1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bai thu hoach Boi duong thuong xuyen THCS 2020

15 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 57,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bồi dưỡng 2 GVPT 05 Sử dụng phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh Nội dung bồi dưỡng 3 GVPT 10 Thực hiện và xây dựng trường học an toàn, phòng

Trang 1

PHÒNG GD & ĐT KÊ SÁCH

TRƯỜNG THCS TRINH PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÀI THU HOẠCH BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN CỦA CÁ NHÂN

NĂM HỌC 2019-2020

A THÔNG TIN CÁ NHÂN

1 Họ và tên: HUỲNH NHƯ NGỌC - Giới tính: Nữ

2 Ngày tháng năm sinh: 17/06/1991 - Năm vào ngành giáo dục: 2013

3 Trình độ học vấn: Đại học

4 Nơi đào tạo: Đại học Cửu Long

5 Loại hình đào tạo: Chính quy tập trung

6 Trình độ Tin học: B

7 Trình độ ngoại ngữ: Tiếng Anh A, B

8 Tổ chuyên môn: Toán - Tin

9 Nhiệm vụ được giao: Giáo viên Tin học khối 6, 7

B NỘI DUNG BÀI THU HOẠCH

DANH MỤC CÁC NỘI DUNG BÀI THU HOẠCH

Bồi dưỡng thường xuyên cá nhân năm học 2019 – 2020

Nội dung bồi dưỡng 1

+ Bồi dưỡng chính trị, thời sự, nghị quyết, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước như: Chỉ thị số 2268/CT-BGDĐT ngày 08/8/2019 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm

vụ và giải pháp năm học 2019-2020; các văn bản chỉ đạo của Ngành trong năm học 2019-2020;

+ Tiếp tục triển khai Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của

Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Nội dung bồi dưỡng 2

GVPT 05

Sử dụng phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh

Nội dung bồi dưỡng 3

GVPT 10 Thực hiện và xây dựng trường học an toàn, phòng chống bạo

lực học đường trong các cơ sở phổ thông

I NỘI DUNG BỒI DƯỠNG 1

Những nội dung cơ bản của chuyên đề bồi dưỡng chính trị: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về trung thực, trách nhiệm; gắn bó vói nhân dân”

* Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về “trung thực, trách nhiệm” :

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Trung thực” là ngay thẳng, thật thà; là đúng như vốn

có, đúng như sự thật “Trung thực” là một đặc trưng của nhân cách, là một phẩm chất

Trang 2

đạo đức của một con người “Trung thực” là phẩm chất đạo đức, thể hiện sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động của con người

+ Tư tưởng Hồ Chí Minh về trung thực:

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về trung thực là trung thực từ trong suy nghĩ, từ suy nghĩ tới việc làm, “nói phải đi đôi với làm”, đã nói thì phải làm Trung thực là nghiêm túc với chính mình, đúng với người khác, không được hứa mà không làm.

- Trung thực trong tự phê bình và phê bình; trung thực trong việc chấp hành nguyên tắc Đảng, kỷ luật Đảng Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: tự phê bình và phê bình là phải thành khẩn, thành tâm, không được “giấu bệnh, sở thuốc” Tự phê bình và phê bình phải trung thực Bác nhấn mạnh tới việc không “đặt điều”, “không thêm bớt”

- Trung thực theo tư tưởng Hồ Chí Minh còn nghĩa là “trung với Đảng”, “trung với nước”, “hiếu với dân”

+ Tư tưởng Hồ Chỉ Minh về trách nhiệm:

Trách nhiệm thì bao gồm ý thức trách nhiệm và tinh thần trách nhiệm Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trách nhiệm là bổn phận mỗi người phải làm:

- Trách nhiệm đầu tiên là trách nhiệm với Tổ quốc Mỗi một người đều phải có trách nhiệm với Tổ quốc Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Bác viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già người trẻ, không phân biệt tôn giảo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên chống thực dân Pháp”

- Mỗi một người đều có trách nhiệm đối với gia đình, quê hương.

- Mỗi người đều có trách nhiệm đối với nhân dân, cộng đồng dân tộc

- Đối với cán bộ, đảng viên, công chức phải có trách nhiệm đối với công việc, đối với Đảng, đối với Chính phủ

* Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về trung thực, trách nhiệm:

- Đầu tiên chúng ta thấy ở Bác Hồ là trách nhiệm của người dân đối với Tổ quốc Khi trong cảnh “nước mất, nhà tan”, Bác tự xác định trách nhiệm của mình phải ra đi tìm đường cứu nước.

