộc sống và trong học tập _ Về kỹ năng:
+ Phân biệt được tri thức triết học và tri thức khoa học cụ thể
Phân tích và đánh giá các hiện tượng duy vật và duy tâm thường gặp trong cuộc sống giúp hiểu rõ mối quan hệ giữa đời sống xã hội và các yếu tố như tư tưởng, đạo đức, và lối sống Việc này không chỉ làm sáng tỏ những ảnh hưởng của các quan điểm triết học đến hành vi con người mà còn phản ánh cách mà các giá trị xã hội hình thành và phát triển trong cộng đồng.
Ví dụ 2: Bài 9 - “CNXH “ ( GDCD 11 - thí điểm)
• Mục đích: “Học sinh hiểu được nước ta quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là tất yếu khách quan”
• Mục tiêu: Học xong bài này học sinh cần đạt được:
+ Nắm được những đặc trưng cơ bản của CNXH nói chung và ở Việt Nam nói riêng
+ Hiểu được tính tất yếu kháh quan và những đặc điểm cơ bản của TKĐQ lên CNXHở nước ta
+ Có ý thức học tập, rèn luyện để góp phần vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta
+ Biết phê phán những biểu hiện tiêu cực, những hành vi chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH của nhân dân ta
+ Phân biệt được sự khác nhau về bản chất giữa CNXH với các chế độ xã hội trước đó
+ Bước đầu biết lý giải nguyên nhân về những khó khăn của CNXH hiện nay
Mục tiêu được xác định bởi mục đích, và chúng giúp làm rõ những gì mà mục đích đó hướng tới Các mục tiêu cụ thể là cách thể hiện rõ ràng cho mục đích đã đề ra.
Môn GDCD đóng vai trò quan trọng trong mục tiêu giáo dục và đào tạo, góp phần vào sự nghiệp giáo dục trong giai đoạn cách mạng mới của đất nước.
Chương trình môn Giáo dục công dân (GDCD) ở trung học phổ thông (THPT) được xây dựng với các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể Những mục tiêu này sẽ định hướng cho từng chương, từng phần và từng bài học trong các khối lớp khác nhau.
Mỗi hoạt động cần xác định rõ mục đích và mục tiêu để có định hướng rõ ràng, tổ chức hợp lý và làm cơ sở cho việc đánh giá kết quả đạt được.
Hoạt động dạy học cũng không nằm ngoài yêu cầu đó - phải xác định được những mục tiêu nhất định trong từng chương, từng bài và cả chương trình
Xác định mục tiêu cụ thể và chính xác là nền tảng để tổ chức hoạt động dạy học một cách khoa học, đồng thời giúp đánh giá kết quả dạy học một cách khách quan.
1.2 Các nguyên tắc của việc xác định mục tiêu:
1.2.1 Mục tiêu phải phản ánh được mục đích giáo dục của nhà trường Việt Nam nói chung, mục đích của chương trình GDCD ở từng cấp học, lớp học
1.2.2 Mục tiêu phải phù hợp với lý luận dạy học hiện đại, được cụ thể hóa vào bài dạy các nguyên lý, quan điểm, nguyên tắc về PPDH và giáo dục nói chung
1.2.3 Mục tiêu phải cụ thể:
• Xác định rõ các công việc và mức độ hoàn thành của HS
Trong dạy học “phát huy tính tích cực của HS” hiện nay, thông thường mục tiêu phải chỉ rõ,
Sau khi hoàn thành bài học, học sinh cần đạt được những mục tiêu học tập cụ thể Điều này nhấn mạnh rằng mục tiêu này tập trung vào sự phát triển và kết quả học tập của học sinh, chứ không phải là mục tiêu giảng dạy của giáo viên.
Ví dụ 3: Ở bài 1 của lớp 10 (xem ví dụ 1), học xong tiết 1 (mục a) “-Triết học là gì?” và mục b)- “chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm”), HS phải:
- Phân biệt được đối tượng nghiên cứu của triết học với đối tượng nghiên cứu của các môn khoa học cụ thể và mối quan hệ giữa chúng
- Hiểu được do đối tượng nghiên cứu, triết học là một khoa học có vai trò hình thành thế giới quan và phương pháp luận chung
- Nêu được vấn đề cơ bản của triết học, từ đó phân định được chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
Không nên ghi mục tiêu là: “giúp HS phân biệt được ”, “làm cho HS hiểu được ”,
“phân tích để học sinh nắm được vấn đề cơ bản của triết học ”
• Xác định được cái tiêu đích mà HS cần đạt tới
Ví dụ 4: Ở bài 9 của lớp 11 (xem ví dụ 2), học xong tiết 1(mục 1.CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
VÀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NÓ), HS phải:
- Trình bày được những đặc trưng cơ bản của CNXH
- Giải thích được cơ sở để khẳng định: CNXH là một chế độ xã hội ưu việt hơn các chế độ xã hội trước đó
Mục tiêu giáo dục không nên chỉ dừng lại ở việc giúp học sinh hiểu rằng CNXH là giai đoạn đầu của XHCSCN hay phân tích các đặc trưng cơ bản của CNXH Thay vào đó, cần xây dựng mục tiêu rõ ràng và thực tiễn hơn để học sinh có thể nắm bắt và áp dụng kiến thức một cách hiệu quả.
Các mục tiêu cụ thể cần được xác định rõ ràng để thuận lợi cho việc đánh giá kết quả tiếp thu và ứng dụng tri thức của học sinh.
