Đề tài Một vài kinh nghiệm sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học môn Hình học lớp 9 nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào dạy học phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh dưới sự hướng dẫn đúng mức của giáo viên, hình thành nhu cầu tự học, tạo hứng thú và niềm tin trong học tập của học sinh qua môn hình học lớp 9.
Trang 1MỘT VÀI KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ TRONG DẠY HỌC
MÔN HÌNH HỌC LỚP 9
hỗ trợ học sinh học toán hình thông qua một số ứng dụng công nghệ thông tin
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
I CƠ SỞ LÝ LUẬN :
Hiện nay một trong những trọng tâm của việc đổi mới chương trình
và thay sách giáo khoa là đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào việc dạy học Thực hiện dạy học phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh dưới sự hướng dẫn đúng mức của của giáo viên nhằm hình thành nhu cầu tự học, tạo hứng thú và niềm tin trong học tập của học sinh đang là sự quan tâm hàng đầu của các nhà giáo dục
Năm học 2010 - 2011 là năm học với chủ đề : “tiếp tục đổi mới quản lý,
nâng cao chất lượng giáo dục". tiếp tục thực hiện phong trào “Xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực” Thực hiện Chỉ thị số
55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012
Trên tinh thần nội dung đó Sở GD-ĐT Gia Lai đã chỉ đạo và tổ chức hướng dẫn cho giáo viên các môn học triển khai việc tích hợp, lồng ghép, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào quá trình dạy các môn học của mình
Cụ thể là : Giáo viên (Gv) bộ môn cần tự khai thác, trực tiếp thiết kế giáo án,
sử dụng các phần mềm dạy học phù hợp với nội dung và phương pháp bộ của môn
Đổi mới phương pháp giáo dục nhằm tích cực hoá quá trình học tập của học sinh; để thực hiện được điều này, ngoài sự nghiên cứu về phương pháp truyền giảng, phương pháp tổ chức lớp học thì giáo viên còn phải nghiên cứu
sử dụng các thiết bị công nghệ, các phần mềm hỗ trợ dạy học để ứng dụng CNTT trong trường học được đẩy mạnh ứng dụng trong nhiều năm qua đã từng bước nâng cao chất lượng dạy học, tích cực thực hiện đổi mới phương pháp giáo dục
Xu hướng chung của sự đổi mới phương pháp giảng dạy ở bậc trung học cơ sở là làm sao để giáo viên không chỉ là người truyền thụ kiến thức mà còn là người tổ chức định hướng cho học sinh hoạt động để học sinh huy động vốn hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân vào sự chiếm lĩnh tri thức mới
Vì thế việc cải tiến phương pháp giảng dạy bằng cách tạo ra nhiều hình thức học tập là cần thiết nhằm cuốn hút học sinh say mê hào hứng, tự giác lĩnh hội tri thức, từ đó phát huy năng lực, trí sáng tạo của mỗi học sinh
Trang 2Xuất phát từ yêu cầu đó mà vấn đề sử dụng bài giảng điện tử trong các giờ học phục vụ đổi mới phương pháp dạy học được các cấp lãnh đạo và nhiều giáo viên quan tâm Bởi học sinh bậc trung học cơ sở mới từ trung học cơ sở chuyển lên, nên việc thu nhận kiến thức thông qua việc phát huy tính tự học còn có nhiều hạn chế Mặt khác xuất phát từ nhận thức của học sinh bậc trung học cơ sở là :” Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng – từ tư duy trừu đến thực tiễn khách quan” cho nên việc ứng dụng CNTT vào dạy học là hết sức cần thiết
Vậy làm thế nào để việc ứng dụng CNTT trong dạy học có hiệu quả nhất trong các giờ lên lớp phục vụ đổi mới phương pháp dạy học? Đó là câu hỏi mà tôi luôn trăn trở và thực sự lưu tâm chú trọng.Trong khi ở một số trường từ lâu đã sử dụng bài giảng điện tử vào giảng dạy có hiệu quả thì ở một số trường vẫn chưa thực hiện được vì tâm lý ngại khó khi soạn giảng bằng bài giảng điện tử Chính vì những lí do trên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài
“Sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học môn hình học lớp 9” nhằm đẩy
mạnh ứng dụng CNTT vào dạy học phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh dưới sự hướng dẫn đúng mức của giáo viên, hình thành nhu cầu
tự học, tạo hứng thú và niềm tin trong học tập của học sinh qua môn hình học lớp 9
II.CƠ SỞ THỰC TIỄN :
1.Kết quả khảo sát học sinh khi chưa áp dụng CNTT:
Thời gian trước đây mặc dù đã sử dụng nhiều phương pháp và phương tiện trong dạy học bộ môn toán nhưng kết quả cho thấy học sinh muốn học bộ môn toán không nhiều vì đây là bộ môn “khô khan”, đòi hỏi học sinh phải tư duy nhiều, qua khảo sát 350 học sinh lớp 9 của trường …, kết quả như sau:
- 55% 193/350 học sinh thích học toán hình
- 25% 85/350 học sinh thích môn toán nhưng không muốn học
- 20% 72/350 học sinh không chú ý trong bài dạy môn toán hình
2 Sự cần thiết của ứng dụng CNTT trong dạy học, thực hiện đổi mới phương pháp giáo dục:
a.CNTT trong dạy học :
Học là một quá trình thu nhận thông tin; dạy là phát thông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên một cách có hiệu quả, nếu nội dung bài chỉ truyền tới người học bằng văn bản thì người học có thể sẽ kém hứng thú Nhờ
sự phát triển của khoa học kỹ thuật, quá trình dạy học có thể sử dụng các phương tiện dạy học sau:
- Đèn chiếu Overhead,Video, projector
- Phần mềm dạy học, sử dụng Internet
Ở đây tôi đã ứng dụng projector trong bài giảng, dạy học với phương tiện tôi thấy có các ưu thế sau:
- Giáo viên chuẩn bị một lần mà được sử dụng để giảng dạy nhiều lần
- Các projector dạy học thay thế giáo viên thực hành, tăng tính năng động cho người học
Trang 3- Giáo viên trình bày bài giảng sinh động, dễ dàng cập nhật thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học hiện đại
- Phương tiện hỗ trợ làm tăng thêm hiệu quả đối với những bài giảng khó, phức tạp
- Học sinh không bị thụ động khi các hoạt động của giáo viên đã chuẩn bị ở bài giảng
b Vai trò của CNTT trong dạy học :
Trong những năm trở lại đây, ứng dụng CNTT trong dạy học được đẩy mạnh và đạt hiệu quả tích cực Một trong những yếu tố dễ nhận thấy là một giờ học có ứng dụng CNTT thì việc truyền đạt kiến thức - luyện tập kĩ năng của giáo viên được cải thiện, học sinh dễ tiếp thu bài học và giờ học sinh động, lôi cuốn các em vào bài học, chất lượng giờ học được nâng cao Tất cả các môn học đều có đặc thù khác nhau, vì vậy việc vận dụng các thiết bị công nghệ và phần mềm tin học cũng khác nhau nhưng nhìn chung ứng dụng CNTT trong dạy học là một việc làm hết sức cần thiết nhằm nâng cao chất lượng dạy học và từng bước đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại hoá, không những đáp ứng nhu cầu bộ môn mà còn dần dần tạo cho Hs làm quen với phương pháp học tập hiện đại, giáo viên cũng từng bước nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ của mình để đáp ứng với yêu cầu công tác trong thời đại mới
Trong giảng dạy bộ môn toán, việc sử dụng đồ dùng dạy học trực quan
là một trong những việc làm không thể thiếu được đối với giáo viên Nó dùng làm điểm xuất phát cho quá trình nhận thức của học sinh để giúp các em lĩnh hội kiến thức mới một cách chắc chắn và có lôgíc Vì vậy việc sử dụng phương tiện dạy học trực quan (qua cổng CNTT) trong các tiết dạy là điều cần thiết
3 Tính hiệu quả của việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy bộ môn Toán
Trong những năm chưa có điều kiện ứng dụng CNTT trong dạy học, thiết bị dạy học đối với bộ môn toán chỉ có một số ít tranh ảnh phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn, ngoài ra đều là trang thiết bị giáo viên tự làm, dẫn đến giáo viên gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình dạy học, thực tế do điều kiện
cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu thốn ; vì vậy việc phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo cho các em còn nhiều hạn chế Từ khi nhà trường đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy học với tất cả các môn học, dần dần chất lượng giờ dạy được nâng cao, học sinh hứng thú hơn với môn học và bước dầu đã đạt được những kết quả nhất định
Với môn toán, khi được học và thực hành bằng những thiết bị công nghệ và các phần mềm được ứng dụng, đa số các em đều rất thích thú và chất lượng thực hành cũng cao hơn hẳn Giờ học được tiến hành nhẹ nhàng hơn, lôi cuốn hơn Các em có năng khiếu thì việc tiếp thu kiến thức mới tốt hơn, bài học trở nên đơn giản và chất lượng, các em chưa phát triển được năng khiếu cũng tích cực hơn trong học tập Đa số học sinh dần dần yêu thích môn
Trang 4học hơn, việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy đã lôi cuốn các em, phương pháp dạy học hiện đại đã được chứng minh qua kết quả cụ thể
PHẦN II : THỰC TRẠNG
VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT I.THỰC TRẠNG :
1.