- Trong cuộc đấu tranh cùng nhân dân giành lại nền độc lập cho dân tộc, Chủ tịch

Hồ Chí Minh nhận trách nhiệm đi cùng với đồng bào trong cuộc đấu tranh đó.

- Khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong bối cảnh đất nước “ngàn cân treo sợi

tóc”, là người đứng đầu hệ thống quyền lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận trách nhiệm cùng

toàn Đảng, lãnh đạo nhân dân để bảo vệ nền độc lập vừa giành được

- Khi Đảng và Nhà nước mắc khuyết điểm, với vai trò là người đứng đầu, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đứng ra chịu trách nhiệm trước dân, chịu trách nhiệm trước Đảng, đứng ra xin lỗi nhân dân và hứa quyết tâm sửa chữa, kêu gọi đồng bào đoàn kết để tiếp tục đẩy mạnh sản xuất

* Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về suốt đời gắn bó với nhân dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về gắn bó với nhân dân bắt nguồn từ quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhân dân:

- Gắn bó với nhân dân là phải biết phát huy truyền thống trên dưới đồng lòng, toàn dân tộc chung sức để tạo ra sức manh để xây dựng và gìn giữ non sông, là đem sức ta giải phóng cho ta

- Quá trình đi tìm đường cứu nước, Người nhận ra rằng, cách mạng muốn thành cồng thì cuộc cách mạng đó phải gắn bó mật thiết với lợi ích của nhân dân, phát huy được

Trang 3

cao nhất sức mạnh của nhân dân Nghĩa là gắn bó với nhân dân.

- Ngay từ thời thơ ấu cho đến trước lúc ra đi tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn, gắn bó với nhân dân, gần gũi với nhân dân, thậm chí là tham gia vào những tổ chức, quan tâm đến người nghèo

- Trong khoảng thời gian dài bôn ba tìm đường cứu nước, Người cũng luôn gần gũi với giới cần lao

- Khi là người lãnh đạo cao nhất của đất nước, Người thường xuyên dành thời gian đến với nhân dân Trong 10 năm (từ năm 1959 - 1969), Người có đến 700 lần đi thăm cơ sở

- Trong Di chúc, những lời dặn dò của Bác là những lời dặn dò về tất cả mọi người trong xậ hội, kể cả những người Bác nói là nạn nhân do chế độ cũ để lại, phải quan tâm đến

họ như thế nào

* Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về trung thực, trách nhiệm; gắn bó với nhân dân

+ Về trung thực, trách nhiệm:

- Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người phải phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc: đoàn kết, gắn bó và có trách nhiệm với mình, có trách nhiệm với nhau, với quê hương đất nước

- Chúng ta đang xây dựng “nền tảng tinh thần” cho một xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Mỗi người phải thấy được trách nhiệm của mình để

có thể có được xã hội đó

- Tình trạng chạy theo thành tích còn lớn, chạy theo thành tích thì thiếu trung thực trong báo cáo, dẫn đến thiếu trách nhiệm Chúng ta phải khắc phục

- Nói đi đôi với làm, hãy nói và làm những việc cụ thể

+ Về gắn bó với nhân dân:

- Tình trạng xa rời nhân dân, thiếu trách nhiệm với dân, hứa với dân mà không làm vẫn còn Chúng ta phải khắc phục để gần dân hơn, gắn bó với nhân dân hơn

- Mỗi chính sách đưa ra, mỗi kế hoạch được xây dựng đều phải xuất phát từ lợi ích của dân

- Mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải có nhiều mối liên hệ với nhân dân hơn nữa

- Cần phải gắn bó nhân dân để xây dựng Đảng, cần có ý kiến của nhân dân góp ý cho đảng viên, cho cán bộ, cho Đảng

Ngày 08/8/2019, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chỉ thị 2268/CT-BGDĐT về nhiệm vụ và giải pháp năm học 2019 - 2020 của ngành Giáo dục Theo đó, để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục các cấp, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các đơn vị, cơ sở giáo dục: Rà soát, sắp xếp đội ngũ giáo viên, đảm bảo quy định về định mức số lượng, chất lượng giáo viên; xử lý dứt điểm việc hợp đồng giáo viên nhiều năm mà không thực hiện tuyển dụng viên chức; Nâng cao đạo đức nhà giáo, xử lý nghiêm cán bộ, giáo viên, giảng viên vi phạm quy định về đạo đức; Thực hiện công tác đánh giá giáo viên Bên cạnh đó, Bộ cũng yêu cầu các đơn vị, cơ sở nâng cao chất lượng giáo dục, triển khai chương trình, sách giáo khoa mới, đẩy mạnh định hướng nghề nghiệp và phân luồng học sinh sau trung học cơ sở; Nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ ở các cấp học