Ví dụ 5: Ở bài 1 của lớp 10 ( xem ví dụ 1), học xong tiết 1, HS phải:
MỘT SỐ VÍ DỤ MINH HỌA VỀ THIẾT KẾ BÀI DẠY HỌC GDCD Ở THPT
Học kỳ : I CÔNG DÂN VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Tuần thứ: 1 (GDCD 11 - SGK thí điểm)
Học xong bài này, học sinh cần phải đạt được
• Hiểu được vai trò quyết định của sản xuất của cải vật chất (SXCCVC) đối với sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội
• Hiểu được sức lao động (SLĐ) là yếu tố quyết định trong quá trình lao động sản xuất (LĐSX)
• Hiểu được ý nghĩa tăng trưởng kinh tế (TTKT) gắn liền với công bằng xã hội đối với ??i sống mỗi người, gia đình và xã hội
Nhận thức được tầm quan trọng của sản xuất và chế biến hàng hóa, mỗi cá nhân cần có trách nhiệm với bản thân và gia đình, đồng thời nuôi dưỡng khát vọng cùng cộng đồng vượt qua nguy cơ tụt hậu về kinh tế so với các quốc gia khác.
− Biết xác định nội dung cơ bản của các yếu tố hợp thành quá trình LĐSX và mối quan hệ giữa các yếu tố đó
Việc áp dụng các yếu tố kinh tế để giải thích những hiện tượng đơn giản và quan điểm cơ bản của Đảng về phát triển kinh tế là rất quan trọng Điều này bao gồm mối liên hệ giữa giáo dục - đào tạo, dân số và môi trường trong quá trình phát triển bền vững.
II KIẾN THỨC CƠ BẢN, TRỌNG TÂM:
− Các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất
− Phát triển kinh tế và ý nghĩa của nó đối với cá nhân, gia đình và xã hội
− Vai trò của SXCCVC đối với sự tồn tại và phát triển xã hội
− Vai trò của sức lao động
− Tăng trưởng kinh tế gắn liền với công bằng xã hội
1 PPDH: giảng giải, đàm thoại gợi mở, nêu vấn đề
1 GV: các sơ đồ ( hoàn chỉnh các phiếu học tập):
+ Các yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành quá trình LĐSXVC
+ Lao động là hoạt động bản chất nhất của con người
+ Các yếu tố hợp thành nội dung của phát triển kinh tế
− Xem lại bài 7 và bài 9 - GDCD lớp 10 ( thí điểm)
− Giấy A4 để thảo luận nhóm
V CÁC HOẠT ĐỘNG TRÊN LỚP:
1 Ơứn định tổ chức và kiểm tra bài cũ ( 5’)
• Thực tiễn có những dạng cơ bản nào? Hoạt dộng nào là quan trọng nhất? Vì sao?
• Tồn tại xã hội do những yếu tố cơ bản nào cấu thành? Yếu tố nào là quan trọng nhất?
2 Tổ chức học bài mới:
Trong bài 7 môn GDCD lớp 10, chúng ta khám phá vai trò quan trọng của thực tiễn đối với nhận thức, với ba dạng biểu hiện cơ bản: hoạt động lao động sản xuất vật chất, hoạt động đấu tranh chính trị - xã hội, và hoạt động thực nghiệm khoa học Trong đó, hoạt động lao động sản xuất vật chất được xem là có vai trò quyết định nhất, vì nó tạo ra và ảnh hưởng đến các hoạt động khác Điều này được làm rõ hơn trong Bài 9, liên quan đến tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
Trong 3 yếu tố cấu thành:”tồn tại xã hội” (môi trường tự nhiên - Dân số - PTSX) thì
PTSX là yếu tố quan trọng nhất, vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội
Bài viết hôm nay sẽ làm rõ hai vấn đề quan trọng: Thứ nhất, hoạt động lao động sản xuất vật chất (LĐSXVC) ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội như thế nào Thứ hai, để thực hiện LĐSXVC, con người cần dựa vào những yếu tố gì và mối quan hệ giữa các yếu tố đó ra sao Cuối cùng, chúng ta sẽ khám phá vai trò của sự phát triển kinh tế đối với đời sống cá nhân, gia đình và toàn xã hội.
2.2 TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC HỌC TIẾT 1
Thời lượng Hoạt động của GV Hoạt động của HS Kiến thức cơ bản
HÌNH THÀNH KHÁI NIỆM “ SẢN XUẤT CỦA CẢI
1 Vai trò của sản xuất của cải vật chất (SXCCVC)
GV: yêu cầu HS đọc mục
HỌC” và trả lời lần lượt từng câu hỏi
Kết luận Đọc xong mục 1, HS trả lời lần lượt các câu hỏi:
1 Để sống (tồn tại) và phát triển, trước hết con người cần phải có những gì?
2 Để có những thứ đó, con người tạo ra chúng bằng cách nào?
3 Từ đó, có thể hiểu thế nào là LĐSXCCVC? a Khái niệm:
LĐSXCCVC là sự tác động của con người vào tự nhiên biến đổi nó tạo ra sản phẩm đáp ứng mục đích, yêu cầu của con người
NHÓM GHÉP ĐÔI THẢO LUẬN:”VAI TRÒ CỦA
SẢN XUẤT CỦA CẢI VẬT CHẤT”
GV: yêu cầu 2 HS ngồi cạnh nhau là 1 nhóm
• GV đưa câu hỏi Quy định thời gian thảo luận
• Đại diện nhóm trình bày Các nhóm khác bổ sung
1 LĐSXCCVC có vai trò quan trọng như thế nào?( ví dụ)
2 Có thể rút ra kết luận gì từ vai trò quan trọng đó của LĐSXCCVC? b Vai trò của SXCCVC:
• Cải biến tự nhiên, tạo ra của cải
• Làm nẩy sinh và phát triển các hoạt động khác
• Cải tạo và hoàn thiện con người KL:
Cơ sở quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội
THẢO LUẬN NHÓM VỀ: “CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN
GV: yêu cầu HS: 2 bàn ghép lại thành 1 nhóm
Mỗi nhóm xác định số thứ tự từ 1 2
• Sau thảo luận, GV mời
1 số bất kỳ trong nhóm trình bày
• HS ở nhóm khác có cùng số với HS đang trình bày sẽ bổ sung
• Các HS khác đều có cơ hội bổ sung
Kết luận từng nội dung thảo luận
• Thưởng điểm cho những HS trình bày tốt
• Việc chia nhóm này dựa vào số lượng bàn phổ biến hiện nay ở các lớp học
• Tuỳ tình hình cụ thể,
GV cần điều chỉnh nội dung thảo luận sao cho phù hợp với từng nhóm, tránh việc quá nặng nề cho một nhóm và quá nhẹ nhàng cho nhóm khác.
