Với tâm niệm là làm thế nào để giúp học sinh lớp 5 viết đợc bài văn hay, làm thế nào để giúp các em phát hiện, chữa lỗi qua tiết Tập làm văn “ Trả bài viết”.. Tôi đã tiến hành nghiên cứu
Trang 1A Đặt vấn đề
Từ năm 2000 toàn ngành giáo dục chúng ta thực hiện chơng trình tiểu học
mới Với sách giáo khoa và chơng trình tiểu học mới này, tất cả giáo viên tiểu học
đều khẳng định : Chơng trình mới giáo viên dễ dạy hơn, học sinh dễ tiếp cận hơn và
đặc biệt kết quả học tập đợc nâng lên rõ rệt.Từ khi thay sách đến nay đã đợc gần 10
năm đối với toàn bậc tiểu học Từ đó đến nay, tôi đều đợc phân công giảng dạy lớp
5, nh vậy đã gần 5 năm Qua những năm dạy học theo chơng trình mới tôi thấy sự
đổi mới về nội dung và phơng pháp dạy học rất phù hợp với học sinh tiểu học, càng
nghiên cứu tôi thấy chơng trình rất hay, đặc biệt là đối với phân môn Tiếng
Việt.Tiếng Việt là môn học gồm nhiều phân môn và chiếm nhiều thời gian học tập ở
bậc tiểu học nói chung và lớp 5 nói riêng Trong tiếng Việt, phân môn Tập làm văn
đ-ợc nhìn nhận với tầm quan trọng đặc biệt vì nó mang tính thực hành cao Để có sản
phẩm là một bài văn, học sinh cần phải qua nhiều tiết học từ xây dựng bố cục, lập
dàn bài rồi mới đến tiết kiểm tra viết Nh vậy tiết “Trả bài viết” là tiết sau cùng nhng
thiết thực nhất, cụ thể nhất để các em thấy đợc u điểm, nhợc điểm bài viết của mình,
của bạn và trao đổi học hỏi lẫn nhau, tìm cách và biết sửa sai cùng tiến bộ Mặt khác,
đây cũng là sự kiểm tra lại quá trình dạy môn tiếng Việt nói chung và phân môn Tập
làm văn nói riêng
Thực tế dạy học từ trớc đến nay cho thấy giáo viên dành sự quan tâm cha thích
đáng đến tiết dạy “Trả bài viết” theo đúng yêu cầu, cũng nh không có mấy học sinh ý
thức đợc qua tiết học đó các em học đợc gì Với giáo viên, tiết học trôi qua một cách
nhẹ nhàng nh vốn nó phải có, thậm chí có giáo viên còn tranh thủ sử dụng tiết học
này để dạy toán hoặc các môn học khác Với học sinh, qua tiết học các em chỉ trông
mong biết điểm bài viết Nh vậy, dạy cha tốt, học cha thông thì thử hỏi làm sao mang
lại hiệu quả, chất lợng đợc Hệ quả là học sinh tiếp tục làm văn cha tốt, lỗi về từ, câu,
diễn đạt còn đầy rẫy trong các bài làm tiếp theo Với cách dạy nêu trên thì đó là điều
không thể tránh khỏi
Đứng trớc thực trạng đó, không chỉ tôi mà nhiều giáo viên tâm huyết với nghề,
đặc biệt là những giáo viên yêu mến, say mê phân môn Tiếng Việt cảm thấy trăn trở
Với tâm niệm là làm thế nào để giúp học sinh lớp 5 viết đợc bài văn hay, làm thế nào
để giúp các em phát hiện, chữa lỗi qua tiết Tập làm văn “ Trả bài viết” Điều ấy đã
thôi thúc tôi tìm tòi nghiên cứu những biện pháp giảng dạy hữu hiệu để năng cao
chất lợng môn tập làm văn Tôi đã tiến hành nghiên cứu, tìm tòi để làm sao qua tiết
tập làm văn trả bài giúp học sinh có thêm nhiều kinh nghiệm và học đợc nhiều hơn từ
bài của các bạn mình, để làm sao chất lợng bài viết của các em đợc nâng lên rõ rệt
Sau 5 năm nghiên cứu, đến hôm nay tôi đã rút ra cho mình và muốn chia sẻ cùng
đồng nghiệp những kinh nghiệm nhỏ Qua đề tài này, tôi xin đợc trình bày một số
kinh nghiệm của mình để giúp học sinh lớp 5 phát hiện, chữa lỗi qua tiết Tập làm văn
“ Trả bài viết”
B Nội dung
I Phân tích thực trạng
1 Thực trạng việc dạy :
Trong phân phối chơng trình Tập làm văn lớp 5 có tất cả 9 tiết trả bài Cụ thể:
- Tuần 5: Trả bài văn tả cảnh
- Tuần 11 : Trả bài văn tả cảnh
- Tuần 17: Trả bài văn tả ngời
- Tuần 21 : Trả bài văn tả ngời
- Tuần 23: Trả bài văn kể chuyện
Trang 2
- Tuần 29: Trả bài văn tả cây cối.
