1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn kinh tế TÌM HIỂU KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC

115 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kỹ thuật chọn mẫu được quy định cụ thể trong Chuẩn mực kiểm toán số 530 –VSA 530: Lấy mẫu kiểm toán, tuy nhiên việc áp dụng các kỹ thuật chọn mẫu và thựchiện như thế nào còn phụ thuộc và

Trang 1

KHOA KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN

- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY

TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC

NGUYỄN MINH CHÂU

Khóa học: 2015 – 2019

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 2

KHOA KẾ TOÁN KIỂM TOÁN

- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY

TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC

Nguyễn Minh Châu TS Hồ Thị Thúy Nga

Trang 3

Khi bước vào môi trường làm việc tại một doanh nghiệp, lý thuyết được học trêngiảng đường đến thực tế là một khoảng cách không hề nhỏ, được thực tập trong thực tếkiểm toán là cơ hội để sinh viên chúng em có thể làm quen, tiếp cận với các công việcmới và là trải nghiệm quý báu để bản thân em có thể học hỏi các kỹ năng mềm trongmôi trường tập thể.

Qua 4 năm học tập và rèn luyện dưới giảng đường đại học, là nơi đã chắp cánhnuôi dưỡng tri thức và ước mơ trong tương lai của bản thân, em xin gửi đến Ban Giámhiệu nhà trường cùng Quý thầy cô giáo của trường Đại học Kinh Tế Huế lời cảm ơnchân thành và sự tri ân sâu sắc nhất Em xin cảm ơn Quý thầy cô giáo khoa Kế toán -Kiểm toán đã tạo điều kiện cho em hoàn thành đợt thực tập tốt nghiệp của mình, đặcbiệt em xin cảm ơn cô giáo hướng dẫn TS Hồ Thị Thúy Nga đã tận tình hướng dẫn vàchỉ dạy em suốt khoảng thời gian thực tập vừa qua Đồng thời em xin gửi lời cảm ơnchân thành đến cô, chú, anh, chị trong Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC đã

hỗ trợ nhiệt tình và tạo điều kiện để em có cơ hội học tập, trau dồi kiến thức và tích lũykinh nghiệm thực tế để hoàn thành luận văn một cách thuận lợi nhất

Trong quá trình làm báo cáo khóa luận tốt nghiệp, mặc dù em đã luôn cố gắngbồi dưỡng kiến thức, kỹ năng để hoàn thành tốt nhất công việc được giao nhưng vìkinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những sai sót Em rấtmong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô để có thể hoàn thiện tốt hơn đề tàiluận văn tốt nghiệp cũng như tích lũy được kinh nghiệm quý báu cho công việc trongtương lai

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Minh Châu

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

AAC Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC

BCTC Báo cáo tài chính

KSNB Kiểm soát nội bộ

KQKD Kết quả kinh doanh

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

1.4 Các phương pháp chọn mẫu trong kiểm toán 12Bảng 1.2 - Các yếu tố ảnh hưởng tới cỡ mẫu trong thử nghiệm kiểm soát (phụ lục 02trong VSA 530) 27Bảng 1.3 - Các yếu tố ảnh hưởng tới cỡ mẫu trong kiểm tra chi tiết (phụ lục 03 trongVSA 530) 29Bảng 2.1 – Chọn mẫu trong GLV C110 Kiểm tra KSNB chu trình bán hàng phải thu,thu tiền công ty ABC 56Bảng 2.2 Kiểm tra HT KSNB chu trình Bán hàng, phải thu, thu tiền (GLV C120) 60Bảng 2.3 – Kiểm tra HT KSNB chu trình bán hàng, phải thu, thu tiền (GLV C130) 61Bảng 2.4 – Chọn mẫu trong GLV C210 Kiểm tra KSNB chu trình mua hàng, phải thu,thu tiền công ty ABC 65Bảng 2.5 - Phân tích biến động chi phí quản lý công ty XYZ (GLV G443.1) 74Bảng 2.6 - Các sai sót phát hiện từ chọn mẫu đối với khoản mục chi phí quản lý củacông ty XYZ (GLV G444) 76Bảng 2.7 – Xác định mức trọng yếu mà công ty AAC đang áp dụng theo mẫu GLVA710 79Bảng 2.8 – Bảng hệ số rủi ro của khoản mục trên BCĐKT và BCKQKD áp dụng theomẫu GLV A810 80Bảng 2.9 – Giao diện chương trình chọn mẫu CMA giai đoạn nhập liệu 82Bảng 2.10 – Minh họa ví dụ đơn giản nguyên lý chọn mẫu CMA do AAC thực hiện.83Bảng 2.11 – Giao diện chương trình chọn mẫu CMA giai đoạn sau nhập liệu 84Bảng 2.12 – Giao diện kết quả tự động từ chương trình chọn mẫu CMA 86Bảng 2.13 – GLV A710 Xác định mức trọng yếu công ty XYZ 88Bảng 2.14 – Hệ thống các chỉ tiêu được tính và nhập vào chương trình CMA chọn mẫukiểm tra chứng từ nhập kho công ty XYZ 90Bảng 2.15 – Giao diện chương trình chọn mẫu CMA giai đoạn nhập liệu đối với khoảnmục hàng tồn kho công ty XYZ 91Bảng 2.16 – Giao diện kết quả tự động từ chương trình chọn mẫu CMA đối với khoảnmục hàng tồn kho công ty XYZ 92

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 6

Sơ đồ 2.1 – Tổ chức bộ máy công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC 43

Sơ đồ 2.2 – Quy trình kiểm toán tại công ty AAC 45

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

Danh mục chữ viết tắt ii

Danh mục bảng, biểu iii

Danh mục sơ đồ, đồ thị iv

Mục lục v

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

I.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1

I.2 Mục tiêu của đề tài nghiên cứu 2

I.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

I.4 Phương pháp nghiên cứu 4

I.5 Kết cấu của đề tài 5

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN BCTC 6

1.1 Khái quát về kiểm toán BCTC và vai trò của chọn mẫu trong kiểm toán BCTC 6

1.1.1 Sơ lược về mục tiêu của kiểm toán BCTC 6

1.1.2 Vai trò, ý nghĩa của kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC 6

1.2 Khái niệm về chọn mẫu kiểm toán và các khái niệm khác liên quan 7

1.2.1 Khái niệm về chọn mẫu kiểm toán 7

1.2.2 Các thuật ngữ khác liên quan đến chọn mẫu trong kiểm toán 8

1.2.2.1 Tổng thể (Population) 8

1.2.2.2 Đơn vị lấy mẫu (Sampling Unit) 8

1.2.2.3 Cỡ mẫu (sample size) 9

1.2.2.4 Mẫu đại diệnrepresentative sample) 9

1.3 Rủi ro do chọn mẫu và rủi ro không do chọn mẫu 9

1.3.1 Rủi ro do chọn mẫu (sampling risk) 9

1.3.2 Rủi ro không do chọn mẫu (nonsampling risk) 10

1.3.3 Phân biệt rủi ro do chọn mẫu và rủi ro không do chọn mẫu 11

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 8

1.4.1.2 Chọn mẫu hệ thống 18

1.4.2 Lấy mẫu phi thống kê (Non-statistical sampling) 19

1.4.2.1 Chọn mẫu tình cờ (Lựa chọn bất kỳ) 20

1.4.2.2 Chọn mẫu theo khối 21

1.4.2.3 Chọn mẫu theo xét đoán 22

1.4.3 Kỹ thuật phân nhóm (phân tổ) trong chọn mẫu 23

1.5 Quy trình lấy mẫu kiểm toán 24

1.5.1 Thiết kế mẫu 25

1.5.2 Xác định cỡ mẫu 26

1.5.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới cỡ mẫu trong thử nghiệm kiểm soát 27

1.5.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cỡ mẫu trong kiểm tra chi tiết 29

1.5.3 Lựa chọn các phần tử của mẫu 31

1.5.4 Thực hiện các thủ tục kiểm toán 31

1.8.5 Xem xét bản chất và nguyên nhân của sai sót 31

1.5.6 Dự đoán sai sót cho tổng thể 32

1.5.7 Đánh giá kết quả mẫu 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN BCTC TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC 35

2.1 Giới thiệu về công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC 35

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 35

2.1.2 Châm ngôn hoạt động và tầm nhìn AAC 37

2.1.3 Tình hình nguồn lực tại AAC 38

2.1.4 Dịch vụ và chính sách phục vụ của công ty 39

2.1.5 Tổ chức bộ máy quản lý công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC 43

2.2 Thực tế vận dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC 45

2.2.1 Chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát 45

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

2.2.1.2 Minh họa về chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát do công ty AAC thực hiện

tại khách hàng ABC 50

2.2.2 Chọn mẫu trong thử nghiệm cơ bản (kiểm tra chi tiết) 67

2.2.2.1 Chọn mẫu phi thống kê trong thử nghiệm chi tiết 68

2.2.2.2 Chọn mẫu thống kê trong thử nghiệm chi tiết 77

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIẾM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC 95

3.1 Đánh giá về thực trạng áp dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC thực hiện 95

3.1.1 Ưu điểm của kỹ thuật chọn mẫu áp dụng trong kiểm toán BCTC do công ty AAC thực hiện 95

3.1.1.1 Ưu điểm về quy trình kiểm toán BCTC 95

3.1.1.2 Ưu điểm về kỹ thuật chọn mẫu mà công ty AAC đang áp dụng 96

3.1.2 Hạn chế của kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC do công ty AAC thực hiện 98

3.2 Biện pháp hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu áp dụng trong kiểm toán BCTC do công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC thực hiện 99