HS thảo luận theo nhóm:
• Các yếu tố cấu thành (vẽ sơ đồ)
• Phân biệt LĐ và SLĐ
• Vì sao nói: “LĐ là hoạt động bản chất nhất của con người”? (SGK.tr.5)
• Các yếu tố cấu thành (vẽ sơ đồ)
• Vai trò của từng yếu tố
• Có phải mọi yếu tố tự nhiên đều là đối tượng của LĐ?
• Các yếu tố cấu thành (vẽ sơ đồ)
• Vai trò của từng yếu tố
• Vì sao nói ranh giới phân chia giữa ĐTLĐ và TLLĐ chỉ có tính chất tương đối?
• Vì sao nói ”SLĐ chỉ là khả năng của LĐ, còn
LĐ mới là sự tiêu dùng SLĐ trong hiện thực”?
1) Hãy vẽ sơ đồ hoàn chỉnh
3 Các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất vật chất: a Sức lao động: (SLĐ)
− Các yếu tố b Đối tượng lao động (ĐTLĐ)
− Vai trò của từng yếu tố c Tư liệu lao động (TLLĐ)
− Vai trò của từng yếu tố d Mối quan hệ giữa các yếu tố cơ bản và ý nghĩa của việc vận dụng các yếu tố
20 các yếu tố của quá trình LĐSXCCVC
2) Trình bày vai trò của từng yếu tố trong sơ đồ
Việc phân tích sơ đồ hoàn chỉnh các yếu tố của quá trình lao động sản xuất công trình xây dựng và vận chuyển (LĐSXCCVC) giúp rút ra những kết luận quan trọng về ý nghĩa của từng yếu tố trong quá trình này Các yếu tố như nguồn nhân lực, công nghệ, vật liệu và quy trình tổ chức đều đóng vai trò then chốt, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và chất lượng của công trình Khi áp dụng những yếu tố này một cách hợp lý, chúng ta có thể tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm thiểu chi phí và thời gian, đồng thời nâng cao năng suất lao động Do đó, việc nắm vững và vận dụng hiệu quả các yếu tố trong LĐSXCCVC không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần phát triển bền vững cho ngành xây dựng.
• Thực hiện bài tập số 2 (SGK,tr.9)
2.4 HƯỚNG DẪN HOẠT ĐỘNG NỐI TIẾP
1 Thực hiện bài tập số 3 (SGK,tr.9)
2 Hãy giải thích hiện tượng thất nghiệp của một bộ phận lao động hiện nay ở nước ta
3 Vẽ sơ đồ hoàn chỉnh về mối quan hệ giữa các yếu tố của quá trình LĐSXCCVC
4 Đọc nội dung Mục 3(“ Phát triển kinh tế ”) và cho biết nội dung của nó Cho ví dụ
1 ’ 2.5 NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ TIẾT HỌC
Học kỳ : I CÔNG DÂN VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Tuần thứ: 2 (GDCD 11- SGK thí điểm)
Ngoài mục tiêu chung của toàn bài, học xong tiết 2, HS còn phải đạt được:
− Nội dung cơ bản của phát triển kinh tế (PTKT)
− Mối quan hệ giữa PTKT với sự gia tăng dân số và bảo vệ môi trường sinh thái
− Ý nghĩa ( vai trò) của PTKT đối với đời sống mỗi người, gia đình và xã hội
− Biết phân biệt giữa PTKT với tăng trưởng kinh tế (TTKT)
− Biết đưa ra được những ví dụ thích hợp đối với các nội dung của PTKT
− Thấy được tính đúng đắn về đường lối, chính sách phát triển kinh tế gắn liền với thực hiện công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước ta
− Có niềm tin vào sự đổi mới và có ý thức trách nhiệm công dân vào sự nghiệp đổi mới phát triển kinh tế
II KIẾN THỨC CƠ BẢN, TRỌNG TÂM:
1 Kiến thức cơ bản: 2 đơn vị kiến thức (Mục 3)
2 Kiến thức trọng tâm: Tăng trưởng kinh tế (TTKT) gắn liền với công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái
1 PPDH: Giảng giải gắn với liên hệ thực tế; nêu vấn đề
2 HTTCDH: Kết hợp: giảng giải của GV với hoạt động nhóm (thảo luận nhóm)
− Sơ đồ về PTKT và TTKT
− Các số liệu về TTKT ( năm 2005)
− Căn cứ nội dung của PTKT để lấy dẫn chứng từ địa phương
− Giấy A4 để thảo luận nhóm
V CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TRÊN LỚP:
1 Ổn định tổ chức và kiểm tra bài cũ: (5’)
Câu 1: Dựa vào cơ sở nào để Đảng ta xác định:” Phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu”?
Câu 2: Căn cứ vào mối quan hệ giữa SLĐ và TLSX, hãy giải thích hiện tượng thất nghiệp của một bộ phận lao động hiện nay ở nước ta
2 Tổ chức học nội dung Mục 3 của Bài 1 ( tiết 2)
• Bằng phương pháp “ kích thích tư duy”, GV khuyến khích nhiều HS phát biểu:
“ Mục đích cuối cùng của LĐSXVC là gì?”
Mục tiêu chính của LĐSXVC là thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế, đồng thời tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi cho tiến bộ xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Bài hôm nay, chúng ta sẽ làm rõ:
- Thế nào là phát triển kinh tế (PTKT)?