- Tuần 32: Trả bài văn tả con vật
- Tuần 34: Trả bài văn tả ngời
Thực tế dạy học cho thấy rằng, đại đa số giáo viên cha chú tâm mấy đến tiết “ Trả
bài viết”, có chăng là chấm bài, cho học sinh biết điểm, nhắc nhở chung chung đại
khái cho xong tiết Quy trình của một tiết Tập làm văn trả bài thờng tiến hành nh sau:
- Giáo viên ghi đề bài Tập làm văn( Trả bài viết) lên bảng
- Nêu lại ý trọng tâm của đề bài
- Nhận xét chung chung bài làm của học sinh
- Đọc một bài văn hay nhất ( 8 - 9 điểm) của học sinh làm ( nếu có )
- Trả bài học sinh
Có một số giáo viên đầu t hơn cho tiết dạy bằng cách chấm bài học sinh xong,
gạch chân lỗi chính tả để các em nhận thấy rồi yêu cầu các em tự sửa lỗi vào vở bài
tập Những học sinh không có lỗi thì xem lỗi của các bạn bên cạnh để chữa lỗi
2 Thực trạng việc học:
- Học sinh hào hứng thực sự khi đến giờ trả bài để các em muốn biết điểm bài văn
Nhng để học sinh tự giác phát hiện lỗi và chữa lỗi có trong bài thì hết sức khó khăn
- Đa số học sinh biết sức thụ động trong tiết học chữa bài ( kể cả học sinh khá, giỏi),
đơn giản là nhận vở để biết là mình đạt mấy điểm Hầu nh các em không tự phát hiện
ra những lỗi, cha biết cách chữa những lỗi mà mình đã mắc phải ở trong bài viết
Chính vì thế mà sau này , khi viết lại bài văn đó, các em vẫn mắc những lỗi mà các
em đã từng viết ở bài trớc
Những lỗi phổ biến học sinh thờng mắc phải trong bài văn thờng là:
+ Dùng từ cha đúng âm, viết sai chính tả
+ Dùng từ cha đúng nghĩa
+ Cha biết dùng dấu câu đúng chỗ hoặc dùng sai dấu câu
+Câu thiếu các thành phần chính ( chủ ngữ, vị ngữ)
+ ý bài nghèo nàn thiếu hình ảnh
+ Cha biết cách viết câu hội thoại
+ Sắp xếp ý một cách lộn xộn
+ Cha biết cách viết đoạn vv
Nguyên nhân khách quan là tiết “ Trả bài viết” khó về cả lí thuyết thực tiễn Mặt
khác, nhiều giáo viên lại tỏ ra chủ quan, cha nhận ra hoặc không muốn nhận thức
đầy đủ về tầm quan trọng đặc biệt của tiết học “ Chữa bài” này Cần nhận thức rằng:
Tiết “ Trả bài viết” là tiết “chữa bài” tức là tiết học giúp các em biết đợc cái đúng, cái
sai của mình để sửa chữa, khắc phục.Từ đó giúp học sinh xoá đi t tởng mặc cảm, tự ti
“ văn mình yếu , dở” nên buông xuôi, thụ động trong giờ học
3 Nguyên nhân của những tồn tại:
Nguyên nhân khách quan là tiết “ Trả bài viết” khó về cả lí thuyết thực tiễn Mặt
khác, nhiều giáo viên lại tỏ ra chủ quan, cha nhận ra hoặc không muốn nhận thức
đầy đủ về tầm quan trọng đặc biệt của tiết học “ Chữa bài” này Cần nhận thức rằng:
Tiết “ Trả bài viết” là tiết “chữa bài” tức là tiết học giúp các em biết đợc cái đúng, cái
sai của mình để sửa chữa, khắc phục.Từ đó giúp học sinh xoá đi t tởng mặc cảm, tự ti
“ văn mình yếu , dở” nên buông xuôi, thụ động trong giờ học.Những nguyờn nhõn
trờn đó ảnh hưởng khụng tốt tới chất lượng giờ dạy, khụng gõy hứng thỳ học tập cho
học sinh
Giáo viên : Nguyễn Thu Hà
Trang 3
II biện pháp thực hiện
1 B ớc chuẩn bị của giáo viên :
Trớc hết giáo viên cần phải đầu t thời gian thích đáng đến việc chấm bài cho học
sinh Việc chấm kĩ, cẩn trọng sẽ giúp giáo viên phát hiện ra những u điểm của bài
văn: Các em viết bài giàu hình ảnh, cảm xúc, bố cục chặt chẽ, có sự liên kết tốt, dùng
từ sáng tạo đồng thời nắm chắc lỗi phổ biến mà các em mắc phải: dùng từ cha
chính xác, viết sai lỗi chính tả, ý nghèo nàn, câu văn cha đợc hoàn chỉnh (thiếu, thừa
chủ ngữ vị ngữ), cha rõ nghĩa, lặp từ, diễn đạt lủng củng
Tất cả những u, khuyết điểm đó cần ghi cụ thể ( lỗi, đối tợng học sinh) để làm cơ
sở cho việc chữa bài
- Trong quá trình chấm bài,chọn ra một số bài tiêu biểu nhất của lớp hoặc bài của
các em học sinh giỏi các năm trớc( cùng đề bài) để cho học sinh tham khảo
- Chuẩn bị một số bài tập có liên quan
- Sử dụng phơng pháp dạy học nêu vấn đề kết hợp giảng dạy để tiến hành giờ học
2 Các b ớc tiến hành dạy - học :
B
ớc 1 :Xác định trọng tâm đề bài (thể loại, ý chính).Thông thờng giáo viên có thể đặt
câu hỏi:
- Bài văn thuộc thể loại nào?
