bài tập học kì: đề bài........So sánh nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN với nguồn của luật quốc tế, từ đó đánh giá vai trò của nguồn bổ trợ (Luật mềm Soft law) đối với các hoạt động hợp tác của ASEAN.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP HỌC KỲ
MÔN: PHÁP LUẬT CỘNG ĐỒNG ASEAN
Học kỳ I Năm học 2020 – 2021
HỌ VÀ TÊN:
MSSV:
NHÓM 01- LỚP N10.TL2
ĐỀ BÀI: So sánh nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN với nguồn của luật
quốc tế, từ đó đánh giá vai trò của nguồn bổ trợ - (Luật mềm- Soft law) đối với các hoạt động hợp tác của ASEAN
0
Trang 2Hà Nội, ngày 09 tháng 11 năm 2020
MỤC LỤC
II So sánh nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN với nguồn của luật quốc tế 2 III Vai trò của nguồn bổ trợ đối với các hoạt động hợp tác của ASEAN 4
1
Trang 3A LỜI MỞ ĐẦU
ASEAN là một tổ chức quốc tế liên chính phủ- chủ thể của Luật quốc tế, do vậy, pháp luật Cộng đồng ASEAN cũng mang bản chất Luật quốc tế một cách rõ nét, được thể hiện thông qua đặc điểm và hệ thống nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN Bên cạnh đó, pháp luật Cộng đồng ASEAN cũng mang những nét riêng và phản ánh những nét đặc thù của pháp luật của tổ chức quốc tế liên chính phủ Để hiểu hơn về vấn đề trên, em xin phân tích và làm rõ trong bài tiểu luận dưới đây
I Khái quát chung:
Pháp luật cộng đồng ASEAN là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp
luật, do ASEAN xây dựng và ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ của Cộng đồng ASEAN, phát sinh trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị - an ninh và văn hóa
2
Trang 4– xã hội.1
Luật quốc tế là hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật, được các
quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận tạo dựng nên, trên cơ
sở tự nguyện và bình đẳng, nhằm điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa quốc gia và các chủ thể đó trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế Đó là các nguyên tắc và quy phạm áp dụng chung mà không có sự phân biệt về tính chất, hình thức hay vị thế của từng quốc gia khi thiết lập quan hệ quốc tế giữa những chủ thể này với nhau.2
Nguồn luật là những hình thức biểu hiện sự tồn tại hay chứa đựng các nguyên
tắc, quy phạm pháp luật
II So sánh nguồn của pháp luật cộng đồng ASEAN và nguồn của Luật quốc tế:
1 Điểm giống nhau giữa pháp luật cộng đồng ASEAN và Luật quốc tế:
ASEAN là tổ chức quốc tế liên chính phủ - chủ thể của pháp luật quốc tế nên nguồn của pháp luật cộng đồng ASEAN và nguồn của Luật quốc tế có rất nhiều điểm giống nhau
Nguồn của Luật quốc tế gồm 2 loại:
+ Nguồn cơ bản: điều ước quốc tế (nguồn thành văn), tập quán quốc tế (nguồn bất thành văn)
+ Nguồn bổ trợ: các phán quyết của tòa án công lý quốc tế, các nguyên tác pháp luật chung, nghị quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ, hành vi pháp lý
1 Giáo trình Pháp luật cộng đồng ASEAN, trường Đại học Luật Hà Nội, nxb CAND 2016, trang 50
2Giáo trình luật quốc tế, trường Đại học Luật Hà Nội, nxb CAND 2019, trang 8
3
Trang 5đơn phương của các quốc gia, các học thuyết của các học giả danh tiếng về luật quốc tế
Cũng như luật quốc tế, nguồn luật của ASEAN khá đa dạng song nhìn chung cũng phân chia thành hai loại là nguồn cơ bản và nguồn bổ trợ: Nguồn cơ bản là các Điều ước quốc tế được kí kết trong khuôn khổ ASEAN và các Điều ước quốc tế được kí kết giữa ASEAN với đối tác của mình Đây là nguồn luật điều chỉnh các quan hệ hợp tác nội khối và ngoại khối của ASEAN và có giá trị pháp
lý bắt buộc Tên gọi của các Điều ước này cũng được thể hiện dưới dạng Hiến chương, Hiệp ước,… như nguồn của Luật quốc tế3 Bên cạnh nguồn cơ bản, còn
có nguồn bổ trợ là các văn bản do các cơ quan có thẩm quyền của ASEAN thông qua Tương tự như nguồn bổ trợ của Luật quốc tế, loại nguồn này của pháp luật Cộng đồng ASEAN, phụ thuộc vào tính chất, nội dung và thẩm quyền, các văn bản này có thể có giá trị pháp lý ràng buộc đối với các thành viên ASEAN hoặc chỉ có tính chất khuyến nghị
2 Điểm khác nhau giữa nguồn của pháp luật Cộng đồng ASEAN với nguồn của Luật quốc tế:
Thứ nhất, nguồn của Luật quốc tế đa dạng hơn pháp luật Cộng đồng ASEAN Luật quốc tế còn có nguồn cơ bản là tập quán quốc tế còn pháp luật Cộng đồng ASEAN thì không do các quốc gia trong khu vực có tập quán, điều kiện khác nhau do đó rất khó để tất cả các quốc gia đồng ý sử dụng một tập quán nào là pháp luật có giá trị bắt buộc, ngoài ra các nguồn bổ trợ của luật Quốc tế đa dạng