- Nội dung và vai trò của PTKT đối với đời sống của mỗi người, mỗi gia đình và toàn xã hội
2.2 TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC HỌC MỤC 3 ( TIẾT 2)
HĐ của GV HĐ cuả HS Kiến thức cơ bản
Bằng phương pháp diễn dịch, GV giảng giải để đưa đến khái niệm “PTKT” và “ các nội dung của PTKT”
3 PTKT và ý nghĩa của PTKT đối với cá nhân - gia đình - xã hội a) PTKT là gì?
PTKT là s ự t ă ng tr ưở ng kinh t ế (TTKT) h ợ p lý g ắ n v ớ i hoàn ch ỉ nh c ơ c ấ u kinh t ế (CCKT) h ợ p lý, ti ế n b ộ và đả m b ả o công b ằ ng xã h ộ i
THẢO LUẬN NHÓM: CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH
GV: yêu cầu 2 bàn là 1 nhóm:
• Tuỳ theo số lượng 1 nhóm,
GV giao nhiệm vụ cho các nhóm và định thời gian thảo luận
Các nhóm sẽ dựa vào sách giáo khoa và kiến thức từ các bài học môn Địa lý, cũng như sự hiểu biết cá nhân, để thảo luận về nội dung được giao.
Tăng trưởng kinh tế hợp lý
Cơ cấu kinh tế hợp lý, tiến bộ Đảm bảo công bằng xã hội
• Mỗi nhóm xác định số thứ tự từ 1,2 GV sẽ yêu cầu số thứ tự nào đó của nhóm đại diện trình bày nội dung được giao
• GV yêu cầu thành viên của nhóm khác có cùng số thứ tự với HS đang trình bày sẽ bổ sung
Thưởng điểm cho những HS trình bày (và bổ sung) tốt
• Một số nhóm thảo luận nội dung th ứ nh ấ t:
- Thước đo và cách xác định TTKT (GNP,GDP)
- Phân biệt “PTKT” với “TTKT”
- Giải thích tính “hợp lý” của TTKT
• Một số nhóm thảo luận nội dung th ứ hai:
(CCKT) HỢP LÝ, TIẾN BỘ”
- Các yếu tố cấu thành CCKT (dẫn chứng)
- Giải thích tính “ h ợ p lý” và “ti ế n b ộ ” của CCKT
• Một số nhóm thảo luận nội dung th ứ ba:
“ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG XÃ HỘI”
- Những biểu hiện công bằng xã hội do TTKT đem lại (Dẫn chứng)
Mối quan hệ giữa TTKT với công bằng xã hội
- Tăng trưởng kinh tế hợp lý:
• Phân biệt PTKT với TTKT
• Tính hợp lý và không hợp lý của TTKT
- Cơ cấu kinh tế (CCKT) hợp lý, tiến bộ:
• Các yếu tố của CCKT
• Tính hợp lý và tiến bộ của CCKT
- Đảm bảo công bằng xã hội (CBXH)
• Mối quan hệ giữa TTKT với CBXH
THẢO LUẬN NHÓM VỀ “ Ý NGHĨA CỦA PTKT ĐỐI VỚI CÁ NHÂN, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI”
GV: yêu cầu HS: mỗi bàn là
• Tuỳ số lượng nhóm (bàn),
GV giao nhiệm vụ và quy định thời gian thảo luận
• Mỗi nhóm (bàn) xác định số thứ tự 1,2,3 GV yêu cầu một số thứ tự nào đó của nhóm (bàn) trình bày nội dung được giao
Thành viên nhóm (và nhóm khác) bổ sung
Kết luận lần lượt từng nội dung
Thưởng điểm cho những HS trình bày tốt
HS sẽ thảo luận nội dung được giao bởi GV dựa trên SGK và kiến thức cá nhân của mình, theo sự tổ chức của GV.
- Biết đưa dẫn chứng về nội dung đó b) Ý nghĩa của PTKT đối với cá nhân - gia đình - xã hội
1 Vì sao PTKT phải gắn liền với mức tăng dân số phù hợp và bảo vệ môi trường sinh thái?
2 Vì sao nói: trong cơ cấu kinh tế (CCKT) thì cơ cấu ngành kinh tế có vai trò quan trọng nhất?
3 Có người thắc mắc:” Vì sao nước ta đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo mà vẫn coi là nước nghèo, kém phát triển?”
Dựa vào “ cơ cấu kinh tế tiến bộ”, em hãy giải thích để cho người đó hiểu được bản chất của vấn đề trên
2.4 HƯỚNG DẪN HOẠT ĐỘNG NỐI TIẾP
1 Sưu tầm tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta trong năm 2005
2 Trả lời câu hỏi số 5 ở cuối bài (SGK,tr.9)
3 Đọc trước Bài 2- Mục 1 (“Hàng hoá”) và cho biết:”Hàng hoá có những thuộc tính nào? Đặc điểm của 2 loại giá trị của hàng hoá?”
2.5 NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ TIẾT HỌC
CÂU HỎI TỰ NGHIÊN CỨU
1 Tại sao xác định mục tiêu là việc làm quan trọng đầu tiên trong thiết kế bài dạy học GDCD? Để xác định đúng mục tiêu bài dạy, GV cần phải quán triệt những nguyên tắc nào? Đâu là nguyên tắc quan trọng nhất?
2 Trong một bài GDCD, có những loại kiến thức nào? Làm sao có thể xác định được loại kiến thức cơ bản? Kiến thức trọng tâm?
3 Để có thể lựa chọn được PPDH bài GDCD thích hợp nhất, cần phải dựa vào những cơ sở nào? Đâu là cơ sở quan trong nhất? Vì sao?
4 Giữa “Soạn giáo án” và “Thiết kế bài dạy học” có điểm nào giống và khác nhau? Vì sao cần có sự phân biệt này?
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM
TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRONG KIỂM
I TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRONG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DẠY - HỌC MÔN GDCD THPT
1 Tính cấp thiết của việc ứng dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra - đánh giá hiệu quả dạy - học GDCD THPT
Trong quá trình dạy học, việc kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh là hoạt động quan trọng, diễn ra thường xuyên Các hình thức kiểm tra đa dạng giúp đánh giá hiệu quả giáo dục và điều chỉnh hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Để đáp ứng yêu cầu và mục tiêu giáo dục, việc cải tiến phương thức kiểm tra đánh giá là điều hết sức cần thiết hiện nay, bên cạnh việc đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học.
