Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 2” để làm đề tài nghiên cứu, để làm sao giờ dạy đạt hiệu quả cao nhất.. Chuẩn bị tốt cho tiết d
Trang 1ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ
CỦA HỌC SINH LỚP 2
Trang 2để các em bước vào bậc cao hơn
Tiếng việt với tư cách là một phương tiện để nắm bắt kiến thức, là công cụ
để giao tiếp, tư duy, để giáo dục đạo đức cho học sinh và hình thành năng lực sửdụng Tiếng việt Yêu cầu tối thiểu ở bậc Tiểu học là học sinh đọc thông, viếtthạo, sử dụng ngôn ngữ nói, viết trong học tập, giao tiếp có thể hoà nhập vớicộng đồng, là tiền đề để các em học tiếp Muốn các em sử dụng ngôn ngữ viếtthành thạo thì trước hết học sinh phải biết viết, viết đúng, viết đẹp, mà kĩ năngviết được hình thành qua phân môn chính tả Điều này khẳng định “Chính tả cóvai trò đặc biệt quan trọng
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu trên báo Tiền phong số 1760
như sau “Chữ viết cũng là một sự biểu hiện của nết người” Dạy cho các em viết
đúng, viết cẩn thận, tính kỷ luật, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối vớithầy và bạn đọc bài, đọc vở của mình
Điều đó khẳng định qua phân môn Chính tả đề cặp ở góc độ nào cũng cóvai trò quan trọng Do vậy nhiệm vụ của việc rèn chữ viết cho học sinh trong nhàtrường đặc biệt được chú trọng
Qua thực tế những năm giảng dạy ở lớp 2, tôi nhận thấy phân môn Chính
tả là tương đối khó đối với học sinh Tiểu học, nhất là học sinh lớp 1, 2 Các em
Trang 3hay viết sai chữ do nhầm lẫn về âm, vần, thanh Chữ viết chưa chuẩn như: sai về
độ cao, khoảng cách, cách đặt dấu thanh, viết hoa tuỳ tiện
Vì vậy, làm thế nào để giúp học sinh học sinh viết đúng và hơn nữa là viếtđẹp ? Đó là điều tôi vẫn thường suy nghĩ và trăn trở Chính vì vậy tôi đã chọn đề
tài: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ CỦA HỌC
SINH LỚP 2” để làm đề tài nghiên cứu, để làm sao giờ dạy đạt hiệu quả cao
nhất
II Đặc điểm tình hình:
Năm học 2009 – 2010, tôi được Ban giám hiệu phân công dạy lớp 2/4, với
sỉ số là 40 học sinh Trong đó có 19 em nam và 21 em nữ Trong 2 tuần đầu làmquen với các em, tôi nhận thấy hầu hết các em là con công nhân lao động, nhiều
em cha mẹ làm mướn, đa số là ở phòng trọ Với đặc điểm lớp tôi như thế nên cómột số thuận lợi và khó khăn như sau:
1 Thuận lợi:
Chương trình thay sách đã được nhiều năm Do vậy giáo viên ít nhiều cũng
đã có những kinh nghiệm giảng dạy Đã được thao giảng chuyên đề về mônChính tả, có sự trao đổi, rút ra kinh nghiệm các tiết dạy
Với học sinh nhiều em có ý thức học rất tốt
Riêng tôi, bản thân luôn tự nghiên cứu, tìm tòi, đọc sách, tài liệu tham khảo
và học hỏi, rút kinh nghiệm từ đồng nghiệp để vận dụng tốt các phương phápdạy học tích cực sao cho đạt hiệu quả cao nhất và tạo hứng thú, niềm say mê họctập cho học sinh trong giờ Chính tả
Trang 4Số lượng học sinh tương đối đông, lớp học 1 buổi/ ngày, học sinh có đủ cả
3 miền: Bắc, Trung, Nam Do phát âm sai nên các em thường viết sai
Với những thuận lợi và khó khăn như vậy tôi đã tìm ra một số biện phápnhằm giúp các em học tốt phân môn Chính tả