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104

III.1 Kết luận 104

III.2 Kiến nghị 105

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 10

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ I.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Cùng với xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp Việt Namngày càng đẩy mạnh phát triển cả về số lượng và chất lượng, mục tiêu đặt ra đối vớicác doanh nghiệp hiện nay là có được nguồn lực, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu

tư trong và ngoài nước đồng nghĩa với nhu cầu sử dụng thông tin tài chính của doanhnghiệp ngày một tăng cao Thông tin BCTC không chỉ phản ánh bức tranh tài chínhchân thực của doanh nghiệp giúp mà còn hỗ trợ cho các nhà đầu tư trong việc đưa racác quyết định khôn ngoan Do vậy, vấn đề đặt ra về tính trung thực và hợp lý củathông tin trên BCTC trở nên cần thiết

Trước bối cảnh đó, sự ra đời của hoạt động kiểm toán nói chung và hoạt độngkiểm toán độc lập nói riêng là một tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển củanền kinh tế Nhìn chung các công ty kiểm toán hoạt động với chức năng chính là kiểmtoán BCTC cụ thể là việc kiểm tra số liệu kế toán trên BCTC của các doanh nghiệpnhằm xác minh tính trung thực và hợp lý của các thông tin tài chính Để hoàn thànhmục tiêu kiểm toán trên, trách nhiệm đặt ra cho KTV là kiểm tra, soát xét các khoảnmục, số dư cấu thành nên BCTC Mặc dù vậy, vì giới hạn về thời gian thực hiện cuộckiểm toán cũng như nguồn lực nhân sự và kinh phí kiểm toán nên KTV khó có thểkiểm tra toàn bộ 100% các thông tin tài chính liên quan đến doanh nghiêp (toàn bộnghiệp vụ phát sinh và số dư) Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có một chương trìnhkiểm toán hữu hiệu nghĩa là đảm bảo chất lượng đồng thời cũng đáp ứng hiệu quả vềmặt thời gian và chi phí Chính vì thế, đòi hỏi tất yếu đặt ra là KTV phải lựa chọn ápdụng kỹ thuật chọn mẫu trong quá trình kiểm toán

Kỹ thuật chọn mẫu được quy định cụ thể trong Chuẩn mực kiểm toán số 530 –VSA 530: Lấy mẫu kiểm toán, tuy nhiên việc áp dụng các kỹ thuật chọn mẫu và thựchiện như thế nào còn phụ thuộc vào cách thức, điều kiện nguồn lực của từng công tykiểm toán cũng như tư duy của mỗi KTV

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

Nắm bắt được tầm quan trọng và ý nghĩa của kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toánBCTC và được trải nghiệm thực tế tại công ty kiểm toán và kế toán AAC về việc vậndụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán tại công ty, kết hợp với việc tham khảo cáctài liệu và sự giúp đỡ tận tình của giảng viên hướng dẫn Hồ Thị Thúy Nga và các anhchị trong công ty em đã chọn đề tài nghiên cứu“Tìm hiểu kỹ thuật chọn mẫu trong

ki ểm toán BCTC tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC” làm đề tài luận văn

tốt nghiệp đại học của mình

I.2 Mục tiêu của đề tài nghiên cứu

a) Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của đề tài là trên cơ sở lý luận về kỹ thuật chọn mẫu trongkiểm toán, đề tài tiến hành tìm hiểu thực trạng và đánh giá kỹ thuật chọn mẫu trongkiểm toán BCTC mà công ty AAC áp dụng, từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiệnquy trình chọn mẫu trong kiểm toán tại công ty góp phần nâng cao hiệu quả quy trìnhkiểm toán báo cáo tài chính

b) Mục tiêu cụ thể

- Nghiên cứu, tổng hợp, hệ thống hóa cơ sở lý luận về kĩ thuật chọn mẫu trongkiểm toán BCTC

- Tìm hiểu thực trạng áp dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công

ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC

- Đánh giá ưu điểm và hạn chế của các phương pháp chọn mẫu đã áp dụng tạicông ty, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểmtoán BCTC đang được thực hiện tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC

I.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a) Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC docông ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC thực hiện tại công ty Cổ phần ABC và

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 12

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 200, thông tin của khách hàng đượckiểm toán cần bảo mật nên luận văn xin phép được không nêu tên thật của công tykhách hàng.

b) Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Về thời gian: Đề tài tiến hành tìm hiểu kỹ thuật chọn mẫu áp dụng của công tyKiểm toán và Kế toán AAC thực hiện tại Công ty Cổ phần ABC cho năm tài chính kếtthúc ngày 31/12/2017 và Công ty Cổ phần XYZ cho năm tài chính kết thúc ngày31/12/2018

Về nội dung nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trong phạm vi nghiên cứu kỹthuật chọn mẫu tại công ty AAC như sau

- Áp dụng đối với giai đoạn thực hiện thử nghiệm kiểm soát (chu trình mua phải trả-trả tiền và chu trình bán hàng-phải thu-thu tiền) tại Công ty Cổ phần ABC chonăm tài chính kết thúc ngày 31/12/2017

hàng Áp dụng đối với giai đoạn thực hiện thử nghiệm cơ bản (khoản mục doanh thubán hàng và khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp) tại Công ty Cổ phần XYZ chonăm tài chính kết thúc ngày 31/12/2018

Lý do đề tài tiến hành nghiên cứu trong phạm vi hai công ty là vì đối với công tyABC là một công ty thương mại nên có hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế phứctạp, nhiều công đoạn nên để kiểm tra sự hữu hiệu của hệ thống này KTV phải thựchiện chọn mẫu để kiểm tra tính hiệu quả của các thủ tục kiểm soát thay vì thực hiện lạihoặc kiểm tra hết toàn bộ Tương tự như trên, đối với công ty XYZ là một công ty sảnxuất nên việc kiểm toán các khoản mục, đặc biệt là khoản mục hàng tồn kho cũng nhưchi phí được KTV lưu ý, tuy nhiên vì số lượng các nghiệp vụ phát sinh trong năm tàichính là quá lớn thế nên việc chọn mẫu với mục tiêu chọn ra được một mẫu đại diệncho tổng thể kiểm toán sẽ thể hiện được vai trò của kỹ thuật chọn mẫu trong kiểmtoán

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

I.4 Phương pháp nghiên cứu

a) Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Nghiên cứu các chuẩn mực, chế độ kế toán và kiểm toán Việt Nam hiện hành;các tài liệu chuyên khảo như giáo trình đại học, các nguồn tư liệu từ internet, liênquan đến kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC

- Thu thập thông tin về công ty qua các phương tiện truyền thông đại chúng cũngnhư tại website chính của công ty

b) Phương pháp thu thập số liệu

- Qua quá trình thực tập, tiến hành thu thập và nghiên cứu thông tin trong bộ hồ

sơ kiểm toán của công ty khách hàng có áp dụng kỹ thuật chọn mẫu trong hai giaiđoạn thực thiện thử nghiệm kiểm soát và thực hiện thử nghiệm cơ bản

- Trực tiếp tham gia vào công tác kiểm toán tại công ty AAC, quan sát, thực hiệnlại quá trình KTV tiến hành chọn mẫu, phỏng vấn KTV về bản chất và nguyên lý củacác kỹ thuật chọn mẫu được sử dụng Nghĩa là có thể tham gia vào quy trình kiểm toántrong đoàn kiểm toán với vai trò như là một trợ lý KTV thực sự

- Từ việc tham gia vào công tác kiểm toán tại công ty, tiến hành thu thập các giấy

tờ làm việc, sổ sách kế toán liên quan đến nội dung đề tài thực hiện

- Phương pháp đối chiếu so sánh để tìm ra khác biệt trong kỹ thuật chọn mẫu củacông ty AAC so với cơ sở lý thuyết đã được nêu ra

- Vận dụng kiến thức từ lý thuyết lý luận kết hợp với kinh nghiệm thực tế để cóTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

I.5 Kết cấu của đề tài

Cấu trúc của đề tài luận văn gồm có 3 phần chính như sau:

Phần I: Đặt vấn đề

Trong phần này nêu lên tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu đề tài, đốitượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu đề tài của sinh viên thực hiện

Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu, gồm có 3 chương gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận về kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC

Chương 2: Thực trạng công tác chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công

ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC

Chương 3: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong

kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Kiếm toán và Kế toán AAC

Phần III: Kết luận và kiến nghị

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ THUẬT CHỌN MẪU

TRONG KIỂM TOÁN BCTC 1.1 Khái quát về kiểm toán BCTC và vai trò của chọn mẫu trong kiểm toán BCTC

1.1.1 Sơ lược về mục tiêu của kiểm toán BCTC

Kiểm toán BCTC là cuộc kiểm tra và xác nhận tính trung thực, hợp lý của BCTCcủa một đơn vị cũng như việc BCTC có phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực kếtoán được thừa nhận rộng rãi hay không Mục tiêu của kiểm toán BCTC là việc đưa ra

ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở các chuẩn mực và chế độ kiểm toánhiện hành, có tuân thủ luật, có trung thực, hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu haykhông (Theo giáo trình Kiểm toán dùng trong các trường trung học chuyên nghiệp)Kết quả của kiểm toán BCTC có thể phục vụ cho đơn vị Nhà nước và bên thứ ba,nhưng chủ yếu là phục vụ cho những bên thứ ba như cổ đông, nhà đầu tư, ngân hàng v.v để cung cấp cơ sở đưa ra các quyết định kinh tế phù hợp

1.1.2 Vai trò, ý nghĩa của kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC

Kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán được sử dụng vì những ý nghĩa mà nó manglại sau:

- Tính đảm bảo tương đối: vì những hạn chế vốn có của một cuộc kiểm toán,KTV có trách nhiệm kiểm tra thông tin tài chính mà doanh nghiệp công bố có trungthực, đúng đắn ở mức hợp lý hay không, mọi cuộc kiểm tra đều mang tính chất tươngđối chứ không phải tìm đến một sự chắc chắn

- Tính kinh tế: nhiệm vụ đặt ra cho KTV khi thực hiện một cuộc kiểm toán là hữuhiệu và hiệu quả, bên cạnh mục tiêu hữu hiệu, một cuộc kiểm toán được xem là hiệuquả nếu như lợi ích từ nó mang lại lớn hơn chi phí bỏ ra Nếu không có chọn mẫu màtiến hành các thử nghiệm lên 100% nghiệp vụ và số dư thì chi phí sẽ vô cùng lớn