Hiện nay, việc dạy học Giáo dục Công dân (GDCD) ở trường THPT gặp nhiều vấn đề trong khâu đánh giá mục tiêu bài học và chương trình môn học Nhiều giáo viên vẫn coi việc kiểm tra - đánh giá là quyền riêng của mình, trong khi học sinh chỉ là đối tượng bị kiểm tra Nội dung kiểm tra thường tập trung vào kỹ năng tái hiện kiến thức, thiếu chú trọng đến việc phát triển tư duy sáng tạo của học sinh Hơn nữa, việc đánh giá chủ yếu dựa vào lý thuyết mà không chú ý đến kỹ năng thực hành và thái độ học tập của học sinh Sự kết hợp giữa các phương pháp kiểm tra truyền thống và hiện đại còn hạn chế, với hình thức tự luận vẫn phổ biến Do đó, kiểm tra - đánh giá trong dạy học GDCD chưa đạt yêu cầu về tính khách quan, chính xác và khoa học.
Việc áp dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan đang trở thành xu hướng quan trọng trong đổi mới kiểm tra và đánh giá giáo dục Phương pháp này không chỉ giúp củng cố kiến thức mà còn đánh giá sơ bộ mức độ hoàn thành mục tiêu bài học Hơn nữa, nó cung cấp thông tin phản hồi kịp thời, cho phép điều chỉnh phương pháp dạy-học một cách hiệu quả.
Trong những năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện chủ trương đổi mới phương thức thi cử bằng cách áp dụng thí điểm phương pháp trắc nghiệm khách quan ở một số cấp học Mục tiêu là đến năm 2008, tất cả các môn thi tuyển sinh đại học - cao đẳng, ngoại trừ môn văn, sẽ áp dụng phương pháp thi trắc nghiệm.
Việc áp dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong dạy và học các môn khoa học, đặc biệt là môn Giáo dục công dân, đang trở thành một nhiệm vụ cấp bách tại các trường THPT hiện nay.
2 Phân loại trắc nghiệm trong giáo dục
Trắc nghiệm là một phương pháp đo lường năng lực của các đối tượng với những mục đích cụ thể Trong lĩnh vực giáo dục, trắc nghiệm thường được áp dụng trong các kỳ thi và kiểm tra nhằm đánh giá kết quả học tập và giảng dạy, có thể áp dụng cho một phần hoặc toàn bộ môn học, thậm chí cho cả một cấp học Ngoài ra, trắc nghiệm còn được sử dụng để tuyển chọn những cá nhân có năng lực phù hợp cho các khóa học.
Có thể phân chia các phương pháp trắc nghiệm ra làm 3 loại: loại quan sát, loại vấn đáp và loại viết
Hình thức quan sát cho phép xác định thái độ, kỹ năng thực hành và kỹ năng nhận thức, như khả năng giải quyết vấn đề trong tình huống nghiên cứu.
Hình thức vấn đáp là yếu tố quan trọng trong tương tác giữa người chấm và người học, đặc biệt khi cần đánh giá thái độ phản ứng và kỹ năng giao tiếp trong các buổi phỏng vấn.
- Hình th ứ c vi ế t thường được sử dụng nhiều nhất vì nó có những ưu điểm sau:
+ Cho phép kiểm tra nhiều học sinh cùng một lúc
+ Cho phép học sinh có thời gian cân nhắc nhiều hơn khi trả lời
+ Đánh giá được một vài loại tư duy ở mức độ cao
+ Cung cấp bản ghi rõ ràng các câu trả lời của học sinh để dùng khi chấm
+ Người ra đề không nhất thiết phải tham gia chấm bài
Hình thức trắc nghiệm viết được được chia thành hai dạng khác nhau là trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
Quan sát Viết Vấn đáp
Ghép đôi Điền khuyết Đúng sai
Trắc nghiệm tự luận là hình thức kiểm tra yêu cầu học sinh trình bày ý kiến của mình qua một bài viết dài, nhằm giải quyết vấn đề được nêu trong câu hỏi Hình thức này không chỉ kiểm tra kiến thức mà còn đánh giá khả năng tư duy và lập luận của học sinh.
Trắc nghiệm tự luận cho phép học sinh tự do diễn đạt ý tưởng, yêu cầu họ nhớ lại thông tin và sắp xếp các ý tưởng một cách chính xác Phương pháp này giúp đánh giá khả năng suy luận và sáng tạo của học sinh Tuy nhiên, việc chấm điểm có thể mang tính chủ quan và thiếu sự thống nhất giữa các giám khảo Bài thi tự luận thường có ít câu hỏi hơn nhưng đòi hỏi nhiều thời gian hơn để trả lời và chấm thi.
Trắc nghiệm khách quan là hình thức kiểm tra bao gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu đề cập đến một vấn đề cụ thể và yêu cầu học sinh trả lời ngắn gọn bằng các dấu hiệu đơn giản Hình thức này được gọi là khách quan vì hệ thống chấm điểm hoàn toàn không mang tính chủ quan như bài trắc nghiệm tự luận Mặc dù còn mới mẻ trong môi trường giáo dục, trắc nghiệm khách quan đã trở nên phổ biến trong xã hội.
3 Các loại câu trắc nghiệm khách quan
Có thể phân chia trắc nghiệm khách quan thành những loại sau :
Câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn (MCQ) là loại câu hỏi phổ biến nhất, bao gồm từ 3 đến 5 phương án trả lời, trong đó chỉ có một phương án đúng hoặc đúng nhất Các phương án còn lại có thể sai hoặc chỉ đúng một phần, được gọi là câu nhiễu Học sinh cần chọn và đánh dấu vào một phương án duy nhất mà họ cho là đúng nhất.