và trình độ đào tạo; Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục…

Trang 4

Năm học 2019 - 2020, ngành Giáo dục tập trung thực hiện các nghị quyết, kết luận của Đảng, Quốc hội, các văn bản chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

về giáo dục và đào tạo, đặc biệt là triển khai thực hiện có hiệu quả Kết luận số 51-KL/TW ngày 30 tháng 5 năm 2019 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Kết luận số 49-KL/TW ngày 10 tháng 5 năm 2019 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TW ngày

13 tháng 4 năm 2007 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; quán triệt phương châm hành động “bứt phá” của Chính phủ để hoàn thành kế hoạch 5 năm 2016 - 2020 Căn cứ các yêu cầu trên và tình hình thực tiễn của ngành, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ thị toàn ngành Giáo dục tập trung thực hiện các nhóm nhiệm vụ chủ yếu và giải pháp cơ bản trong năm học

2019 - 2020 như sau:

- Về nhiệm vụ chủ yếu: Rà soát, quy hoạch, phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo trong cả nước; nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục các cấp; nâng cao chất lượng giáo dục, triển khai chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới; đẩy mạnh định hướng nghề nghiệp và phân luồng học sinh sau trung học cơ sở; đổi mới quản lý và nâng cao hiệu quả của giáo dục thường xuyên; tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, giáo dục thể chất cho học sinh, sinh viên, bảo đảm an toàn trường học; nâng cao hiệu quả giáo dục dân tộc; nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh ở các cấp học và trình độ đào tạo, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy, học và quản lý giáo dục, đẩy mạnh phân cấp và thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các cơ sở giáo dục; hội nhập quốc tế trong giáo dục và đào tạo; tăng cường cơ sở vật chất bảo đảm chất lượng các hoạt động giáo dục và đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao,

- Các nhóm giải pháp cơ bản: hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách hành chính về giáo dục và đào tạo; nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ quản lý giáo dục; tăng cường các nguồn lực đầu tư cho giáo dục và đào tạo; tăng cường công tác khảo thí và kiểm định, đánh giá chất lượng giáo dục; đẩy mạnh công tác truyền thông về giáo dục và đào tạo

II NỘI DUNG BỒI DƯỠNG 2

Nhân loại đang chứng kiến một thời kỳ có nhiều biến động trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong từng nước cũng như trên phạm vi toàn thế giới Do đó các quốc gia dân tộc cần phải đổi mới, Việt Nam cũng là một quốc gia không ngoại lệ Để có được điều đó thì con người là mục tiêu hàng đầu, mà muốn thay đổi con người thì trước hết phải thay đổi

về giáo dục, thay đổi giáo dục trước hết là thay đổi về phương pháp dạy học, kỹ thuật dạy học

Mục đích của đổi mới phương pháp dạy học, hình thức, kỹ thuật dạy học ở trường THCS là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo phương pháp dạy học tích cực, nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập Làm cho “Học” là quá trình kiến tạo; học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin,…Tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất của mình Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh, dạy học sinh cách tìm ra chân lý Chú trọng hình thành các năng lực (tự học, sáng tạo, hợp tác,…) dạy phương pháp và kỹ thuật

Trang 5

lao động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân học sinh và cho sự phát triển xã hội

Nhằm đạt được mục tiêu dạy học, trong nhiều năm học qua, nhìn chung ngành giáo dục đã có nhiều đổi mới trong phương pháp dạy học, kỹ thuật dạy học, đổi mới cách kiểm tra, đánh giá học sinh nhằm đạt được hiệu quả giáo dục tốt nhất Với mỗi giáo viên của nhà trường, việc đổi mới phương pháp, kỹ thuật dạy học không chỉ là yêu cầu mà đã trở thành việc làm thường xuyên của mỗi giáo viên Nhiều thầy giáo, cô giáo của nhà trường đã không ngừng học hỏi, tìm hiểu và áp dụng các kỹ thuật dạy học mới, áp dụng các phương pháp dạy học tích cực để phát huy năng lực của người học, tạo hứng thú học tập cho học sinh và nâng cao hiệu quả giảng dạy