III Các biện pháp thực hiện:
Chương trình Chính tả lớp 2, học sinh được học 2 tiết Chính tả trong 1 tuầndưới dạng tập chép và nghe viết
- Học kỳ I gồm 18 tuần trong đó có 2 tuần ôn tập( Mỗi tuần ôn tập chỉ học 1tiết) Như vậy số tiết Chính tả trong học kỳ I là: 16 x 2 + 2 = 34 tiết
- Cả năm là 34 x 2 = 68 tiết
Các bài Chính tả nghe viết và tập chép đều có số lượng chữ viết tương đốiphù hợp với học sinh Tốc độ viết khoảng 50 chữ trong 15 phút Sau mỗi bài viếtđều có các bài luyện tập để rèn và củng cố cho học sinh viết đúng Chính tả, nắmđược nghĩa của từ để dùng cho đúng hơn Bên cạnh các bài tập trong sách giáokhoa chủ yếu là điền từ, điền âm đầu, điền vần, điền dấu thanh vào chỗ trống,ghép chữ Vì vậy khi bài tập ít dạng, chưa phong phú nên chưa kích ứng sự hứngthú của học sinh
Đối với sách giáo viên có gợi ý, ngoài một số từ luyện viết đúng ở sáchgiáo khoa đã đưa ra, giáo viên nên chọn các từ khác cho phù hợp với phươngngữ, với đối tượng học sinh ở lớp mình, ở địa phương mình sao cho sát hợp cóhiệu quả Do đó giáo viên rất hạn chế trong việc tìm từ thay thế, nên chỉ sử dụng
từ viết ở sách giáo khoa, dù từ của bài viết chưa thật đáp ứng theo yêu cầu luyệnviết của học sinh
Trang 52
Chuẩn bị tốt cho tiết dạy Chính tả trên lớp:
Để tiết dạy Chính tả đạt hiệu quả khâu chuẩn bị rất quan trọng, cần có sựchuẩn bị của thầy và trò
2.1 Chuẩn bị của giáo viên:
Để có một tiết dạy tốt, giáo viên cần có sự chuẩn bị cho bài giảng một cáchchu đáo; Tôi đọc kỹ bài nhiều lần, luyện đọc đúng, lường trước những từ họcsinh dễ viết sai, chọn thời gian thích hợp cho học sinh viết rèn chữ những từ viếtkhó đó
Khi lên lớp, giáo viên cần chuẩn bị đầy đủ các phương tiện dạy học cầnthiết để phục vụ bài học như: bảng phụ chép bài tập hướng dẫn cho học sinh làmhoặc giấy trắng, …
2.2 Chuẩn bị của học sinh:
- Học sinh cần phải có đầy đủ sách, vở và đồ dùng học tập
- Đọc đoạn chính tả nhiều lần
- Viết từ khó vào vở rèn chữ
- Nhớ quy tắc chính tả khi viết bài
- Đối với những em thường mắc lỗi, tôi yêu cầu các em viết trước ở nhà bàichính tả vào vở rèn chữ
3 Tìm hiểu các lỗi chính tả học sinh thường mắc phải:
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm, cùng với việc dự giờ đồng nghiệp, saumỗi bài dạy, tôi thấy học sinh thường mắc lỗi chính tả về phụ âm đầu, vần dấuthanh Để rút kinh nghiệm cho những lỗi sai mà học sinh lớp 2 thường mắc phải
Trang 6Âm, vần, dấu thanh Viết đúng chính tả Viết sai chính tả
Tr/ch trò chuyện
che chở bạn trai
trắng xóa trèo cây trông nom
chò chuyện
che trở bạn chai
chắng xóa chèo cây chông nom
xin xong xuôi
súc động sin song suôi
r/d/gi bánh rán
con gián
dán giấy dành dụm
tranh giành
bánh dán con rán
gián giấy rành dụm
tranh rành
nồi lỗi
lon nước lồi
nỗi
cậu bé kiên nhẫn kén
cim khâu kậu bé ciên nhẫn cén
ao/au trèo cao, ngã đau trèo cau, ngã đao
ng/ngh trang nghiêm, nghìn trang ngiêm, ngìn
ui/uôi vui vẻ vuôi vẻ
Trang 7an/ang cây bàng
cái bàn vầng trán
cây bàn cái bàng vầng tráng
ăn/ăng cố gắng, gắng sức cố gắn, gắn sức.