Câu trắc nghiệm đúng - sai (câu hỏi yes/no) là một dạng đặc biệt của câu hỏi trắc nghiệm với hai lựa chọn duy nhất: đúng hoặc sai Học sinh phải chọn một trong hai phương án để xác định tính chính xác của nhận định, mang lại cho họ 50% khả năng đoán đúng Mặc dù vậy, loại câu hỏi này cũng có thể hữu ích trong việc phát hiện các quan niệm sai lầm phổ biến của học sinh khi khảo sát một môn học cụ thể.
- Câu tr ắ c nghi ệ m đ i ề n khuy ế t (supply items)
Câu hỏi điền khuyết yêu cầu học sinh suy nghĩ và điền nội dung phù hợp vào chỗ trống Mặc dù việc chấm điểm có thể mang tính chủ quan khi đánh giá độ chính xác của câu trả lời, nhưng loại câu hỏi này vẫn được phân loại là trắc nghiệm khách quan.
- Câu tr ắ c nghi ệ m ghép đ ôi (matching item)
Bài viết này đề cập đến việc phân loại các câu hỏi thành hai cột nhóm từ, mỗi cột chứa thông tin khác nhau Học sinh cần ghép đúng từng cặp nhóm từ ở hai cột sao cho phù hợp về nội dung, giúp rèn luyện khả năng tư duy và liên kết thông tin.
Ngoài ra, người ta còn chia thêm một số kiểu trắc nghiệm khác như: trắc nghiệm trả lời ngắn (short-answer tests), trắc nghiệm trình diễn (performance tests)
Trong các loại trắc nghiệm khách quan nêu trên, loại "câu trắc nghiệm đúng/sai" và loại
HƯỚNG DẪN VIẾT CÁC CÂU TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
Phương pháp kiểm tra trắc nghiệm khách quan được đánh giá cao, nhưng không hoàn toàn khách quan do sự ảnh hưởng của chủ quan trong việc soạn thảo câu hỏi và định điểm.
5 Các bước xây dựng và khảo sát một bài trắc nghiệm khách quan dùng ở lớp học
B ướ c 1 : Xác định mục tiêu dạy học và lập kế hoạch cho bài trắc nghiệm
B ướ c 2 : Soạn thảo các câu trắc nghiệm và duyệt lại bài trắc nghiệm
B ướ c 3 : Tổ chức thực nghiệm kiểm định và chấm điểm bài trắc nghiệm
B ướ c 4 : Phân tích các câu hỏi và đánh giá bài trắc nghiệm
B ướ c 5 : Xây dựng ngân hàng câu hỏi (kho dự trữ các câu hỏi trắc nghiệm)
II HƯỚNG DẪN VIẾT CÁC CÂU TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
1 Đặc điểm của câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn
Trong trắc nghiệm khách quan, câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn (MCQ) là loại phổ biến nhất, bao gồm hai phần: phần dẫn nêu vấn đề và phần phương án chọn Mỗi câu có các phương án được đánh dấu bằng chữ cái hoặc số, trong đó chỉ có một phương án đúng hoặc đúng nhất, còn lại là các phương án gây nhiễu nhằm đánh lừa thí sinh Những câu trả lời sai hoặc chỉ đúng một phần sẽ khiến những người chưa chuẩn bị kỹ khó nhận biết phương án đúng Câu hỏi MCQ được soạn tốt sẽ thách thức khả năng nhận thức của thí sinh về kiến thức đã học.
Khi soạn thảo câu trắc nghiệm, cần đảm bảo rằng các phương án gây nhiễu đều có vẻ hợp lý và hấp dẫn như phương án đúng.
Bài trắc nghiệm MCQ là công cụ phổ biến để kiểm tra kiến thức rộng rãi trong một số lượng lớn học sinh cùng lúc Những bài trắc nghiệm này, nếu được thiết kế tốt, có thể thu thập phản hồi nhanh chóng từ người học Để tạo ra một bộ câu hỏi MCQ hiệu quả, cần chú ý đến việc kiểm tra các mức độ nhận thức khác nhau như nhận biết, thông hiểu và vận dụng.
Trắc nghiệm MCQ có những lợi thế (ưu điểm) so với các phương pháp kiểm tra - đánh giá khác như:
- Có thể kiểm tra nhanh một phạm vi rộng các vấn đề, với một lượng kiến thức lớn trong một thời gian ngắn
Có thể sử dụng để thu thập phản hồi từ học viên, giúp đánh giá nhanh chóng trình độ học vấn của lớp học vào đầu hoặc cuối khóa học.
- Áp dụng được công nghệ mới trong chấm thi và phân tích kết quả thi (đảm bảo tính khách quan, công bằng trong kiểm tra - đánhgiá)
- Ít tốn công chấm bài
- Sự đánh giá không chịu ảnh hưởng bởi khả năng viết của người học
- Có thể cho điểm đáng tin cậy vì tất cả câu trả lời đều được xác định trước
- Có thể phân tích các chỉ số về độ khó và độ phân biệt của câu hỏi
- Có thể sử dụng lại các câu hỏi để thành lập một ngân hàng các câu hỏi, nhằm giảm bớt thời gian chuẩn bị sau này
- Nếu được chuẩn bị thật tốt sẽ cho phép kiểm tra được các kỹ năng nhận thức cao
Tuy nhiên, trắc nghiệm MCQ cũng có những hạn chế như:
- Mất nhiều thời gian để chuẩn bị các câu hỏi MCQ hay, đặc biệt là trong trường hợp cần kiểm tra các kỹ năng nhận thức cao
- Các nghiên cứu cho thấy phần lớn các bài trắc nghiệm MCQ quá nặng về kiểm tra kiến thức và yêu cầu học sinh nhớ lại thông tin
Khó khăn trong việc đánh giá vốn văn chương, khả năng diễn đạt và lập luận của học sinh là một thách thức lớn Ngoài ra, việc phát triển và tổ chức các ý tưởng sáng tạo cùng với khả năng phê phán cũng cần được chú trọng.