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 16

- Tiết kiệm thời gian: thông tin sau cuộc kiểm toán, cụ thể là việc phát hành báocáo kiểm toán sẽ có ý nghĩa đối với mục đích kiểm toán của từng khách hàng (nộp cho

cơ quan thuế, xác minh tình hình tài chính với ngân hàng,…) vì thế nếu tiến hànhkiểm tra toàn bộ các số dư và nghiệp vụ trên BCTC mà không sử dụng chọn mẫu thì

có thể mục tiêu thời gian sẽ khó đạt được, đồng nghĩa với cuộc kiểm toán nếu khôngphục vụ nhu cầu của khách hàng thì sẽ không còn có ý nghĩa

Kết luận, chọn mẫu là một công việc cần thiết trong quá trình kiểm toán vìnhững lợi ích mà nó mang lại đem đến một cuộc kiểm toán có hiệu quả, đối với nhómkiểm toán và đối với khách hàng kiểm toán Tuy nhiên, tùy thuộc vào mỗi cuộc kiểmtoán, KTV lựa chọn kỹ thuật chọn mẫu và kiểm tra toàn bộ cho phù hợp phụ thuộc vàonhiều yếu tố sẽ chi tiết ở các phần sau

1.2 Khái niệm về chọn mẫu kiểm toán và các khái niệm khác liên quan

1.2.1 Khái niệm về chọn mẫu kiểm toán

Theo hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, VAS 530 – “Lấy mẫu kiểm toán”định nghĩa: “Lấy mẫu kiểm toán (sau đây gọi là “lấy mẫu”): Là việc áp dụng các thủtục kiểm toán trên số phần tử ít hơn 100% tổng số phần tử của một tổng thể kiểm toánsao cho tất cả các đơn vị lấy mẫu đều có cơ hội được lựa chọn nhằm cung cấp chokiểm toán viên cơ sở hợp lý để đưa ra kết luận về toàn bộ tổng thể”

Chọn mẫu trong kiểm toán BCTC là việc áp dụng phương pháp nào đó để có thểchọn ra một nhóm các phần tử và đơn vị (gọi là mẫu) trong một tập hợp các phần tử vàđơn vị lớn (gọi là tổng thể) của một số dư tài khoản hay các nghiệp vụ, nhằm mục đích

sử dụng các đặc trưng của mẫu để suy rộng ra đặc trưng của toàn bộ tổng thể Mục tiêucủa KTV khi áp dụng phương pháp lấy mẫu kiểm toán là cung cấp cơ sở hợp lý đểKTV đưa ra kết luận về tổng thể được lấy mẫu

Trong đó tổng thể là tập hợp tất cả các dữ liệu về một tài khoản hay các nghiệp

vụ mà từ đó kiểm toán cần chọn mẫu, để cho ra kết luận về toàn bộ tổng thể

Lấy mẫu kiểm toán có thể thực hiện theo hai phương pháp thống kê và phi thống

Trang 17

Nhìn chung, có thể đưa ra khái niệm khái quát về chọn mẫu trong kiểm toán làviệc xác định ra các phần tử của một tổng thể để từ đó đánh giá mẫu được lựa chọnnhằm thu thập bằng chứng kiểm toán làm cơ sở cho việc đưa ra ý kiến về kiểm toánBCTC.

1.2.2 Các thuật ngữ khác liên quan đến chọn mẫu trong kiểm toán

Thí dụ như KTV chọn một mẫu gồm 100 nghiệp vụ nhập kho nguyên vật liệutrong năm từ một tổng thể gồm có 10.000 nghiệp vụ nhập kho, và sẽ dùng giá trị kiểmtoán của mẫu để suy đoán ra giá trị kiểm toán của tổng thể Hoặc, tổng thể của số dưtài khoản phải trả cho nhà cung cấp là toàn bộ các đối tượng có số dư cuối kỳ tại thờiđiểm kết thúc niên độ kế toán

Theo VSA 530, KTV phải đảm bảo tính phù hợp và đầy đủ của tổng thể Nghĩa

là tổng thể dùng để chọn mẫu phải phù hợp với mục tiêu của kiểm toán và mục đíchcủa lấy mẫu, đồng thời, tổng thể phải đảm bảo được sự đầy đủ để có thể đại diện chokhoản mục được kiểm toán

1.2.2.2 Đơn vị lấy mẫu (Sampling Unit)

Đơn vị lấy mẫu là một phần tử riêng biệt cấu thành nên tổng thể (Theo Chuẩnmực kiểm toán số 530) Ví dụ, các nghiệp vụ phát sinh Nợ của TK 642, các nghiệp vụphát sinh Có của TK 511 hoặc có thể là các số dư Có của tài khoản phải trả cho nhàcung cấp Đơn vị lấy mẫu có thể là một đơn vị tiền tệ hay một đơn vị hiện vật

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

1.2.2.3 Cỡ mẫu (sample size)

Tập hợp các phần tử được chọn ra từ một tổng thể làm đại diện trong quá trìnhkhảo sát đặc điểm cũng như một dấu hiệu nào đó của tổng thể thì được xem là mẫu.Tổng sổ phần tử mẫu được chọn ra được gọi là kích thước mẫu hay cỡ mẫu Cỡ mẫuthường khá nhỏ so với toàn bộ tổng thể

Theo VAS 530 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, quy định “KTV phải đảm bảorủi ro kiểm toán do áp dụng phương pháp lấy mẫu giảm xuống mức có thể chấp nhậnđược khi xác định cỡ mẫu Cỡ mẫu chịu ảnh hưởng bởi mức rủi ro kiểm toán Rủi ro

có thể chấp nhận được càng thấp, thì cỡ mẫu cần thiết sẽ càng lớn Cỡ mẫu được xácđịnh theo phương pháp thống kê hoặc xét đoán nghề nghiệp của KTV phải khách quantrong mọi trường hợp.”

1.2.2.4 Mẫu đại diệnrepresentative sample)

Mẫu đại diện là mẫu mang đặc trưng của tổng thể mà mẫu được chọn ra Ví dụ,qua đánh giá sơ bộ KSNB, có 10% phiếu nhập kho không có chứng từ kèm theo Nếuchọn 200 mẫu trong tổng thể 2000 nghiệp vụ nhập kho, thì phát hiện 18 đến 20 phiếunhập kho không có chứng từ kèm theo, thì mẫu này được đánh giá là mẫu tiêu biểu

1.3 Rủi ro do chọn mẫu và rủi ro không do chọn mẫu

1.3.1 Rủi ro do chọn mẫu (sampling risk)

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 530 định nghĩa: “Rủi ro lấy mẫu: Là rủi ro

mà kết luận của KTV dựa trên việc kiểm tra mẫu có thể khác so với kết luận đưa ranếu kiểm tra toàn bộ tổng thể với cùng một thủ tục kiểm toán”

Bất cứ khi nào chọn mẫu thì rủi ro chọn mẫu cũng có thể phát sinh Nói cáchkhác, rủi ro chọn mẫu là sự sai khác giữa kết quả chọn mẫu với kết quả thực tế

Rủi ro lấy mẫu có thể dẫn tới hai loại kết luận sai như sau: (Theo VSA 530)

 Kết luận rằng các kiểm soát có hiệu quả cao hơn so với hiệu quả thực sự củacác kiểm soát đó (đối với thử nghiệm kiểm soát), hoặc kết luận rằng không có sai sóttrọng yếu trong khi thực tế lại có (đối với kiểm tra chi tiết) KTV quan tâm chủ yếuTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

đến loại kết luận sai này vì nó ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của cuộc kiểm toán và cóthể dẫn đến ý kiến kiểm toán không phù hợp.

 Kết luận rằng các kiểm soát có hiệu quả kém hơn so với hiệu quả thực sự củacác kiểm soát đó (đối với thử nghiệm kiểm soát), hoặc kết luận rằng có sai sót trọngyếu trong khi thực tế lại không có (đối với kiểm tra chi tiết) Loại kết luận sai này ảnhhưởng đến hiệu quả của cuộc kiểm toán vì thường dẫn tới các công việc bổ sung đểchứng minh rằng kết luận ban đầu là không đúng

Ví dụ, KTV chọn mẫu kiểm tra nghiệp vụ ghi nhận doanh thu bán hàng, sau khikiểm tra mẫu, KTV đưa ra dự kiến tối đa 2% tổng hoá đơn bán hàng “chưa được phêchuẩn bán theo phương thức trả chậm” Trong khi đó nếu KTV kiểm tra tất cả doanhthu bán chịu, KTV sẽ thấy tỉ lệ hoá đơn “chưa được phê chuẩn bán theo phương thứctrả chậm” chiếm 12% Như vậy sai lệch giữa tỷ lệ thực tế 12% với tỷ lệ theo kết quảmẫu chọn 2% là sai số chọn mẫu 10%, dẫn đến KTV có thể bỏ qua sai sót trọng yếucủa khoản mục được kiểm toán

Rủi ro chọn mẫu có thể giảm bằng cách tăng cỡ mẫu Nếu tăng kích cỡ mẫu chọncho tới khi bằng toàn bộ tổng thể thì rủi ro chọn mẫu bằng không Tuy nhiên, cỡ mẫutăng lên đồng nghĩa với chi phí kiểm toán tăng lên, do đó, yếu tố cơ bản trong việcchọn mẫu kiểm toán một cách hiệu quả là cần phải cân đối giữa rủi ro chọn mẫu vớichi phí do chọn mẫu có kích cỡ lớn

1.3.2 Rủi ro không do chọn mẫu (nonsampling risk)

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 530 định nghĩa: “Rủi ro ngoài lấy mẫu: Làrủi ro khi kiểm toán viên đi đến một kết luận sai vì các nguyên nhân không liên quanđến rủi ro lấy mẫu”

Rủi ro ngoài lấy mẫu bao gồm việc KTV sử dụng các thủ tục kiểm toán khôngphù hợp hoặc hiểu sai bằng chứng kiểm toán và không nhận diện được sai phạm,nguyên nhân có thể xuất phát trực tiếp từ chính năng lực chuyên môn của KTV, việcKTV áp dụng thủ tục kiểm toán không phù hợp với mục tiêu kiểm toán, hoặc sử dụng

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

đúng thủ tục kiểm toán nhưng không phát hiện ra sai phạm trong mẫu đã chọn do thiếuthận trọng.

