1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo thuyết minh tổng hợp “Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 2015) tỉnh Lai Châu”

162 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Cáo Thuyết Minh Tổng Hợp “Quy Hoạch Sử Dụng Đất Đến Năm 2020, Kế Hoạch Sử Dụng Đất 5 Năm Kỳ Đầu (2011 - 2015) Tỉnh Lai Châu”
Trường học UBND Tỉnh Lai Châu
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2011 - 2015
Thành phố Lai Châu
Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất đai là tài nguyên Quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, địa bàn xây dựng và phát triển dân sinh, kinh tế xã hội, quốc phòng và an ninh. Vai trò của đất đai đối với con người và các hoạt động sống trên trái đất rất quan trọng, nhưng lại giới hạn về diện tích và cố định về vị trí. Do vậy việc sử dụng đất phải hết sức tiết kiệm và hợp lý trên cơ sở hiệu quả, lâu bền. Công tác lập quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất là một yêu cầu đặc biệt để sắp xếp quỹ đất đai cho các lĩnh vực và đối tượng sử dụng hợp lý, có hiệu quả phục vụ phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng, tránh được sự chồng chéo, lãng phí trong sử dụng, hạn chế sự huỷ hoại đất đai, phá vỡ môi trường sinh thái. Đây là một nội dung quan trọng quản lý Nhà nước về đất đai, được thể chế hóa trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”. Đồng thời nội dung, trách nhiệm, thẩm quyền lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định cụ thể từ Điều 21 đến Điều 30 trong Luật Đất đai năm 2003. Tỉnh Lai Châu được thành lập theo Nghị quyết số 222003QH11 ngày 26112003 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc chia tách và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, theo đó chia tách tỉnh Lai Châu thành 2 tỉnh: tỉnh Điện Biên và tỉnh Lai Châu và điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh Lào Cai, sáp nhập huyện Than Uyên tỉnh Lào Cai về tỉnh Lai Châu. Thực hiện Luật Đất đai và các văn bản dưới luật, UBND tỉnh Lai Châu đã tiến hành lập “Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Lai Châu đến năm 2010, kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2006 2010” và đã được Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 212007NQCP ngày 19042007. Qua quá trình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho thấy việc sử dụng đất cơ bản tránh được sự chồng chéo, lãng phí trong sử dụng, hạn chế sự huỷ hoại đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái, phục vụ phát triển kinh tế xã hội, giữ vững ổn định an ninh, quốc phòng. Xuất phát từ định hướng phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 2020, nhu cầu thực tiễn phát triển của các ngành, lĩnh vực trên địa bàn tỉnh, tình hình sử dụng đất của cả nước nói chung và tỉnh Lai Châu nói riêng đang có những thay đổi, nhiều yếu tố mới xuất hiện, các cơ hội và thách thức mới đang tác động mạnh tới quá trình sử dụng đất của tỉnh thì việc lập quy hoạch sử dụng đất tỉnh Lai Châu thời kỳ 2011 2020 là rất cần thiết, tạo cơ sở để Lai Châu có thể chủ động khai thác có hiệu quả, phát huy triệt để tiềm năng thế mạnh, cũng như tranh thủ tối đa mọi nguồn lực đầu tư trong quá trình phát triển nền kinh tế xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhanh chóng hòa nhập với xu thế phát triển chung của đất nước. Đây cũng là căn cứ để phân bổ hợp lý, đúng mục đích, sử dụng tiết kiệm có hiệu quả cao quỹ đất, đồng thời thiết lập các hành lang pháp lý cho việc thu hồi đất, giao đất, chuyển mục đích sử dụng, chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất... trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU

BÁO CÁO TỔNG HỢP

“QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG

ĐẤT 5 NĂM KỲ ĐẦU (2011 - 2015) TỈNH LAI CHÂU”

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 SỰ CẦN THIẾT

Đất đai là tài nguyên Quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, địa bàn xây dựng và pháttriển dân sinh, kinh tế xã hội, quốc phòng và an ninh Vai trò của đất đai đối vớicon người và các hoạt động sống trên trái đất rất quan trọng, nhưng lại giới hạn

về diện tích và cố định về vị trí Do vậy việc sử dụng đất phải hết sức tiết kiệm vàhợp lý trên cơ sở hiệu quả, lâu bền

Công tác lập quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất là một yêu cầuđặc biệt để sắp xếp quỹ đất đai cho các lĩnh vực và đối tượng sử dụng hợp lý, cóhiệu quả phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng, tránhđược sự chồng chéo, lãng phí trong sử dụng, hạn chế sự huỷ hoại đất đai, phá vỡmôi trường sinh thái Đây là một nội dung quan trọng quản lý Nhà nước về đấtđai, được thể chế hóa trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namnăm 1992: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật,bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” Đồng thời nội dung, tráchnhiệm, thẩm quyền lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quyđịnh cụ thể từ Điều 21 đến Điều 30 trong Luật Đất đai năm 2003

Tỉnh Lai Châu được thành lập theo Nghị quyết số 22/2003/QH11 ngày26/11/2003 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc chiatách và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, theo đó chia tách tỉnh Lai Châuthành 2 tỉnh: tỉnh Điện Biên và tỉnh Lai Châu và điều chỉnh địa giới hành chínhtỉnh Lào Cai, sáp nhập huyện Than Uyên tỉnh Lào Cai về tỉnh Lai Châu

Thực hiện Luật Đất đai và các văn bản dưới luật, UBND tỉnh Lai Châu đãtiến hành lập “Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Lai Châu đến năm 2010, kế hoạch sửdụng đất 5 năm 2006 - 2010” và đã được Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số21/2007/NQ-CP ngày 19/04/2007 Qua quá trình thực hiện quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất cho thấy việc sử dụng đất cơ bản tránh được sự chồng chéo, lãng phítrong sử dụng, hạn chế sự huỷ hoại đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái, phục vụphát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định an ninh, quốc phòng

Xuất phát từ định hướng phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020,nhu cầu thực tiễn phát triển của các ngành, lĩnh vực trên địa bàn tỉnh, tình hình sửdụng đất của cả nước nói chung và tỉnh Lai Châu nói riêng đang có những thayđổi, nhiều yếu tố mới xuất hiện, các cơ hội và thách thức mới đang tác độngmạnh tới quá trình sử dụng đất của tỉnh thì việc lập quy hoạch sử dụng đất tỉnhLai Châu thời kỳ 2011 - 2020 là rất cần thiết, tạo cơ sở để Lai Châu có thể chủđộng khai thác có hiệu quả, phát huy triệt để tiềm năng thế mạnh, cũng như tranh

Trang 3

thủ tối đa mọi nguồn lực đầu tư trong quá trình phát triển nền kinh tế - xã hội,nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhanh chóng hòa nhập với xuthế phát triển chung của đất nước Đây cũng là căn cứ để phân bổ hợp lý, đúngmục đích, sử dụng tiết kiệm có hiệu quả cao quỹ đất, đồng thời thiết lập các hànhlang pháp lý cho việc thu hồi đất, giao đất, chuyển mục đích sử dụng, chuyển đổi,chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.

2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

- Đánh giá tình hình thực hiện Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 đãđược Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; điều tra, khảo sát, phân tích các thông tin,

số liệu để lập Quy hoạch sử dụng đất cho phù hợp với tình hình thực tế phát triểnkinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh trong bối cảnh của vùng và cả nướctheo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Phân bổ quỹ đất cho các mục đích sử dụng, phù hợp với định hướng pháttriển không gian về lâu dài, đồng thời đáp ứng nhu cầu, phù hợp các chỉ tiêu sửdụng đất của các ngành, các địa phương cụ thể đến năm 2020

- Tạo cơ sở pháp lý và khoa học cho việc xúc tiến đầu tư, tiến hành các thủtục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, sử dụng đất có hiệu quả, từng bước ổn địnhtình hình quản lý và sử dụng đất

- Tạo khung chung, đưa ra định hướng mang tính chỉ dẫn và làm cơ sở choviệc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các huyện, thị cũng như quy hoạchcủa các ngành, các lĩnh vực trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn tới

- Việc khoanh định, phân bổ các chỉ tiêu sử dụng đất cho các ngành, cáccấp theo quy hoạch phải được cân đối trên cơ sở các nhu cầu sử dụng đất đã đượcđiều chỉnh, bổ sung, đảm bảo không bị chồng chéo trong quá trình sử dụng

- Các nhu cầu sử dụng đất phải được tính toán chi tiết đến từng công trình,từng địa phương, đồng thời được phân kỳ kế hoạch thực hiện cụ thể đến từngnăm, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và những yêu cầu cụ thểtrong từng giai đoạn

- Bảo đảm mối quan hệ hài hòa giữa khai thác, sử dụng và cải tạo, phục hồiđất để phát triển kinh tế - xã hội với sử dụng đất bền vững, bảo vệ môi trườngsinh thái

3 CĂN CỨ LẬP QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

- Luật Đất đai năm 2003 và Chỉ thị số 05/2004/CT-TTg ngày 09/02/2004của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2003;

- Nghị quyết số 17/2011/QH13 về Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và

Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) cấp quốc gia;

Trang 4

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thihành Luật Đất đai;

- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổsung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái địnhcư;

- Công văn số 23/CP-KTN ngày 23 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ vềviệc phân bổ chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia cho tỉnh LaiChâu;

- Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên vàMôi trường về việc Quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quyhoạch, kế hoạch sử dụng đất;

- Thông tư số 06/2010/TT-BTNMT ngày 15 tháng 3 năm 2010 quy định vềđịnh mức kinh tế - kỹ thuật lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

- Thông tư số 13/2011/TT-BTNMT ngày 15 tháng 4 năm 2011 quy định về

Ký hiệu bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụ quy hoạch sử dụng đất và bản đồquy hoạch sử dụng đất;

- Công văn số 2105/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 10 tháng 6 năm 2010 của BộTài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn xây dựng Dự án và Dự toán kinh phílập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2020;

- Chỉ thị số 01/CT-BTNMT ngày 17/3/2010 của Bộ Tài nguyên và Môitrường về việc tăng cường công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

- Công văn số 429/TCQLĐĐ-CQHĐĐ ngày 16 tháng 4 năm 2012 của Tổngcục Quản lý đất đai hướng dẫn về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

- Quyết định số 1673/QĐ-UBND ngày 19/10/2009 của UBND tỉnh LaiChâu về việc phê duyệt kế hoạch lập quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2011 - 2020

và lập kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2015 trên địa bàn tỉnh Lai Châu;

- Văn kiện trình Đại hội, nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh LaiChâu lần thứ XII, nhiệm kỳ 2010 - 2015;

- Nghị quyết số 11/2011/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Lai Châu khóa XIII,

kỳ họp thứ hai về việc thông qua Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hộitỉnh Lai Châu đến năm 2020;

- Nghị quyết số 12/2011/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Lai Châu khóa XIII,

kỳ họp thứ hai về việc thông qua Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm

2011-2015 tỉnh Lai Châu;

- Rà soát, điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh LaiChâu đến năm 2020;

Trang 5

- Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Lai Châu đến năm 2010, kế hoạch sử dụngđất 5 năm 2006 - 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;

- Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 vùngTrung du Miền núi phía Bắc;

- Niên giám thống kê tỉnh Lai Châu qua các năm; nguồn số liệu của các Sở,Ban, Ngành và các địa phương trong tỉnh

4 NỘI DUNG BÁO CÁO QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

Báo cáo thuyết minh tổng hợp “Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kếhoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) tỉnh Lai Châu” ngoài phần mởđầu, kết luận và kiến nghị gồm các phần sau:

Phần I: Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội;

Phần II: Tình hình quản lý, sử dụng đất đai;

Phần III: Tiềm năng đất đai và định hướng dài hạn sử dụng đất;

Phần IV: Phương án quy hoạch sử dụng đất.

Trang 6

Phần I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI

I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ CẢNH QUAN MÔI TRƯỜNG

1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Lai Châu là tỉnh miền núi biên giới vùng Tây Bắc, có tổng diện tích tựnhiên 9.068,78 km2, toạ độ địa lý nằm trong khoảng từ 21040' đến 22050' vĩ độBắc và từ 102020’ đến 103050’ kinh độ Đông

- Phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và tỉnh Lào Cai.

- Phía Nam giáp tỉnh Điện Biên

- Phía Đông giáp tỉnh Lào Cai và Yên Bái

- Phía Tây giáp tỉnh Điện Biên và tỉnh Sơn La

Diện tích tự nhiên của tỉnh được phân thành 07 đơn vị hành chính, gồm: thị

xã Lai Châu và 06 huyện là Mường Tè, Sìn Hồ, Phong Thổ, Tam Đường, Tân

Uyên, Than Uyên (trong đó có 5 huyện nghèo) với 103 xã, phường và thị trấn, có

273 km đường biên giới chung với Trung Quốc nên Lai Châu giữ vị trí đặc biệtquan trọng về an ninh quốc phòng và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia

Là tỉnh miền núi cao, khu vực đầu nguồn xung yếu và cực kỳ quan trọngcủa sông Đà, con sông có giá trị rất lớn về thủy điện và cấp nước cho vùng đồngbằng Bắc Bộ Vì vậy Lai Châu có vai trò vị trí hết sức quan trọng trong việc bảo

vệ môi trường, duy trì nguồn nước ổn định cho các công trình thuỷ điện lớn trênsông Đà, góp phần phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế vùng châu thổ sông Hồng

Mặc dù có vị trí địa lý không thuận lợi, nằm cách xa các trung tâm kinh tế

lớn của đất nước (cách thủ đô Hà Nội khoảng 450 km), gặp nhiều khó khăn trong

việc thu hút đầu tư và giao lưu kinh tế nhưng Lai Châu cũng có những tiềm năng

và thế mạnh riêng, đó là có Cửa khẩu quốc gia Ma Lù Thàng, U Ma Tu Khoòng

là cầu nối quan trọng giữa vùng lục địa rộng lớn phía Tây Nam Trung Quốc với

vùng tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh (theo các tuyến

quốc lộ 4D, 32 và đường thuỷ sông Đà), tạo điều kiện thuận lợi cho Lai Châu

trong việc giao lưu kinh tế, trao đổi, tiếp thu khoa học kỹ thuật với quốc tế cũngnhư các trung tâm kinh tế lớn trong nước, đặc biệt là phát triển dịch vụ, thươngmại, xuất nhập khẩu và du lịch

1.1.2 Địa hình, địa mạo

Địa hình, địa mạo của tỉnh rất phức tạp và chia cắt mạnh, có cấu trúc chủ

yếu là núi đất, xen kẽ là các dãy núi đá vôi có dạng địa chất castơ (tạo nên các

Trang 7

hang động và sông suối ngầm), trong đó phổ biến và chiếm phần lớn diện tích tự

nhiên của tỉnh là địa hình núi cao và núi cao trung bình Ngoài ra còn có những

bán bình nguyên rộng lớn với chiều dài hàng trăm km (được hình thành do quá

trình bào mòn đồi núi theo thời gian), dạng địa hình thung lũng, sông, suối, thềm

bãi bồi, nón phóng vật, sườn tích, hang động caster (được hình thành do chịu

hoạt động của tân kiến tạo).