- Trọng tâm miêu tả( kể) của bài là gì?
Nội dung này có thể đã làm trong các tiết học trớc (lập dàn ý, lập dàn bài chi tiết),
song đây là một bớc quan trọng nên giáo viên phải nhắc lại, không thể bỏ qua
B
ớc 2 : Nhận xét chung u nhợc điểm bài làm của học sinh Nêu số bài đợc xếp loại:
Giỏi, Khá, Trung bình,Yếu để khi trả bài các em tự hình dung, đánh giá mình thuộc
loại nào để có hớng rèn luyện tiếp
B
ớc 3 : Phân tích, sữa chữa lỗi
Đây là khâu quan trọng hàng đầu trong tiết dạy Học sinh có nhận ra đợc cái sai, cái
cha đúng, cha hay, có tìm đợc cách sửa chữa hợp lý không chính là ở khâu này.Vì
vậy,với nội dung này có sự đòi hỏi cao đối với ngời giáo viên về nhiều mặt trong đó
không chỉ về mặt chuyên môn nghiệp vụ mà còn cả kiến thức văn hoá, vốn kiến thức
Tiếng Việt và đặc biệt là năng lực s phạm (thông qua hệ thống câu hỏi dẫn dắt, gợi
mở, xử lí tình huống s phạm) giúp học sinh tự phát hiện và cùng nhau tìm cách sửa
chữa đúng
ở bớc này giáo viên cần hớng dẫn học sinh chữa lỗi từ đơn giản đến phức tạp.Có thể
chia thành các nội dung cần chữa lỗi nh sau:
2.1 Chữa lỗi về dùng từ:
Từ là đơn vị ngữ pháp nhỏ nhất có ý nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định.Nó đợc
dùng để đặt câu Vì vậy khi nói đến việc rèn kĩ năng nói và viết cho học sinh giáo
viên cần tìm hiểu cách dùng từ đúng và dùng từ hayđể làm căn cứ sữa lỗi cho học
sinh một cách chính xác.ở nội dung này ta có thể chia thành các dạng nhỏ nh sau:
dạNG 1: Dùng từ cha đúng âm
* Biểu hiện :Biểu hiện của việc dùng từ cha đúng âm rõ nét nhất là việc học sinh
viết sai chính tả Việc viết sai chính tả có thể gặp ở đại đa số học sinh Thiết nghĩ,
một tiết học chính tả giáo viên đã hớng dẫn học sinh viết các từ ngữ khó, sau đó đọc
cho các em viết bài nhng các em viết còn sai Vì vậy trong gần 40 phút của tiết tập
làm văn, các em phải viết ít nhất 20 dòng nên việc viết sai chính tả là không thể tránh
khỏi
Những lỗi chính tả các em hay sai nhất là ?/ ~ ; d/g; s/x, inh/ in, ong/ ông…
* Cách khắc phục:
Để khắc phục lỗi về chính tả không thể làm trong ngày một, ngày hai và không chỉ
thực hiện trong tiết Tập làm văn mà phải có ý thức hớng dẫn các em nói, viết đúng
chíng tả trong tất cả các tiết học khác cũng nh trong giao tiếp hằng ngày Giáo viên
Trang 4
không nói tắt, không thay đổi trật tự các từ trong từ ghép hoặc cụm từ Việc làm đó
sẽ giúp các em hạn chế đợc phần nào lỗi chính tả Tuy nhiên, nh đã nói ở trên, đây
phải là một quá trình rèn luyện cần mẫn của cả thầy lẫn trò trong suốt những năm
Tiểu học
Dạng 2: dùng từ cha đúng nghĩa
* Biểu hiện :
Việc học sinh dùng từ không rõ nghĩa hoặc dùng từ mờ nghĩa là tình trạng phổ biến
đối với học sinh đại trà
Trớc hết giáo viên đa câu văn, học sinh dùng từ cha chính xác Cho học sinh đọc câu
và nhận xét Chẳng hạn: Khi miêu tả ngời bà( Đề bài: Tả một ngời mà em rất kính
yêu) có học sinh viết: “ Bà em có đôi mắt rất hiền lành”
Hớng dẫn học sinh sửa:
Giáo viên không vội khẳng định từ dùng thiếu chính xác mà dùng câu hỏi gợi ý để
học sinh tự phát hiện từ “ hiền lành” dùng cha chính xác vì “ hiền lành” là tính từ nói
về tính tình của ngời hoặc vật nói chung Còn ở đây tả đôi mắt của ngời bà Từ đó
h-ớng dẫn học sinh tìm từ khác thay thế thích hợp hơn Có thể là từ “ hiền từ” Viết lại
câu: “ Bà em có đôi mắt hiền từ”
Hoặc với đề tài tả con vật em yêu thích có học sinh tả con gà trống nh sau: “ Chú gà
trống nhà em vỗ cánh lạch bạch” Xét về ngữ pháp, câu này không hề sai Xét về
nghĩa thì cha ổn Từ “ lạch bạch” là từ tợng thanh dùng để miêu tả âm thanh ( đi,