Các trường hợp rủi ro không do chọn mẫu thường bao gồm:

 Thứ nhất, đánh giá rủi ro tiềm tàng không đúng: Một KTV ngay từ đầu đã quanniệm sai lầm rằng chỉ có rất ít những sai phạm trọng yếu trong đối tượng kiểm toán thì

sẽ có khuynh hướng giảm thiểu công việc và do đó không phát hiện được các saiphạm

 Thứ hai, đánh giá không đúng về rủi ro kiểm soát: KTV tin rằng hệ thốngKSNB hữu hiệu trong việc ngăn chặn và sữa chữa kịp thời các sai phạm nên họ có xuhướng giảm thiểu các thủ tục kiểm toán

 Thứ ba, việc lựa chọn các thủ tục kiểm toán không thích hợp và thực hiện côngviệc kiểm toán không hợp lý hoặc có thể KTV mắc sai lầm trong quá trình kiểm toán.Chẳng hạn, KTV tiến hành xác minh các khoản phải thu đã được ghi sổ trong khi mụctiêu là phát hiện các khoản phải thu chưa được ghi sổ Cụ thể là xem xét chọn mẫu cácnghiệp vụ ghi nhận trên sổ sau đó đối chiếu với các chứng từ gốc, trong khi mục tiêukiểm toán là xem xét liệu doanh thu có được ghi nhận đầy đủ hay không

Rủi ro ngoài chọn mẫu cũng có khả năng khiến cho KTV đưa ra một quyết địnhsai lầm Nó cũng tồn tại trong tất cả các phương pháp chọn mẫu KTV có thể kiểmsoát cũng như làm giảm rủi ro không do chọn mẫu đến mức có thể chấp nhập được,bằng việc thực hiện việc lập kế hoạch và theo dõi giám sát việc thực hiện trong suốtquá trình kiểm toán, ngoài ra còn đánh giá, xem xét liệu thủ tục kiểm toán có thực sựphù hợp với mục tiêu kiểm toán đề ra hay chưa

1.3.3 Phân biệt rủi ro do chọn mẫu và rủi ro không do chọn mẫu

KTV luôn cố gắng hết sức để chọn một mẫu đại diện cho tổng thể Tuy nhiên,không phải lúc nào điều đó cũng có thể xảy ra do không may mắn hoặc do lỗi thuầntúy trong phán đoán

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 21

Bảng 1.1 - Phân biệt rủi do chọn mẫu và rủi ro không do chọn mẫu

Rủi ro do chọn mẫu

(Sampling Risk)

Rủi ro không do chọn mẫu(Non-sampling Risk)Rủi ro mà KTV đưa ra kết luận không

chính xác vì mẫu được chọn không đại

diện cho tổng thể mà từ đó nó được rút ra

Rủi ro mà KTV đưa ra kết luận khôngchính xác vì bất kỳ lý do nào không liênquan đến rủi ro lấy mẫu

Phương pháp lấy mẫu thích hợp đã được

chọn và áp dụng nhưng không phát hiện ra

sai sót trọng yếu (nghĩa là không may

mắn)

Kết quả từ sự bất cẩn của KTV (thiếu sựthận trọng đúng mức)

Xảy ra vì bản chất của lấy mẫu KTV có

thể giảm rủi ro lấy mẫu nhưng không thể

loại bỏ hoàn toàn

Không áp dụng các quy trình hiệu quảhoặc phù hợp

Trong cả thử nghiệm kiểm soát và thử

nghiệm cơ bản, rủi ro lấy mẫu có thể giảm

được bằng cách tăng cỡ mẫu

Rủi ro không lấy mẫu có thể được giảmbằng cách tăng cường năng lực củaKTV, thực hiện đứng đắn việc lập kếhoạch kiểm toán, giám sát và soát xét lạiquá trình thực hiện kiểm toán

1.4 Các phương pháp chọn mẫu trong kiểm toán

Phương pháp chọn mẫu kiểm toán là các quy tắc, cách thức, thủ thuật, các bước

mà KTV thực hiện trong quá trình chọn mẫu nhằm chọn ra được mẫu có tính đại diệncao, thu thập được bằng chứng kiểm toán có tính thuyết phục, có thể dùng đặc trưngmẫu đó để suy rộng cho đặc trưng của toàn bộ tổng thể Có nhiều phương pháp chọnmẫu kiểm toán nhưng nhìn chung người ta phân loại ra chọn mẫu thống kê và chọnmẫu phi thống kê

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 22

1.4.1 Chọn mẫu thống kê (Statistical sampling)

Chọn mẫu thống kê là việc sử dụng công cụ toán học trong việc chọn mẫu để tínhkết quả thống kê có hệ thống Phương pháp này lựa chọn các phần tử vào mẫu một cácngẫu nhiên và sử dụng lý thuyết xác suất thông kê trong việc đánh giá kết quả mẫu.Lấy mẫu thống kê là phương pháp lấy mẫu dựa vào lý thuyết thống kê để đánhgiá kết quả mẫu, bao gồm cả định lượng rủi ro Lấy mẫu thống kê đòi hỏi các phần tửphải được lựa chọn vào mẫu một cách ngẫu nhiên

Đặc điểm của chọn mẫu thống kê:

 Các phần tử được lựa chọn ngẫu nhiên vào mẫu

 Sử dụng lý thuyết xác suất thống kê để đánh giá kết quả mẫu bao gồm địnhlượng rủi ro do chọn mẫu Lỗi lấy mẫu, còn được gọi là sai sót có thể xảy ra (Furtherpossible misstatements - FPM), có thể được định lượng

 Kết quả chọn mẫu là khách quan và có thể xác định được vì chúng là kết quảtoán học rõ ràng

 Công việc kiểm toán phù hợp hơn (ít có khả năng giảm cỡ mẫu dựa trên ngânsách thời gian)

 Tránh kiểm toán quá mức Thông thường đối với phương pháp phi thống kê,KTV có xu hướng kiểm toán quá mức trong trường hợp cỡ mẫu quá nhỏ

Ưu điểm chung phương pháp chọn mẫu thống kê là có thể cho kết quả tốt nếugiữa các đơn vị của tổng thể chung không có gì khác biệt nhau nhiều, cho phép thuđược mẫu có tính đại diện cao, có thể suy rộng các kết quả của mẫu cho tổng thể vớimột sai số xác định

Còn nhược điểm của phương pháp này là nếu tổng thể chung có kết cấu phức tạpthì mẫu sẽ khó đảm bảo tính đại biểu, hơn nữa, đối với các tổng thể lớn có hàng ngànđơn vị thì việc lập số rút thăm và đặt số hiệu cho từng đơn vị cũng gặp khó khăn

Lưu ý mẫu được chọn ngẫu nhiên là mẫu không có thiên lệch, chứ chưa chắcchắn là một mẫu đại diện cho tổng thể Cách chọn này vẫn có thể tồn tại rủi ro là mẫuđược chọn không chứa đựng những đặc trưng của tổng thể.Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 23

Có hai phương pháp chọn mẫu thống kê thông dụng là lựa chọn ngẫu nhiên vàchọn mẫu hệ thống.

 Chọn mẫu ngẫu nhiên (Simple random sample selection) (bao gồm Bảng sốngẫu nhiên, Chương trình chọn số ngẫu nhiên)

 Chọn mẫu có hệ thống (Systematic sample selection)

1.4.1.1 Phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên

Chọn mẫu ngẫu nhiên nói đơn giản chỉ là một phương pháp lựa chọn các phần tửvào mẫu mà nguyên tắc của chọn mẫu ngẫu nhiên là mỗi phần tử trong tổng thể đều có

cơ hội lựa chọn như nhau

Trong một mẫu ngẫu nhiên đơn giản, mọi sự kết hợp có thể của các đơn vị có cơhội như nhau được bao gồm trong mẫu KTV sử dụng lấy mẫu ngẫu nhiên đối với tổngthể mẫu khi không cần nhấn mạnh một hoặc nhiều loại tính chất của tổng thể

Ví dụ, giả sử, KTV muốn lấy mẫu kiểm tra nghiệp vụ ghi nhận doanh thu củakhách hàng trong năm tài chính Họ có thể chọn một mẫu ngẫu nhiên đơn giản gồm 60nghiệp vụ bán hàng, áp dụng thủ tục kiểm toán cho 60 nghiệp vụ này rồi rút ra kết luận

về tất cả các nghiệp vụ doanh thu được ghi nhận

Trong chọn mẫu ngẫu nhiên không có sự phân biệt, đối xử giữa các phần tử tổngthể nên chọn mẫu ngẫu nhiên được vận dụng khi các phần tử trong tổng thể được đánhgiá là tương đối đồng đều (về khả năng sai phạm, về quy mô ) Tuy nhiên, mẫu đượcchọn ngẫu nhiên không nhất thiết sẽ là mẫu đại diện vì có khả năng mẫu chọn đượckhông chứa đựng những đặc tính giống như đặc tính của tổng thể

Chọn mẫu ngẫu nhiên có thể được thực hiện với việc sử dụng bảng số ngẫu nhiênhay theo chương trình chọn số ngẫu nhiên của máy vi tính

Trang 24

gồm năm chữ số thập phân Bảng số ngẫu nhiên được xây dựng bởi Hiệp hội Thương

mại Liên quốc gia Hoa Kỳ Ví dụ về loại bảng này được trình bày trong phụ lục 01.