Nhìn chung địa hình của tỉnh có xu thế thấp dần từ Bắc xuống Nam và

Đông sang Tây (đại diện là khu vực huyện Sìn Hồ - Phong Thổ), vùng Mường Tè

bị chi phối địa hình là địa máng Việt Trung chạy dài và hạ thấp dần độ cao theohướng Tây Bắc - Đông Nam Vùng Sìn Hồ - Phong Thổ có dãy Hoàng Liên Sơn

án ngữ phía Đông Bắc, có nhiều đỉnh núi cao trên 2.000 m, trong đó có đỉnh Phan

Xi Phăng cao nhất nước ta là 3.143 m và đỉnh Pu Sam Cáp 2.910 m Có thểphân chia địa hình của tỉnh thành các vùng như sau:

- Địa hình dưới 500 m nằm xen kẽ giữa những dãy núi cao, gồm các thunglũng sâu, hẹp hình chữ V và một số thung lũng có địa hình tương đối bằng phẳng

như Noong Hẻo (huyện Sìn Hồ), Mường So (huyện Phong Thổ), Bình Lư (huyện

Tam Đường), Mường Than (huyện Than Uyên) thích hợp cho việc bố trí sản xuất

nông nghiệp, nhưng diện tích không lớn

- Địa hình vùng núi có độ cao từ 500 m đến 1.000 m, độ dốc trên 300 rấtkhó khăn cho việc bố trí sản xuất nông nghiệp, điển hình là khu vực vùng núi caohuyện Sìn Hồ

- Địa hình vùng núi có độ cao từ 800 m đến dưới 1.500 m, vùng này có độchia cắt mạnh, địa hình hiểm trở, lòng suối dốc và có nhiều hang động, đại diện làkhu vực núi cao huyện Phong Thổ

- Địa hình vùng núi có độ cao từ 1.500 m đến dưới 2.500 m, phân bố chủyếu ở dãy núi biên giới Việt Trung thuộc huyện Mường Tè, có độ dốc lớn hơn 300

và thảm thực vật rừng còn khá Do địa hình núi non hiểm trở nên dân cư sống ởvùng này rất thưa thớt

- Địa hình vùng núi có độ cao trên 2.500 m, phân bố chủ yếu ở các khu vực

có đỉnh núi cao trên 2.500 m, bao gồm 4 đỉnh thuộc huyện Phong Thổ và 2 đỉnhthuộc huyện Mường Tè

1.1.3 Khí hậu, thời tiết

Lai Châu có khí hậu điển hình của vùng nhiệt đới gió mùa núi cao TâyBắc, ngày nóng, đêm lạnh, ít chịu ảnh hưởng của bão Khí hậu trong năm chialàm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9 có nhiệt độ và độ ẩm cao;mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, khí hậu lạnh, độ ẩm và lượng mưa

thấp (tháng 4 và tháng 10 là thời gian chuyển giao giữa 2 mùa), trong đó:

Trang 8

- Nhiệt độ không khí trung bình năm là 19,60C Nhiệt độ trung bình thấpnhất là 14,30C (vào tháng 1) và trung bình cao nhất là 23,00C (vào tháng 7) Các

tháng có nhiệt độ trung bình nhỏ hơn 200C phổ biến từ tháng 11 đến tháng 3 Cáctháng có nhiệt độ trên 200C phổ biến từ tháng 5 đến tháng 9 và chỉ xảy ra ở cácvùng có độ cao dưới 500 m Tổng tích ôn cả năm trung bình là 8.1210C Do cócao độ biến động lớn nên chế độ nhiệt giữa vùng cao và vùng thấp cũng rất khácnhau, những vùng có độ cao trên 1.000 m khí hậu mát, lạnh và ẩm quanh năm

- Số giờ nắng giữa các mùa trong năm và giữa các khu vực có sự khác nhauvới tổng số giờ nắng biến động từ 1.400 - 1.900 giờ/năm

- Lượng mưa ở Lai Châu khá lớn và có sự phân bố không đều trong năm.Mưa lớn tập trung vào mùa hè, nhất là các tháng 6, 7, 8 và thường chiếm tới 80%

lượng mưa cả năm Các tháng mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau) có

lượng mưa rất ít, chỉ chiếm khoảng 20% lượng mưa cả năm Sự phân bố lượng mưatập trung theo mùa đã ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất nông, lâm nghiệp cũng

như việc thi công các công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh (mùa mưa, lượng

mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn thường gây nên lũ lụt; mùa hè, thời gian mưa ít kéo dài, gây nên tình trạng thiếu nước, khô hạn)

- Độ ẩm không khí tương đối biến động từ 78 - 93% và có sự chênh lệch độ

ẩm giữa các khu vực từ 2 - 5%, trong đó độ ẩm trung bình tháng lớn nhất (tháng

7) đạt 87 - 93%, độ ẩm trung bình tháng nhỏ nhất (tháng 3, 4) là 71 - 77% Độ ẩm

tối thiểu tuyệt đối vào các tháng 1, 2, 3 là 12 - 15%, tối đa tuyệt đối gần 100%

- Lượng bốc hơi bình quân hàng năm từ 660 - 1.100 mm và phụ thuộc theomùa, theo độ cao địa hình Lượng bốc hơi lớn nhất thường xảy ra vào các tháng 3

và 4 (tổng lượng bốc hơi từ 77 - 100 mm/tháng) do đây là thời kỳ cuối mùa khô,

trời nắng, nóng và lượng mưa nhỏ Từ tháng 6 đến tháng 10 là thời kỳ mùa mưanhiều, lượng bốc hơi trong các tháng này phổ biến là 36 - 64 mm/tháng Từ tháng

11 đến tháng 1 năm sau là thời kỳ mùa đông lạnh và ẩm, lượng nước trên bề mặtlưu vực và trong tầng đất sát mặt còn khá, lượng bốc hơi nhỏ

- Gió: các hướng gió thịnh hành trên địa bàn tỉnh bao gồm gió Đông Bắcthổi từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau; gió Nam, Đông Nam và Tây Nam thổi từtháng 4 đến tháng 8

Mặc dù ít bị ảnh hưởng của bão, song Lai Châu lại thường chịu tác động

của một số hiện tượng thời tiết bất lợi như: gió Tây khô nóng, giông (số ngày

giông trung bình 45 - 60 ngày/năm, tập trung tháng 4 đến tháng 8), mưa đá,

sương muối (trung bình mỗi năm có 1 - 2 ngày có sương muối tập trung vào

tháng 12 và tháng 1 năm sau, riêng ở độ cao trên 1.500 m trung bình xuất hiện 9

- 10 ngày/năm), gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống dân sinh.

Nhìn chung điều kiện khí hậu của Lai Châu khá phù hợp với sự sinh

Trang 9

trưởng, phát triển nhiều loại cây trồng (như các cây công nghiệp, cây ăn quả, cây

đặc sản, cây dược liệu và khoanh nuôi tái sinh rừng), là điều kiện thuận lợi để

phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng đa dạng hoá cây trồng vật nuôi

và mở rộng các khu bảo tồn thiên nhiên gắn với phát triển du lịch; song bên cạnh

đó cũng chịu ảnh hưởng của những yếu tố thời tiết khắc nghiệt như thường xảy rahạn hán về mùa khô và lũ lụt vào mùa mưa Do đó để khắc phục, giảm thiểu tácđộng của thiên tai cần quan tâm xây dựng các công trình thuỷ lợi và đẩy mạnhcông tác trồng rừng đầu nguồn

1.1.4 Thuỷ văn

Lai Châu là tỉnh nằm trong lưu vực sông Đà và các phụ lưu chính gồm

sông Nậm Na, Nậm Mu và Nậm Mạ (Nậm Na b), có hệ thống sông suối tương đối dày đặc (khoảng 500 suối lớn, nhỏ) với mật độ 5,5 - 6 km/km2, trong đó đaphần các sông suối lớn có nước chảy quanh năm Tổng lượng dòng chảy nămtoàn tỉnh khoảng 16.868 triệu m3, phân bố giảm dần từ Bắc xuống Nam

- Sông Đà bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam - Trung Quốc chảy qua địa bànhuyện Mường Tè, sau đó chạy dọc phía Nam huyện Sìn Hồ, tạo thành ranh giới

tự nhiên giữa tỉnh Lai Châu và tỉnh Điện Biên Lưu vực sông Đà có tổng lượngdòng chảy năm là 6.816 x 106 m3, đầu nguồn sông có tổng diện tích lưu vựckhoảng 3.400 km2 (chiếm 38% diện tích tự nhiên của tỉnh), có 3 chi lưu cấp 1 là:

+ Sông Nậm Na: bắt nguồn từ vùng núi cao trên 1.500 m trên địa phận

Trung Quốc (tổng diện tích lưu vực khoảng 6.680 km 2 , chiều dài là 235 km, trong

đó trên lãnh thổ Việt Nam trương ứng là 2.190 km 2 và 86 km), có tổng lượng dòng

chảy năm là 4.513 x 106 m3, chảy qua địa bàn huyện Phong Thổ và Sìn Hồ rồi đổvào sông Đà với lưu lượng dòng chảy trung bình đạt từ 40 - 80 l/s

+ Sông Nậm Mạ: có tổng lượng dòng chảy năm là 1.400 x 106 m3, diện tíchlưu vực khoảng 930 km2, chảy qua các xã vùng thấp huyện Sìn Hồ, có độ dốc khánhỏ, chế độ dòng chảy thuận, lưu lượng dòng chảy trung bình đạt 50 l/s

+ Sông Nậm Mu: có tổng lượng dòng chảy năm là 4.144 x 106 m3, chảydọc thung lũng Bình Lư, Than Uyên với chiều dài sông chính 121 km, diện tíchlưu vực khoảng 2.620 km2 (tính tới trạm thủy văn Bản Củng), lưu lượng dòng

chảy trung bình đạt 80 l/s

Ngoài các sông suối lớn trên, trong tỉnh còn rất nhiều sông suối khác như:Nậm Cúm, Nậm Phìn Hồ, Nậm Cầy, Nậm So, Nậm Tăm, Nậm Ban, Nậm Cuổi,Nậm Han, Nậm Chắt, Nậm Hô, Nậm Sáp… và có khoảng 30 hồ chứa có dungtích nhỏ phục vụ cho thủy lợi và nuôi trồng thủy sản

1.2 Các nguồn tài nguyên

1.2.1 Tài nguyên đất

Trang 10

Theo kết quả đánh giá tài nguyên đất cho thấy tỉnh Lai Châu có 6 nhóm đấtchính là: Nhóm đất phù sa, nhóm đất đen, nhóm đất Feralit đỏ vàng, nhóm đấtFeralit mùn vàng đỏ trên núi, nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ, nhóm đấtmùn vàng nhạt trên núi cao và núi đá, sông suối

- Nhóm đất phù sa: gồm 5 loại đất có diện tích 5.653 ha, chiếm 0,62% diệntích tự nhiên, tập trung ở các huyện Sìn Hồ, Tam Đường, Than Uyên Đây lànhóm đất có chất lượng tốt, thích hợp với các loại cây ngắn ngày như: cây lươngthực, cây hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày

- Nhóm đất đen: gồm 3 loại đất với tổng diện tích 3.095 ha, chiếm 0,34%diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở thị xã Lai Châu, huyện Tam Đường, ThanUyên, Sìn Hồ, thích hợp cho phát triển các cây lương thực và cây công nghiệp

- Nhóm đất Feralit đỏ vàng: gồm 11 loại đất với diện tích 498.947 ha,chiếm 55,03% diện tích tự nhiên, phân bố rộng khắp trong tỉnh tại các vùng đồinúi có độ cao dưới 900 m Đặc điểm chủ yếu của nhóm đất này là có thành phần

cơ giới cát, cát pha; đất chua và có độ phì từ trung bình đến thấp Tuỳ theo chấtlượng đất và độ dốc của từng loại đất có thể phát triển cây lương thực, cây côngnghiệp dài ngày và các loại cây trồng khác theo mô hình nông lâm kết hợp cũngnhư phát triển rừng

- Nhóm đất Feralit mùn vàng đỏ trên núi: có diện tích 283.431 ha, chiếm31,25% diện tích tự nhiên, phân bố trên tất cả các vùng núi cao và núi vừa, độ cao

từ 900 m đến 1.800 m Nhóm đất này có tầng dày, thành phần cơ giới từ nhẹ đếntrung bình, ít chua nên thích hợp với nhiều loại cây trồng và khoanh nuôi tái sinhrừng Tuy nhiên, do phân bố ở địa hình cao, chia cắt mạnh và dễ bị rửa trôi nênviệc khai thác sử dụng gặp nhiều khó khăn và cần có biện pháp bảo vệ đất

- Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: có 35.941 ha, chiếm 3,96%diện tích tự nhiên, phân bố rải rác trên địa bàn tỉnh, thích hợp với cây lương thực,cây công nghiệp ngắn ngày

- Nhóm đất mùn vàng nhạt trên núi cao: có 57.906 ha, chiếm 6,38% diện

tích tự nhiên (tập trung ở các huyện Sìn Hồ, Mường Tè, Phong Thổ) Đất có chất

lượng khá tốt nhưng phân bố ở độ cao trên 1.800 m, địa hình hiểm trở nên khókhai thác sử dụng

- Các loại đất khác như núi đá, sông suối và mặt nước chuyên dùng… códiện tích khoảng 21.905 ha, chiếm 2,42% diện tích tự nhiên của tỉnh

Nhìn chung phần lớn quỹ đất của Lai Châu (hơn 70%) chỉ thích hợp cho

phát triển lâm nghiệp, do đó cần đẩy mạnh công tác phủ xanh đất trống, đồi núitrọc để sớm đưa ngành lâm nghiệp trở thành một ngành có đóng góp lớn vào tăngtrưởng kinh tế của tỉnh, đồng thời đảm bảo chức năng phòng hộ đầu nguồn cho

Trang 11

toàn khu vực.