chạy) nặng nề, chậm chạp và gây tiếng động mạnh Từ này cha toát lên vẻ oai vệ của
chú gà trống qua việc vỗ cánh
Giáo viên gợi mở, giúp học sinh tìm đợc từ thay thế, đó là từ “ phành phạch”, vừa
gợi tả âm thanh vừa gợi cho ta thấy hình ảnh đôi cánh chú gà trống vừa mạnh, vừa
khỏe
Viết lại câu: Chú gà trống vỗ cánh phành phạch
* Cách khắc phục: Để khắc phục lỗi này, giáo viên cần nhắc nhở, rèn luyện cho học
sinh học tập phân môn Luyện từ và câu trong chơng trình bậc Tiểu học Phải sử dụng
thờng xuyên từ điển để rèn luyện kĩ năng dùng từ Chú ý và phân biệt cho đợc nét
khác biệt trong ngữ nghĩa của những từ đồng nghĩa tơng đối Tránh lối đoán mò, hiểu
từ lờ mờ
Dạng 3: Lỗi dùng từ lặp
*Biểu hiện: Trong các bài tập làm văn của học sinh, có khi trong một câu các em
dùng đi dùng lại một từ thừa, không cần thiết có thể bỏ đi Điều đó khiến câu văn
r-ờm rà và nặng nề Trong đoạn văn thì liên tục dùng từ hoặc cụm từ lặp
Ví dụ 1: Nó cứ đứng tần ngần mãi hồi lâu rồi nó bỏ đi
Ví dụ 2: Bà em có dáng ngời không cao lắm Bà em có mái tóc bạc trắng nh cớc
trông giống các bà tiên Mắt của bà em nay đã mờ hay chảy nớc mắt nên xâu kim
không đợc nữa Miệng của bà móm mém Da của bà nhăn nheo, có những chấm đồi
mồi
Việc lặp lại từ “ nó” 2 lần trong một câu ở ví dụ 1 và các cụm từ “ da của bà” “ mắt
của bà” “ Miệng của bà” là hiện tợng thờng bắt gặp ở học sinh trung bình.
* Cách khắc phục:
Yêu cầu học sinh không nên dùng từ lặp nếu không có ý định nhấn mạnh hay khắc
sâu một ý nào đó Hớng dẫn học sinh dùng các từ đồng nghĩa, đại từ để thay nhằm
tránh lặp và giúp các câu văn diễn đạt sinh động, mạch lạc và liên kết chặt chẽ hơn
ở ví dụ 1, có thể bỏ từ “ nó” thứ 2 ở ví dụ 2 có thể thay đổi nh sau:
Ngời bà em không cao lắm Mái tóc của bà bạc trắng nh cớc, trông bà hiền từ chẳng
khác nào bà tiên ẩn dới hàng lông mày bạc trắng là đôi mắt nheo nheo, mờ mờ Đôi
mắt ấy mối khi nhìn em lại ánh lên những tia ấm áp lạ thờng Răng bà đã rụng mấy
chiếc nên hai má bà hóp vào, miệng lúc nào cũng móm mém Em thích áp hai bàn
Giáo viên : Nguyễn Thu Hà
Trang 5
tay của bà vào má Da tay, da mặt nhăn nheo, lại nổi lên những chấm đồi mồi Mẹ
bảo: Ngời già mà có đồi mồi nh thế là thọ lắm đấy
Dạng 4: lỗi dùng từ địa phơng.
Biểu hiện: Rất nhiều học sinh tiểu học, do chịu ảnh hởng đặc điểm phơng ngữ của
miền Trung nên nói thế nào thì các em viết vậy
Ví dụ: Bé Na đang đi bỗng bổ oạch xuống nền nhà
Cách khắc phục: Điều quan trọng trớc tiên là khi dạy học, giáo viên cần thật chuẩn
khi sử dụng từ ngữ Đặc biệt giáo vien không dùng từ địa phơng khi giảng bài, điền
đó sẽ tạo cho học sinh thói quen sử dụng từ địa phơng khi dùng Mặt khác, giáo viên
yêu cầu học sinh cũng nói, viết bằng từ phổ thông
2.2.Chữa lỗi câu: Lỗi về câu có rất nhiều dạng song khi chữa giáo viên không thể
chữa dàn trải vì thời gian có hạn Cần chọn từng loại sai để có cách chữa phù hợp Có
2 dạng lỗi câu cơ bản nh sau:
Dạng 1: Lỗi không dùng dấu câu:
*Biểu hiện: Đó là những câu sai do học sinh không dùng dấu câu ở những chỗ
cần thiết Thờng học sinh mắc lỗi do không sử dụng dấu chấm kết thúc câu và dấu
phẩy ngăn cách chỉ thành phần câu Thực tế dạy học cho thấy có những bài các
em chỉ sử dụng 3 dấu câu và phần kết của mở bài, thân bài, kết bài Thậm chí có
em không dùng dấu câu nào suốt cả bài văn
Ví dụ: Chú gà trống chiếc áo đỏ tía pha lẫn đen tuyền trông thật đẹp cái đầu của
chú nhỏ nh trái banh nổi bật nhất là chiếc mào đỏ chót nh cái vơng miện trông
thật oách.