Việc sắp xếp số ngẫu nhiên chỉ nhằm giúp người sử dụng bảng có thể chọn các sốmột cách dễ dàng, ngoài ra không có ý nghĩa nào khác

Để sử dụng bảng này, KTV cần thực hiện các bước sau:

Bước 1: Thiết lập sự tương ứng giữa số liệu của bảng và những phần tử trong tổng thể.

 Trước hết, nếu các phần tử không được đánh số trước, hoặc đánh số một cáchkhông liên tục, hoặc đánh số theo khác với hệ số thập phân (Thí dụ A-101, B-101 ),KTV phải đánh số thứ tự của tổng thể, nói cách khác là gắn cho mỗi phần tử của tổngthể với một con số duy nhất và từ đó ta có thể có được mối quan hệ giữa các số duynhất trong tổng thể với bảng số ngẫu nhiên

 Ví dụ khi kiểm tra nghiệp vụ nhập kho nguyên vật liệu, kế toán chia thành 12quyển sổ ghi chép nghiệp vụ từng tháng, mỗi tháng tiến hành đánh số nghiệp vụ ghinhận bắt đầu từ 01 Như vậy, khi tiến hành chọn mẫu theo bảng số ngẫu nhiên, để cócon số tương ứng mỗi nghiệp vụ duy nhất, có thể kết hợp số tháng của nghiệp vụ với

số thứ tự của nghiệp vụ trên mỗi sổ để có số thứ tự ví dụ là 0101, ,0201, ,1201,

 KTV cũng cần xem số lượng chữ số sẽ chọn có phù hợp với hệ thống số củatổng thể hay không Vì số chữ số trên bảng số ngẫu nhiên là 5 nên khi KTV định lượng

số chữ số sẽ chọn của các số hiệu trên bảng số ngẫu nhiên có thể có ba trường hợp xảy

ra như sau:

 TH1: nếu tổng thể đánh số từ 1 đến 50.000, khi đó quan hệ tương quan 1-1 giữađịnh lượng đối tượng kiểm toán với các số ngẫu nhiên đã tự thiết lập vì cùng gồm 5chữ số như nhau

 TH2: nếu KTV chọn một mẫu 100 phần từ từ tổng thể gồm 5.000 phần tử đượcđánh số từ 1 đến 5.000, ta có các phần tử của tổng thể chỉ có số thứ tự bao gồm 4 chữ

số nên KTV quyết định sẽ dùng 4 chữ số đầu của các số hiệu trên bảng số ngẫu nhiên

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

 TH3: nếu KTV chọn mẫu từ tổng thế được đánh số mà có số các chữ số lớn hơn

5, tức lớn hơn số hiệu trên bảng số ngẫu nhiên, khi đó đòi hỏi KTV phải xác định mộtcột trong bảng làm cột chính và chèn thêm những hàng số ở cột phụ của bảng

Bước 2: Chọn điểm xuất phát và một lộ trình có hệ thống dùng để đọc bảng số ngẫu nhiên

 Bảng số ngẫu nhiên bao gồm rất nhiều trang Để chọn điểm xuất phát, bảng sốngẫu nhiên nên được mở ra một cách ngẫu nhiên và ngẫu nhiên chọn ra một số trongbảng để làm điểm xuất phát

 Chọn một lộ trình có hệ thống dùng để đọc bảng số ngẫu nhiên KTV chọn lộtrình nào cũng được miễn là lộ trình đó có phải được định trước và áp dụng nhất quán.Việc xác định lộ trình có thể là theo hàng dọc hoặc theo hàng ngang, có thể từ trênxuống dưới hoặc từ dưới lên trên, có thể lộ trình từ trái sang phải hoặc từ phải sangtrái Việc xác định này toàn quyền quyết định của KTV xong cần được đặt ra từ trước

và thống nhất trong toàn bộ quá trình chọn mẫu Một vấn đề cần phải được đặc biệtquan tâm ở đây là lộ trình chọn mẫu này phải được lưu lại trong hồ sơ kiểm toán đểkhi một KTV khác tiến hành soát xét việc chọn mẫu này có thể chọn được mẫu nhưtrên

Để cụ thể hơn, minh họa cho phương pháp sử dụng bảng số ngẫu nhiên bảng sốngẫu nhiên

Giả sử, KTV chọn một mẫu 100 phần tử từ tổng thể gồm 7.000 phần tử đượcđánh số trước từ 1 đến 7.000 Lúc này KTV không cần đánh lại số của tổng thể, tuynhiên do các phần tử của tổng thể chỉ có số thứ tự bao gồm 4 chữ số nên KTV quyếtđịnh sẽ dùng 4 chữ số đầu của các số hiệu trên bảng số ngẫu nhiên

Sử dụng bảng số ngẫu nhiên ở phụ lục sau (KTV chọn điểm xuất phát ở cột 4,dòng 1.000 theo lộ trình từ trên xuống dưới, từ trái sang phải Phần tử được chọn đầutiên sẽ là 3.154, sau đó lần lượt là 5.158, 6.586 Số kế tiếp là 8.293 do vượt ra ngoàikhung (các phần tử của tổng thể chỉ đánh số đến 7.000) nên không được chọn Tiếp

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 26

Quá trình lựa chọn được tiếp tục cho đến khi đủ 100 phần tử Nếu trên lộ trình có

số liệu nào vượt khung (>7.000), KTV sẽ bỏ qua số liệu đó và chọn số tiếp theo

Trong quá trình sử dụng bảng số ngẫu nhiên, có thể KTV gặp lại trên lộ trình mộtcon số đã xuất hiện một lần và đã được chọn vào mẫu, lúc này sẽ có hai cách để giảiquyết:

 Thứ nhất, KTV có thể áp dụng lấy mẫu không hoàn lại (chọn mẫu không thaythế), nghĩa là không chấp nhận một phần tử có mặt hai lần trong mẫu và bỏ qua

số liệu đó để lựa chọn số liệu kế tiếp

 Thứ hai, KTV sẽ áp dụng lấy mẫu có hoàn lại (chọn mẫu thay thể), nghĩa là mộtphần tử có thể có mặt nhiều lần trong mẫu Lúc này, một lần nữa phần tử đó lạiđược chọn vào mẫu

 Trong lấy mẫu kiểm toán, cả hai cách trên đều được chấp nhận với các côngthức thống kê thích hợp, tuy nhiên lấy mẫu không hoàn lại được sử dụng rộng rãi hơn.Mặc dù chọn mẫu hoàn lại vẫn đảm bảo tính ngẫu nhiên nhưng số lượng phần tử mẫuthực tế khảo sát sẽ giảm đi và lúc đó độ tin cậy của mẫu chọn cũng giảm theo

b) Chương trình chọn số ngẫu nhiên

Để giảm nhẹ công việc và tiết kiệm thời gian, người ta đã xây dựng sẵn cácchương trình máy tính có khả năng cung cấp một dãy số ngẫu nhiên của một tổng thể,

đó là chương trình chọn số ngẫu nhiên mà KTV có thể sử dụng Đây là phương pháp

mà các hãng kiểm toán lớn thường sử dụng, họ thuê hoặc tự xây dựng các chươngtrình chọn mẫu ngẫu nhiên qua máy vi tính nhằm tiết kiệm thời gian và giảm sai sóttrong mẫu

Khi kiểm toán viên sử dụng chọn mẫu theo chương trình máy tính, hệ thống cũngthực hiện hai bước đầu tiên như trong chọn mẫu theo bảng số ngẫu nhiên là thiết lậpcon số duy nhất cho từng đối tượng riêng biệt và thiết lập mối quan hệ với các số ngẫunhiên như đã trình bày ở chọn mẫu theo bảng số ngẫu nhiên Nhưng sự khác biệt ở đây

là, bước chọn số ngẫu nhiên lại được thực hiện bởi phần mềm máy tính

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

Chọn mẫu bằng chương trình máy vi tính có thể loại bỏ được những số khôngthích hợp, tự động loại bỏ những phần tử bị trùng lắp và tự động phản ánh kết quả vàogiấy tờ làm việc Ưu điểm nổi bật nhất của phương pháp này là làm giảm những sai sótchủ quan của con người (rủi ro không do chọn mẫu) trong quá trình chọn mẫu.

1.4.1.2 Chọn mẫu hệ thống

Nguyên tắc của phương pháp này là kể từ một điểm xuất phát ngẫu nhiên đượcchọn, KTV sẽ chọn các phần tử cách nhau theo một khoảng cách cố định gọi là khoảngcách mẫu Khoảng cố định này được tính bằng cách chia số phần tử cho tổng thể cho

số phần tử của mẫu

 Ví dụ, cần kiểm tra trong một tổng thể hóa đơn bán hàng dao động từ số hóađơn 652 đến 3.151, với mong muốn chọn được mẫu gồm 125 hóa đơn (cỡ mẫu

là 125)

 Theo đó, KTV tính được khoảng các mẫu là 20 (= )

 Đầu tiên, KTV chọn một số ngẫu nhiên trong khoảng từ 0 đến 19 (kích thướckhoảng) để xác định điểm bắt đầu cho chọn mẫu hệ thống Nếu số được chọnngẫu nhiên là 9, phần tử được lựa chọn đầu tiên trong mẫu sẽ là hóa đơn số 661(tức là hóa đơn số 652 + 9)

 Tiếp theo, 124 hóa đơn được chọn còn lại sẽ là: 681 (hóa đơn số 661 + 20)

701 (hóa đơn số 681 + 20)

721 (hóa đơn số 701 + 20)

…3.141 (hóa đơn số 3.121 + 20)

Ưu điểm nổi bật của phương pháp này là dễ lựa chọn các phần tử của mẫu KTVkhông cần thiết phải đánh số lại tổng thể vì chỉ cần căn cứ trên khoảng cách là có thểchọn các phần tử của mẫu