Bảng 1.1: Phân loại thổ nhưỡng tỉnh Lai Châu

Trang 12

- Nước mặt: Do nằm trong lưu vực sông Đà cùng với khoảng 500 con suối

lớn, nhỏ nên Lai Châu có nguồn tài nguyên nước mặt rất lớn, không chỉ quý giáđối với sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt mà còn là tiềm năng để phát triển thuỷ

điện, trong đó có thuỷ điện Lai Châu lớn thứ 3 toàn quốc (sau thuỷ điện Sơn La

và Hoà Bình), thuỷ điện Huổi Quảng, Bản Chát và các công trình thuỷ điện nhỏ

công suất từ 1 - 30 MW

Mặc dù nguồn nước mặt của tỉnh khá phong phú về mùa mưa với lượng

dòng chảy chiếm khoảng 60 - 80% tổng lượng dòng chảy trong năm (tập trung

vào tháng 6, 7, 8), nhưng lại cạn kiệt vào mùa khô (nhất là khu vực thượng nguồn các con sông) với lượng dòng chảy chỉ chiếm khoảng 20% tổng lượng

dòng chảy trong năm (kiệt nhất vào tháng 2, 3 hàng năm), dẫn đến tình trạng thiếu nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất (đặc biệt ở vùng núi cao) Về chất lượng

nước, hầu hết các sông suối trên địa bàn tỉnh chưa bị ô nhiễm, song ở một sốđoạn sông suối chảy qua khu dân cư đã có những biểu hiện ô nhiễm cục bộ donước thải của các cơ sở sản xuất và nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý

- Nước ngầm: Hiện nay tài nguyên nước ngầm ở Lai Châu chưa được khảo

sát, đánh giá đầy đủ, nhưng theo tài liệu địa chất trong khu vực cho thấy trên địa

bàn tỉnh có trữ lượng nước ngầm và ở mức độ không sâu (nhất là vùng bãi ven

sông suối), tuy nhiên trữ lượng nước không lớn, một số nơi có thể khai thác phục

vụ cho sinh hoạt thông qua hình thức sử dụng giếng khoan, giếng đào

Về chất lượng nước ngầm: qua kết quả phân tích và so sánh chất lượngnước ngầm tại một số giếng khoan, giếng đào trên địa bàn tỉnh cho thấy chưa có

dấu hiệu ô nhiễm kim loại nặng (như thường thấy ở các tỉnh đồng bằng), song

nếu việc quản lý, khai thác nước ngầm không tốt sẽ dẫn đến nguy cơ ô nhiễmnguồn nước và khó có thể khắc phục được Sự phát triển các ngành công nghiệpkhai khoáng, đặc biệt là khai thác mỏ trên thượng nguồn ít nhiều sẽ ảnh hưởngđến chất lượng nước ngầm tại các khu vực hạ lưu; sự gia tăng dân số, việc pháttriển đô thị, cơ sở sản xuất kinh doanh dẫn đến nhu cầu dùng nước phục vụ sinhhoạt, sản xuất tăng cao, mức độ khai thác nước ngầm ngày càng lớn; do đó việckhảo sát, đánh giá trữ lượng và có phương án bảo vệ nguồn nước ngầm của tỉnh

là vấn đề cần được quan tâm trong giai đoạn tới

1.2.3 Tài nguyên rừng

Năm 2010, toàn tỉnh Lai Châu có 401.238,08 ha đất lâm nghiệp, trong đó:diện tích đất rừng sản xuất là 51.727,05 ha, chiếm 12,89% diện tích đất lâmnghiệp; đất rừng phòng hộ có 317.491,38 ha, chiếm 79,13% diện tích đất lâmnghiệp; đất rừng đặc dụng là 32.019,65 ha, chiếm 7,98% diện tích đất lâmnghiệp; độ che phủ rừng đạt 42,33% Rừng ở Lai Châu thuộc loại rừng nhiệt đớivới quần thể thực vật rất phong phú, trong đó có nhiều loại gỗ quý có giá trị kinh

tế cao như lát, chò chỉ, nghiến, tấu, pơmu…, các loại đặc sản như thảo quả, cọ

Trang 13

khiết (cây cánh kiến), song mây, sa nhân… nhưng do tình trạng đốt phá rừng làm

nương rẫy và khai thác gỗ bừa bãi trong những năm qua đã làm suy kiệt thảmrừng, hiện nay chủ yếu còn lại là rừng nghèo, rừng đang được khoanh nuôi táisinh và rừng trồng chưa khép tán, trong khi diện tích rừng trung bình, rừng giàu

và các vạt rừng nguyên sinh chỉ còn rất ít ở những vùng núi cao, xa quốc lộ có địahình hiểm trở Động vật rừng trước đây rất phong phú và đa dạng với nhiều loạiquý hiếm như Tê giác, Voi, Bò tót, Vượn, Hổ, Công, Gấu… nhưng do việc sănbắn trái phép và diện tích rừng nguyên sinh bị thu hẹp nên quần thể động vật

hoang dã đã suy giảm, hiện chỉ còn số lượng rất ít ở một số nơi (nhiều loại quý

hiếm như Tê giác, Voi, Bò tót, Hổ gần như không còn).

Rừng ở Lai Châu có vai trò hết sức quan trọng trong việc điều tiết nguồnnước, bảo vệ các công trình thủy điện lớn trên sông Đà và phòng chống lũ lụt chokhu vực hạ lưu Những năm gần đây, được sự quan tâm, hỗ trợ của nhà nước nêndiện tích rừng của Lai Châu đã tăng đáng kể thông qua việc trồng mới và khoanhnuôi, bảo vệ rừng Tuy nhiên do địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn nênviệc quản lý rừng trong ngành lâm nghiệp còn nhiều hạn chế; việc quy hoạchrừng và giao rừng cho các hộ dân bảo vệ cũng gặp rất nhiều khó khăn do địa bànquản lý phức tạp, kinh phí hỗ trợ thấp… nên việc nâng cao chất lượng rừng đảmbảo chức năng phòng hộ đầu nguồn và phát triển kinh tế rừng còn nhiều hạn chế

1.2.4 Tài nguyên khoáng sản

Theo kết quả điều tra tổng hợp, Lai Châu có 169 điểm, mỏ với 16 loạikhoáng sản rắn thuộc 4 nhóm và các nguồn nước nóng - nước khoáng, cụ thể:

- Nhiên liệu khoáng: phát hiện có 2 điểm than đá ở Nà Ban, Nậm Than

(huyện Than Uyên) và Huổi Lá (huyện Sìn Hồ), nhưng quy mô nhỏ, chất lượng than thuộc loại trung bình (được khuyến cáo không nên đầu tư điều tra tiếp).

- Khoáng sản kim loại: gồm có sắt, đồng, chì - kẽm, vàng, molipden, đất

hiếm, trong đó có triển vọng hơn cả là đất hiếm, vàng và đồng

+ Sắt: đã xác định thêm một số điểm quặng gồm sắt limonit lăn ở Then Tao

Nhang và điểm sắt gốc ở Si Thao Chai, song hàm lượng sắt thấp, quy mô nhỏ Ngoài

ra còn có các điểm đã và đang khai thác như quặng sắt Huổi Luông, Khun Há

+ Đồng: là khoáng sản có tiềm năng của tỉnh Lai Châu với 7 điểm quặng

đã được xác định, trong đó 3 điểm mới được đánh giá năm 2005 là Nậm Tia,

Nậm Ngã và Nậm Kinh (thuộc huyện Sìn Hồ) nằm trong quy hoạch khoáng sản

đồng cả nước Tổng trữ lượng và tài nguyên dự báo 167.000 tấn Cu

+ Chì - kẽm: đã xác định được 4 điểm quặng, phân bố chủ yếu tại huyệnSìn Hồ và Phong Thổ, trong đó 1 điểm được đánh giá có triển vọng đó là điểmchì - kẽm Si Phay với tài nguyên dự báo 51.000 tấn, 164 kg Au và 98 tấn Ag, còn

Trang 14

lại là các điểm quy mô nhỏ.

+ Vàng: là khoáng sản rất có tiềm năng của tỉnh, nhưng mức độ đầu tư điềutra còn ở mức thấp và sơ lược Hiện tại đã xác định được 15 điểm quặng, trong đóduy nhất 1 điểm vàng Thèn Sin được đầu tư đánh giá, song trữ lượng nhỏ, hàm

lượng thấp (hầu hết các điểm mỏ ít có tiềm năng khai thác quy mô công nghiệp).

Trữ lượng và TNDB 4.070 kg

Hiện nay điểm vàng Chinh Sáng đang được đầu tư điều tra thăm dò, điểmvàng Nậm Kha Á, điểm Sang Sui, điểm Nậm Suổng đang lập hồ sơ thăm dò

+ Molybden: trên địa bàn tỉnh đã xác định được 1 điểm quặng molybden

(trong đo vẽ địa chất ở tỉ lệ 1:50.000) với tài nguyên dự báo cấp P2 đạt 15.000 tấn

Mo và 200 tấn Bi

+ Đất hiếm: Lai Châu là tỉnh có tiềm năng đất hiếm duy nhất ở nước ta

Đến nay đã xác định 4 mỏ, điểm (có 3 mỏ đã được thăm dò tính trữ lượng, riêng

mỏ Nam Nậm Xe và Đông Pao đang được đầu tư thăm dò bổ sung) với tổng trữ

lượng và tài nguyên dự báo là trên 21 triệu tấn TR2O3, trong đó:

Mỏ đất hiếm Đông Pao: Toàn mỏ đã phát hiện trên 60 thân quặng eluvi

-deluvi, có chiều dày 3 - 4 m, quặng phong hóa tại chỗ dày 2 - 7,77 m, càng xuốngsâu hàm lượng càng thấp

Trữ lượng quặng: TR2O3: 694.800 tấn

Mỏ đất hiếm Bắc Nậm Xe: phân bố trong vùng đá vôi, đá vôi bị hóa màu

xám tro, màu xám, đôi chỗ phớt hồng, đá phân lớp dày bị vỡ vụn thuộc hệ tầng SiPhay (P1-2sp) Quặng đất hiếm phân bố trong đá vôi bị biến đổi tạo dải rộng 500 -

600 m, dài ~ 4 km theo phương TB - ĐN bao gồm hàng chục thân quặng côngnghiệp có chiều dày 0,5 - 5 - 6 m, chiều dài từ vài chục mét đến 200 - 500 m

Trữ lượng ∑TR2O3 = 7 triệu tấn, CaF2 = 1 triệu tấn, BaSO4 = 1,6 triệu tấn

Mỏ đất hiếm Nam Nậm Xe: phân bố trong đá phun trào mafic hệ tầng Viên

Nam (T1vn) Dọc đới khoáng hóa phát triển đai mạch thành phần kiềm Đã pháthiện được 4 thân quặng, ∑TR2O3 trung bình 10,6 %

Khoáng vật quặng: barit, baritoxelextin, parzit, basnezit, ankerit, calcit, ítpyrit, galenit, sphalerit, magnetit, flourit

Trữ lượng TR2O3 199.100 tấn

- Khoáng chất công nghiệp: được phát hiện và đánh giá cùng với đất hiếm

ỏ mỏ Bắc Nậm Xe và Đông Pao, bao gồm: Barit với trữ lượng và tài nguyên dựbáo quặng barit đạt 4,2 triệu tấn BaSO4; Fluorit 2,9 triệu tấn CaF2

- Khoáng sản vật liệu xây dựng

+ Đá xây dựng: Các đá magma xâm nhập chiếm diện tích khá lớn trên diện

Trang 15

tích toàn tỉnh, trong đó đã xác định được 2 điểm đá granit xây dựng ở Đúp Ngữ

và Bình Lư, có thể chế biến, sản xuất thành đá ốp lát

+ Đá vôi vật liệu xây dựng: phân bố rải rác trên địa bàn toàn tỉnh, quy môcác điểm mỏ không lớn, chủ yếu đáp ứng nhu cầu vật liệu xây dựng tại chỗ

+ Đá vôi xi măng: gặp khá phổ biến ở nhiều nơi thuộc các hệ tầng: BảnPáp, Bắc Sơn, Đồng Giao; lượng đá vôi khá nhiều, có khi tạo thành các khối lớn

có chất lượng đạt yêu cầu đá vôi xi măng Đã ghi nhận 03 điểm đá vôi ở Pa Tần

(huyện Sìn Hồ), gần khu vực Tam Đường và ngã ba Mường So (huyện Phong

Thổ) với chiều dày trên dưới 100 m, lộ thành dải kéo dài khoảng vài km hoặc tạo

thành khối núi, chất lượng khá tốt, hàm lượng CaO trên 50%, đạt chỉ tiêu đá vôi

xi măng, trữ lượng và tài nguyên dự báo đạt hàng trăm triệu tấn

+ Sét xi măng: đã xác định được 2 điểm sét xi măng ở San Thàng, TàLèng, là sản phẩm phong hóa của đá phiến sét xen bột kết, cát kết hệ tầng Nậm

Mu, có tầng phong hóa dày ~ 20m trên diện rộng, thành phần hóa học (%): SiO2 =54; Al2O3 = 12, tài nguyên dự báo lớn hơn 20 triệu tấn

+ Cuội kết vôi: Đã khảo sát điểm cuội kết vôi ở Huổi Hồ, Phong Thổ cóthể làm đá ốp lát Cuội kết xen trong cát kết, bột kết, sét kết thuộc hệ tầng YênChâu (K2yc), cuội kết vôi dạng lớp màu nâu, xám lục, hạt nhỏ Cuội chủ yếu làalbittofia, đá vôi, đá cát kết có kích thước không đều, xi măng là đá vôi, chlorit,epidot lớp cuội kéo dài 50 km, dày 2 m Đá dễ cưa cắt, khai thác lộ thiên Tínhchất cơ lý: dung trọng = 2,70 g/cm3, cường độ kháng ép khi khô = 325.105 N/cm2,

+ Cát, cuội sỏi xây dựng: phân bố dọc theo các bãi bồi 2 bên bờ và lòngsông suối Hiện đã khảo sát và đăng ký 3 điểm cát, cuội sỏi xây dựng là Nậm Na,Mường So và Bản Giàng Các điểm này đều có diện phân bố không lớn, trong đóđiểm Bản Giàng là điểm có quy mô lớn hơn cả, nhưng chiều dài chỉ đạt 600m,rộng 200m, bề dày của lớp cát có nơi quan sát được 2m Cát trắng thạch anh phân

bố ở thềm bậc I và bãi bồi dọc theo suối cùng tên

- Nước khoáng - nóng: Lai Châu là tỉnh có tiềm năng lớn về nguồn nước

khoáng (gồm 2 loại khoáng cacbonat và sunphat), nước nóng Trên địa bàn tỉnh

đã phát hiện 18 điểm nước nóng - nước khoáng, trong đó 7 nguồn nước khoángnóng có nhiệt độ > 50oC, còn lại là các nguồn nước khoáng và nước khoáng ấm

Trang 16

1.2.5 Tài nguyên nhân văn

Toàn tỉnh hiện có 20 dân tộc anh em đang sinh sống (gồm dân tộc Thái

chiếm 35,19%, dân tộc Mông chiếm 21,18%, dân tộc Dao chiếm 11,85%, dân tộc Kinh chiếm 12,69%, dân tộc Hà Nhì chiếm 5,12%, còn lại 13,29 % là các dân tộc khác, trong đó có một số dân tộc đặc biệt khó khăn như dân tộc Mảng, La Hủ, Cống, Kháng, KhơMú, SiLa), có truyền thống đoàn kết, cần cù, yêu lao động với

một nền văn hoá phong phú, đa dạng và được thể hiện qua các lễ hội dân gianmang đậm nét truyền thống như: lễ hội Tủ Cải của người Dao; lễ hội “Xêmmường”, “Hạn Khuống”, “Then Kin Pang”, “Hoa Ban” của đồng bào Thái; lễ hội

“Roóng poọc” của người Giáy; lễ hội “Bắt cá” của người Kháng ; các điệu múanổi tiếng như: làn điệu “xoè” của người Thái, người Mường, người Khơ Mú; cáclàn điệu hát dân ca, hát dao duyên đằm thắm, chữ tình Bên cạnh đó còn có nghệ thuật tạo hình được thể hiện rất độc đáo trên các bộ trang phục đa sắc màu, nhiềukiểu dáng hoa văn như: trang phục của đồng bào Thái, Mông, Dao ; nghệ thuậtkiến trúc và các đường nét hoa văn trang trí trong các ngôi nhà truyền thống; cácsản phẩm thủ công như: chạm khắc, đan lát Đây chính là tiềm năng để pháttriển loại hình du lịch văn hóa trên địa bàn tỉnh

Tuy nhiên, do phần lớn đồng bào dân tộc sống phân tán ở các khu vựcvùng cao, vùng sâu, cơ sở hạ tầng yếu kém, đời sống còn nhiều khó khăn, tìnhtrạng du canh du cư còn tồn tại là những cản trở không nhỏ cho sự phát triển kinh

tế - xã hội, bảo vệ an ninh, quốc phòng trên địa bàn tỉnh

1.3 Thực trạng môi trường

Với phần lớn diện tích là đồi núi, thảm thực vật, động vật rừng phong phú

và các khu bảo tồn thiên nhiên đã tạo cho Lai Châu có cảnh quan môi trường đadạng với các tiểu vùng khí hậu mát mẻ, phong cảnh đẹp, thuận lợi để phát triểncác loại hình du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái, du lịch tham quan, văn hóa Mặc dùcác khu vực đô thị, công nghiệp chưa phát triển mạnh nên mức độ ô nhiễm môitrường nước, không khí, đất đai chưa nghiêm trọng, song ở một số vị trí, một sốlĩnh vực đã có những ảnh hưởng nhất định đến cảnh quan, môi trường:

- Hiện trạng đa dạng sinh học của tỉnh đang đứng trước nguy cơ bị suygiảm, một số loài động, thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng Diện tíchrừng và độ che phủ rừng toàn tỉnh đã tăng trong những năm gần đây nhưng chấtlượng rừng bị suy giảm, các loại gỗ tự nhiên quý hiếm đang ngày càng cạn kiệt

- Môi trường nước: nhìn chung nguồn nước của tỉnh có chất lượng tươngđối tốt, chưa có dấu hiệu ô nhiễm, song ở một số khu vực do việc xử lý nước thải

từ các khu dân cư, cơ sở sản xuất kinh doanh, công nghiệp, bệnh viện, các hoạtđộng khai khoáng chưa tốt và việc quy hoạch các bãi chôn lấp rác thải không hợplý… đã dẫn đến có dấu hiệu ô nhiễm nguồn nước

Trang 17

- Môi trường đất: do địa hình đồi núi cao, độ dốc lớn nên trên địa bàn tỉnhthường xuất hiện các hiện tượng đất đai bị xói mòn, rửa trôi, lũ lụt gây sạt lở đất

và lũ quyét Bên cạnh đó, việc canh tác trên đất dốc với tập quán lạc hậu, khônghợp lý của người dân cũng như việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vậtkhông đúng kỹ thuật cũng là những nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm và suy thoáimôi trường đất, đặc biệt là ở những khu vực có độ dốc lớn

- Môi trường không khí: do công nghiệp chưa phát triển, mức độ đô thị hóacòn thấp nên chất lượng môi trường không khí của tỉnh được đánh giá tương đốitốt Ô nhiễm môi trường không khí chỉ xuất hiện cục bộ ở một số điểm của khuvực thị xã, thị trấn huyện lỵ và một số khu sản xuất, kinh doanh… với các chấtgây ô nhiễm chủ yếu là CO, NOx, xăng, dầu và bụi

- Do địa chất một số khu vực có đặc điểm kết cấu kiến tạo núi trẻ nên dễxuất hiện các hiện tượng tai biến địa chất, cần phòng tránh khi đầu tư xây dựngcông trình; ngoài ra các yếu tố môi trường khác như tiếng ồn, phóng xạ cũng cầnđược quan tâm

Từ những vấn đề nêu trên, trong những năm sắp tới, cùng với quá trìnhkhai thác các nguồn tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượngcuộc sống thì việc tái tạo cảnh quan, dự kiến trước các biện pháp để kịp thời ngănngừa, hạn chế, khắc phục các vấn đề ô nhiễm, bảo vệ và phát triển bền vững cácnguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái của tỉnh là vô cùng cần thiết

1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường

1.4.1 Những thuận lợi, lợi thế

- Lai Châu có vị trí là cầu nối quan trọng giữa vùng lục địa rộng lớn phíaTây Nam Trung Quốc với vùng tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng -

Quảng Ninh (thông qua cửa khẩu quốc tế Ma Lù Thàng, cửa khẩu U Ma Tu

Khoòng và các tuyến quốc lộ quan trọng như QL 4D, QL 279, QL 12, QL 32), sẽ

tạo thuận lợi cho tỉnh trong quá trình phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa và tiếpthu khoa học và công nghệ

- Các nguồn tài nguyên (tài nguyên đất, rừng, khoáng sản) đa dạng, phong

phú là điều kiện thuận lợi để phát triển nền kinh tế đa dạng, bao gồm kinh tế nônglâm nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và du lịch

- Có khí hậu điển hình của vùng nhiệt đới gió mùa núi cao Tây Bắc, thuậnlợi cho sinh trưởng, phát triển và đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, phát triển rừng

tự nhiên cũng như các mô hình nông lâm kết hợp với các cây công nghiệp ngắn

ngày, dài ngày (như cao su, chè, thảo quả, cây ăn quả, rừng nguyên liệu ) cung

cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, là điều kiện để thay đổi cơ cấu kinh tếtheo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 18

tư kém hấp dẫn hơn nhiều các tỉnh khác trong nước.

- Tài nguyên đất tuy đa dạng về nhóm và loại nhưng phần lớn là đất dốc,tầng đất mỏng, thảm thực vật ít nên quá trình suy thoái đất diễn ra ngày càngnghiêm trọng, chất lượng đất suy giảm, hạn chế đến khả năng khai thác sử dụngcho các mục đích phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp

- Tài nguyên khoáng sản ở Lai Châu tuy phong phú và đa dạng về chủngloại nhưng hầu hết là điểm mỏ nhỏ và mới chỉ được đánh giá sơ bộ, chưa đượcthăm dò đánh giá cụ thể về trữ lượng và chất lượng Ngoài ra do địa hình hiểmtrở, giao thông chưa phát triển nên việc khai thác các điểm mỏ gặp nhiều khókhăn, chi phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chi phí sản xuất lớn nên các điểm

mỏ chưa được phát huy khai thác, hạn chế đến sự phát triển ngành công nghiệpkhai khoáng

II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

2.1.1 Tăng trưởng kinh tế

Trong những năm qua nền kinh tế của tỉnh vẫn duy trì được mức độ tăngtrưởng khá, chất lượng tăng trưởng của một số ngành và lĩnh vực kinh tế - xã hộitiếp tục được cải thiện

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân giai đoạn 2006 - 2010 đạt

13%/năm, gần đạt chỉ tiêu (14 - 15%) Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI

đề ra (năm 2005 tăng 11,00%, năm 2006 tăng 12,31%, năm 2007 tăng 15,82%,

năm 2008 tăng 9,56%, năm 2009 tăng 12,56%, năm 2010 tăng 14,45%), trong đó

khu vực công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 17,0%/năm; khu vực dịch vụtăng 13,4%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,0% Thu nhập bìnhquân đầu người năm 2010 đạt 8 triệu đồng, tăng 2,4 lần so với năm 2005

Trang 19

Bảng 1.2: Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Lai Châu

Diễn biến chỉ số phát triển GDP trên địa bàn theo thành phần kinh tế (theo

giá cố định 1994) từ năm 2005 - 2010 cho thấy: GDP của khu vực kinh tế quốc

doanh đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm là 10,87%; khu vực kinh tế ngoàiquốc doanh đạt 13,74%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 12,86%

Nhìn chung trong những năm qua các ngành kinh tế của tỉnh đều có sự tăngtrưởng, trong đó ngành công nghiệp - xây dựng, dịch vụ có sức tăng khá Sứccạnh tranh của nền kinh tế tuy còn khó khăn nhưng đã có sự chuyển biến tích cực.Tiềm năng, lợi thế của địa phương được tập trung khai thác, chất lượng sản phẩmđược từng bước nâng cao gắn với chế biến và xuất khẩu

2.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Cơ cấu các ngành kinh tế: cơ cấu kinh tế của tỉnh trong những năm qua

có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, phù hợp với xu thế chuyển đổi cơ cấukinh tế chung của cả nước, trong đó tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp xâydựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, đượcthể hiện như sau:

Bảng 1.3: Cơ cấu các ngành kinh tế giai đoạn 2005 - 2010

Trang 20

Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

Cơ cấu GDP (theo giá hiện hành) % 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00

1 Nông, lâm nghiệp và thủy sản % 45,27 43,00 38,50 36,41 34,61 32,11

2 Công nghiệp - xây dựng % 25,42 27,54 30,70 33,46 34,28 35,34

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Lai Châu

Ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng nhanh tỷ trọng, ngày càngđóng vai trò quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế Tỷ trọng khu vực công nghiệp -

xây dựng tăng từ 25,42% (năm 2005) lên 35,34% (năm 2010); khu vực dịch vụ

tăng tương ứng từ 29,31% lên 32,55%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sảngiảm từ 45,27% giảm xuống còn 32,11%; bình quân giai đoạn 2006 - 2010, côngnghiệp - xây dựng đạt 35,34%, tăng 7,8%; dịch vụ đạt 32,55%, tăng 3,09%; nông,

lâm nghiệp và thủy sản đạt 32,11%, giảm 10,89% (mục tiêu Nghị quyết Đại hội

lần thứ XI tương ứng là: 35% - 33% - 32%).

- Cơ cấu thành phần kinh tế có sự chuyển đổi theo hướng đa dạng hóa cácthành phần Tỷ trọng cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế: khu vực kinh tế nhànước tăng đều trong các năm 2005, 2007, 2008 và có xu hướng giảm đi trong các

năm 2006, 2009, 2010 (năm 2010 chỉ đạt 35,49%, giảm 5,09% so với năm 2005);

khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có xu hướng giảm đều trong các năm và chỉ

tăng trong năm 2006, 2009, 2010 (năm 2010 đạt 64,48%, tăng 5,19% so với năm

2005); khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng tăng nhưng quy mô

vẫn còn nhỏ bé (năm 2010 đạt 0,03%) - đây là một hạn chế của tỉnh, chưa tạo được sức hấp dẫn trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Nhìn chung, cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch theo hướng côngnghiệp hóa - hiện đại hóa và thay đổi đều ở cả ba khu vực, từng bước hình thànhnên cơ cấu Công nghiệp - Dịch vụ - Nông, lâm nghiệp và thủy sản Tuy nhiênmức độ chuyển dịch kinh tế hiện nay diễn ra còn chậm, chưa có bước đột phá

2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

2.2.1 Khu vực kinh tế nông nghiệp

Trong thời gian qua tỉnh đã tích cực chỉ đạo, bằng nhiều biện pháp có hiệuquả để đảm bảo an ninh lương thực, đầu tư tăng năng lực tưới tiêu chủ động,phòng trừ dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi Nông, lâm nghiệp và thủy sản pháttriển theo hướng thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng năngsuất, chất lượng và hiệu quả sản xuất; khai thác, nuôi trồng thủy sản bước đầu gắnvới công nghiệp và chế biến; kinh tế trang trại phát triển mạnh cả về số lượng,quy mô, phát huy ưu thế của từng vùng Đến nay đã hình thành một số vùng sảnxuất nông, lâm nghiệp tập trung, có triển vọng về hiệu quả kinh tế - xã hội

a Trồng trọt: là ngành sản xuất then chốt, được phát triển theo hướng vừa

Trang 21

đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, vừa thâm canh tăng năng suất Trên địa bàn tỉnh

đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế trang trại, kinh tế hộ gia đình hoạt động có

hiệu quả (đến năm 2010 toàn tỉnh có 223 trang trại, trong đó có 31 trang trại

trồng cây hàng năm, 11 trang trại trồng cây lâu năm, 53 trang trại chăn nuôi, 03 trang trại thủy sản, 52 trang trại lâm nghiệp, 73 trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp); nhiều ngành nghề nông thôn được khôi phục, phát triển, góp phần tạo

thêm nhiều việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

Năm 2010, giá trị sản xuất ngành trồng trọt (theo giá hiện hành) đạt 912.486 triệu đồng, chiếm 74,49% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp (trong đó

cây lương thực đạt 635.736 triệu đồng; cây rau đậu 44.064 triệu đồng; cây công nghiệp hàng năm 41.328 triệu đồng; cây công nghiệp lâu năm 59.398 triệu đồng

và cây ăn quả đạt 19.241 triệu đồng ); đã chú trọng đưa các tiến bộ khoa học

-kỹ thuật vào sản xuất; tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 166 nghìn tấn, lươngthực bình quân đầu người đạt 400 kg/năm, đảm bảo an ninh lương thực trong tỉnh

(đạt mục tiêu Nghị quyết Đại hội lần thứ XI).

- Cây hàng năm trên có sự phát triển cả về quy mô diện tích gieo trồng vàsản lượng, trong đó: cây lúa có diện tích gieo trồng cả năm là 30.267 ha, sảnlượng đạt 116.772 tấn; cây ngô là 19.436 ha, sản lượng đạt 49.664 tấn; cây khoailang 429 ha, sản lượng đạt 2.142 tấn; cây sắn 5.377 ha, sản lượng đạt 46.738 tấn;cây lạc 1.589 ha, sản lượng đạt 1.504 tấn; cây đậu tương 2.384 ha, sản lượng đạt2.233 tấn

- Các loại cây công nghiệp dài ngày (chủ yếu là cao su, chè và thảo quả), cây ăn quả (cam, xoài, dứa, chuối, nhãn vải) cũng phát triển khá Diện tích cây công nghiệp dài ngày như cao su (6.248 ha, tăng 2.702 ha so với năm 2009), thảo quả (4.166 ha); cây chè (3.052 ha) Ngoài ra diện tích trồng cây ăn quả cũng được phát triển tăng đều qua các năm (năm 2010 đạt 1.405 ha tăng 701 ha so với

năm 2005 và 118 ha so với năm 2009)

Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã hình thành phát triển một số vùng sản xuấtchuyên canh tập trung như vùng lúa ở các huyện Than Uyên, Tam Đường; vùngtrồng cao su ở các huyện Phong Thổ, Sìn Hồ và Mường Tè; vùng chè ở huyệnTam Đường, Than Uyên và thị xã Lai Châu

b Lâm nghiệp: năm 2010 giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá hiện hành

đạt 275.960 triệu đồng, trong đó: trồng và nuôi rừng 35.186 triệu đồng; khai tháclâm sản và thu nhặt từ rừng 227.298 triệu đồng; dịch vụ và các hoạt động lâmnghiệp khác 13.476 triệu đồng Trong thời gian qua phát triển theo hướng lâmnghiệp xã hội, giao khoán rừng, đất lâm nghiệp đến các tổ chức, nhóm hộ giađình; lồng ghép các dự án đầu tư khoán, bảo vệ rừng hiện có, khoanh nuôi táisinh rừng tự nhiên gắn với trồng rừng mới Nhờ việc thực hiện các chương trình

661, 327, chương trình khoanh nuôi, bảo vệ rừng 21 xã biên giới, các chương

Trang 22

trình phát triển rừng (tổ chức khoán, khoanh nuôi, bảo vệ, tái sinh rừng và trồng

rừng mới) nên kinh tế rừng đã có chuyển biến khá rõ nét Năm 2010 diện tích

rừng trồng mới tập trung toàn tỉnh đạt 4.726,80 ha, sản lượng gỗ khai thác 9.475

m3, độ che phủ rừng đạt 42,33% vào năm 2010 (mục tiêu Nghị quyết Đại hội lần

thứ XI là 45%).

c Chăn nuôi: trong những năm qua ngành chăn nuôi của tỉnh đã có những

bước phát triển khá, đàn gia súc và gia cầm phát phát triển ổn định Trên địa bàntỉnh hiện nay đã hình thành một số mô hình chăn nuôi trang trại, chăn nuôi công

nghiệp có qui mô vừa và nhỏ (năm 2010 toàn tỉnh có 53 trang trại) Năm 2010

tổng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi theo giá hiện hành đạt 309.447 triệu đồng,

tăng 23,81% so với năm 2009 (trong đó các sản phẩm từ gia súc đạt 198.755

triệu đồng, gia cầm đạt 82.758 tỷ đồng và sản phẩm không qua giết thịt đạt 13.366 triệu đồng) Mặc dù đã có những bước phát triển, song nhìn chung chăn

nuôi của tỉnh còn phân tán, qui mô nhỏ, đầu ra chưa ổn định và luôn tiềm ẩn dịchbệnh

d Thủy sản: giá trị sản xuất thủy sản theo giá thực tế phân theo ngành hoạt

động có xu hướng tăng dần theo Năm 2010, giá trị sản xuất về khai thác đạt4.548,9 triệu đồng, nuôi trồng đạt 36.507,68 triệu đồng Nhìn chung nuôi trồngthủy sản đang được chú trọng phát triển nhằm phát huy lợi thế về sông, hồ và đạtđược những bước chuyển biến tích cực Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản

phát triển nhanh (trong đó diện tích nuôi thả cá là 587,31 ha, tôm 0,85 ha, còn lại

2,84 ha là nuôi trồng các loại thủy sản khác) Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 03

trang trại nuôi trồng thủy sản đã phát huy hiệu quả, trong những năm tới cần mởrộng mô hình này nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và phát triển kinh tế

2.2.2 Khu vực kinh tế công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định năm 1994) phân theo thành phần

kinh tế năm 2010 đạt 163.486 triệu đồng, luôn có mức tăng trưởng năm sau cao

hơn năm trước (năm 2005 đạt 32.317 triệu đồng, năm 2009 đạt 142.048 triệu

đồng) Trong đó: khu vực kinh tế nhà nước 54.175 triệu đồng; ngoài nhà nước

108.916 triệu đồng và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 395 triệu đồng

Các ngành công nghiệp có nhịp độ tăng trưởng cao như khai khoáng

35.856 triệu đồng (tăng 17.416 triệu đồng so với năm 2005); công nghiệp chế biến, chế tạo 106.409 triệu đồng (tăng 48.869 triệu đồng so với năm 2005); sản

xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí

5.219 triệu đồng (tăng 4.557 triệu đồng so với năm 2005); cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải 15.990 triệu đồng (tăng 12.629 triệu

đồng so với năm 2005).