Theo đó, mỗi cán bộ giáo viên trong nhà trường đều nhận thấy rằng: Muốn đổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy Giáo viên cần phải được bồi dưỡng, phải kiên trì cách dạy theo phương pháp dạy học tích cực, tổ chức các hoạt động nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, hình thành thói quen cho học sinh Trong đổi mới phương pháp phải có

sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hợp hoạt động hoạt động dạy với hoạt động học thì mới

có kết quả Yêu cầu đối với giáo viên khi đổi mới phương pháp, kỹ thuật dạy học là: thiết

kế tổ chức hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức đa đạng phong phú có sức hấp dẫn phù hợp với dặt trưng bài học với đặt điểm và trình độ học sinh với điều kiện cụ thể của lớp trường và địa phương; động viên khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho học sinh tham gia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh hội kiến thức; chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng đã có của học sinh; tạo niềm vui hứng khởi, nhu cầu hành động và thái độtự tin trong học tập của học sinh; giúp các em phát triển tối đa năng lực và tiềm năng; thiết kế và hướng dẫn học sinh thực hiện các dạng câu hỏi, bài tập phát triển tư duy và rèn luyện kỹ năng; hướng dẫn sử dụng các thiết bị, đồ dùng học tập; tổ chức có hiệu quả các giờ thực hành; hướng dẫn học sinh có thói quan vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn; sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lý, hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của cấp học, môn học; nội dung, tính chất của bài học; đặc điểm và trình

độ của học sinh; thời lượng dạy học và các điêu kiện dạy học của từng trường, địa phương Mấu chốt là cần phải lựa chọn và sử dụng kết hợp các phương pháp và hình thức học một cách hợp lý

1 Một số phương pháp dạy học tiêu biểu được sử dụng trong các giờ dạy:

Phương pháp dạy học nhóm:

Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên khác nhau như: Dạy học hợp tác, Dạy học theo nhóm nhỏ, trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp Hiệu quả của phương pháp này nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tính trách nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của HS

* Quy trình thực hiện - Tiến trình dạy học nhóm có thể được chia thành 3 giai đoạn

cơ bản:

+ Làm việc toàn lớp : Nhập đề và giao nhiệm vụ

Trang 6

- Giới thiệu chủ đề

- Xác định nhiệm vụ các nhóm

- Thành lập nhóm

+ Làm việc nhóm

- Chuẩn bị chỗ làm việc

- Lập kế hoạch làm việc

- Thoả thuận quy tắc làm việc

- Tiến hành giải quyết các nhiệm vụ

- Chuẩn bị báo cáo kết quả

+ Làm việc toàn lớp: Trình bày kết quả, đánh giá

- Các nhóm trình bày kết quả

- Đánh giá kết quả

Phương pháp giải quyết vấn đề

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là PPDH đặt ra trước HS các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển HS vào tình huống

có vấn đề, kích thích họ tự lực, chủ động và có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn đề Đây

lầ một phương pháp hiệu quả với tiến trình thực hiện:

- Xác định, nhận dạng vấn đề/tình huống;

- Thu thập thông tin có liên quan đến vấn đề/tình huống đặt ra;

- Liệt kê các cách giải quyết có thể có ;

- Phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết (tích cực, hạn chế, cảm xúc, giá trị)

- So sánh kết quả các cách giải quyết ;

- Lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất;

- Thực hiện theo cách giải quyết đã lựa chọn;

- Rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề, tình huống khác

Phương pháp đóng vai

Đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành, “ làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định `Đây là phương pháp nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc

về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện hoặc quan sát được Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sau phần diễn ấy Phương pháp này học sinh vô cùng hứng thú, nhất là với môn học xã hội như Ngữ văn, lịch sử Học sinh khi tiếp cận phương pháp này thấy hứng thú, hiểu bài và yêu môn học hơn

Có thể tiến hành đóng vai theo các bước sau :

- Giáo viên nêu chủ đề, chia nhóm và giao tình huống, yêu cầu đóng vai cho từng nhóm Trong đó có quy định rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai của mỗi nhóm

- Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai

- Các nhóm lên đóng vai

- Lớp thảo luận, nhận xét về cách ứng xử và cảm xúc của các vai diễn; về ý nghĩa của các cách ứng xử

- GV kết luận, định hướng cho HS về cách ứng xử tích cực trong tình huống đã cho

Phương pháp trò chơi

Trang 7

Phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho HS tìm hiểu một vấn đề hay thể nghiệm những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua một trò chơi nào đó Quy trình thực hiện:

- GV phổ biến tên trò chơi, nội dung và luật chơi cho HS

- Chơi thử ( nếu cần thiết)