Thực trạng chung:
Trước tiên chúng ta phải nhìn nhận một thực tế là học sinh ngày càng lười môn toán, tư duy toán học ngày càng kém cỏi, đặc biệt học sinh rất sợ học hình học Vì vậy số học sinh khá giỏi toán càng giảm đi để làm tăng thêm
số lượng lớn học sinh yếu toán Điều này đã, đang và sẽ còn xảy ra mặc dù Đảng và Nhà Nước đã đầu tư rất lớn cho giáo dục trong những năm qua Theo tôi, thực trạng trên xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:
- Một bộ phận cha mẹ học sinh bị cuốn vào vòng xoáy của cơ chế thị trường, không quan tâm, quản lý đến việc học của con em mình Bản thân học sinh chưa ý thức được sự quan trọng của việc học, còn ham chơi hơn ham học hoặc bị cám dỗ bởi nhiều trò chơi điện tử ngoài xã hội
- Nội dung chương trình còn nặng so với thực tế học sinh vùng xã, vùng khó khăn
- Phương pháp giảng dạy chậm được đổi mới, chưa phù hợp với yêu cầu thực tế cuộc sống hiện nay là đào tạo nên những học sinh năng động, có ý thức làm việc độc lập, những người “vừa hồng vừa chuyên”
Theo tôi trong những nguyên nhân kể trên thì nguyên nhân thứ ba là một nguyên nhân đã góp phần làm cho số học sinh yếu toán ngày càng tăng
lên rất nhiều Bởi vì với phương pháp dạy học "thầy giảng đọc, cho trò ghi" thì
học sinh đến lớp tiếp thu một cách thụ động Các định lí, tính chất thầy ghi lên bảng sau đó chứng minh (có khi không chứng minh) và cho ví dụ áp dụng kiến thức đó, xong việc này, thầy trò vui vẻ sang việc khác Sự việc cứ tiếp diễn như vậy và điều đó làm cho tư duy học sinh ngày càng bị thui chột dần, học sinh học bài sau thì quên bài trước, không nắm được dây chuyền kết nối các kiến thức với nhau
Để khắc phục tình trạng trên, ý kiến của tôi là: đối với các học sinh yếu, tôi tập dần cho các em biết suy nghĩ tìm cách giải quyết một vấn đề nào đó bằng một hệ thống câu hỏi đầy đủ, từ dễ đến khó trong giáo án của mình trước khi lên lớp Đây không phải là một sáng kiến gì mới mà là một kinh nghiệm mà bản thân tôi thấy rằng: với phương pháp "hệ thống câu hỏi" vừa sức thì học sinh yếu từ từ lấy lại niềm tin khi học toán, có thể độc lập giải quyết được những vấn đề nhỏ, một bộ phận lớn học sinh từ yếu toán có thể vươn lên trung bình
2 Thực trạng về sử dụng bài giảng điện tử của giáo viên:
Hiện nay trên tất cả các trường học tại thành phố Pleiku, đã tiến hành ứng dụng CNTT trong giảng dạy với tất cả các bộ môn như ở trường Phạm
Trang 5Hồng Thái, Trưng Vương, Trần Phú, Nguyễn Du, Lê Văn Tám…., qua tham khảo và học hỏi ở một số trường bạn và qua các đợt thao giảng liên trường, chúng tôi nhận thấy rằng hầu hết giáo viên đều ứng dụng CNTT vào bài giảng một cách có hiệu quả
Tuy nhiên vẫn còn có một số vấn đề bất cập trong việc sử dụng bài giảng điện tử của giáo viên như:
- Giáo viên chưa chú ý đến lựa chọn bài nào để sử dụng giáo án điện tử
để đạt kết quả học tập cao nhất, không phải là bài dạy nào cũng có thể sử dụng giáo án điện tử
- Trong một số tiết dạy, giáo viên chọn bài để dạy bài giảng điện tử
chưa phù hợp, hoặc còn quá lạm dụng dẫn đến bài dạy chỉ mang tính trình
chiếu, không phát huy được tính tích cực của học sinh và không rèn được kỹ
năng giải toán cho học sinh