Việc học sinh không sử dụng dấu câu khiến cho ngời đọc khó nắm bắt đợc nội
dung các em cần truyền đạt, thậm chí có những trờng hợp không xác định đợc ý
hoặc hiểu sai ý các em muốn diễn đạt
* Cách chữa lỗi: Cách chữa lỗi này là hớng dẫn học sinh phân tích cấu trúc, tách
đoạn thành câu và điền dấu chấm rồi viết hoa cho đúng Ngoài ra, học sinh thờng
bỏ không dùng các dấu phẩy( dấu chấm phẩy) ngăn cách các vế câu trong câu
ghép đẳng lập, ngăn cách các bộ phận cùng loại
Ví dụ: Chiếc bút chì của em dài bằng hai ngón tay to nh chiếc đũa
Khi chữa lỗi này, giáo viên cần hớng dẫn cho học sinh biết cách thêm các dấu
phẩy( dấu chấm phẩy) vào chỗ cần thiết
Dạng 2: Lỗi sử dụng dấu câu sai:
* Biểu hiện: Học sinh dấu ngắt câu khi cha đủ ý, dùng dấu phẩy để ngăn cách
chủ vị; phổ biến nhất trong loại lỗi này là các câu đợc dùng dấu chấm tùy tiện khi
cha hết ý, cắt đôi câu ra một cách vô lí
Ví dụ:
- Buổi sáng, khi mặt trời vừa hé mây nhìn xuống trên những cành cây ngọn cỏ
Những giọt sơng long lanh nh những hạt ngọc
- Chiếc cặp ấy to Hình chữ nhật vuông vắn
* Cách khắc phục : Giáo viên hớng dẫn cho học sinh đọc lại mỗi câu xem đã đủ
ý cha, xác định câu sao cho đủ ý để ngời đọc có thể hiểu đợc nội dung câu đó
Sau đó học sinh sẽ tự sửa lỗi bằng cách thay dấu chấm bằng dấu phẩy ở các câu
trên
Ngoài ra học sinh còn mắc các lỗi dùng dấu câu khác mà chúng ta có thể hình
dung qua các ví dụ:
- Quê hơng em, có rất nhiều dừa
- Mẹ của em, là ngời rất thơng con
- Em khoe mẹ, một điểm mời đỏ rực
- Trăng đã lên: Em thấy hôm đó trăng rất sáng
- Tôi cũng không biết nên làm thế nào? Dê trắng tìm mãi không thấy bạn ở
Trang 6
Với các lỗi này, giáo viên giúp học sinh nắm vững quy tắc là không dùng dấu
phẩy ngăn cách thành câu chủ vị trong câu, ngăn cách động từ với bổ ngữ, không
đợc dùng dấu hai chấm ngăn cách hai vế khi vế nọ không có ý giải thích cho vế
kia và cũng không đợc dùng dấu chấm hỏi khi kết thúc câu không phải là câu hỏi
Trong quá trình chấm, chữa bài cho học sinh, chúng ta còn gặp trờng hợp học
sinh muốn truyền đạt lời nói của ngời khác theo hình thức gián tiếp, nhất là đối
với những câu cầu khiến, câu cảm thán, câu hỏi học sinh thờng mắc lỗi về chuyển
đổi câu và dấu: Học sinh dùng dấu chấm than và dấu hỏi sau câu cầu khiến, câu
cảm thán, câu hỏi gián tiếp
Ví dụ: - Bà bảo cháu hát đi!
- Mẹ tôi hỏi tôi có thích đi xem phim không?
Học sinh mắc lỗi này là do các em cha đợc học hoặc không nắm vững đợc quy tắc
chuyển đổi câu từ lời nói trực tiếp sang lời nói gián tiếp Để chữa đợc lỗi này, giáo
viên cần hớng dẫn học sinh thực hiện quy tắc: Khi muốn truyền đạt lời nói của
ngời khác bằng lời nói của mình, gặp những câu hỏi, câu cầu khiến, câu cảm thán
thì cần phải chuyển đổi những câu đó thành câu kể và dùng dấu chấm câu để kết
thúc
Dạng 3: Lỗi viết câu què, câu cụt.