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

Tuy nhiên, phương pháp này cũng có một hạn chế lớn là nó có thể cho một mẫu

bị thiên lệch nếu các phần tử trong tổng thể không đươc sắp xếp một cách ngẫu nhiênhoàn toàn Do khi sử dụng phương pháp lựa chọn hệ thống, một khi phần tử đầu tiêntrong mẫu được chọn, tất cả các đơn vị khác sẽ được chọn tự động, nghĩa là mỗi đơn vị

về sau lại không có cơ hội như nhau để được chọn vào mẫu Điều này không gây ravấn đề gì nếu sự thiên lệch được phân phối ngẫu nhiên trong toàn bộ tổng thể, nhưngtrên thực tế không phải luôn luôn như vậy Ví dụ: nếu sai sót xảy ra tại một thời điểmnhất định trong tháng hoặc chỉ với một số loại nghiệp vụ giá trị lớn nhất định, một mẫu

có hệ thống có thể có khả năng không đại diện cao hơn một mẫu ngẫu nhiên đơn giản.Thí dụ khác như trong danh mục hàng tồn kho của đơn vị, các mặt hàng được đánh sốtận cùng là số 9 là những mặt hàng có giá trị rất cao Khi đó, nếu áp dụng lấy mẫu hệthống sẽ thu được một mẫu bị thiên lệch, vì có thể mẫu chỉ bao gồm rất nhiều phần tử

có giá trị cao, hoặc chỉ bao gồm các phần tử có giá trị thấp

Vì vậy, trước khi áp dụng lấy mẫu hệ thống, KTV cần xem tổng thể có được sắpxếp ngẫu nhiên hay không Nếu điều kiện này không được thỏa mãn, KTV cần khắcphục bằng cách sử dụng nhiều điểm xuất phát ngẫu nhiên hoặc là áp dụng một phươngpháp lấy mẫu ngẫu nhiên khác

1.4.2 Lấy mẫu phi thống kê (Non-statistical sampling)

Trong lấy mẫu thống kê, dựa vào lý thuyết thống kê để đánh giá kết quả mẫu vàđòi hỏi các phần tử phải được lựa chọn vào mẫu một cách ngẫu nhiên Một phươngpháp lấy mẫu không có hai đặc điểm nêu trên được gọi là lấy mẫu phi thống kê

Chọn mẫu phi thống kê hạn chế về việc đánh giá rủi ro của việc chọn mẫu Vìvậy, kết luận được với tổng thể trên cơ sở căn cứ xét đoán nhiều hơn

Phương pháp chọn mẫu phi thống kê được sử dụng khi:

 Việc thực hiện lấy mẫu thống kê, tính toán dựa trên công thức toán học là khókhăn về mặt thời gian và kinh phí

 Kết luận về tổng thể không cần phải dựa trên sự chính xác, ví dụ như thực hiệnthử nghiệm kiểm soátTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 29

 KTV có đầy đủ hiểu biết của bản thân về tổng thể để từ đó chỉ cần dựa vào mẫu

áp dụng chọn mẫu phi thống kê để có thể đưa ra kết luận hợp lý về tổng thể

Phương pháp chọn mẫu phi thống kê hiện nay cũng được sử dụng rộng rãi bởi cónhững ưu điểm sau:

Cho phép tiếp cận với các vấn đề có thể không thích hợp hoặc không cần dùngđến phương pháp thống kê

Cho phép KTV có thể phỏng đoán và bỏ qua một số trường hợp cá biệt đòi hỏiđánh giá bằng định lượng về mức độ rủi ro và mức trọng yếu

Trong quá trình thực hiện kiểm toán, KTV có thể chọn một trong hai phươngpháp chọn mẫu thống kê và chọn mẫu phi thống kê, tùy theo xét đoán nghề nghiệp củamình Việc áp dụng phương pháp chọn mẫu phải phù hợp với mục tiêu kiểm toán

Ví dụ, trong thử nghiệm kiểm soát mục tiêu là tìm ra bản chất và nguyên nhân saisót trong KSNB các chu trình, chứ không phải xem xét đến tần xuất xảy ra sai sót, nênviệc áp dụng phương pháp chọn mẫu phi thống kê thì phù hợp hơn

Có các phương pháp chọn mẫu phi thống kê như sau:

 Chọn mẫu tình cờ (Haphazard sample selection)

 Chọn mẫu theo khối (Block sample selection)

 Chọn mẫu theo xét đoán của KTV

tử cuối trang hay đầu trang…) Cần lưu ý rằng, phương pháp này không được sử dụngtrong lấy mẫu thống kê

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 30

Việc chọn các phần tử một cách tình cờ sau khi xem lướt qua tổng thể và khôngxem xét đến các yếu tố khác như nguồn gốc, quy mô hay các đặc trưng khác nhằm duytrì sự không thiên lệch trong việc chọn mẫu Tuy nhiên, sự không thiên lệch này rấtkhó được đảm bảo, bởi vì với từng trình độ, kinh nghiệm khác nhau KTV sẽ có sự ưutiên cho phần tử này hớn là phần tử khác, do sự đào tạo vốn dĩ của KTV và sự thiên vịkhông chủ ý, một số đơn vị có nhiều khả năng hơn các phần tử khác được đưa vàomẫu và đây cũng chính là một nhược điểm lớn nhất của phương pháp này.

1.4.2.2 Chọn mẫu theo khối

Theo VSA 530 – Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 530: Lấy mẫu kiểm toán,Phụ lục 04 định nghĩa:

“Lựa chọn mẫu theo khối là việc lựa chọn một hay nhiều khối phần tử liên tiếpnhau trong một tổng thể Lựa chọn mẫu theo khối ít khi được sử dụng trong lấy mẫukiểm toán vì hầu hết các tổng thể đều được kết cấu sao cho các phần tử trong mộtchuỗi có thể có chung tính chất với nhau nhưng lại khác với các phần tử khác trongtổng thể Mặc dù trong một số trường hợp, kiểm tra một khối các phần tử cũng là mộtthủ tục kiểm toán thích hợp, nhưng phương pháp này thường không được sử dụng đểlựa chọn các phần tử của mẫu khi KTV dự tính đưa ra kết luận về toàn bộ tổng thể dựatrên mẫu.”

Đối với phương pháp chọn mẫu khối (lô), nếu như KTV chọn một mẫu đầu tiêntrong khối, thì các phần tử tiếp theo nó sẽ được lựa chọn là điều tất yếu Ví dụ nhưkiểm tra 100 nghiệp vụ ghi nhận doanh thu từ sổ nhật ký, KTV có thể chọn 100 nghiệp

vụ bán hàng trong tháng 3, sau đó dựa vào kết quả mẫu mà đánh giá cả năm; hoặcchọn ra một mẫu bao gồm tất cả các phiếu chi trong tháng 3 và tháng 8 để kiếm tranghiệm vụ chi trong năm;

Việc chọn mẫu theo khối để kiểm toán các nghiệp vụ, tài sản hoặc khoản mục chỉđược sử dụng khi KTV đã nắm chắc tình hình của đơn vị được kiểm toán hoặc khi sốlượng khối hợp lý, vừa đủ Nếu ít khối được sử dụng, rủi ro lấy mẫu không mang tínhđại diện là rất lớn Ví dụ, giả sử trong ví dụ trước, KTV muốn xem xét nghiệp vụ bán

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 31

hàng trong năm, thay vì chọn mẫu khối gồm 100 nghiệp vụ bán hàng trong tháng 3,KTV có thể lấy mẫu từ 10 khối 10 từ 10 tháng khác nhau.

 Mặc dù lựa chọn mẫu tình cờ và lựa chọn mẫu theo khối có vẻ kém logic hơncác phương pháp chọn mẫu khác, nhưng chúng thường hiệu quả trong các tình huốngkhi mà chi phí của các phương pháp chọn mẫu phức tạp khác lớn hơn nhiều so với lợiích thu được từ việc sử dụng các phương pháp đó

1.4.2.3 Chọn mẫu theo xét đoán

Chọn mẫu theo xét đoán là phương pháp mà KTV dựa trên những hiểu biết, kinhnghiệm và xét đoán nghề nghiệp của mình để ưu tiên chọn phần tử nào hơn phần tửnào KTV chỉ chọn các đối tượng dựa trên tiêu thức mà mình đã xác định trước Cáctiêu thức đó là

 Các đối tượng có khả năng sai phạm lớn nhất: KTV nhận định một vài đốitượng có khả năng sai phạm rõ ràng như các khoản phải thu, phải trả không có biếnđộng trong năm, hay các khoản ứng trước cho người bán, thì lúc này KTV sẽ kiểm trachi tiết từng đối tượng này Nếu kết quả cho thấy những đối tượng này không có saisót thì từ đó có thể suy rộng ra tổng thể là không có sai sót

 Các mẫu có đặc trưng của tổng thể: khi kiểm toán muốn sử dụng mẫu đại diệncho tổng thể thì sẽ dụng tiêu thức này Ví dụ, kiểm tra các khoản doanh thu, doanh thu

có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau trong cùng một công ty, hay kiểm tra doanh thutheo tháng

 Các phần tử có giá trị lớn: việc kiểm tra các phần tử có giá trị lớn sẽ giúp bỏqua các kết luận sai lầm từ sai sót nhỏ trong các phần tử có giá trị tiền tệ nhỏ

Trong nhiều trường hợp, khi có cỡ mẫu nhỏ hoặc có các tình huống không bìnhthường thì chọn mẫu theo nhận định sẽ tạo cơ hội tốt cho sự xuất hiện của các mẫu đạidiện Khi chọn mẫu theo nhận định, để gia tăng tính đại diện của mẫu, cần lưu ý:

 Nếu có nhiều loại nghiệp vụ trong phạm vi kiểm tra thì mỗi loại nghiệp vụ đềunên có mặt trong mẫu được chọn

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 32

 Nếu có nhiều người phụ trách về nghiệp vụ trong kỳ thì mẫu được chọn nên baogồm nghiệp vụ của mỗi người.