- Trong một số bài vì quá lạm dụng trong việc soạn giảng bằng bài giảng điện tử nên việc phân bố thời gian không hợp lý giữa phần lý thuyết và phần luyện tập (có nhiều trường hợp giáo viên đi quá nhanh phần nội dung trọng tâm của bài mà dành nhiều thời gian cho các trò chơi sau tiết học), cụ thể là phụ thuộc quá mức vào máy tính xách tay và máy chiếu
- Trình độ vi tính của một số ít giáo viên còn hạn chế, chưa tự mình thiết kế được các bài giảng điện tử một cách khoa học và sáng tạo, chỉ coppy hoặc lấy từ trên mạng Internet về để dạy, thiếu sự sáng tạo của giáo viên và đôi khi không phù hợp với đối tượng học sinh của mình
- Các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ còn thiếu nên khi soạn giáo án điện tử chỉ ở mức độ đơn giản, hình ảnh âm thanh đôi khi chưa bảo đảm về chất lượng, làm giảm tác dụng minh hoạ
Bởi vậy trước đây, dư luận đã có nhiều ý kiến phê phán tình trạng thầy đọc, trò chép là kiểu dạy máy móc, thụ động thì hiện nay lại xuất hiện tình trạng mới là nhìn – chép (giáo viên ít khi nhìn vào học trò mà chủ yếu quay mặt vào màn hình máy tính còn học sinh thì dán mắt vào màn chiếu để chép)
Nói tóm lại, cần tránh nhầm lẫn khái niệm giáo án điện tử là các bài trình chiếu powerpoint hoặc các phần mềm khác Cần xác định công nghệ thông tin là phương tiện hỗ trợ, nhằm nâng cao chất lượng dạy học nên hiệu quả của nó phụ thuộc chủ yếu vào cách thức sử dụng của giáo viên Từ đó giáo viên cần tránh lạm dụng công nghệ thông tin, gây phản tác dụng như không lựa chọn kỹ nội dung trình chiếu, thời gian trình chiếu quá nhiều, trình chiếu với âm thanh ồn ào và với chữ viết có mầu sắc loè loẹt, với chữ chạy nhảy mang tính biểu diễn kĩ thuật không cần thiết và kích thước chữ quá nhỏ
II QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH NGHIỆM :
Việc ứng dụng CNTT trong dạy học toán rất phong phú và đa dạng tuy nhiên trong bài viết này, tôi xin minh họa bằng giáo án cho một tiết dạy áp
dụng CNTT qua bài giảng điện tử " Diện tích hình tròn, hình quạt tròn" tiết 54
Trang 6môn hình học lớp 9 Bài dạy này tôi thiết kế theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh dưới sự hướng dẫn đúng mức của của giáo viên nhằm hình thành nhu cầu tự học, tạo hứng thú và niềm tin trong học tập của học sinh qua môn hình học lớp 9
Trước đây, khi chuẩn bị bài này tôi thường làm như sau: sau khi dạy xong bài "Độ dài đường tròn, cung tròn" tôi dặn học sinh về nhà làm bài tập trong sách giáo khoa, dĩ nhiên là nhấn mạnh học sinh học kỹ quan hệ giữa
“Độ dài đường tròn, cung tròn” Đến tiết sau, tôi gọi một học sinh lên kiểm
tra miệng, tất nhiên là hỏi câu hỏi có liên quan đến việc xây dựng bài học hôm nay, cho học sinh làm một bài tập nào đó trong sách giáo khoa và cho các em khác bổ sung góp ý, cuối cùng giáo viên tổng kết cho điểm và thế là Gv và Hs cùng sang bài mới
Khi dạy bài " Diện tích hình tròn, hình quạt tròn" thì ghi sẵn các kiến thức liên quan đến bài học lên sile trình chiếu vậy là học sinh ở dưới lớp cứ theo những gì giáo viên hiện lên màn hình mà ghi vào vở Sau đó, tôi cho một bài tập áp dụng các kiến thức trên (cũng ở trên màn hình), học sinh chỉ cần nhìn lên đó, nêu cách làm
Ưu điểm của phương pháp này là tốn rất ít thời gian xây dựng lý thuyết Bởi vì thầy đóng vai trò chủ động, không phụ thuộc vào học sinh