in/inh/ing xin lỗi
nhìn
xinh lỗi nhình
uôn/uông mong muốn
khuôn mặt
mong muống khuông mặt
iêc/iêt làm việc
bữa tiệc thời tiết
làm việt bữa tiệt thời tiếc
uy/ uyu khúc khuỷu khúc khủy
ưc/ưt rực vàng
đứt dây
rựt vàng đức dây.
anh/ang màu xanh
sáng sớm
màu sanh sán sớm
ai/ay say sưa, bàn tay
đáy hồ, cái tai
ơm/ươm con bướm Con bớm
ơp/ươp mèo mướp mèo mớp
oa/ao bông hoa
toả hương
bông hao tảo hương
ênh/inh bệnh bịnh
kh/ph khoai lang phai lang
Ngoài ra còn một số lỗi sai không viết hoa đúng quy định
Ví dụ: Lý thường Kiệt, việt nam.
Trang 8Một số bài học sinh viết sai nhiều;
Ví dụ: + Quà của bố.
Sách Tiếng Việt tập 2 có 3 bài:
+ Bé nhìn biển
+ Lượn
+ Đàn bê của anh Hồ Giáo
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm liền và thực tế ở lớp tôi do học sinh có ở
cả 3 miền Bắc, Trung và Nam nên tôi đã tìm ra các nguyên nhân mà học sinhthường mắc lỗi chính tả là do:
- Do một số em đọc còn quá yếu, đọc sai nhiều dẫn đến viết sai
- Do phương ngữ địa phương dẫn đến học sinh viết sai lỗi chính tả
+ Miền Bắc hay nhầm lẫn giữa n – l, ươu – iêu
Ví dụ: lá ná
Lúa núa Nằm lằm
Ví dụ: rượu các em hay đọc nhầm là riệu
Con hươu các em hay đọc nhầm là con hiuCây tre các em hay đọc nhầm là cây che
+ Miền Trung các em nhầm lẫn giữa thanh hỏi, ngã, nặng
Ví dụ: mỏ mõ
Kĩ sư kỉ sư Cọng cõng + Miền Nam: các em hay nhầm lẫn kh – th; hỏi – ngã; iêt – iêc
Ví dụ: thịt khịt
Giả vờ giã vờ
Trang 9Giã gạo giả gạo Hiểu biết hiểu biếc Xanh biếc xanh biếtNguyên nhân dẫn đến việc viết sai do điều kiên khách quan (chỗ ngồi, ánhsáng…) Ngoài ra còn do ngồi viết và phương tệin viết cũng ảnh hưởng đến lỗichính tả của học sinh
Đó chính là các nguyên nhân gây ra mắc lỗi chính tả ở học sinh
để các em ghi nhớ
Để giúp các em phân biệt và viết đúng các chữ có âm đầu là: g/gh;
ng/ngh; k/c cho các em nắm qui tắc:
+ Viết ngh, gh, k khi âm viết liền sau là: i, e, ê, iê.
+ Viết ngh, g, c đối với các âm còn lại.
Đối với mẹo viết đúng ch/tr hoặc s/x cần ghi nhớ:
Trang 10+ tr và s, không bao giờ đi với các vần oa, oă, oe, uê.