 Các nghiệp vụ, khoản mục có số tiền lớn cần được chọn nhiều hơn để kiểm tra

1.4.3 Kỹ thuật phân nhóm (phân tổ) trong chọn mẫu

Khi xem xét các tính chất của tổng thể được lấy mẫu, KTV có thể quyết định sửdụng phương pháp phân nhóm (Theo Phụ lục 01 của VSA 530: Lấy mẫu kiểm toán)hướng dẫn KTV khi sử dụng kỹ thuật phân nhóm

Trước khi tiến hành chọn mẫu, KTV thường thực hiện thủ tục phân tổ Thủ tụcphân tổ trong kiểm toán là việc phân chia tổng thể thành nhiều nhóm, mà các phần tửtrong một nhóm sẽ có cũng tiêu thức hay tính chất kinh tế thì được gọi là tổ hay làtầng Mục tiêu của việc phân nhóm là làm giảm tính biến động của các phần tử trongmỗi nhóm và do đó cho phép giảm cỡ mẫu mà không làm tăng rủi ro lấy mẫu

Kỹ thuật này thường được áp dụng trong các tổng thể có độ phân tán cao, nghĩa

là có chênh lệch lớn giữa giá trị của các phần tử các biệt với giá trị trung bình của tổngthể Các tổng thể con sẽ được chọn mẫu độc lập và kết quá đánh giá của mẫu cũngđược đánh giá một cách độc lập, từ đó có thể suy rộng ra tổng thể KTV phải xác địnhmột cách rõ ràng, mỗi phần tử chỉ được xếp vào một tổ duy nhất

Với kỹ thuật phân nhóm, các phần tử có giá trị rất lớn hoặc rất nhỏ, những phần

tử có đặc trưng khác thường sẽ được tách ra thành các tổng thể con riêng biệt, mỗitổng thể mới được tạo ra sẽ đồng nhất hơn tổng thể cũ Điều đó sẽ giúp dễ dàng hơntrong việc chọn mẫu đại diện cho tổng thể, và từ đó hạn chế rủi ro về chọn mẫu khôngđại diện đến mức thấp nhất Bằng cách chọn các phần tử có sự khác biệt vào cùng một

tổ, mỗi tổ sẽ chứa đựng các phần tử gần như tương tự nhau Sau đó KTV sẽ có từngthủ tục phù hợp cho từng tổ Lúc này, số lượng phần tử phải chọn để đánh giá các tổngthể riêng lẻ sẽ nhỏ hơn số phần tử dùng để đánh giá toàn bộ tổng thể ban đầu

Một ưu điểm khác của kỹ thuật phân nhóm là giúp cho KTV gắn việc chọn mẫuvới tính trọng yếu, hoặc các đặc trung khác của các phần tử, đồng thời áp dụng các thủ

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 33

tục kiểm toán thích hợp cho từng nhóm Thông thường KTV kiểm tra 100% các nhómchứa các phần tử trọng yếu, những nhóm còn lại sẽ áp dụng tỷ lệ chọn mẫu thích hợp.

Ví dụ, khi chọn mẫu các khoản chi phí quản lý doanh nghiệp, KTV sẽ thực hiệnphân tổ như sau:

1 8 Chi phí trên 150 triệu Kiểm tra chứng từ 100%

2 50 Chi phí bé hơn 150 triệu lớn hơn

10 triệu

Chọn mẫu ngẫu nhiên theo

hệ thống

3 30 Chi phí bé hơn 10 triệu Dựa trên bảng số ngẫu nhiên

4 10 Có tài khoản đối ứng bất thường Kiểm tra 100%

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng kết quả của các thủ tục kiểm toán áp dụng cho mộtmẫu chứa các phần tử trong một nhóm chỉ có thể được dự tính cho các phần tử tạo nênnhóm đó Để đưa ra kết luận về toàn bộ tổng thể, KTV cần xem xét rủi ro có sai sóttrọng yếu của các nhóm khác tạo nên tổng thể

Ví dụ, 20% số phần tử trong một tổng thể có thể chiếm 90% giá trị của một số dưtài khoản KTV có thể quyết định kiểm tra một mẫu các phần tử này KTV đánh giákết quả của mẫu này và đi đến kết luận về 90% giá trị độc lập với 10% còn lại (có thểlấy thêm một mẫu trên 10% còn lại này hoặc sử dụng các phương pháp khác để thuthập bằng chứng kiểm toán, hoặc có thể coi 10% còn lại này là không trọng yếu)

1.5 Quy trình lấy mẫu kiểm toán

Căn cứ theo VSA 530, các nội dung cơ bản quy trình lấy mẫu kiểm toán như sau:

 Thiết kế mẫu

 Xác định cỡ mẫu

 Lựa chọn các phần tử của mẫu

 Thực hiện các thủ tục kiểm toán

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 34

 Dự đoán sai sót của tổng thể

 Đánh giá kết quả mẫu

1.5.1 Thiết kế mẫu

Để có được một mẫu phù hợp, KTV cần nghiên cứu kỹ mục tiêu của thủ tục kiểmtoán và các tính chất của tổng thể được lấy mẫu, từ đó xác định sai phạm và tổng thể

Xác định sai phạm là nêu cụ thể những tình huống nào có thể đươc xem là một

sai phạm trong thử nghiệm đang xem xét Việc xem xét nội dung của bằng chứng kiểmtoán thu thập được và hoàn cảnh xảy ra sai lệch hay sai sót hoặc các tính chất khác liênquan tới bằng chứng kiểm toán đó sẽ giúp KTV xác định như thế nào là sai lệch haysai sót

Có những nhầm lẫn hoặc gian lận không được xem là sai phạm đối với thửnghiệm đang được tiến hành khi nhầm lẫn hoặc gian lận đó không liên quan hoặckhông ảnh hưởng đến mục tiêu của thử nghiệm

Thí dụ, khi kiểm tra chi tiết về tính hiện hữu của các khoản phải thu bằng cáchgửi thư xác nhận, có những sai sót sẽ không được coi là sai phạm khi kiểm tra và đánhgiá kết quả mẫu, như là:

 Số liệu của khách hàng và của đơn vị khác nhau vì khách hàng trả tiền trướcngày khóa sổ nhưng đơn vị chỉ nhận tiền sau ngày khóa sổ Sai sót này không ảnhhưởng mục hiêu sự hiện hữu của khoản nợ phải thu

 Việc hạch toán nhầm tài khoản phải thu từ khách hàng này sang khách hàngkhác Sai sót này có thể không ảnh hưởng đến tổng nợ phải thu và do đó không liênquan đến mục tiêu của thử nghiệm đang tiến hành, mặc dù đó có thể là đối tượng quantâm của một thủ tục kiểm toán khác như xem xét về việc lập dự phòng phải thu khóđòi

Xác định tổng thể là xác định toàn bộ dữ liệu mà từ đó KTV lấy mẫu có thể đi

đến một kết luận KTV cần xem xét mục tiêu thử nghiệm để chọn được tổng thể phùhợp với mục tiêu

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 35

Thí dụ nếu mục tiêu của thử nghiệm là xem các khoản phải trả có hiện hữu trongthực tế hay không thì tổng thể được chọn là danh sách các khoản phải trả mà đơn vịbáo cáo Ngược lại, khi thử nghiệm xem các khoản phải trả có đầy đủ không, lúc nàytổng thể không phải là danh sách các khoản phải trả, mà sẽ là các khoản chi trả saungày khóa sổ, những hóa đơn chưa thanh toán, các giấy báo của nhà cung cấp, nhữngphiếu nhập chưa có hóa đơn… Chúng có thể cung cấp bằng chứng về những khoảnphải trả không được ghi chép.

Ngoài ra, KTV cần lưu ý tính đầy đủ của tổng thể Thí dụ nếu KTV định chọncác phiếu chi từ một hồ sơ lưu thì không thể đưa ra kết luận cho toàn bộ phiếu chitrong kỳ, trừ khi KTV tin chắc rằng hồ sơ lưu đó đã bao gồm tất cả các phiếu chi trong

kỳ Tương tự, nếu KTV có ý định sử dụng mẫu để đưa ra kết luận về hoạt động của hệthống KSNB trong kỳ báo cáo, tổng thể cần bao gồm các phần tử liên quan trong suốt

kỳ đó

Xác định đúng tổng thể có ý nghĩa quan trọng vì kết luận kiểm toán chỉ có thểđược đưa ra cho tổng thể mà từ đó mẫu được chọn ra Chẳng hạn, những bằng chứngthu được từ một mẫu gồm các hóa đơn bán hàng đã được ghi sổ không thể sử dụng đểđưa ra kết luận về tính hiện hữu của doanh thu, bởi vì các thủ tục kiểm toán liên quanđến mục tiêu hiện hữu của doanh thu chỉ có thể kiểm tra bằng cách chọn ra từ tổng thểgồm tập hợp các vận đơn (hóa đơn vận chuyển) vì đó mới là minh chứng cho số hàngthực xuất bán

Theo VSA 530 quy định về việc xác định cỡ mẫu

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 36

 Đối với thử nghiệm kiểm soát: khi xem xét các tính chất của một tổng thể,

KTV cần đánh giá tỷ lệ sai lệch kỳ vọng dựa trên hiểu biết của KTV về các kiểm soátliên quan hoặc dựa trên việc kiểm tra một số ít các phần tử trong tổng thể, đánh giánày nhằm thiết kế mẫu và xác định cỡ mẫu Ví dụ, nếu tỷ lệ sai lệch kỳ vọng cao hơnmức có thể chấp nhận được, KTV thường quyết định không tiến hành các thử nghiệmkiểm soát