Nhược điểm của phương pháp này là học sinh không thấy được một dây chuyền liên hệ giữa kiến thức cũ và mới, học sinh không chủ động tìm tòi Giống như tình trạng thầy đọc trò chép trước đây, học sinh thấy kiến thức dàn trải, không cô đọng và sau khi học xong tìm hiểu thì các em nói cứ thuộc lòng các công thức trên một cách máy móc mà không biết gắn kết chân lý đã biết để xác lập chân lý mới Dĩ nhiên là sau một thời gian ngắn, các em sẽ quên hết các kiến thức này và chỉ nhớ những hình ảnh “bay lượn trên màn hình” của bài học hôm đó
III MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT
1 Công tác chuẩn bị :
* Đối với giáo viên :
- Biết soạn giảng bằng bài giảng điện tử
- Công tác chuẩn bị cho việc soạn bài giảng điện tử: Sưu tầm hình ảnh minh hoạ, kiến thức bổ trợ
- Thiết kế và lồng ghép các hình ảnh vào bài giảng cho phù hợp; kiến thức
bổ trợ phù hợp với đối tượng học sinh
* Đối với học sinh :
- Hs tham gia tích cực cùng với giáo viên trong việc chuẩn bị bài
- Cùng với giáo viên sưu tầm hình ảnh minh học cho bài học
Nếu trước kia “Sử dụng bài giảng điện tử” trong tiết dạy giáo viên tiết kiệm được thời gian, chỉ việc đưa những kiến thức liên quan đến bài giảng rồi cho Hs nhìn chép, thì chẳng khác gì phương pháp dạy học giáo viên đọc, học
Trang 7sinh chép sẽ không phát huy tính tích cực của các em sau mỗi giờ học Vì vậy phải đòi hỏi giáo viên khi chuẩn bị “ bài giảng điện tử ” phải đầu tư công phu,
kỹ lưỡng hơn
Để phát huy tích cực của công nghệ thông tin vào dạy học đối với bài
“Diện tích hình tròn, hình quạt tròn ”giáo viên có thể áp dụng CNTT dưới nhiều hình thức, ở đây tôi đưa ra hình thức sử dụng CNTT ở mức độ minh hoạ khi cần thiết
* Thiết kế các Slides để sử dụng bài giảng điện tử ở mức độ minh hoạ khi cần thiết, giáo viên có thể áp dụng ở các phần sau:
- Phần khởi động : Giới thiệu bài mới, đây là phần rất quan trọng nhằm
gây hứng thú cho học sinh trước khi vào bài học Vì vậy giáo viên có thể kết hợp kiểm tra kiến thức cũ hoặc kiến thức có liên quan để đưa ra câu hỏi, bài tập trắc nghiệm chọn đúng sai cho học sinh trả lời hoặc có thể dùng những hình ảnh để giới thiệu bài một cách trực quan sinh động
- Phần nội dung bài dạy: Đây là phần cung cấp nội dung kiến thức
trọng tâm của bài, yêu cầu giáo viên phải thiết kế giáo án, sử dụng hình ảnh hoặc kiến thức bổ trợ sao cho phù hợp với đối tượng học sinh Tránh hiện tượng lạm dụng việc trình chiếu để đưa quá nhiều kiến thức lên màn hình, hoặc quá nhiều hình ảnh không cần thiết, làm cho kiến thức dàn trải, không xác định được trọng tâm của bài
- Phần củng cố kiến thức: đây là phần giúp giáo viên và học sinh hệ
thống lại kiến thức trọng tâm đã học trong bài Giáo viên có thể sử dụng giáo
án điện tử để hệ thống hoá kiến thức, nhấn mạnh nội dung cần học Giáo viên
có thể thiết kế một số câu hỏi nhỏ để học sinh lựa chọn đáp án đúng - sai, hoặc có thể tổ chức củng cố kiến thức bằng những trò chơi ô chữ, hái hoa dân chủ… qua đó giúp học sinh nắm chắc kiến thức bài
Trong việc dạy học bằng bài giảng điện tử, kiến thức được truyền đến học sinh dưới dạng hình ảnh, âm thanh…tuy nhiên việc sử dụng phương tiện
truyền thống “ Phấn trắng bảng đen” thật ra vẫn cần thiết.