- Dễ làm cho học sinh xem xét các vấn đề một cách rời rạc, thiếu tính hệ thống
- Dễ gây ra hiện tượng học gạo để đối phó hoặc tạo cho học sinh thói quen đoán mò, chờ đợi sự may rủi trong kiểm tra - đánh giá
- Việc sử dụng lại các câu hỏi để thành lập một ngân hàng các câu hỏi nhiều khi gây khó khăn cho việc bảo mật đề thi
Các bài trắc nghiệm nhiều lựa chọn sẽ phát huy tối đa hiệu quả khi giáo viên xây dựng ngân hàng câu hỏi với tiêu chí "độ khó" và "độ phân biệt" được thử nghiệm và phân tích kỹ lưỡng Người có kinh nghiệm viết trắc nghiệm có thể chuyển đổi bất kỳ nội dung nào thành câu hỏi trắc nghiệm, áp dụng cho mọi môn học Tuy nhiên, việc viết trắc nghiệm cho môn Giáo dục Công dân (GDCD) có thể gặp nhiều khó khăn hơn so với các môn học khác, và không phải ai có kiến thức chuyên môn đều có khả năng tạo ra câu hỏi trắc nghiệm phù hợp.
2 Những vấn đề cần lưu ý khi ra đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan
Việc ra đề kiểm tra có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung và phương pháp dạy học của giáo viên và học sinh Chất lượng kiểm tra - đánh giá phụ thuộc vào thiết kế đề thi, đáp án và biểu điểm Để đạt hiệu quả trong việc ra đề kiểm tra, cần lưu ý một số vấn đề quan trọng.
Để xây dựng một hệ thống mục tiêu thống nhất, cần phải bám sát mục tiêu và phân phối chương trình, cụ thể hóa các cấp độ nhận thức: nhận biết, thông hiểu và vận dụng.
Để viết một bài trắc nghiệm hiệu quả cho một môn học, trước tiên cần dựa vào các mục tiêu giảng dạy đã được xác định Công cụ thiết kế đề trắc nghiệm là bảng mục tiêu, trong đó các hàng đại diện cho kiến thức môn học và các cột thể hiện kỹ năng liên quan Tuy nhiên, không phải lúc nào các mục tiêu cũng đủ chi tiết để soạn thảo trắc nghiệm, do đó cần xây dựng lại danh mục mục tiêu một cách cụ thể Việc xác định rõ các mục tiêu cụ thể và thiết kế đề trắc nghiệm phù hợp với chúng là yếu tố then chốt để đảm bảo độ tin cậy của phép đo.
Việc xác định các loại kỹ năng cụ thể phù hợp với từng môn học và bài học là rất quan trọng Cần lựa chọn kỹ năng một cách hợp lý để tránh làm cho quá trình thiết kế trở nên phức tạp.
- Thiết kế ma trận của đề phải đảm bảo các tỷ lệ thích hợp như:
+ Xác định thời gian làm bài
+ Xác định số lượng câu hỏi tương ứng với mỗi mức độ nhận thức, mỗi mạch kiến thức
- Thiết kế câu hỏi, viết đáp án và xây dựng biểu điểm;
+ Xác định tỷ lệ các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Để đảm bảo tính hợp lý trong đề kiểm tra, cần trình bày theo bố cục rõ ràng Nếu đề kiểm tra bao gồm cả hình thức trắc nghiệm khách quan và tự luận, hãy dành một phần giấy riêng cho học sinh để thực hiện bài làm.
Để xây dựng biểu điểm hiệu quả, cần đảm bảo rằng điểm số tỷ lệ thuận với thời gian làm bài cho mỗi phần Mỗi câu hỏi trắc nghiệm nên có cùng số điểm khi được trả lời đúng để tạo sự công bằng và nhất quán trong đánh giá.
- Thu thập dữ liệu, phân tích thống kê để rút kinh nghiệm về độ khó, độ phân biệt và chỉnh sửa câu nhiễu
3 Vận dụng các mức độ nhận thức khác nhau để soạn các câu MCQ
Phân loại mức độ nhận thức có nhiều phương pháp khác nhau, trong đó phân loại của Bloom (1971) được công nhận rộng rãi Bloom đã phân chia nhận thức thành sáu loại chính, sắp xếp từ mức độ thấp đến cao: Biết, Hiểu, Áp dụng, Phân tích, Tổng hợp và Thẩm định.
Mỗi mức độ nhận thức nói trên có thể lại được phân chia thành những mức độ nhận thức phức tạp hơn
Việc nhớ lại kiến thức như sự kiện, khái niệm và nguyên lý mà học sinh đã học từ giáo viên, sách vở hoặc thực tế cuộc sống là rất quan trọng Để kiểm tra mức độ nhận thức, học sinh chỉ cần hồi tưởng đúng thông tin được hỏi Những kiến thức này có thể được nhớ lại một cách nguyên vẹn, một phần cơ bản hoặc dưới dạng đã thay đổi ít nhiều.
Người ta phân chia mức nhận thức này ra thành ba loại chi tiết hơn, đó là:
- Biết các điều đặc biệt
- Biết các phương cách và phương tiện để đối phó với các vấn đề đặc biệt
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
1 Một vài vấn đề về kỳ thi trắc nghiệm
Trong một kỳ thi áp dụng trắc nghiệm khách quan trên quy mô lớn cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Hình thức đề thi được ra hoàn toàn dưới hình thức thi trắc nghiệm khách quan
Câu trắc nghiệm trong đề thi thường là dạng nhiều lựa chọn với bốn phương án A, B, C, D Hình thức và điểm số của các câu hỏi được đồng nhất, giúp việc chấm thi và tính điểm bằng máy trở nên dễ dàng hơn.