 Đối với kiểm tra chi tiết: KTV cần đánh giá sai sót dự kiến của tổng thể Nếu

mức sai sót dự kiến là cao, KTV có thể phải kiểm tra 100% số phần tử hoặc sử dụng

cỡ mẫu lớn khi thực hiện kiểm tra chi tiết

Cỡ mẫu có thể được xác định bằng cách áp dụng công thức thống kê hoặc thôngqua xét đoán nghề nghiệp một cách khách quan trong mọi trường hợp Chuẩn mựckiểm toán Việt Nam số 530 về Lấy mẫu kiểm toán nêu ra các ảnh hưởng đặc trưng củacác yếu tố khác nhau tới việc xác định cỡ mẫu Trong các hoàn cảnh giống nhau, ảnhhưởng của các yếu tố lên cỡ mẫu sẽ tương tự nhau cho dù lựa chọn phương pháp thống

kê hay phi thống kê

1.5.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới cỡ mẫu trong thử nghiệm kiểm soát

Bảng 1.2 - Các yếu tố ảnh hưởng tới cỡ mẫu trong thử nghiệm kiểm soát

(phụ lục 02 trong VSA 530)

Mức độ xem xét

của kiểm toán viên

đối với các kiểm

soát liên quan khi

đánh giá rủi ro

tăng lên

Tăng Mức độ đảm bảo mà kiểm toán viên dự định đạt được từ

tính hữu hiệu của các kiểm soát càng cao thì rủi ro cósai sót trọng yếu mà kiểm toán viên đánh giá càng thấp

và do đó cỡ mẫu cần thiết càng lớn Khi đánh giá về rủi

ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu, nếu kiểmtoán viên kỳ vọng về tính hữu hiệu của các kiểm soát,kiểm toán viên cần thực hiện thử nghiệm kiểm soát.Mức độ tin tưởng của kiểm toán viên đối với tính hữuhiệu của các kiểm soát càng cao thì phạm vi thử nghiệmkiểm soát càng lớn (và do đó, cỡ mẫu sẽ tăng lên).Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 37

Tỷ lệ sai lệch có

thể bỏ qua tăng lên

Giảm Tỷ lệ sai lệch có thể bỏ qua càng thấp thì cỡ mẫu cần

Tăng Tỷ lệ sai lệch dự kiến càng cao thì cỡ mẫu cần thiết

càng lớn để kiểm toán viên có thể đưa ra ước tính hợp

lý về tỷ lệ sai lệch thực tế Các yếu tố ảnh hưởng tớiviệc kiểm toán viên xác định tỷ lệ sai lệch dự kiến củatổng thể bao gồm: hiểu biết của kiểm toán viên về đơn

vị được kiểm toán (đặc biệt là các thủ tục đánh giá rủi

ro được thực hiện để tìm hiểu về kiểm soát nội bộ),những thay đổi về nhân sự hoặc thay đổi trong kiểmsoát nội bộ, kết quả của các thủ tục kiểm toán đã ápdụng trong các kỳ trước và kết quả của các thủ tục kiểmtoán khác Nếu tỷ lệ sai lệch kiểm soát dự kiến là cao thìthường khó có khả năng làm giảm được rủi ro có sai sóttrọng yếu đã được đánh giá

bỏ qua tăng lên

Tăng Mức độ đảm bảo mà kiểm toán viên mong muốn về

việc kết quả mẫu phản ánh chân thực tỷ lệ sai lệch thực

tế của tổng thể càng lớn thì cỡ mẫu cần thiết càng lớn

Số lượng đơn vị

lấy mẫu trong tổng

thể tăng

Ảnhhưởngkhôngđáng kể

Đối với các tổng thể lớn, số lượng phần tử thực tế trongtổng thể hầu như không có ảnh hưởng đến cỡ mẫu Tuynhiên, đối với các tổng thể nhỏ, lấy mẫu kiểm toán cóthể không hiệu quả bằng các phương pháp thay thế khác

để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp.Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 38

1.5.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cỡ mẫu trong kiểm tra chi tiết

Bảng 1.3 - Các yếu tố ảnh hưởng tới cỡ mẫu trong kiểm tra chi tiết (phụ lục

03 trong VSA 530) Yếu tố Cỡ mẫu Diễn giải/giải thích

Đánh giá của kiểm

toán viên về rủi ro

có sai sót trọng

yếu tăng lên

Tăng Đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro có sai sót trọng

yếu càng cao thì cỡ mẫu cần thiết càng lớn Đánh giácủa kiểm toán viên về rủi ro có sai sót trọng yếu chịuảnh hưởng của rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát Ví

dụ, nếu không thực hiện thử nghiệm kiểm soát, kiểmtoán viên không thể giảm việc đánh giá rủi ro đối vớitính hữu hiệu của các kiểm soát nội bộ liên quan đến cơ

sở dẫn liệu cụ thể Do đó, để giảm rủi ro kiểm toánxuống một mức thấp có thể chấp nhận được, kiểm toánviên cần một mức rủi ro phát hiện thấp và sẽ dựa nhiềuhơn vào các thử nghiệm cơ bản Kiểm toán viên càngthu thập được nhiều bằng chứng kiểm toán từ kiểm trachi tiết (nghĩa là rủi ro phát hiện càng thấp) thì cỡ mẫucần thiết càng lớn

Giảm Kiểm toán viên càng dựa nhiều hơn vào các thử nghiệm

cơ bản khác (kiểm tra chi tiết hoặc các thủ tục phân tích

cơ bản) để giảm rủi ro phát hiện liên quan đến một tổngthể cụ thể xuống một mức thấp có thể chấp nhận đượcthì mức độ đảm bảo mà kiểm toán viên đặt ra đối vớiviệc lấy mẫu càng thấp và do đó cỡ mẫu có thể càngnhỏ

Sai sót có thể bỏ

qua tăng lên

Giảm Sai sót có thể bỏ qua càng thấp thì cỡ mẫu cần thiết

càng lớn

Số liệu sai sót màTrường Đại học Kinh tế HuếTăng Số liệu sai sót mà kiểm toán viên dự kiến sẽ phát hiện

Trang 39

kiểm toán viên dự

kiến sẽ phát hiện

trong tổng thể tăng

lên

trong tổng thể càng lớn thì cỡ mẫu cần thiết càng lớn để

có thể đưa ra một ước tính hợp lý về số liệu sai sót thực

tế của tổng thể Các yếu tố liên quan đến việc xem xétcủa kiểm toán viên về số liệu sai sót dự kiến bao gồm:mức độ chủ quan trong việc xác định các giá trị, kết quảcủa các thủ tục đánh giá rủi ro, kết quả của thử nghiệmkiểm soát, kết quả của các thủ tục kiểm toán đã áp dụngtrong các kỳ trước, và kết quả của các thử nghiệm cơbản khác

Phân nhóm tổng

thể khi thích hợp

Giảm Việc phân nhóm tổng thể có thể hữu ích khi có khác

biệt lớn về giá trị các phần tử trong tổng thể Khi mộttổng thể có thể được phân nhóm thích hợp thì tổng cỡmẫu của các nhóm sẽ thường nhỏ hơn cỡ mẫu cần thiết

để đạt được một mức độ rủi ro lấy mẫu nhất định, nếu

so với trường hợp lấy mẫu từ toàn bộ tổng thể

Số lượng đơn vị

lấy mẫu trong tổng

thể

Ảnhhưởngkhôngđáng kể

Đối với các tổng thể lớn, số lượng phần tử thực tế củatổng thể không có ảnh hưởng đáng kể đến cỡ mẫu Vìthế, đối với các tổng thể nhỏ, lấy mẫu kiểm toán thườngkhông hiệu quả bằng các phương pháp thay thế khác đểthu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp (Tuynhiên, khi lấy mẫu theo đơn vị tiền tệ, nếu giá trị củatổng thể tăng thì cỡ mẫu sẽ tăng, trừ khi việc này được

bù trừ bằng một sự tăng lên tương ứng của mức trọngyếu đối với tổng thể báo cáo tài chính (và, nếu phù hợp,mức hoặc các mức trọng yếu đối với các nhóm giaodịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh cụthể))

(Nguồn: Phụ Lục 02, 03 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 530)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 40

1.5.3 Lựa chọn các phần tử của mẫu

KTV cần phải lựa chọn các phần tử của mẫu sao cho mọi đơn vị lấy mẫu trongtổng thể đều có cơ hội được chọn Những phương pháp lựa chọn được áp dụng phổbiến là:

- Lựa chọn ngẫu nhiên (Bảng số ngẫu nhiên, Chương trình chọn số ngẫunhiên)

- Lựa chọn hệ thống

- Lựa chọn tình cờ

- Lựa chọn theo khối

Những phương pháp chọn mẫu này đã được trình bày chi tiết ở mục 1.4

1.5.4 Thực hiện các thủ tục kiểm toán

KTV phải thực hiện các thủ tục kiểm toán phù hợp với những mục tiêu thửnghiệm cụ thể cho từng phần tử được chọn

Nếu phần tử được chọn không phù hợp với việc áp dụng các thủ tục, thủ tục đóphải được thực hiện trên một phần tử thay thế Thí dụ, khi gửi thư xác nhận về khoản

Nợ phải thu khách hàng nhưng không nhận được hồi âm, KTV có thể kiểm tra khoảntiền thu được sau ngày khóa sổ kế toán lập BCTC cùng với bằng chứng về nguồn gốc

và mục đích thanh toán của các khoản tiền đó

Tuy nhiên, đôi khi KTV có thể không áp dụng được những thủ tục kiểm toán đã

dự dịnh cho phần tử được chọn vì các chứng từ có liên quan đã bị thất lạc Lúc này, vìnhững thủ tục thay thế thích hợp không thể thực hiện được, nên KTV có thể xem đây

là một sai sót

1.8.5 Xem xét bản chất và nguyên nhân của sai sót

KTV cần xem xét kết quả mẫu, bản chất và nguyên nhân của mọi sai sót đượcphát hiện, cũng như ảnh hưởng có thể có của nó đối với từng mục tiêu kiểm toán cụTrường Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 30/04/2021, 22:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w