* Biểu hiện:
Trờng hợp này ta hay bắt gặp ở học sinh trung bình, học sinh khá thỉnh thoảng
vẫn bắt gặp Các em viết câu mà trong câu đó thiếu hẳn một trong hai bộ phận
chính hoặc thiếu các bộ phận phụ khiến câu không rõ ý Cũng có khi câu của
em chỉ mới có bộ phận TN
Ví dụ:
- Khi tôi đang lúi húi dọn dẹp lại đống sách vở mà tôi đã học hồi lớp một ( chỉ
có TN)
- Chiếc áo xinh xắn mà tôi thờng mặc vào những ngày mùa đông giá rét ( thiếu
VN)
* Cách chữa lỗi:
Trớc hết hớng dẫn học sinh xác định đúng các bộ phận đã có trong các câu các em
vừa viết, thiếu bộ phận nào thì bổ sung bộ phận đó.Chẳng hạn:
- Khi tôi đang lúi húi dọn dẹp lại đống sách vở mà tôi đã học hồi lớp một, một cái
ảnh bỗng rơi xuống nền.Tôi nhặt lên xem.Thì ra đó là bức ảnh lớp 11 chúng tôi chụp
cùng với cô Thái ngày tổng kết
- Chiếc áo xinh xắn mà tôi thờng mặc vào những ngày mùa đông giá rét do chính
bàn tay của bà đan tặng tôi
3 Chữa lỗi về đoạn:
Khi viết một đoạn văn mà sai chính tả, sai từ ngữ, sai câu và dấu câu thì đoạn văn
đó dù tổ chức tốt đến mấy cũng mất hiệu lực biểu đạt Tuy nhiên để viết đợc một
đoạn văn chuẩn mực Tuy nhiên cần biết tránh các lỗi thờng gặp về đoạn văn Vì vậy
mỗi giáo viên chúng ta cần nắm đợc các lỗi và cách khắc phục lỗi đó trong tổ chức
đoạn từ đó giúp học sinh học văn ngày càng tốt hơn
Trong thực tế, lỗi đoạn văn rất đa dạng muôn hình, muôn vẻ, có thể nêu ra một số lỗi
cơ bản sau mà học sinh thờng mắc phải
Đoạn văn triển khai lạc chủ đề:
* Biểu hiện lỗi: Mỗi đoạn văn thờng làm sáng tỏ một chủ đề nhất định.Vì vậy, tất cả
các câu trong đoạn văn cần hớng vào mục đích chung là biểu hiện kiểu chủ đề đó
Trong đoạn văn có câu mở đoạn, các câu khác phải góp phần làm sáng tỏ ý khái quát
đợc diễn đạt trong câu chủ đề đó( phần phát triển đoạn) và câu kết đoạn Hiện tợng
câu chủ đề và các câu triển khai “ quay lng” vào nhau, tức là các câu triển khai
không hớng vào câu chủ đề để làm sáng tỏ nội dung của nó tạo nên lỗi đoạn văn
Giáo viên : Nguyễn Thu Hà
Trang 7
Ví dụ: Khi yêu cầu tả cảnh đẹp con sông quê em, một học sinh viết: “ Con sông quê
em rất đẹp Buổi sáng nớc sông trong vắt Buổi chiều ánh nắng mặt trời dọi xuống
làm cho mặt sông lấp lánh ánh vàng Bầu trời cao trong xanh không một gợn mây
Tiếng chim hót líu lo trong các vòm cây Em sớng vui và yêu quê hơng mình biết
mấy.”
Đoạn văn trên, có câu 1, 2, 3 nội dung hớng vào đề bài “ tả con sông” nhng các câu
4, 5, 6 lại lạc đề
*Cách khắc phục: Có thể xử lí theo 2 cách, nhng dù cách nào cũng phải đặt nội
dung đoạn văn vào yêu cầu của đề bài
Cách 1: Nếu câu chủ đề thể hiện ý phù hợp nội dung yêu cầu của đề bài thì giữ lại
câu chủ đề Yêu cầu học sinh viết lại ( hoặc chữa lại) các câu triển khai ( lạc đề) để
làm sáng rõ câu chủ đề
Cách 2: Nếu câu chủ đề không phù hợp với ý của bài văn, yêu cầu học sinh thay đổi
chủ đề khác cho phù hợp
ở ví dụ trên: Yêu cầu học sinh sửa lại các câu văn 4, 5, 6
Tóm lại, trong bước phõn tớch sửa chữa lỗi, GV thực hiện theo tiến trỡnh sau:
- GV chọn từ , cõu sai để sửa chữa( cú thể ghi ở bảng phụ)
- Gọi một số học sinh đọc to, lớp đọc thầm ,suy nghĩ để tỡm chỗ sai
- Giỏo viờn dựng hệ thống cõu hỏi gợi mở
+ Học sinh làm việc theo nhúm ( cặp, cỏ nhõn)
+ Học sinh tự phỏt hiện ra lỗi và tỡm cỏch sửa được lỗi
- Giỏo viờn nhận xột biểu dương sự tiến bộ của cỏc em là chớnh
Bư ớc 4: Bước củng cố:
- Giỏo viờn đọc những cõu văn hay, sỏng tạo, mở bài hoặc kết bài hay, độc
đỏo
- Giỏo viờn đọc một vài bài văn hay cho cả lớp nghe cựng cảm thụ ( cú thể do