Về phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp, hiện tại UBND tỉnh đã có

Trang 23

quyết định phê duyệt quy hoạch chi tiết cụm công nghiệp thị xã Lai Châu, TânUyên và Than Uyên Đây là điều kiện thuận lợi để công nghiệp của tỉnh pháttriển Ngoài ra, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp, một số nghề truyềnthống như dệt thổ cẩm, mây tre đan cũng được khôi phục, phát triển, bước đầuđem lại hiệu quả kinh tế.

2.2.3 Khu vực kinh tế dịch vụ

a Thương mại nội địa

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế

phân theo thành phần kinh tế tăng từ 497.099 triệu đồng (năm 2005) lên 1.135.383 triệu đồng (năm 2009) và đạt 1.434.003 triệu đồng vào năm 2010, tăng

2,88 lần so với năm 2005 Trong đó tập trung chủ yếu ở khu vực nhà nước đạt96.537 triệu đồng; ngoài nhà nước đạt 1.337.466 triệu đồng

Các mặt hàng chính sách có trợ giá, trợ cước, như: Dầu hỏa, muối I ốt,xăng dầu các loại, giống nông nghiệp, cây trồng các loại, vật tư nông nghiệp…được tổ chức cung ứng, phục vụ tại 159 điểm bán trên địa bàn toàn tỉnh Trong 4

năm (từ năm 2006 và ước đến năm 2009) ngành thương mại dịch vụ cung ứng

được 92.300 tấn xăng dầu, 8.293 tấn muối I ốt, 38.392 tấn vật tư nông nghiệp,2.906 tấn giống nông nghiệp và thủy sản, 784 tấn giấy vở học sinh, tổ chức thumua 2.751 tấn nông sản… đã đáp ứng nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng của nhândân, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Về đầu tư cơ sở hạ tầng: mạng lưới kinh doanh trong những năm quakhông ngừng được mở rộng, trong đó:

+ Hệ thống chợ (từ trung tâm tỉnh đến các huyện và các trung tâm cụm xã)

từng bước được đầu tư theo quy hoạch; đã nâng cấp, cải tạo và xây mới được 7chợ với tổng diện tích kinh doanh là 21.200 m2, tiếp tục nâng cấp cải tạo, xây mới

4 chợ để đưa vào sử dụng, nâng tổng số chợ đi vào hoạt động lên 23 chợ (tăng 8

chợ so với năm 2005) với tổng vốn đầu tư giai đoạn 2006 - 2010 trên 30 tỷ đồng,

tăng 3,48 lần so với giai đoạn 2001 - 2005

+ Hệ thống cửa hàng bán buôn, bán lẻ phát triển nhanh chóng, hàng hóakinh doanh đa dạng, phong phú Tính đến hết năm 2008 toàn tỉnh có 3.354 cơ sở

bán buôn, bán lẻ (trong đó có 3.123 cơ sở bán lẻ), tăng 1.871 cơ sở so với năm

2005 Hiện nay, tại thị xã Lai Châu đang triển khai xây dựng Trung tâm thươngmại của tỉnh thu hút tổng vốn đầu tư đăng ký 38 tỷ đồng

+ Hệ thống dịch vụ lưu trú, ăn uống phát triển mạnh tại trung tâm tỉnh lỵ và

các thị trấn, thị tứ ở các huyện thị, khi mới thành lập tỉnh (năm 2004) chỉ có 69 cơ

sở, đến nay đã có 746 cơ sở, đáp ứng nhu cầu ngày càng tốt hơn, góp phần thúcđẩy kinh tế dịch vụ phát triển

Trang 24

b Hoạt động xuất nhập khẩu và kinh tế đối ngoại

Thực hiện chương trình phát triển kinh tế cửa khẩu theo Nghị quyết Đạihội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, trong những năm qua tỉnh đã xây dựng và triển khaicác đề án quy hoạch phát triển khu kinh tế cửa khẩu Ma Lù Thàng; đề án pháttriển kinh tế cửa khẩu giai đoạn 2007 - 2015; xây dựng quy hoạch cửa khẩu U Ma

Tu Khoòng và các cửa khẩu phụ trên tuyến biên giới Việt - Trung nhằm pháttriển nhanh các hoạt động xuất, nhập khẩu

Hoạt động sản xuất kinh doanh xuất, nhập khẩu: phát triển từ chỗ chỉ có 30

doanh nghiệp tham gia (năm 2005), trong giai đoạn 2006 - 2009 đã có gần 100 đơn vị tham gia (hoạt động không thường xuyên qua cửa khẩu Ma Lù Thàng) với

các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu gồm: quặng qua sàng tuyển các loại, đá đen, chèkhô chế biến, thảo quả, bột giấy, hàng nông lâm sản… song giá trị hàng hóa xuất

khẩu địa phương thấp, chỉ đạt 3,9 triệu USD (năm 2010) Nguyên nhân là do hệ

thống giao thông, cơ sở hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu đang trong quá trình đầu tưhoàn thiện nên việc vận chuyển hàng hóa gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là do chịu

sự tác động của chính sách biên mậu của Trung Quốc, sự suy thoái kinh tế toàncầu

Bên cạnh đó, các hoạt động nhập khẩu cũng diễn ra với một số mặt hàng

chủ yếu như hàng hóa tiêu dùng thông thường (lương thực, thực phẩm và hàng

hóa tiêu dùng khác), tư liệu sản xuất (máy móc, dụng cụ và nguyên, nhiên vật liệu phục vụ sản xuất) với tổng giá trị nhập khẩu chiếm dưới 10% tổng kim ngạch

xuất - nhập khẩu trên địa bàn tỉnh

Hoạt động kinh doanh dịch vụ và du lịch tại khu đầu mối khu kinh tế cửakhẩu Ma Lù Thàng có bước phát triển khá cao, doanh thu dịch vụ và du lịch tăng

từ 1,65 tỷ đồng năm 2005 lên 2,4 tỷ đồng năm 2008, thực hiện năm 2009 đạt 3 tỷđồng với tốc độ tăng bình quân 25,85%/năm Lượng khách xuất nhập cảnh quacửa khẩu Ma Lù Thàng giai đoạn 2006 - 2010 tăng bình quân 29,40%/năm

Thu ngân sách từ thuế xuất nhập khẩu và dịch vụ tại khu kinh tế cửa khẩu

có mức tăng trưởng khá cao và ổn định, tăng từ 1.877 triệu đồng năm 2005 lên4.335 triệu đồng năm 2008 và đạt 17.021 triệu đồng năm 2010, tăng 9,07 lần sovới năm 2005

2.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

2.3.1 Dân số

Theo số liệu thống kê năm 2010, toàn tỉnh có 382.430 nhân khẩu (nam giới

là 195.565 người, chiếm 51,14% và nữ giới là 186.865 người, chiếm 48,86%),

trong đó dân số thành thị là 53.368 người (chiếm 15,34%), nông thôn là 328.062

người, chiếm 84,66% dân số, mật độ dân số bình quân 42 người/km2 Dân số của

Trang 25

tỉnh phân bố không đồng đều giữa các vùng, các huyện, thị xã, đa số tập trung tại

các khu vực đô thị (mật độ dân số cao nhất là tại thị xã Lai Châu 396 người/km 2 , thấp nhất là huyện Mường Tè 14 người/km 2)

Trong những năm qua, công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình được chútrọng, thực hiện có hiệu quả, giảm tỷ lệ sinh từ 30,20%0 (năm 2005) xuống còn

30,14%0 (năm 2010) Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên tăng từ 22,32%0 (năm 2005) lên

- Tỷ lệ tăng tự nhiên (%o) 22,32 24,87 24,51 24,96 24,59 24,74

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Lai Châu

Với tốc độ thị hóa có xu hướng ngày càng cao cùng với việc phát triển vàhình thành một cách đồng bộ các khu công nghiệp, khu du lịch trên địa bàn tỉnhtrong thời gian tới thì tỷ lệ tăng dân số cơ học theo dự báo sẽ có nhiều biến động

2.3.2 Lao động và việc làm

Năm 2010, tỉnh Lai Châu có 224.523 người trong độ tuổi lao động (chiếm

58,71% dân số), trong đó số lao động đang làm việc trong nhà nước là 22.872

người, ngoài nhà nước là 201.590 người, khu vực đầu tư nước ngoài là 61 người.Trong giai đoạn 2006 - 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo bình quân đạt 30%, vượt

mục tiêu đề ra (25%); giải quyết việc làm cho 4.900 người, vượt mục tiêu đề ra (4.000 người) Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị 4,92% Nhìn chung nguồn

lao động của tỉnh tương đối dồi dào, là điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế

xã hội, tuy nhiên lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp.Trong tương lai, để đáp ứng được nhu cầu lao động trong điều kiện khoa học kỹthuật ngày càng phát triển cần có hướng và đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cholao động

2.3.3 Thu nhập và mức sống

Trong những năm qua, nhờ phát triển kinh tế nên đời sống của đại bộ phận

cư dân trên địa bàn tỉnh từng bước được nâng lên rõ rệt, các tiện nghi sinh hoạt,điều kiện sống, văn hóa tinh thần được cải thiện đáng kể Thu nhập bình quân

đầu người đạt 8 triệu đồng/năm, vượt mục tiêu đề ra (7 triệu đồng); số hộ khá, giàu ngày càng nhiều; tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 24% (mục tiêu là 30%) Tỷ

lệ số hộ được sử dụng điện thực hiện đạt 75% (gần đạt mục tiêu 80%); tỷ lệ dân

số được sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh ở đô thị đạt 80% (đạt mục tiêu), ở nông thôn đạt 80%, vượt xa so với mục tiêu đề ra (mục tiêu là 30%); tỷ lệ hộ nghe đài và xem truyền hình đạt 92% và 82%, đều vượt so với mục tiêu (mục tiêu

Trang 26

tương ứng là 90% và 80%) Tuy nhiên thu nhập và mức sống của dân cư vùng

nông thôn còn thấp, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, vùng đồng

bào dân tộc thiểu số (Sìn Hồ, Mường Tè, Phong Thổ ).

2.4 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn

2.4.1 Thực trạng phát triển đô thị

Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 08 đô thị, bao gồm 1 thị xã (đô thị loại IV) và

07 thị trấn (đô thị loại V), dân số đô thị (năm 2010) có 54.368 người, chiếm

- văn hoá - xã hội của các huyện

Trong những năm gần đây, sự phát triển của các đô thị đã có những chuyển

biến tích cực (nhất là thị xã Lai Châu), bộ mặt đô thị từng bước được khang trang

với việc đầu tư các công trình điện chiếu sáng, bưu chính viễn thông, phát thanhtruyền hình song nhìn chung, quá trình hình thành và phát triển các đô thị trên

địa bàn tỉnh còn mới và chưa ổn định, được hình thành bởi yếu tố “đô” (trung

tâm hành chính, chính trị) là chính, yếu tố “thị” (dịch vụ, trao đổi về hàng hoá, kinh tế) còn chưa phát triển, tốc độ đô thị hóa diễn ra chậm và tự phát Hệ thống

cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông, cấp thoát nước, cấp điện ) tuy đã có sự cố

gắng đầu tư nhưng hiện tại còn chắp vá, thiếu đồng bộ, chưa đảm bảo quy mô,tiêu chuẩn kỹ thuật; kiến trúc không gian dân cư nhiều khu vực xây dựng chưađúng quy định làm ảnh hưởng chung đến cảnh quan đô thị, trong đó đáng lưu ý:

- Trong khu vực đô thị, diện tích đất nông lâm nghiệp, đất chưa sử dụng

còn nhiều (đất nông nghiệp chiếm 70,22%; đất chưa sử dụng chiếm 19,74% tổng

quỹ đất đô thị) và sản xuất nông lâm nghiệp vẫn chiếm phần quan trọng trong quá

trình phát triển kinh tế - xã hội của các đô thị

- Hệ thống thoát nước mưa, nước thải tại các đô thị còn thiếu và không tậptrung, chủ yếu ở khu vực trung tâm, các tuyến đường chính

- Các cơ sở thương mại - dịch vụ, các công trình văn hoá, công viên vănhóa, phúc lợi công cộng mới đang dần được đầu tư xây dựng; tỷ lệ công viên câyxanh trong đô thị còn chiếm tỷ lệ thấp

- Cơ sở kinh tế - kỹ thuật tạo động lực phát triển đô thị còn yếu, chưa tạo ranguồn thu lớn cho nền kinh tế quốc dân và giải quyết công ăn việc làm cho người

Trang 27

Trong giai đoạn tới, để hoàn chỉnh hệ thống đô thị của tỉnh, xứng đáng vớivai trò là trung tâm chính trị, kinh tế - văn hoá xã hội của các cấp hành chính,động lực thúc đẩy lan toả phát triển kinh tế của các khu vực đô thị ra xung quanh,cần thiết phải tiếp tục đầu tư xây dựng, phát triển mở rộng quy mô các đô thị,

hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng (giao thông, cấp thoát nước, cấp điện, xử lý

chất thải ) và các công trình phúc lợi công cộng trong đô thị

2.4.2 Thực trạng phát triển khu dân cư nông thôn

Do đặc điểm hình thành và lịch sử phát triển, là địa bàn có nhiều thànhphần dân tộc sinh sống nên các khu dân cư nông thôn ở Lai Châu được phát triểntheo những hình thức khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện và mức độ quần tụ dân

cư trong từng khu vực với các tụ điểm dân cư truyền thống như thôn, bản Toàntỉnh hiện có 103 xã, phường, thị trấn, bao gồm 1.112 thôn, bản, tổ dân phố vớitổng diện tích đất khu dân cư nông thôn 12.000,10 ha Các khu dân cư thườngphân bố tập trung theo các trục đường giao thông có dịch vụ thương mại, buônbán nhỏ phát triển và sản xuất nông, lâm nghiệp

Những năm qua, việc thực hiện các chương trình định canh định cư,chương trình xoá đói giảm nghèo, chương trình 661, dự án xây dựng trung tâmcụm xã, dự án 135, quyết định 134, 167, nghị quyết 30a đã gắn việc sắp xếp, ổnđịnh dân cư với đất đai sản xuất và xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu vùng nôngthôn, làm thay đổi dần bộ mặt nông thôn với tỷ lệ xã có điện đạt 85%, tỷ lệ hộ sửdụng điện đạt 75%, tỷ lệ xã có điểm bưu điện văn hóa đạt 80%, tỷ lệ dân số sử

dụng nước sạch, hợp vệ sinh đạt 80% (mục tiêu đề ra tương ứng là 100%, 80%,

100%, 30%), đời sống dân sinh cơ bản ổn định, nhiều nơi được cải thiện, diện đói

nghèo đang dần thu hẹp Tuy nhiên, nhìn chung cơ sở hạ tầng của hầu hết địa bàndân cư nông thôn đều ở mức chưa hoàn chỉnh; hệ thống giao thông, cấp nước, cấpđiện còn rất hạn chế, chất lượng thấp; các công trình như trường học, chợ, y tế,sân thể thao còn thiếu, đặc biệt là đối với các khu dân cư ở vùng sâu, vùng xa,vùng đồng bào dân tộc ít người