Vậy làm thế nào để chuẩn bị bài dạy cho tốt đó là điều trăn trở của mỗi giáo viên Dạy tốt mỗi nội dung kiến thức chính là góp phần vào việc hình thành tư duy, năng lực sáng tạo nhất định cho học sinh theo như mục tiêu môn học đề ra
Tóm lại, phương tiện dạy học bộ môn toán rất phong phú và đa dạng,
có cả những phương tiện dạy học truyền thống và phương tiện dạy học hiện đại Xu hướng hiện nay, người dạy học sử dụng nhiều phương tiện dạy học hiện đại hơn như máy chiếu, đầu video, băng hình Việc sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại kết hợp với phương tiện dạy học truyền thống đem lại nhiều thuận lợi trong quá trình giảng dạy cho cả giáo viên và học sinh, đặc biệt là đối với bộ môn hình học lớp 9
2) Bài soạn minh họa
Bài “ Diện tích hình tròn, hình quạt tròn”
Bước 1 : Cho học sinh chuẩn bị ở nhà các yêu cầu sau đây :
Trang 8O
120
B A
1: Nắm chắc các công thức tính độ dài đường tròn, cung tròn.
2: Ôn lại công thức tính diện tích hình tròn đã học ở lớp dưới.
3: Tìm hiểu một số vật dụng trong thực tế có dạng hình quạt tròn.
Bước 2 : Giáo viên và học sinh thực hiện tại lớp.
Phần 1 Kiểm tra bài cũ
Gọi Hs lên bảng thực hiện các yêu cầu sau :
Câu 1:Hãy nêu công thức tính độ dài đường tròn và công thức tính độ dài
cung tròn ?
Câu 2 :Cho hình vẽ hãy tính độ dài cung AmB với bán kính 6 cm ?
Giải: Ta có ta có sđAmB = AOB( Đ/ n góc ở tâm )
do đó sđAmB =120 0 nên n0 = 120 0
Độ dài cung AmB là:
3,14.6.120
12,56
AmB
Rn
Sau khi Hs thực hiện xong, giáo viên gọi Hs khác nhận xét, sửa sai, Gv đặt vấn đề vào bài :
Trong tiết học trước các em đã được học cách tính độ dài đường tròn
và độ dài cung tròn Vậy hình mà bạn vừa làm trong phần KTBC, các em xem hình này giống vật gì trong thực tế ?( Gv chỉ vào hình vẽ trên bảng) Trong tiết học hôm nay trên cơ sở diện tích hình tròn ta đi tìm hiểu cách tính diện tích của hình quạt tròn.
2.Bài mới
Hoạt động 1: Tìm hiểu công thức tính diện tích
hình tròn.
Cho hình tròn tâm O bán kính R (Gv trình chiếu)
H : Em hãy nêu công thức tính diện tích hình tròn
mà em đã biết ?
công thức tính diện tích hình tròn là
S = R2
H : Vậy theo công thức để tính được diện tích hình
tròn ta cần biết đại lượng nào ?
H : Vận dụng công thức hãy tính diện tích hình
tròn biết bán kính đường tròn bằng 3 cm ?(S=
R 2 = 3 2 9.3,14= 28,36 (cm 2 ))
Hs lên bảng thực hiện
Gv : Cho Hs quan sát lại bài sửa trên đèn chiếu.