chớnh học sinh đọc)
Lưu ý chung trong quỏ trỡnh phõn tớch, chữa lỗi:
- Định hướng dẫn dắt bằng hệ thống cõu hỏi phự hợp, sỏt đối tượng học sinh
( chỳ trọng học sinh trung bỡnh, yếu), giỳp cỏc em tự phỏt hiện lỗi và tỡm được cỏch
chữa lỗi
- Cú thể chữa bằng nhiều cỏch
- Trỏnh ỏp đặt khiờn cưỡng, nờn biểu dương, động viờn khớch lệ sự tỡm tũi,
sỏng tạo của học sinh là chớnh Cú như thế mới khơi gợi được sự hứng thỳ học tập và
trỏnh tõm lý mặc cảm, tự ti là học kộm của học sinh
* Một số bài tập sử dụng trong tiết trả bài viết:
I Với tiết trả bài tập làm văn: Tả một người thõn của em
1.Gạch chõn từ ngữ dựng sai trong cỏc cõu văn sau và chộp lại cõu văn khi đó dựng
từ đỳng đó thay thế:
a Tuy đó ngoài tỏm mươi tuổi nhưng mắt bà vẫn cũn minh mẫn
b Bà thường vừa tỏm tẻm nhai trầu vừa kể chuyện cổ tớch cho em nghe
Trang 8
c Tuy ụng đó bảy mươi tuổi nhưng túc vẫn chưa bạc hết
d Anh trai của em trụng rất rắn rỏi bởi nước da hăm đen
2 Sửa lại cỏc hỡnh ảnh dựng để so sỏnh trong cỏc cõu văn sau cho hợp lý:
a Khuụn mặt cụ đầy dặn như trăng rằm
b Chị cú nước da ngăm ngăm như mật ong
c Giọng núi của bố trầm bổng như tiếng chuụng đồng hồ
d Khi bộ Lan chạy lon ton, đựi bộ nỳng nớnh như mụng lợn
e Hai cỏi tai của ụng em to như tai con lợn
3 Phỏt hiện lỗi sai trong cỏc cõu sau rồi sửa theo nhiều cỏch khỏc nhau:
a Tuy bà hơi bộo nhưng đổi lại bà lại cao , thanh mảnh
b Sống mũi mẹ cao và thẳng Cộng với làn da trắng trẻo làm tụn thờm vẻ thanh tỳ
cho khuụn mặt
c Với tất cả tỡnh yờu thương nồng ấm mẹ dành cho chỳng em
d Bộ gọi ụng ơi rồi lại nội ơi
II Với tiết trả bài tập làm văn: Tả một người đang làm
1 Khoanh trũn chữ cỏi trước từ thớch hợp cú thể điền vào chỗ chấm trong cõu sau:
a Anh Thành là tổ trưởng nờn anh thường… cụng việc đụn đốc mọi người
A Đảm nhiệm
B trỏch nhiệm
C Đảo nhiệm
b Ngày nào mẹ cũng ra cỏnh đồng để…
A Gặt lỳa
B Làm cỏ
C Làm việc
2 Từ nào dựng sai trong cỏc cõu sau, hóy tỡm từ thay thế cho hợp nghĩa
a Cụ Lan cựng cỏc cụ bỏc lao cụng thỡ thầm làm cho đường phố sạch sẽ hơn
b Cày xong nửa ruộng, mặt bỏc An nhễ nhại mồ hụi, quần ỏo lấm ba lấm bết
c Ngoỏng cỏi, chị Cỳc đó lựa được mấy khúm lỳa
3 Cựng đọc, cựng trao đổi với bạn để phỏt hiện những lỗi trong đoạn văn sau và sửa
lại:
Mẹ đang ngồi trờn giường để cắt ỏo Mắt mẹ sỏng quắc như đốn pha ụ tụ để rọi
thẳng vào mảnh vải Một tay mẹ cầm thước, một tay mẹ cầm phấn kẻ vẽ liờn tục,
nhịp nhàng
III.Kết quả thực hiện
5 năm học vừa qua tôi cũng đều dạy lớp 5, vì vậy có điều kiện để nghiên cứu
về đề tài này Không những thế tôi đã nung nấu và tâm huyết với đề tài này từ khi đ
-ợc phân công dạy lớp 4, 5( tính đến nay đã gần 10 năm) Xuất phát từ mục đích là
làm thế nào để học sinh phát hiện, chữa lỗi trong bài làm của mình, từ đó giúp các
em viết đúng, viết hay bài văn, tôi đã định ra hớng đi cho mình và bớc đầu đem lại
kết quả khả quan Thực tế chất lợng qua các lần kiểm tra, khảo sát đầu năm và 3 lần
kiểm tra định kì cho thấy hớng chuyển biến tốt của học sinh Từ chỗ nhiều học sinh
còn xác định sai trọng tâm bài làm, bài lạc chủ đề, lỗi đoạn; câu, từ còn rất nhiều ở
Giáo viên : Nguyễn Thu Hà
Trang 9
học sinh vào thời gian đầu năm, thì đến nay qua đợt kiểm tra định kì lần 3 chất lợng
bài làm đạt kết quả tốt hơn Kết quả thi học kì I vừa qua lớp tôi chủ nhiệm đạt kết
quả rất cao, cụ thể: Môn Tiếng Việt có 23 em đạt điểm giỏi (79,3%), khá 6 em đạt
20,7 %, không có học sinh có điểm trung bình và yếu
Ngoài ra tôi còn áp dụng những kinh nghiệm này để bồi dỡng học sinh giỏi