+ L đứng trước âm đệm: oa, oă, oe, uy còn N thì không
Ngay từ đầu năm học, tôi ghi các trên tấm bìa và treo trong lớp và thườngxuyên cho các em đọc Như vậy, quá trình ghi nhớ quy tắc chính tả của các em
sẽ hình thành một cách nhẹ nhàng, tự nhiên đi sâu vào tiềm thức các em theokiểu nhớ lâu
BẢNG GHI NHỚ
1 Huyền – ngã – nặng, sắc – hỏi – không
2 ch, x ghép được: oa, oă, oe, uê
3 k, gh và ngh ghép được với: i, e, ê Còn c, g, ng: không ghép được
4 L ghép được với: oa, oă, uê, uâ, uy còn N không ghép được
* Phương pháp hỏi đáp:
Trong quá trình viết tôi nêu ra một số câu hỏi như:
- Chữ đầu đoạn văn viết như thế nào? (lùi vào 1 ô và viết hoa)
- Chữ đầu câu phải viết như thế nào (viết hoa)
- Chấm xuống dòng thì phải viết như thế nào? (lùi vào 1 ô và viết hoa)
- Tên riêng của bài viết như thế nào? (viết hoa)
Mục đích của việc làm này là nhằm khắc sâu vào trí nhớ của học sinh Bởi
vì học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng thì dễ nhớ nhưng lạimau quên Do đó, giáo viên chúng ta cần phải nhắc thường xuyên
* Đối với lỗi sai khác, tôi thường hướng dẫn các em phân tích kỹ hơn ở
bảng lớp theo cách sau:
lang thang lan than
xin lỗi xinh lỗi
Trang 11Với cách này các em vừa nhớ cách viết đúng và tránh từ mà mình sẽ viếtsai.
Còn đối với một số chữ có một cách viết duy nhất, tôi luôn luôn nhắc nhởcác em ghi nhớ, trong Tiếng Việt chỉ có một cách ghi duy nhất
Ví dụ: nhưng không bao giờ viết nhưnh
Xanh không bao giờ viết xang.
Phân biệt giữa chữ việt và chữ việc
Chữ việc lúc nào cũng có phụ âm cuối là c Ngoài ra không kết hợp với bất
kỳ một từ nào khác ngoại trừ một từ duy nhất là Việt Nam có chữ t ở cuối
* Phối hợp giữa các môn học khác trong việc khắc phục lỗi sai chính tả của
học sinh.
Để chỉnh sai chính tả của học sinh, người giáo viên phải kết hợp giữa cácmôn học khác Bởi vì, muốn viết đúng, các em cần phải phát âm chuẩn Vì vậy,trong giờ Tập đọc, tôi luyện phát âm cho các em rất kỹ Đặc biệt chú ý các emhay viết sai, tôi cho các em đó phát âm lại nhiều lần
Ví dụ: Nhìn đọc là nh-in-nhin-huyền-nhìn (không đọc
nh-inh-nhinh-huyền-nhình)
Muốn đọc là (m-uon-muôn-sắc-muốn) không có g có trong từ mong muốn
khác với muống có g có trong từ rau muống
Bài: “Kho báu”, có từ trồng học sinh lẫn lộn với từ chồng tôi giải thích như
sau:trồng đọc uốn lưỡi, chồng đọc không uốn lưỡi
Ở môn toán, khi các em viết đề toán hay lời giải, tôi cũng nhắc nhở các emnhững lỗi sai mà các em dễ mắc phải
Ở môn Đạo đức; môn Tự nhiên và xã hội để đạt được hiệu quả tiếp thu cao
và để tự các em so sánh, phát hiện ra những lỗi chính tả trong phát âm của mình
Trang 12Tôi thường cho học sinh thảo luận theo từng cặp hỏi – đáp đồng thời qua đó kịpthời uốn nắn bởi vì nếu nói sai thì dẫn đến viết sai.