Gv : Như vậy từ công thức S = R 2 để tính diện
tích hình tròn ta cần biết bán kính của đường tròn
đó – Vậy nếu biết diện tích hình tròn ta có thể tính
được bán kính của hình tròn đó hay không ? *)
Lưu ý : Từ S = R2 R = S
Trên cơ sở các em đã nắm được công thức tính
diện tích hình tròn bây giờ chúng ta cùng tìm hiểu
1- Công thức tính diện tích hình tròn:
S = R2
( S: diện tích hình tròn bán kính R)
2 -Cách tính diện tích
Hình 58
S = R 2
Trang 9hình quạt tròn là hình như thế nào và cách tính diện
tích của nó ra sao ta cùng sang mục 2
Hoạt động 2: Cách tính diện tích hình quạt tròn
- Giáo viên chỉ vào hình vẽ từ phần kiểm tra bài cũ
( trên đèn chiếu )
Như các em đã biết hình này là hình quạt tròn vậy
các em nghiên cứu Sgk và cho biết hình quạt tròn
là hình như thế nào
Gv : Hình quạt tròn là một phần hình tròn giới hạn
bởi một cung tròn và hai bán kính đi qua hai mút
của cung đó
Bây giờ các em cùng cô quan sát một số vật dụng
trong thực tế có dạng hình quạt tròn.
Gv : Đưa lên màn hình một số vật dụng trong
thực tế có dạng hình quạt tròn
Gv: Để thiết lập được
công thức tính diện tích
hình quạt tròn ta cùng
thực hiện ?
*)Giáo viên cho đề ? Sgk (trình chiếu )
- HS đọc đề bài ? Sgk Sau đó gọi học sinh điền
kết quả trên phiếu học tập
Ta có công thức tính diện tích quạt tròn là
S = R2
360
n
khi biết số đo độ cung và bán kính
quạt Vậy nếu chỉ biết độ dài cung và bán kính quạt
tròn thì liệu ta có tính được diện tích của quạt tròn
không ?
Ta biến đổi S = R2
360
n
180 2
R n R
2
R
l = .
2
l R
H : Vậy diện tích quạt tròn còn được tính thông
qua độ dài cung như thế nào ?
Gv : Vậy để tính diện tích quạt tròn khi biết bán
kính quạt tròn và số đo độ của cung ta dùng công
thức S = R2
360
n
, còn nếu biết bán kính quạt tròn và
độ dài cung ta dùng công thức S = .
2
l R
Vận dụng kiến thức vừa học cả lớp hãy : Tính diện
tích hình quạt tròn trong phần kiểm tra bài cũ với
hình quạt tròn
Hình quạt tròn : Sgk
?.Sgk Kết quả lần
lượt là: R2;
;
n
Công thức:
S = πRnR n2
hay S = R
2
l
(2)
(l là độ dài cung n 0 của hình quạt tròn)
R O
A
B
n 0
Hình 59
Trang 10bán kính 6cm.
HS đọc đề bài Gọi 1 học sinh tóm tắt đề bài – Gv
ghi bảng
Gv : Gọi 1 học sinh lên bảng trình bày bài giải.
Tóm tắt : R = 6 cm
AOB =120 0
S = ?
Giải : ta có sđAmB = AOB( Đ/ n góc ở tâm )
do đó sđAmB =120 0 nên n0 = 120 0
Diện tích hình quạt tròn là:
Ngoài cách tính này, chúng ta còn có cách làm
nào khác ?
( dùng công thức S = .
2
l R
)
Gv : Như vậy để tính diện tích hình quạt tròn ta
cần biết những yếu tố nào ? ( bán kính và số đo độ
cung hoặc độ dài cung và bán kính quạt tròn)
Vì vậy khi thực hiện tính toán các em cần biết vận
dụng linh hoạt các công thức đã học
Từ S = R2
360
n
R = .360
.
S n
Mà R > 0 nên
R = .360
.
S
n
H :Tương tự từ công thức S= R2
360
n
ta suy ra n = ?
S = R2
360
n
n = .3602
.
S R
Ngoài ra từ S = .
2
l R
2S
l
R
l
3 Luyện tập củng cố :
Gv : Cho Hs quan sát đống đá dăm trên màn hình
Gv : Giới thiệu Chân đống đá dăm đổ trên một
nền nằm ngang là một hình tròn Nêu một vài cách
để xác định diện tích của phần mặt bằng bị đống đá
chiếm chỗ ?
Gv gợi ý : Ta có cần dời đống đá đi để đo bán kính không ?
Hs hoạt động theo nhóm tìm cách để xác định diện tích của phần mặt bằng bị đống đá chiếm chỗ
Gv : Gọi Hs đại diện nhóm trình bày cách thực hiện.
2
R n