3 Khuất Thị Liễu/ Nguồn của pháp luật cộng đồng ASEAN và nguồn của Luật quốc tế có những điểm tương đồng nào?
4
Trang 6hơn pháp luật cộng đồng ASEAN, ngoài một số nguồn như khuyến nghị, thông báo cáo thị… thì luật Quốc tế còn có một số nguồn bổ trợ khác như phán quyết của Tòa án, hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia, học thuyết pháp lý, nguyên tắc pháp luật chung… Điều này cũng dễ hiểu bởi ASEAN chỉ là một chủ thể của luật Quốc tế còn Luật Quốc tế điều chỉnh quan hệ pháp luật phát sinh giữa các chủ thể, phạm vi điều chỉnh của pháp luật rộng hơn và phức tạp hơn Thứ hai, trong ASEAN nguồn bổ trợ chiếm ưu thế hơn so với nguồn cơ bản Các văn bản do ASEAN ban hành, do các thiết chế của ASEAN ban hành ví dụ như các khuyến nghị, các hướng dẫn, các kế hoạch tổng thể, các kế hoạch hành động, chương trình hành động, , hoặc các tuyên bố của ASEAN Tất cả các lĩnh vực đều bắt đầu đi từ luật mềm phát triển lên thành các văn bản pháp lý ràng buộc trong một số lĩnh vực điển hình
Ví dụ, trong lĩnh vực về bảo vệ người lao động di cư, bắt đầu từ Tuyên bố của ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy quyền của người lao động di cư được thông qua năm 20074 Sau 10 năm khởi thảo và đàm phán, đến 14/11/2017, lãnh đạo các nước ASEAN đã cùng ký kết văn kiện “Đồng thuận ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy quyền của người lao động di cư”
III Vai trò của nguồn bổ trợ - (luật mềm- soft law) đối với các hoạt động hợp tác của ASEAN.
Trong những năm vừa qua, hoạt động hợp tác của ASEAN phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, nó không chỉ diễn ra trong nội bộ tổ chức hoặc giữa các
4 http://baobariavungtau.com.vn/the-gioi/201104/hoi-thao-ve-tang-cuong-bao-ve-nguoi-lao-dong-di-cu-trong-asean-228608/
5
Trang 7thành viên của tổ chức mà còn được xúc tiến giữa ASEAN với các quốc gia ngoài ASEAN như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mĩ, Nga với các thiết chế và các tổ chức quốc tế như Liên minh châu Âu (EU), Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Liên hợp quốc Để đạt được những kết quả trên, ta không thể không nhắc đến vai trò của hệ thống pháp luật và đặc biệt là luật mềm
Bản chất của luật mềm là đưa ra các quy tắc xử sự chung cho các chủ thể, tạo nên sự khuyến khích, kêu gọi thực hiện hoàn toàn dựa trên tinh thần tự nguyện, tạo cho các chủ thể có sự lựa chọn hành vi tối ưu nhất cho mình Ở đây, sự tin tưởng và tự nguyện chính là nền tảng và là cơ sở của sự thỏa thuận5 Khi một vấn đề được đưa ra thỏa thuận, tự bản thân các chủ thể nhận thúc được rằng họ không thể nằm ngoài sự thỏa thuận này; vì vấn đề đặt ra có nguy cơ đe dọa hoặc ảnh hưởng đến lợi ích của chính quốc gia đó nếu họ không chung tay cùng cộng đồng ngăn chặn và giải quyết Trên cơ sở của sự tự nguyện, nếu một chủ thể vi phạm các quy tắc hay các điều kiện chung của thỏa thuận, chủ thể này hoàn toàn không chịu bất cứ hình thức chế tài nào để phạt hay bắt buộc dừng lại mà chỉ đơn giản, chịu sự “nhắc nhở? “phê bình” của các chủ thể tự nguyện khác hay tệ nhất là gánh chịu những dư luận không tốt sẽ ảnh hưởng rất lớn đến vị thế và uy tín của chủ thể trên trường quốc tế Một khi một chủ thể quyết định tham gia vào
tổ chức hay góp mặt trong một sự thỏa thuận, chứng tỏ chủ thể đó đã đồng ý với các điều khoản, quy định được đưa ra, nếu cố ý vi phạm, thì đồng nghĩa với việc không tôn trọng tổ chức chung và các thành viên còn lại, đánh mất niềm tin của
5 https://123doc.net/document/3006949-luat-mem-va-xu-huong-phat-trien-cua-luat-quoc-te-hien-dai.htm
6
Trang 8các chủ thể khác đối với mình Do đó, nếu một chủ thể bị các chủ thể khác cô lập, thì sẽ trở nên cực kỳ bất lợi cho chủ thể đó trong việc phát triển và mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế
ASEAN với sự đa dạng của các yếu tố kinh tế, văn hóa, địa lý và thể chế của các quốc gia thành viên dẫn đến sự phức tạp và tồn tại sự không đồng nhất của các vấn đề pháp lý6 Vì vậy, luật mềm cho ta thấy được ưu thế, đưa các lợi ích rõ ràng hơn so với những quy định ràng buộc pháp lý phát sinh từ các điều ước, các quy định và chỉ thị Có nhiều vấn đề có sự bất đồng sâu sắc, khó tìm được tiếng nói chung giữa các quốc gia phát triển và những quốc gia đang phát triển về một
số vấn đề Luật mềm được xem như là một lựa chọn linh hoạt, nó tránh được sự cam kết ngay lập tức và kiên quyết thực hiện cho một số quốc gia cần có thời gian để thực hiện cam kết
Luật mềm giúp các quốc gia mạnh dạn hơn khi tham gia vào các quan hệ quốc tế vì nó không mang tính ràng buộc pháp lý cao, các bên có thể nỗ lực thực hiện cam kết tùy theo điều kiện của từng quốc gia cụ thể Đối với các quốc gia còn yếu hay đang phát triển luật mềm giúp các quốc gia tự tin hơn thì thực hiện cam kết, vì trong cam kết mang tính mềm thường các chủ thể chỉ cần cố gắng,
nỗ lực thực hiện chứ không áp đặt cao về mặt kết quả phải thực hiện được
Nằm trong các nhóm nước đang phát triển như Việt Nam với điều kiện kinh tế- xã hội còn nhiều hạn chế thì việc tham gia các Điều ước quốc tế, các Hiệp định quốc tế, dần tạo nên một quá trình cho sự phát triển cũng như hình thành
6 https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/Tieu-luan-phap-luat-quoc-te Nhung-yeu-to-quan-trong-ban-dau-dua-den-su-thanh-lap-ASEAN-khong-phai-la-cac-yeu-to-ve-kinh-te-va-van-hoa-9704/
7
Trang 9một bước đệm thúc đẩy Việt Nam mạnh dạn hơn với “sân chơi” khu vực và quốc tế
Từ một khu vực với những chia rẽ, khác biệt, ngày nay, ASEAN là cộng đồng của những quốc gia độc lập, đoàn kết đang phát triển ngày càng lớn mạnh Với dân số gần 650 triệu người, đứng thứ 3 thế giới, ASEAN là nền kinh tế phát triển năng động với quy mô GDP năm 2018 đạt 2.950 tỷ USD, đứng thứ 5 toàn cầu, đã ký kết 6 Hiệp định thương mại tự do với 7 đối tác hàng đầu thế giới, định vị vững chắc vị trí là vai trò trung tâm trong cấu trúc khu vực, được sự tôn trọng và hợp tác của các cường quốc, các đối tác trên thế giới
C LỜI KẾT:
Ngày nay, không một quốc gia nào trên thế giới có thể đứng cô lập tách biệt khỏi hệ thống kinh tế, chính trị toàn cầu Sức ép quốc tế đang đòi hỏi mỗi quốc gia phải có những chính sách không chỉ phù hợp với điều kiện trong nước mà còn phải tính đến những yếu tố quốc tế Với diễn biến của quá trình vận động trên phạm vi toàn cầu, những vấn đề toàn cầu mà một quốc gia riêng lẻ không thể giải quyết đòi hỏi mối quan tâm sự phụ thuộc lẫn nhau và sự phối hợp của nhiều quốc gia trên thế giới để có thể đi tới một giải pháp hữu hiệu
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Giáo trình Pháp luật cộng đồng ASEAN, trường Đại học Luật Hà Nội,
nxb CAND 2016
8
Trang 102. Giáo trình luật quốc tế, trường Đại học Luật Hà Nội, nxb CAND 2019.
3 Khuất Thị Liễu, “Nguồn của pháp luật cộng đồng ASEAN và nguồn của Luật quốc tế có những điểm tương đồng nào?”
4 Nguyễn Thị Thuận, Pháp luật Cộng đồng ASEAN - Một số vấn đề lí luận
và thực tiễn / tạp chí Luật học số đặc san ASEAN, 2018
5. Hồ Ánh Nguyệt/ Cộng đồng ASEAN - tương lai và triển vọng hợp tác, tạp chí Luật học số 9/2007
6 Báo Bà Rịa-Vũng Tàu,http://baobariavungtau.com.vn/thegioi/201104/hoi-thao-ve-tang-cuong-bao-ve-nguoi-lao-dong-di-cu-trong-asean-228608/
7 https://123doc.net/document/3006949-luat-mem-va-xu-huong-phat-trien-cua-luat-quoc-te-hien-dai.htm
8 https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/Tieu-luan-phap-luat-quoc-te Nhung-yeu-to-quan-trong-ban-dau-dua-den-su-thanh-lap-ASEAN-khong-phai-la-cac-yeu-to-ve-kinh-te-va-van-hoa-9704/
9
Trang 1110