Ở phần ôn tập: mỗi tuần có hai tiết ôn Vì vậy khi đến tiết tôn tập của mônTiếng việt tôi thường chú ý đến các lỗi chính tả mà các em hay viết sai Tôi chocác em đọc bài nhiều lần, nếu em nào đọc sai chữ nào tôi cho em đó đánh vần vàviết lại cho đúng, giao bài mỗi ngày về nhà cho các em học
Qua trò chơi, khi học các em rất thích trò chơi Để các em học tập tốt và sôinổi trong những giờ học mà cả lớp đều hứng thú kể cả những em học yếu, tôi sẽđưa ra các hình thức mà các em hay mắc phải lỗi chính tả như sau:
- Cho các em thi viết bảng con
Ví dụ: cây tre – mái che
Đổ rác – thi đỗ Khiêm tốn
Ví dụ: thi đua cử đại diện 2 dãy, mỗi dãy 2 em lên tìm: mỗi dãy 3 từ có phụ
âm đầu là “c”, 3 từ có phụ âm đầu là “k”
Để khắc phục lỗi sai chính tả tôi thường giao các dạng bài tập về nhà chocác em làm, một số dạng bài như sau:
Ví dụ: Điền vào chỗ trống “l” hoặc “n”
Trang 13Cây…….ái; quả……anh; bức…… anh
b) ươn hay ương
Đ …….sá; con l……, s……núi; soi g……
Ví dụ: Điền vào chỗ trống
a) iêt hay iêc
Hiểu b…….; ch…….lá; l……….sĩ; thương t……
b) uôc hay uôt
Lạnh b……; cái ch……; con ch…… , uống th…
Ví dụ: điền vào chỗ trống uc hay ut ?
Trang 14Biện pháp này hình thành cho các em thói quen ý thức tập trung.
* Phương pháp chấm bài kỹ của giáo viên ảnh hưởng tốt đến việc điều
chỉnh lỗi sai chính tả của học sinh:
Nhìn chung, khi viết chính tả, học sinh thường mắc nhiều khuyết điểm viếttheo thói quen, không tập trung phân tích tiếng trước khi ghi chữ, nhớ thế nào thìghi thế ấy Thậm chí những chữ viết sai đã sửa nhiều lần mà khi viết vẫn mắc lạilỗi cũ Vì vậy, việc chấm bài kỹ để tìm ra những lỗi sai mà các em thường mắcphải là điều quan trọng, thậm chí tôi còn ghi nhớ kỹ lỗi chính tả của từng em đểnhắc nhở đúng tên em đó khi chuẩn bị viết bài
Thường khi chấm bài của học sinh, thấy lỗi sai tôi gạch chân ngay dưới phụ
âm đầu hay vần hoặc dấu thanh mà các em sai để các em dễ nhận ra mình viếtsai gì, viết lỗi đó ra lề để các em về nhà viết lại mỗi lỗi 2 dòng nếu viết sai 6 lỗitrở lên thì phải viết lại cả bài để các em khắc sâu và không sai lại nữa
Mặt khác, khi các em viết bài xong, tôi thường cho các em tự dò bài củamình một lần để tìm lỗi sai, sau đó đổi vở cho bạn để dò chéo một lần nữa Tôihướng dẫn các em dùng bút chì gạch dưới lỗi sai và viết chữ đúng ra lề vở
* Phương pháp khen thưởng:
Thông qua môn tâm lý học ở trường sư phạm và thực tế của những năm dạyhọc tôi hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh Các em rất thích đượckhen
Nắm được đặc điểm này, trong công tác chủ nhiệm lớp của mình, tôi đưa raphong trào “hoa điểm 10” ở tất cả các môn học và tổng kết điểm 10 hàng tuần.Những học sinh được điểm 10 nhiều nhất tuần sẽ được khen và nhận phầnthưởng
Trang 15Qua việc thực hiện biện pháp này, các em học sinh trong lớp tôi có hứngthú học tập hơn Khi làm toán cũng như khi viết bài các em cẩn thận hơn Từ đókết quả học tập của từng em tiến bộ rõ rệt.