Thời gian làm bài thi dao động từ 45 đến 90 phút, với số lượng câu hỏi từ 70 đến 100 câu trắc nghiệm Đề thi được in sẵn và phát cho từng thí sinh, tất cả đều có chung nội dung nhưng có nhiều phiên bản khác nhau Hệ thống máy tính tự động xáo trộn thứ tự câu hỏi và các phương án A, B, C, D, đảm bảo rằng các thí sinh ngồi cạnh nhau có đề thi giống nhau về nội dung nhưng khác nhau về thứ tự câu hỏi.
Để đảm bảo tính chính xác và công bằng, việc đáp ứng các yêu cầu của đề thi trắc nghiệm khách quan, bao gồm thang điểm, phạm vi kiến thức và bảo mật, phải tuân thủ các quy định tương tự như đối với đề thi tự luận.
1.2 Bài làm của thí sinh
Khi làm bài thi, thí sinh sẽ nhận một phiếu trả lời trắc nghiệm được in sẵn Việc giữ gìn phiếu này rất quan trọng; thí sinh cần tránh làm gập hay nhăn phiếu vì mỗi người chỉ được phát một phiếu duy nhất và không được đổi Thí sinh cần điền thông tin vào phiếu một cách cẩn thận.
Sử dụng bút mực để ghi rõ Hội đồng thi, môn thi, họ và tên, ngày sinh, phòng thi, ngày thi và ký tên Ghi Số báo danh vào ô vuông trống ở đầu các cột trong khung chữ nhật dành cho Số báo danh, sau đó tô kín các ô tròn tương ứng với chữ số ở đầu mỗi cột.
Thí sinh cần xem Mã đề thi in trên đầu đề thi và ghi ngay 3 chữ số của mã đề thi vào 3 ô vuông nhỏ ở đầu các cột của khung hình chữ nhật dành cho Mã đề thi Các chữ số này sẽ được điền lần lượt theo từng cột, tô kín ô tròn có chữ số tương ứng với chữ số đầu mỗi cột.
Khi làm bài trắc nghiệm, thí sinh cần chọn phương án đúng nhất (A, B, C hoặc D) và dùng bút chì đen tô kín ô tròn tương ứng trên Phiếu trả lời Mỗi câu chỉ được tô một ô tròn; nếu thí sinh tô từ hai ô trở lên, máy sẽ không chấm và câu đó sẽ không được tính điểm.
1.3 Coi thi và chấm thi
Quy định về phòng thi và giám thị cho kỳ thi trắc nghiệm tương tự như kỳ thi tự luận, nhưng có một số điểm khác biệt trong việc phát đề và thu bài.
Bài thi trắc nghiệm sẽ được chấm tự động bằng máy quét quang học chuyên dụng, sử dụng phấn mềm để chấm thi Mỗi máy có khả năng chấm từ 5.000 đến 10.000 bài thi trong vòng một giờ.
Quy định về cách li, giám sát, bảo mật trong khâu chấm thi trắc nghiệm được thực hiện gống như quy định đối với chấm thi tự luận
2 Hướng dẫn học sinh làm bài trắc nghiệm khách quan
2.1 Một số lưu ý đối với giáo viên
Trong những năm tới, việc áp dụng trắc nghiệm khách quan sẽ trở nên phổ biến ở mọi cấp học, vì vậy giáo viên cần giúp học sinh làm quen với kỹ năng thi cử này Để hạn chế sai sót khi làm bài, cần cung cấp hướng dẫn rõ ràng trên phiếu làm bài cho thí sinh Trước kỳ thi, giáo viên nên hướng dẫn cụ thể về cách thức và kinh nghiệm làm bài trắc nghiệm để học sinh nắm vững những điều cần lưu ý.
+ Đọc và tuân theo các chỉ dẫn trên tờ Phiếu làm bài
PHIẾU LÀM BÀI TRẮC NGHIỆM MCQ
Họ và tên: Môn học:
Số báo danh: Ngày thi: / / 200 Lớp:
Trường: Số phách Đề: Số phách
1 Trên phiếu làm bài: Yêu cầu ghi đầy đủ Họ tên, Số BD, Lớp, Phòng thi
2 Không đánh bất kỳ dấu nào vào Đề thi và phải nộp lại cùng với Phiếu làm bài sau khi làm xong
3 Đề thi có 40 câu MCQ với 4 phương án lựa chọn Thời gian làm bài: 40 phút
4 Cách trả lời: Với mỗi câu hỏi có 4 phương án chọn A, B, C, D, bạn chỉ được phép chọn một phương án cho là đúng hoặc đúng nhất và tô đen ký tự đó ở Bảng trả lời bên dưới Nếu muốn chọn phương án khác, hãy đánh dấu chéo (X) rồi chọn lại
Khi tô các ô tròn, hãy sử dụng bút chì đen mềm (2B đến 6B) và tô kín thật đậm để máy chấm có thể nhận diện chính xác Độ đậm cần tương đương với các vạch bên mép tờ phiếu.
+ Khi điền các dữ liệu, thí sinh tô đúng ô tròn tương ứng với chữ cái hoặc con số đã ghi trên đầu mỗi cột
Nếu thí sinh tô nhầm hoặc cần thay đổi câu trả lời, hãy sử dụng tẩy để làm sạch ô cũ và tô kín ô mới Lưu ý rằng nếu ô cũ không được tẩy sạch, máy chấm điểm sẽ ghi nhận có hai ô được tô đen và câu trả lời đó sẽ không được chấm điểm.
Nếu thí sinh ghi đáp án trực tiếp trên đề thi hoặc giấy nháp mà không điền vào Phiếu trả lời, toàn bộ bài làm sẽ không được chấm điểm.
Mặc dù được giáo viên hướng dẫn tận tình, nhiều học sinh vẫn gặp phải những sai sót không đáng có trong quá trình làm bài Do đó, việc giáo viên thường xuyên nhắc nhở và hướng dẫn là vô cùng cần thiết và luôn có giá trị.
2.2 Những điều giáo viên sẽ phải nói với học trò của mình
- V ớ i bài ki ể m tra tr ắ c nghi ệ m nói chung