Tiếng Việt lớp 5 đối với học sinh đại trà, việc giúp các em thực hiện, chữa lỗi không
thể bỏ qua, đối với học sinh giỏi thì việc làm này càng quan trọng hơn giúp học sinh
dùng từ đúng, hay gợi tả , gợi cảm, sử dụng đúng dấu câu và biết viết đoạn lôgíc,
chặt chẽ, đó là kết quả tôi đã làm đợc đối với học sinh lớp bồi dỡng Chính vì thế
trong năm học 2008- 2009 vừa qua, thành tích của đội tuyển học sinh giỏi đạt cao
nhất từ trớc đến nay; trong đó môn Tiếng Việt cả 9 em đi thi đều đạt 17/20 điểm trở
lên, đặc biệt có 4 học sinh đạt điểm tập làm văn tối đa của hội thi( 8/ 9) điều đó
khiến tôi cảm thấy vui và khẳng định mình đã đi đúng hớng
Qua việc hớng dẫn học sinh phát hiện và chữa lỗi trong phân môn Tập làm văn
nh đã nêu tôi nhận thấy:
1.Học sinh giảm hẳn việc dùng từ sai chính tả, không dùng các từ mờ nghĩa
2 Học sinh bớc đầu đã biết cân nhắcđể dùng từ hay, gợi tả gợi cảm
3 Học sinh đã biết dùng đúng dấu câu
4 Nắm chắc bố cục của đoạn, biết viết đoạn theo chủ đề cho trớc
5 Học sinh hào hứng, thích thú hơn khi đến tiết học
6 Kết quả môn học đợc nâng cao
c Bài học kinh nghiệm
1.Trớc hết, giáo viên cần phải nhận thức đúng đắn về mục tiêu của tiết " Trả bài viết"
Phải xác định việc cần làm trong mỗi tiêt trả bài, làm sao để giúp học sinh nhận ra
lỗi, sữa đợc lỗi và không mắc lại những lỗi đó Mỗi tiết Tập làm văn trả bài là mỗi
lần giúp học sinh rút cho mình đợc nhiều kinh nghiệm và học tập đợc ở bài các bạn
những điều hay để bổ sung cho bài của mình
2 Đầu t thời gian để chấm chữa và có sự nhận xét chu đáo
3 Chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt để học sinh dễ hiểu
4 Quan tâm đến mọi đối tợng học sinh: giúp học sinh TB, yếu nhận ra lỗi, sửa lỗi,
giúp học sinh giỏi dùng từ, viết câu, đoạn hay hơn
5 Phải có lòng say mê, yêu thích môn học, tâm huyết với nghề
6 Su tầm những bài văn hay qua nhiều năm để học sinh tham khảo
D Kết luận
Rõ ràng, tiết trả bài viết tập làm văn cho học sinh lớp 5 không chỉ là khâu tổng
kết, đánh giá sản phẩm mà còn giúp học sinh tự phát hiện ra những khiếm khuyết
trong bài làm của mình, của bạn biết chữa các lỗi sai và rút kinh nghiệm chi những
bài tập làm văn sau Nếu tiết tập làm văn " Trả bài viết" tiến hành tốt, phát huy tối đa
tính tích cực của học sinh thì hiệu quả sẽ rất cao; ngợc lại nếu làm qua loa, đại khái
sẽ dẫn đến kết quả là học sinh vốn đã không giỏi ngày lại càng không mấy mặn mà
với môn học này.
Trang 10Kinh nghiệm của bản thân cho thấy dù đối tợng học sinh thế nào nhng với
lòng tâm huyết của ngời thầy, nhận thức đầy đủ, đúng đắn về tầm quan trọng của tiết
học, không ngừng nâng cao chất lợng giảng dạy, luôn cải tiến phơng pháp dạy học
theo hớng lấy học sinh làm trung tâm thì chắc chắn chất lợng học sinh sẽ đạt kết quả
tốt Đối với môn Tập làm văn, nắm chắc những u, nhợc điểm của các em trong hành
văn, luôn tìm tòi hệ thống câu hỏi gợi nhớ thích hợp phát huy tích cực học sinh học
tập mạnh dạn tham gia phát biểu xây dựng bài của học sinh; đồng thời với vai trò chủ
đạo của ngời thầy, động viên tạo niềm tin, hng phấn và độc lập suy nghĩ trong quá
trình học tập của học sinh; đó là những yếu tố quyết định sự thành công của tiết dạy
" Trả bài viết " Tuy nhiên, đây chỉ là sự trải nghiệm của bản thân, kính mong sự góp
ý tận tình của quý nhà quản lí giáo dục, sự trao đổi chân tình của quý đồng nghiệp để
chúng tôi có thêm nhiều kinh nghiệm quý giá trong dạy học
Hải Đình , tháng 3 năm 2010
Giáo viên :
Nguyễn Thu Hà
Giáo viên : Nguyễn Thu Hà