6 Thiết kế bài giảng:
Bài “Quà của bố” tiết 36
- Bảng phụ viết nội dung bài tập2, bài tập3a(hoặc b)
III Các hoạt động dạy học:
1 Ổn định.
2 Kiểm tra bài cũ
Học sinh viết bảng con
Dãy A: múa rối, rút rạ
Dãy B: nói dối, vâng dạ
Giáo viên nhận xét
3 Bài mới:
a) Giới thiệu bài
Hỏi: Vừa rồi các em học Tập đọc bài gì?
Hôm nay các em sẽ được học chính tả
bài “Quà của bố” Giáo viên ghi bảng
b) Bài chính tả này có 2 phần:
Phần 1: Nghe viết bài “Quà của bố”
- Quà của bố
- 2-3 học sinh nhắc lại
Trang 16Phần 2: Luyện tập phân biệt iê/yê,
r/d/gi, dấu hỏi, dấu ngã
- Giáo viên đọc mẫu lần1 bài viết sẵn
trên bảng phụ
Hỏi: Bài chính tả có mấy câu?
Hỏi: Khi viết đầu câu phải viết như thế
- Cho học sinh viết từ khó vào bảng con
* Giáo viên đọc mẫu lần 2
- Giáo viên nhắc tư thế ngồi viết
* Giáo viên đọc bài cho học sinh viết
- Giáo viên đọc lại để học sinh dò bài
* Soát lỗi
Các em cầm bút chì trên tay để soát lỗi
Giáo viên đọc từng câu và chú ý gạch
chân các từ các em hay sai, em nào sai
Trang 17* Tổng hợp lỗi
Hỏi: Em nào sai trên 5 lỗi
- Giáo viên thu 5-7 vở để chấm
- Chấm bài, nhận xét
c) Luyện tập:
- Treo bài tập 2
- Học sinh đọc yêu cầu
Hỏi: Bài yêu cầu làm gì?
Gắn 2 bài đã ghi viết trên giấy Cho thi
đua mỗi đội cử 4 bạn lên thi đua Đội
Lạy cậu, lạy mợ
Cho cháu về quê
Cho dê đi học
- Bài “Quà của bố”
Để học tốt chính tả các em cần chú ý nghe rõ, viết đúng và đẹp
Dặn dò: Chuẩn bị bài: “Câu chuyện bó đũa”
IV Kết luận:
4.1 Kết quả:
Trang 18Qua thời gian giảng dạy và áp dụng các biện pháp tích cực để giảng dạy.
Với đề tài “Một vài biện pháp khắc phục lỗi chính tả của học sinh lớp 2”, tôi
nhận thấy các em có sự tiến bộ rõ rệt ở môn Tiếng Việt đặc biệt là phân mônchính tả
Thông qua môn học này, các em phát huy được tính tích cực chủ động nhưviết bài nhanh, chữ đẹp, không sai lỗi chính tả và cách trình bày một bài viết chođẹp Cũng qua môn học này tạo điều kiện cho các em học tốt các môn học khácnhư: toán, đạo đức, tập đọc và tự nhiên xã hội
- Kết quả cụ thể là:
Lớp học sinh động, học sinh tích cực trong quá trình học tập, tích cực hănghái phát biểu ý kiến trong giờ học
Riêng với môn chính tả, kết quả đạt được cụ thể như sau:
Với một vài kinh nghiệm tôi đã rút ra được trong thực tế giảng dạy, xuấthiện từ giáo dục; phát triển toàn diện các mặt cho học sinh, tôi đã tìm ra: “Mộtvài biện pháp khắc phục lỗi chính tả của học sinh lớp 2”, nhằm nâng cao chấtlượng dạy và học, phát huy tính tích cực và đạt hiệu quả cao trong phân mônchính tả