2.5 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

2.5.1 Thực trạng phát triển giao thông

2.5.1.1 Giao thông đường bộ

Trang 28

a Quốc lộ: Trên địa bàn tỉnh có 05 tuyến quốc lộ chạy qua là QL 4D, QL

12, QL 32, QL 100 và QL 279 với tổng chiều dài 318,57 km, toàn bộ đều đượcthảm bê tông nhựa và láng nhựa

- QL 4D: là trục giao thông quan trọng nối tỉnh Lai Châu với tỉnh Lào Cai

(điểm đầu là ngã 3 Pa So huyện Phong Thổ và điểm cuối là đỉnh đèo Hoàng Liên

Sơn huyện Sa Pa - tỉnh Lào Cai), đi qua nhiều trung tâm huyện lỵ và khu dân cư

đông đúc (như thị xã Lai Châu, huyện Tam Đường và huyện Phong Thổ) với tổng

chiều dài là 89 km, bề rộng nền đường từ 7,5 - 14 m, mặt đường rộng 3,5 - 7 m,toàn bộ mặt đường được thảm bê tông nhựa

- QL 12: là trục giao thông quan trọng nối tỉnh Lai Châu với tỉnh Điện Biên

(điểm đầu là cửa khẩu Ma Lù Thàng huyện Phong Thổ và điểm cuối là cầu Hang

Tôm thị xã Mường Lay - tỉnh Điện Biên), đi qua thị trấn Phong Thổ, cửa khẩu

Ma Lù Thàng với tổng chiều dài là 91 km, bề rộng nền đường từ 7,5 - 28 m, mặtđường rộng 3,5 - 15 m, toàn bộ mặt đường được láng nhựa

- QL 32 (điểm đầu là Vách Kim Than Uyên và điểm cuối tại ngã 3 Bình Lư

huyện Tam Đường): có chiều dài 72 km, quy mô cấp IV miền núi, bề rộng nền

đường từ 7,5 - 20,5 m, mặt đường rộng 5,5 - 10 m, toàn bộ mặt đường được lángnhựa, nối liên thông với những tuyến quốc lộ quan trọng như QL 4D và QL 279

- QL 100: là trục giao thông nối QL 4D và QL 12 với chiều dài toàn tuyến

là 20 km (điểm đầu là ngã 3 Nậm Cáy và kết thúc tại ngã 3 Phong Thổ), đi qua

trung tâm các xã Mường So, Khổng Lào và Hoang Thèn Quy mô đường cấp IVmiền núi, nền rộng từ 7- 7,5 m, mặt đường 5,5 m, toàn bộ mặt đường láng nhựa

- QL 279 (điểm đầu là Khau Co và điểm cuối tại Cáp Na) có chiều dài

46,57 km, quy mô đường cấp VI miền núi, bề rộng nền đường 6 m, mặt đườngrộng 3,5 m, toàn bộ mặt đường được láng nhựa

b Tỉnh lộ: Trên địa bàn tỉnh có 04 tuyến chạy qua là ĐT 127, ĐT 128, ĐT

129 và ĐT 132 với tổng chiều dài 216 km

- ĐT 127 (điểm đầu là ngã 3 Lai Hà và điểm cuối tại thị trấn Mường Tè

huyện Mường Tè) có chiều dài 91 km, bề rộng nền đường 6 m, mặt đường rộng

3,5 m, quy mô cấp VI miền núi, chất lượng mặt đường rất xấu và xuống cấp

- ĐT 128 (điểm đầu là ngã 3 Chăn Nưa và điểm cuối tại thị trấn Sìn Hồ

huyện Sìn Hồ) có chiều dài 38 km, bề rộng nền đường 6 m, mặt đường rộng 3,5

m, quy mô cấp V, VI miền núi

- ĐT 129 (điểm đầu tại thị xã Lai Châu và điểm cuối tại thị trấn Sìn Hồ

huyện Sìn Hồ) có chiều dài 60 km, bề rộng nền đường 6 m, mặt đường rộng 3,5

m, quy mô cấp VI miền núi, toàn bộ mặt đường đều được láng nhựa

- ĐT 132 (điểm đầu là trung tâm xã Khổng Lào và điểm cuối tại trung tâm

Trang 29

xã Dào San) có chiều dài 27 km, nền đường rộng 6,5 m, mặt đường rộng 5,5 m,

quy mô cấp V miền núi, toàn bộ mặt đường đều được láng nhựa

c Đường chuyên dùng: có 151,2 km thuộc địa bàn 2 huyện Phong Thổ và

Mường Tè, trong đó:

- Tuyến đường đầu nguồn Sông Đà - Thu Lũm - U Ma Tu Khòong (huyện

Mường Tè) có chiều dài 80 km, bề rộng nền đường 4 m, mặt đường rộng 3 m, quy

mô BNT miền núi

- Tuyến đường đầu nguồn Sông Đà - Mù Cả (huyện Mường Tè): có chiều

dài 31 km, bề rộng nền đường 4 m, mặt đường rộng 3 m, quy mô BNT miền núi

- Tuyến đường cửa khẩu Ma Lù Thàng - chợ Sì Choang (huyện Phong

Thổ): có chiều dài 40,2 km, bề rộng nền đường 3 m, mặt đường rộng 2 - 2,5 m,

quy mô BNT miền núi

d Đường đô thị: toàn tỉnh có 31 km, trong đó có 21,2 km đường thảm bê

tông nhựa, chiếm 68%; 6,7 km đường đá nhựa, chiếm 22%; 2,1 km mặt đườngcấp phối, chiếm 7%, còn lại là đường đất 1 km, chiếm 3% Đường đô thị tậpchung chủ yếu ở thị xã Lai Châu 13,2 km, chiếm 42,5% đường đô thị của cả tỉnh,

có chất lượng tốt, trong khi các tuyến đường đô thị tại trung tâm các huyện chưa

đạt tiêu chuẩn, hầu hết có chiều dài ngắn, mặt đường hẹp (thường chỉ đạt từ 3

-3,5 m) và đã bị xuống cấp.

e Đường giao thông nông thôn:

- Hệ thống đường huyện, xã và liên xã: có tổng chiều dài 912,5 km, trong

đó mặt đường thảm bê tông nhựa có 37 km (chiếm 4%), 39,65 km mặt đường đá nhựa (chiếm 4%), 516,9 km đường cấp phối (chiếm 57%), còn lại 319 km là đường đất (chiếm 35%) Hiện nay hầu hết các tuyến đường mới đạt tiêu chuẩn

đường loại A, B theo tiêu chuẩn đường giao thông nông thôn; hệ thống cầu, cốngtrên tuyến chưa được xây dựng vĩnh cửu, còn nhiều cầu tạm, ngầm, tràn khôngđảm bảo yêu cầu thông xe; chất lượng mặt đường xấu, đường cấp phối và đườngđất chiếm tỷ trọng lớn, do đó mùa mưa đi lại rất khó khăn

- Đường thôn bản, dân sinh: có tổng chiều dài 1458,9 km, trong đó ThanUyên là huyện có chiều dài đường thôn bản, dân sinh nhiều nhất với 448,6 km

(chiếm 30,8% hệ thống đường thôn bản, dân sinh của tỉnh) Các tuyến đường này

chủ yếu là đường đất, bề rộng mặt đường từ 1,5 đến 3 m; chất lượng mặt đườngxấu, xe chủ yếu đi được vào mùa khô

g Bến, bãi đỗ xe: Toàn tỉnh hiện có 03 bến xe, gồm: bến xe khách tỉnh

(diện tích 10.638 m 2 ), bến xe huyện Than Uyên (diện tích 1.500 m 2) và bến xehuyện Mường Tè; các huyện còn lại chưa có bến xe, hiện trạng chỉ có các điểmdừng, đỗ xe

Trang 30

Nhìn chung mạng lưới giao thông đường bộ của tỉnh đã được phát triểnmạnh trong những năm gần đây, nhưng so với cả nước thì chất lượng còn rấtthấp; số km đường bộ có chất lượng kém, chưa đúng cấp kỹ thuật chiếm tỷ trọng

lớn; vẫn còn 01 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã (xã Tà Tổng huyện

Mường Tè) Mặt khác, do địa hình vùng núi hiểm trở, nhiều đèo dốc nên mạng

lưới đường bộ phân bố không đều, hay bị sụt lở về mùa mưa Ở các huyện miềnnúi còn nhiều vị trí chưa có cầu hoặc ngầm tràn, gây khó khăn cho các phươngtiện đi lại trong mùa mưa lũ

2.5.1.2 Giao thông đường thủy

Trên địa bàn tỉnh hiện chỉ có một tuyến đường thuỷ là Sông Đà (nằm trên

địa bàn huyện Mường Tè) có thể khai thác sử dụng, nhưng luồng lạch bến bãi còn

nguyên trạng tự nhiên, chưa có các phao tiêu biển báo Tuyến đường thuỷ này từ

cảng Pô Lếch đi Pắc Ma dài 60 km (tại điểm đầu và điểm cuối có 2 bến đò)

nhưng do vào mùa khô luồng lạch cạn cùng với việc khai thác vàng sa khoángnhững năm gần đây đã làm thay đổi dòng chảy cho nên thuyền bè đi lại rất hạnchế Vào mùa mưa nước lớn, thuyền bè có thể đi lại nhưng do lòng sông nhiềuthác ghềnh nguy hiểm nên việc đi lại vẫn còn hạn chế Ngoài ra còn có tuyếnđường thuỷ từ Pô Lếch xuôi dòng ra thị xã Mường Lay song nhiều thác ghềnhkhông đi lại được

2.5.2 Thực trạng phát triển thủy lợi

Trên địa bàn tỉnh có khoảng 793 công trình thủy lợi (trong đó có 402 công

trình kiên cố, còn lại là công trình tạm); 04 hồ chứa, chủ yếu là các hồ có dung

tích nhỏ; 1.508 km kênh mương (trong đó có 527 km được kiên cố, còn 981 km là

kênh đất) phục vụ tưới cho hơn 5.000 ha vụ đông xuân và 17.000 ha vụ mùa.

Thực hiện chương trình kiên cố hóa kênh mương, từ năm 2004 đến nay toàn tỉnh

đã sửa chữa, nâng cấp và xây mới được 59 công trình phục vụ tưới cho 3.226 ha

2.5.3 Thực trạng phát triển giáo dục - đào tạo

Tính đến năm học 2010 - 2011 toàn tỉnh có tổng số 402 trường, 5.919 lớphọc với 108.802 học sinh, trong đó:

- Ngành học mầm non: có 127 trường (tăng 03 trường so với năm học

trước và tăng 63 trường so với năm học 2005 - 2006) với 1.528 lớp học (tương ứng tăng 96 lớp và 798 lớp) và 30.313 trẻ đến trường (tương ứng tăng 2.370 trẻ

và 16.819 trẻ).

- Bậc học tiểu học: toàn tỉnh có 136 trường (tăng 06 trường so với năm học

trước và tăng 52 trường so với năm học 2005 - 2006) với 3.249 lớp (tương ứng tăng

144 lớp và 467 lớp) và 43.744 học sinh (tăng 1.120 học sinh so vớ năm học trước)

- Bậc học THCS: có 116 trường, gồm 109 trường THCS, 07 trường PTCS

Trang 31

(tăng 13 trường so với năm học 2005 - 2006) với 954 lớp (tăng 25 lớp so với năm

học trước và tăng 326 lớp so với năm học 2005 - 2006) và 25.532 học sinh (tăng tương ứng là 702 học sinh và 7.903 học sinh) Đến năm 2010 toàn tỉnh đã đoạt

chuẩn Quốc gia về phổ cập giáo dục THCS

- Bậc học THPT: toàn tỉnh có 16 trường (không tăng so với năm học trước và

tăng 8 trường so với năm học 2005 - 2006) với 188 lớp (tăng tương ứng là 10 lớp

và 75 lớp) và 5.870 học sinh (tăng tương ứng là 170 học sinh và 1.573 học sinh)

- Giáo dục thường xuyên: trên địa bàn tỉnh hiện có 07 Trung tâm Giáo dục

thường xuyên và 86 Trung tâm học tập cộng đồng với 3.343 học viên (còn 12 xã

chưa thành lập được trung tâm học tập cộng đồng).

Nhìn chung sự nghiệp giáo dục - đào tạo của tỉnh đã có những bước pháttriển, số lượng trường lớp, học sinh năm sau luôn cao hơn năm trước, cơ sở vậtchất ngày càng được quan tâm đầu tư xây dựng… song vẫn chưa đáp ứng đượccác yêu cầu về: lớp học, phòng học cho học sinh bán trú, nhà ở cho giáo viên và

đồ dùng dạy học còn thiếu thốn; điều kiện sinh hoạt của học sinh bán trú cònnhiều khó khăn; đất dành cho sự nghiệp giáo dục còn ít, thiếu quy hoạch chi tiết;việc di dân, tái định cư vùng thủy điện cũng ảnh hưởng phần nào đến công tácxây dựng trường lớp trên địa bàn tỉnh

2.5.4 Thực trạng phát triển y tế

Theo số liệu thống kê năm 2010, hệ thống mạng lưới y tế trên địa bàn tỉnhhiện nay bao gồm:

- Tuyến tỉnh: 01 bệnh viện Đa khoa tỉnh (quy mô 250 giường bệnh); 09

Trung tâm chuyên khoa tuyến tỉnh; 01 Trường đạo tạo cán bộ Y tế, 02 chi cục và

02 bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh

- Tuyến huyện: 05 Trung tâm Y tế huyện; 02 Trung tâm y tế dự phòng; 01Bệnh viện đa khoa tuyến huyện; 07 trung tâm Dân số - KHHGĐ; 19 phòng khám

Đa khoa khu vực (trong đó khu vực nhà nước 14 và ngoài nhà nước 5); 98 trạm y

tế xã, phường, thị trấn, trong đó số xã đạt chuẩn y tế quốc gia là 55 xã, vượt mục

tiêu đề ra (mục tiêu là 50 xã).

Toàn tỉnh có 1.184 giường bệnh; có 2.472 cán bộ ngành y (trong đó số bác

sỹ là 163), cán bộ ngành dược 205 người (trong đó dược sỹ cao cấp là 16 người);

bình quân đạt 4,3 bác sỹ/1 vạn dân (gần đạt mục tiêu đề ra là 5 bác sỹ/1 vạn dân), tuy nhiên số xã, phường và thị trấn có bác sỹ chỉ đạt 3,06% (trong khi mục tiêu là

50%), có nữ hộ sinh đạt 89,90%.

Mặc dù công tác khám chữa bệnh của tỉnh trong những năm qua còn gặpnhiều khó khăn về kinh phí, cơ sở vật chất bị hư hỏng, trang thiết bị thiếu và cũ,song toàn ngành đã khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Tổng

Trang 32

số lần khám bệnh là 973.298 lần, đạt 120,2% kế hoạch, tăng 13,6% so với năm

2008 Công tác khám chữa bệnh cho người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi được chútrọng và nâng cao, trong đó số lần khám bệnh cho người nghèo là 505.674 lần,đạt 114,2% kế hoạch, tăng 7,6% so với năm 2008; khám chữa bệnh cho trẻ emdưới 6 tuổi là 172.057 lần, đạt 124,2% kế hoạch, tăng 32,5% so với năm 2008

2.5.5 Thực trạng phát triển văn hoá, thể thao và du lịch

2.5.5.1 Văn hóa

Trong những năm qua, công tác xây dựng đời sống văn hoá cơ sở được đẩymạnh, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và biên giới Về

cơ sở vật chất, toàn tỉnh có 225 nhà văn hóa cấp huyện, 10 nhà văn hóa cấp xã,

245 nhà văn hóa cấp làng, bản; 11 đội thông tin lưu động, 08 đội chiếu bóng lưu

động; 01 rạp chiếu phim được nâng cấp từ huyện Tam Đường (cũ)

Bên cạnh đó, công tác bảo tồn, bảo tàng cũng luôn được chú trọng với 17

di tích (04 di tích cấp quốc gia và 13 di tích cấp tỉnh) và gần 1.500 hiện vật được

bảo quản tại Bảo tàng tỉnh, góp phần phát triển du lịch và mở rộng giao lưu văn

hoá Hệ thống thư viện trong toàn tỉnh (năm 2010 có 1 thư viện tỉnh, 05 thư viện

huyện thị) đang từng bước được thay đổi, nguồn sách báo, tạp chí đa dạng cả về

số lượng và chủng loại với tổng số sách trong thư viện đạt 65.774 nghìn bản; số

lượng bạn đọc tăng hành năm (năm 2005 là 25.920 lượt người và năm 2010 là

78.680 lượt người) Các hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp được phát triển,

trung bình hàng năm dàn dựng mới 10 chương trình, tiết mục, tổ chức hàng trăm

buổi biểu diễn (60 - 70 buổi phục vụ vùng sâu, xa, biên giới) phục vụ hàng trăm

nghìn lượt người xem Toàn tỉnh hiện có 08 đội chiếu bóng lưu động, 01 rạpchiếu bóng tại thị xã Lai Châu, trung bình hàng năm tổ chức hơn 7.000 buổichiếu, phục vụ 2 triệu lượt người xem

2.5.5.2 Thể dục - thể thao

Phong trào thể dục - thể thao quần chúng đã phát triển mạnh mẽ và diễn ra

sôi nổi từ tỉnh đến cơ sở gắn với cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể

theo gương Bác Hồ vĩ đại” Toàn tỉnh có 62.052 người luyện tập thể dục thể thao

thường xuyên, chiếm 17,12% dân số; 6.267 gia đình thể thao, 242 câu lạc bộ thểdục thể thao cơ sở và điểm tập luyện thể dục thể thao; đã tổ chức 295 giải thi đấuthể thao cấp cơ sở, 13 giải thi đấu cấp tỉnh Tuy nhiên, công tác thể thao vẫn cònmột số hạn chế như: hoạt động chưa đồng đều, mới tập trung ở khu vực đô thị vàchỉ tập trung ở một số môn như cầu lông, bóng bàn…, cơ sở vật chất, sân chơi bãitập, dụng cụ thể dục thể thao chuyên ngành còn thiếu, toàn tỉnh chưa có khu liênhợp thể thao, các huyện thị chưa có sân vận động đạt tiêu chuẩn, do đó việc đàotạo, bồi dưỡng các vận động viên có thành tích cao trong thi đấu còn hạn chế

2.5.5.3 Du lịch

Trang 33

Mặc dù trong điều kiện còn khó khăn về cơ sở vật chất nhưng Lai Châuluôn là điểm đến hấp dẫn của khách du lịch trong nước và quốc tế ở lĩnh vực dulịch văn hóa cộng đồng Tính đến nay, toàn tỉnh đã đón nhận 80.550 lượt khách,tăng 18% so với cùng kỳ năm trước, đạt 109 kế hoạch năm Trong đó khách nộiđịa là 70.850 lượt, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước; khách quốc tế là 9.700lượt, tăng 49,2% so với cùng kỳ năm trước Toàn tỉnh hiện có 606 phòng với trên

47 cơ sở lưu trú, các khách sạn đã được đầu tư đồng bộ kết hợp các loại hình dulịch nhằm thu hút khách và kéo dài thời gian lưu trú của khách… Doanh thu từkinh doanh du lịch, dịch vụ du lịch và kinh doanh lưu trú đạt 68,32 tỷ đồng, tăng41% so với cùng kỳ năm 2008, đạt 131% kế hoạch năm

2.5.6 Thực trạng phát triển năng lượng

Mạng lưới điện ngày càng được mở rộng trên địa bàn tỉnh, đến nay đã có

83/98 xã có lưới điện quốc gia, đạt 85% tổng số xã, phường, thị trấn (mục tiêu là

100%), 75% số hộ được sử dụng điện (mục tiêu là 80%) với nguồn điện được

cung cấp bằng các nguồn:

- Nguồn điện lưới Quốc gia: có 02 trạm 110/35/22KV với tổng dung lượng

là 16MVA tại thị xã Lai Châu và huyện Than Uyên Trạm cấp điện từ hệ thốnglưới điện miền Bắc bằng tuyến đường dây 110KV Lào Cai - thị xã Lai Châu vànhánh rẽ 110KV Bình Lư - Than Uyên Ngoài ra nguồn điện năng còn được hỗtrợ bởi đường dây 35KV từ trạm 110KV Lào Cai khi đường dây 110KV LaiChâu gặp sự cố

- Nguồn điện tại chỗ: trên địa bàn tỉnh có 14 nhà máy thủy điện, nhiệt điện,

trong đó có 09 trạm thủy điện nhỏ độc lập là Nà Khằm, Nậm Mở III (Than Uyên); Nậm Giê (Tam Đường); Hô Chăng (Tân Uyên); Nậm Lụng, Vàng Bó (Phong

Thổ); Nậm Sì Lường, Pắc Ma, Mường Mô, Nậm Ma Nọi, Phìn Khò, Nậm Hàng

(Mường Tè) với tổng công suất 1.253 MW và nhà máy thủy điện Chu Va công

suất 1,8 MW Sử dụng nguồn Diezen dự phòng có 04 máy với tổng công suất là

1.160KVA bao gồm: 01 máy phục vụ quảng trường công suất 500KVA (thị xã

Lai Châu); 01 máy phục vụ cho UBND huyện, huyện đội, đài phát thanh truyền

hình, ngân hàng, trung tâm y tế với công suất 160KVA (huyện Sìn Hồ); 02 máy

phục vụ trung tâm huyện Mường Tè, công suất 500KVA

Hệ thống lưới điện của tỉnh bao gồm: tuyến đường dây 110KV Lào Cai

TBA 110KV (thị xã Lai Châu) dài 42 km; tuyến đường dây ngã ba Bình Lư TBA 110KV (Than Uyên) dài 47 km; tuyến 35KV dài 688 km, gồm tuyến hỗ trợ

-từ Lào Cai và các tuyến đường dây truyền tải trên địa bàn tỉnh; đường dây 22KVdài 0,16 km; đường dây 10KV dài 5,913 km; đường dây 0,4KV dài 408 km.Ngoài ra còn có một số trạm biến áp trung gian, gồm: 02 TBA 110KV với tổngcông suất 16.000KVA; 01 trạm 35/6KV công suất 1.500KVA Trạm biến áp phânphối, gồm: 275 trạm 35/0,4KVA với tổng công suất 48.429KVA; 01 trạm

Trang 34

22/0,4KV công suất 10KVA; 06 trạm 10/0,4KV tổng công suất 920KVA; 01trạm 0,4/10KV công suất 1.120 KVA.

2.5.7 Thực trạng phát triển bưu chính, viễn thông

Thông tin truyền thông tiếp tục được mở rộng và nâng cao về chất lượng,phản ánh kịp thời tình hình phát triển kinh tế - xã hội và các hoạt động chỉ đạo,điều hành của lãnh đạo tỉnh Tỷ lệ số hộ nghe đài phát thanh đạt 92%, xem truyền

hình đạt 82% (mục tiêu tương ứng là 90% và 80%)

- Về bưu chính: mạng đường thư cấp I gồm 1 tuyến với chiều dài

100km/lượt; đường thư cấp II gồm 3 tuyến với tổng chiều dài 370 km/lượt (trong

đó, thị xã Lai Châu Mường Tè với chiều dài 210 km/lượt; thị xã Lai Châu Than Uyên với chiều dài 100 km/lượt; thị xã Lai Châu - Sìn Hồ với chiều dài 60 km/lượt); đường thư cấp III với 55 tuyến với tổng chiều dài là 1.551 km Toàn

-tỉnh hiện có 09 bưu cục (trong đó có 01 bưu cục cấp I; 05 bưu cục cấp II; 03 bưu

cục cấp III); 78 điểm bưu điện văn hóa xã (chiếm 80% tổng số xã); 04 đại lý bưu

điện, điểm giao chuyển phát nhanh Ngoài ra còn có mạng vận chuyển bưu chính

Viettel gồm 01 tuyến cấp I (Lai Châu - Trung tâm khai thác 1 Hà Nội), 01 bưu

cục đặt tại thị xã Lai Châu, chủ yếu thực hiện dịch vụ chuyển phát

- Về viễn thông: toàn tỉnh có 15 tổng đài vệ tinh và 27 trạm chuyển mạchvới dung lượng lắp đặt là trên 70.000 line Năm 2010 toàn tỉnh có tổng số thuê

điện thoại là 211.590 thuê bao (trong đó: thuê bao cố định năm là 48.529 thuê

bao; thuê bao di động là 163.061) tăng 170.122 thuê bao so với năm 2008, số

thuê bao điện thoại bình quân trên 100 dân đạt 55,33 Ngoài ra 100% số huyện thịđều đã có internet băng thông rộng ADSL, xDSL và thuê bao truy nhập gián tiếpDialup với tổng số thuê bao là 6.338 thuê bao, tăng 3.881 thuê bao so với năm

2008, số thuê bao điện thoại bình quân trên 100 dân đạt 1,66 Tổng số tuyếntruyền dẫn cáp quang liên tỉnh là 02 tuyến; 25 tuyến truyền dẫn mạng nội tỉnh,trong đó có 21 tuyến truyền dẫn là cáp quang, 4 tuyến truyền dẫn Viba

2.5.8 Quốc phòng, an ninh

Lai Châu là tỉnh miền núi biên giới, có vị trí hết sức quan trọng trong chiếnlược về quốc phòng, an ninh Trong những năm qua bên cạnh đầu tư phát triểnkinh tế - xã hội, vấn đề an ninh quốc phòng đã được tỉnh chú trọng trên phươngchâm kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế Xây dựng thế trậnquốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, nâng cao chất lượng tổnghợp và sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang Công tác bảo vệ an ninh chínhtrị nội bộ, an ninh văn hóa tư tưởng, kinh tế đối ngoại được chú trọng Tình hình

an ninh trên các tuyến biên giới được giữ vững, ổn định Công tác phân giới cắmmốc được thực hiện theo kế hoạch Đến tháng 10 năm 2008 đã cơ bản hoàn thànhphân giới song phương trên thực địa với 273 km đường biên giới Việt Nam -

Trang 35

Trung Quốc, cắm được 114/118 mốc (trong đó, Lai Châu cắm được 58/60 mốc).

Bên cạnh đó, công tác đảm bảo TTATXH trong những năm qua đã được quantâm chỉ đạo, thực hiện từ tỉnh đến cơ sở, do vậy TTATXH luôn ổn định, đây cũng

là tiền đề cơ bản để phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương

2.6 Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội tác động đến việc sử dụng đất

Trên cơ sở thực trạng phát triển các ngành kinh tế, vấn đề dân số, lao động

và việc làm, phát triển đô thị, khu dân cư nông thôn, cơ sở hạ tầng cho thấy:

2.6.1 Những kết quả đạt được, lợi thế và cơ hội phát triển

- Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng, công nghiệp bước đầuđược phát triển với sự hình thành các ngành như: công nghiệp điện, công nghiệpkhai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến nông lâm sản

- Sự tham gia của Việt Nam vào khối ASEAN, WTO và giáp khu vực biêngiới ba nước Việt Nam - Trung Quốc - Lào cũng như có các cửa khẩu quốc tế làđiều kiện tốt để khai thác các nguồn lực, thúc đẩy phát triển thương mại, dịch vụ

- Sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng tập trung với sự hình thành cácvùng chuyên canh lúa, cây công nghiệp dài ngày, rừng nguyên liệu tạo nguồnnguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông lâm sản phát triển

- Các khu đô thị, các công trình cơ sở hạ tầng đang từng bước được đầu tưxây dựng, có nhiều tuyến quốc lộ chạy qua nối Lai Châu với tỉnh trong vùng, làtiền đề để phát triển kinh tế

- Trình độ dân trí thấp, hạn chế về nguồn lực vốn và nhân công lao độngchất lượng cao đang là những cản trở nhất định trong quá trình phát triển kinh tế,công nghiệp hóa và hiện đại hóa, đặc biệt là sự cạnh tranh trong nước và thế giới

2.6.3 Đánh giá tác động đến việc sử dụng đất

Để phát huy những lợi thế, khắc phục những hạn chế nêu trên, trong thời

kỳ từ nay đến năm 2020 dự báo sẽ có những thay đổi lớn thực tế sử dụng đất hiệnnay, tác động đến đất đai của tỉnh và được thể hiện ở một số mặt sau:

- Để đạt được mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh,

Trang 36

cần tiếp tục chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, tăng nhanh tỷ trọng của các khuvực công nghiệp và dịch vụ Theo dự kiến quỹ đất dành cho mục đích xây dựng,

mở rộng và phát triển các khu, cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp có quy môtập trung, các khu dịch vụ - thương mại, các khu du lịch và công trình phục vụ dulịch sẽ tác động rất lớn đối với quỹ đất của tỉnh

- Nhằm đáp ứng được yêu cầu hiện đại hóa khi tốc độ đô thị hóa ngày càngcao thì việc đầu tư cải tạo, nâng cấp và xây dựng, phát triển hệ thống cơ sở hạ

tầng (giao thông, cấp thoát nước, các công trình phúc lợi như trường học, y tế, )

sẽ đòi hỏi một quỹ đất tương đối lớn, không chỉ gây sức ép về quy mô diện tích

mà còn tạo áp lực trong việc xác định ví trí xây dựng, bố trí các công trình

- Việc lấy đất dùng vào xây dựng nhà ở, xây dựng công trình phục vụ đờisống của con người là tất yếu cũng như để cải thiện nâng cao đời sống của nhândân cần dành một diện tích thoả đáng để xây dựng thêm các công trình văn hoá -thể thao, khu vui chơi giải trí, công viên cây xanh Điều này cũng tác độngkhông nhỏ đối với đất đai của tỉnh

Như vậy, từ thực trạng phát triển kinh tế - xã hội những năm gần đây cũng

như dự báo phát triển trong tương lai (trong khi quỹ đất có hạn), thì áp lực đối với đất đai của tỉnh đã và sẽ ngày càng gay gắt hơn (nhất là ở các khu vực nội thị,

các tụ điểm kinh tế phát triển) dẫn đến thay đổi lớn hiện trạng sử dụng đất hiện

nay của tỉnh Do đó, để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội lâu dài bềnvững, cần phải xem xét một cách nghiêm túc việc khai thác sử dụng đất theohướng khoa học trên cơ sở: tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả cao; bố trí sử dụngphải đáp ứng được nhu cầu về đất sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xãhội cũng như phục vụ cho việc đô thị hoá cả hiện tại và trong tương lai

III TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG ĐẤT

Biến đổi khí hậu (BĐKH) ở Lai Châu là một bộ phận của biến đổi khí hậucủa Việt Nam và toàn cầu Bên cạnh đó, Lai Châu còn thể hiện tính bất ổn địnhriêng của một tỉnh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa núi cao Tây Bắc, ngàynóng, đêm lạnh, nhiều thiên tai như lũ lụt, hạn hán, xói mòn, trượt lở đất Do cóđịa hình đa dạng, độ dốc lớn và bị chia cắt mạnh, nên mỗi dạng địa hình đều cóảnh hưởng đến điều kiện khí hậu cũng như chịu ảnh hưởng của BĐKH ở các khíacạnh khác nhau: địa hình đồi núi với độ dốc lớn nên khi mưa lũ, đất dễ bị xóimòn, rửa trôi, trong khi địa hình đồng bằng, ở một số khu vực thấp trũng đất đailại chịu ảnh hưởng của ngập úng

BĐKH tác động lên tất cả các lĩnh vực: tài nguyên, môi trường, kinh tế

-xã hội và sức khoẻ con người trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên, mức độ tác độngcủa BĐKH khác nhau tuỳ thuộc vào những đặc trưng về điều kiện đia lý, trình độphát triển và các hành động ứng phó của từng vùng, miền, từng quốc gia cụ thể

Trang 37

Tác động tiêu cực của BĐKH: Những tác động tiêu cực của BĐKH nghĩa

là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học do những BĐKH gây ranhững ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinhsản của các hệ sinh thái tự nhiên, ảnh hưởng đến hoạt động của các hệ thống kinh

tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người

Tác động tích cực của BĐKH: Ở mức độ nhất định và những khu vực nhất

định BĐKH cũng có những tác động tích cực như: là cơ hội để thúc đẩy đổi mớicông nghệ, phát triển các công nghệ sạch, công nghệ thân thiện với môi trường vàcác hoạt động nghiên cứu có liên quan; phát triển trồng rừng để hấp thu CO2/giảm phát thải khí nhà kính

Nhìn chung, tài nguyên đất của Lai Châu là một trong những đối tượngchịu tác động mạnh mẽ của BĐKH, các vấn đề ngập úng, hạn hán, xói mòn, rửatrôi, sạt lở đất ngày càng nặng nề, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của conngười và sự phát triển kinh tế của tỉnh

3.1 Biểu hiện của biến đổi khí hậu

Trong những năm qua BĐKH đã phần nào có những biểu hiện xảy ra ở LaiChâu thông qua: nhiệt độ tăng cao, mưa bão diễn biến bất thường, hạn hán xảy racực đoan, lũ lụt, trượt và sạt lở đất ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế

và đời sống người dân

- Nhiệt độ: Địa hình Tây Bắc nói chung và của Lai Châu nói riêng có một

ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoàn lưu khí quyển Ngoài việc ngăn cản giómùa Đông Bắc của dãy núi cao phía Bắc và dãy Hoàng Liên Sơn thì hướng củacác dãy núi song song và thấp dần về phía Đông Nam tạo điều kiện cho gió mùaĐông Nam có thể tiến sâu vào khu vực Với các dãy núi cao ở phía Tây thuộcbiên giới Việt Lào thì lại tạo nên hiệu ứng phơn đối với gió mùa Tây Nam Mùa

hè kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 Tháng có nhiệt độ trung bình lớn nhất làtháng 6, 7, 8 Tuy nhiên giá trị tối cao của nhiệt độ không khí thường xảy ra trongtháng 4 hoặc 5, lúc có gió Lào xuất hiện

+ Nhiệt độ trung bình nhiều năm ở trạm Mường Tè là 21,60C

+ Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối quan trắc được là 40,90C

+ Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối quan trắc được xuống tới 3,90C

- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình nhiều năm (thời đoạn 1961 - 2004)

tại trạm Sìn Hồ là 1.524 mm/năm, 1.455 mm/năm tại Than Uyên Lượng mưa

năm lớn nhất tại Mường Tè đạt 3.211 mm (năm 1970) lớn gấp 1,77 lần lượng mưa năm nhỏ nhất 1.814 mm (năm 1988) và phân bố không đều theo không gian

và thời gian Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9, chiếm khoảng 80% tổnglượng mưa toàn năm Lượng mưa 1 ngày max trung bình nhiều năm phía Bắc tỉnh

Trang 38

tại trạm Lai Châu đạt 131mm, chiếm 65% so với tổng lượng mưa 3 ngày max

(201mm), 53% so với tổng lượng mưa 5 ngày max (247 mm) Mùa khô bắt đầu từ

tháng 10 đến tháng 4 năm sau, tổng lượng mưa nhỏ chỉ chiếm 20% lượng mưa cảnăm Trong đó tháng 10 và tháng 4 là hai tháng chuyển tiếp mùa, lượng mưa haitháng này còn khá lớn, năm tháng còn lại là các tháng 11, 12, 1, 2, 3 có lượngmưa nhỏ hơn 50 mm/tháng

3.2 Các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai

Lai Châu là một trong số những tỉnh nằm trong khu vực thường xuyênchịu ảnh hưởng của các hiện tượng cực đoan có nguồn gốc khí hậu Lũ lụt, hạnhán, mưa lớn, nắng nóng, tố lốc và thiên tai xảy ra hàng năm ở nhiều khu vực

trong tỉnh (đặc biệt là tại các huyện Mường Tè, Sìn Hồ và Phong Thổ) BĐKH sẽ

làm cho các thiên tai nói trên trở lên ác liệt hơn và có thể trở thành thảm họa, gâytác động xấu đến tài nguyên đất đai của tỉnh

- Lũ lụt: trong nhiều năm, thiên tai lũ lụt liên tục xảy ra trên cả nước nhất

là các tỉnh miền Trung và miền núi phía Bắc, đặc biệt là lũ quét, lũ bùn đá, sạt lởđất Theo thống kê của Cục Phòng chống lụt bão và quản lý đê điều - Bộ Nông

nghiệp và phát triển nông thôn, trong vòng 47 năm (1955 - 2002) đã có 76 trận lũ

quét tại các tỉnh miền núi phía Bắc, gây thiệt hại rất lớn về tính mạng và tài sản

Ở Lai Châu đã xảy ra các trận lũ quét, lũ bùn đá, điển hình như ở bản Nậm Cóong

(lũ bùn đá tại bản Nậm Cóong xã Nậm Cuổi thuộc huyện Sìn Hồ xảy ra vào ngày

3/10/2000 đã cơ bản phá hủy toàn bộ cơ sở hạ tầng của bản, làm chết 39 người,

bị thương 19 người); xã Nậm Ban, Chăn Nưa và các xã vùng thấp huyện Sìn Hồ;

lưu vực suối Nậm So Lũ quét, lũ bùn đá và sạt lở đất là loại hình thiên tai hayxảy ra và gây thiệt hại nhiều về người, tài sản và cơ sở hạ tầng Theo thống kêcủa Ban chỉ huy phòng chống lụt bão tỉnh: tổng giá trị thiệt hại từ năm 2005 đếnnăm 2008 là 142,5 tỷ đồng, trong đó bị chết 49 người, bị thương 32 người, 10.427

ha lúa và hoa mầu bị ảnh hưởng thiệt hại, 1.056 nhà dân bị sập và hư hỏng, một

số cơ sở hạ tầng (trường học, trạm y tế, giao thông, thủy lợi và cấp điện ) bị hư

hỏng nặng.Vì vậy phòng chống lũ quét, lũ bùn đá và sạt lở đất là nhiệm vụ quantrọng hàng đầu trong công tác phòng chống thiên tai ở tỉnh Lai Châu

- Lốc và mưa đá: cũng là thiên tai thường gặp ở Lai Châu với cường xuất

và quy mô lớn, gây thiệt hại không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp cũng như vềngười, tài sản và cơ sở hạ tầng Theo thống kê của Ban chỉ huy phòng chống lụtbão tỉnh, cụ thể vào các ngày 20, 21/3 năm 2005 đã xuất hiện lốc và mưa đá trênđịa bàn 3 huyện Sìn Hồ, Mường Tè và Phong Thổ làm 01 người chết, 01 người bịthương, thiệt hại về tài sản và hoa mầu trên 06 tỷ đồng; gần đây nhất đã xảy ranhiều trận mưa đá kèm theo gió lốc vào các ngày 13/4, 14/4, 19/4/2008 trên địabàn các huyện Sìn Hồ, Tam Đường, Than Uyên và Thị xã Lai Châu đã làm tốcnhiều mái tôn, prô, nhiều nhà, trường học bị đổ và nhiều diện tích rau mầu, cây

Trang 39

ăn quả bị thiệt hại.

3.3 Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước, sản xuất nông nghiệp, cơ sở hạ tầng và nơi cư trú

Cũng như tình hình chung trên thế giới và Việt Nam, đối với tỉnh Lai Châu,

BĐKH đã phần nào tác động đến tất cả các khu vực, các lĩnh vực kinh tế, xã hội (tài

nguyên nước; tài nguyên đất, nông nghiệp; y tế - sức khoẻ; cơ sở hạ tầng, đời sống dân sinh…) Một trong những hậu quả của BĐKH là sự gia tăng về cường độ, số

lượng và độ bất thường của thiên tai Như một quy luật, sau thiên tai môi trường

bị xáo trộn lớn, nguồn nước bị ô nhiễm từ các nguồn gây ô nhiễm bị ngập lànguyên nhân bùng phát các dịch bệnh đường ruột và các bệnh lây lan theo nguồnnước khác, bao gồm cả các bệnh của động vật, bệnh có ổ dịch tự nhiên, bệnh từnơi khác đến BĐKH sẽ làm tăng diện tích ngập lụt, gây khó khăn cho thoát nước,ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt, gây rủi ro lớn đối với cáccông trình xây dựng nhà máy, các đô thị và khu dân cư

- Tác động của BĐKH đối với tài nguyên nước: Lai Châu có hệ thống

sông suối tương đối dày đặc (có khoảng 500 suối lớn, nhỏ), các sông suối lớn có

nước chảy quanh năm với tổng lượng dòng chảy năm toàn tỉnh khoảng 16.868triệu m3, song do ảnh hưởng của BĐKH đã tác động làm thay đổi chế độ mưa,dẫn đến tài nguyên nước đang có nguy cơ suy giảm, hạn hán, lũ lụt ngày một tăng

ở một số khu vực, cũng như thời gian theo mùa, gây khó khăn trong việc cungcấp, tiêu thoát nước và tăng mâu thuẫn trong sử dụng nước

- Tác động của BĐKH đối với sản xuất nông nghiệp và đảm bảo an ninh lương thực: do sản xuất nông nghiệp của tỉnh hiện nay còn phụ thuộc khá nhiều

vào thời tiết, khí hậu nên khi tính biến động và dị thường của thời tiết, khí hậutăng do BĐKH sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụgieo trồng, làm thay đổi điều kiện sinh sống của các loài sinh vật, dẫn đến tìnhtrạng biến mất của một số loài và ngược lại xuất hiện nguy cơ gia tăng các loại

“thiên địch” dẫn đến giảm năng suất và sản lượng cây trồng, tăng nguy cơ rủi rođối với nông nghiệp và an ninh lương thực

- Cơ sở hạ tầng, nơi cư trú: BĐKH đã và sẽ tác động đến mọi mặt của tự

nhiên và xã hội, trong đó cơ sở hạ tầng, nơi cư trú là một đối tượng quan trọng.BĐKH với những tác động nhân tạo đã làm cho tính xu thế của nhiều đặc trưngkhí hậu không còn hoàn toàn mang tính tự nhiên như trước đây, trở lên mạnh mẽhơn, đặc biệt các hiện tượng cực đoan sẽ tăng rõ rệt Tình hình đó có thể sẽ làmcho công trình không còn an toàn và điều kiện không còn thích nghi như đã xảy

ra trong quá khứ mà đã dùng làm cơ sở để thiết kế và quy hoạch, tạo áp lực choviệc xác định vị trí xây dựng các khu dân cư, bố trí các công trình xây dựng

3.4 Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên đất và

Trang 40

sử dụng đất

Sự gia tăng của các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai, cả về tần xuất

và cường độ do BĐKH là mối đe dọa thường xuyên, trước mắt và lâu dài đối vớitất cả các lĩnh vực, trong đó có tài nguyên đất, được thể hiện qua các mặt sau:

3.4.1 Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên đất

- Hiện tượng ngập úng: tác động phức tạp của BĐKH toàn cầu và các hiện

tượng khí hậu quy mô lớn như LaNina, ElNino có khả năng gia tăng cường độhoạt động của một số hình thế thời tiết gây mưa, cường độ mưa có thể dẫn tới giatăng đỉnh lũ, lượng lũ trên hệ thống sông Đà và các chi lưu Nậm Na, Nậm Mu,

Nậm Mạ, cùng với việc mưa bão tập trung vào mùa mưa (tháng 6, 7, 8) với cường độ cao, nước từ vùng đồi núi dốc (thảm thực vật che phủ thưa thớt) chảy

xuống các dòng sông suối, do không tiêu thoát kịp đã làm ngập úng đất đai, đồngruộng ở các địa bàn thấp, trũng trên địa bàn tỉnh

- Hiện tượng khô hạn: xảy ra khi lượng nước tiêu hao lớn hơn lượng nước

đến làm cho cấu trúc đất dần bị phá hủy, kết quả là nhiều vùng đất suy giảm khảnăng sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến sản xuất lương thực Theo thống kêcủa Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tỉnh cho thấy: vụ Đông Xuân năm

2010, do ảnh hưởng của thời tiết khô hạn nên diện tích gieo cấy lúa nước toàn

tỉnh giảm 18 ha so với năm 2009; gần 19.000 ha hoa màu (ngô, lạc, đậu tương) bị

khô hạn; đến tháng 4/2010 đã có tới 450 ha bị khô hạn, trong đó có khoảng 200

ha có khả năng không cho thu hoạch

- Hiện tượng xói mòn, rửa trôi đất: xói mòn đất là quá trình xảy ra do tác

động qua lại của các yếu tố thời tiết khí hậu, đất đai, cây trồng và tác động củacon người, hậu quả là một khối lượng lớn đất và các vật liệu bề mặt đất bị cuốntrôi theo chiều dốc

Do địa hình ở Lai Châu rất phức tạp, trong đó phổ biến địa hình núi cao vànúi cao trung bình, có độ dốc lớn, mức độ chia cắt sâu và ngang rất mạnh

(khoảng 70% diện tích có độ dốc trên 25 0 ) nên vào mùa mưa (lượng mưa tập

trung và độ che phủ kém ) nguy cơ thoái hoá đất do xói mòn, rửa trôi là rất lớn,

đặc biệt là ở các huyện Mường Tè, Sìn Hồ và Phong Thổ

Trên hệ canh tác nương rẫy, mỗi năm tầng đất bị bào mòn từ 1,5 - 3 cm,mỗi ha có thể bị rửa trôi từ 130 - 200 tấn đất Nương rẫy du canh trên đất dốc

trồng cây hàng năm chủ yếu là hoa màu lương thực (ngô, lúa rẫy, sắn ), canh tác

bằng kỹ thuật đơn giản, không có các biện pháp bảo vệ đất, gây xói mòn, rửa trôicực kỳ nghiêm trọng Hiện nay chỉ sau 2 - 3 vụ gieo trồng đã phải bỏ rẫy và sau

10 - 15 năm mới có thể quay trở lại Chu kỳ sau đất xấu hơn, gieo trồng chỉ được

1 - 2 vụ và như vậy chỉ sau 2 - 3 chu kỳ là phải bỏ hẳn, đất trở thành trống trọcmất khả năng canh tác Quá trình xói mòn đất gắn liền với sự rửa trôi các chất

Ngày đăng: 30/04/2021, 23:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w