- HS tiến hành chơi

- Đánh giá sau trò chơi

- Thảo luận về ý nghĩa giáo dục của trò chơi

Dạy học theo dự án ( Phương pháp dự án)

Dạy học theo dự án còn gọi là phương pháp dự án, trong đó HS thực hiện một nhiệm

vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành

Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao, từ việc lập kế hoạch đến việc thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện dự án Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm Kết quả dự án là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được Cách tiến hành của phương pháp này:

- Bước1: Lập kế hoạch

+ Lựa chọn chủ đề

+ Xây dựng tiểu chủ đề

+ Lập kế hoạch các nhiệm vụ học tập

- Bước 2: Thực hiện dự án

+ Thu thập thông tin

+ Thực hiện điều tra

+ Thảo luận với các thành viên khác

+ Tham vấn giáo viên hướng dẫn

- Bước 3: Tổng hợp kết quả

+ Tổng hợp các kết quả

+ Xây dựng sản phẩm

+ Trình bày kết quả

+ Phản ánh lại quá trình học tập

Phương pháp bàn tay nặn bột

- Bàn tay nặn bột là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm, nghiên cứu, áp dụng giảng dạy cho các môn học tự nhiên Phương pháp này chú trọng tới việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hoặc điều tra Với một vấn đề khoa học, học sinh có thể đặt ra câu hỏi, giả thiết từ hiểu biết ban đầu, tiến hành thí nghiệm, nghiên cứu, kiểm chứng, so sánh, phân tích, thảo luận và đưa ra kết luận phù hợp Phương pháp này kích thích sự tò mò, ham

mê khám phá của học sinh

- Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác, bàn tay nặn bột luôn coi học sinh là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của giáo viên:

- Thầy cô giáo sẽ nêu vấn đề để học sinh tự đi tìm tình huống cần giải quyết thông qua hoạt động thực hành, thí nghiệm do chính các em tự làm, hoạt động thảo luận nhóm để đưa ra những giả thiết

Trang 8

- Thầy cô sẽ giúp học sinh chứng minh những giả thiết của các em và cùng các em tìm ra câu trả lời đúng

- Mục tiêu của bàn tay nặn bột là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu và say mê khoa học của học sinh Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, bàn tay nặn bột còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh

2 Một số kĩ thuật dạy học tích cực tiêu biểu được sử dụng trong các giờ dạy:

Kĩ thuật chia nhóm

Khi tổ chức cho HS hoạt động theo nhóm, GV nên sử dụng nhiều cách chia nhóm khác nhau để gây hứng thú cho HS, đồng thời tạo cơ hội cho các em được học hỏi, giao lưu với nhiều bạn khác nhau trong lớp Dưới đây là một số cách chia nhóm:

* Chia nhóm theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa trong năm,…:

- GV yêu cầu HS điểm danh từ 1 đến 4/5/6 (tùy theo số nhóm GV muốn có là 4,5 hay 6 nhóm, ); hoặc điểm danh theo các màu (xanh, đỏ, tím, vàng, ); hoặc điểm danh theo các loài hoa (hồng, lan, huệ, cúc, ); hay điểm danh theo các mùa (xuân, hạ, thu, đông, )

- Yêu cầu các HS có cùng một số điểm danh hoặc cùng một mầu/cùng một loài hoa/cùng một mùa sẽ vào cùng một nhóm

* Chia nhóm theo hình ghép

- GV cắt một số bức hình ra thành 3/4/5 mảnh khác nhau, tùy theo số HS muốn có

là 3/4/5 HS trong mỗi nhóm Lưu ý là số bức hình cần tương ứng với số nhóm mà GV muốn có

- HS bốc ngẫu nhiên mỗi em một mảnh cắt

- HS phải tìm các bạn có các mảnh cắt phù hợp để ghép lại thành một tấm hình hoàn chỉnh

- Những HS có mảnh cắt của cùng một bức hình sẽ tạo thành một nhóm

* Chia nhóm theo sở thích

GV có thể chia HS thành các nhóm có cùng sở thích để các em có thể cùng thực hiện một công việc yêu thích hoặc biểu đạt kết quả công việc của nhóm dưới các hình thức phù hợp với sở trường của các em Ví dụ: Nhóm Họa sĩ, Nhóm Nhà thơ, Nhóm Hùng biện,

* Chia nhóm theo tháng sinh: Các HS có cùng tháng sinh sẽ làm thành một nhóm Ngoài ra còn có nhiều cách chia nhóm khác như: nhóm cùng trình độ, nhóm hỗn hợp, nhóm theo giới tính,

Kĩ thuật giao nhiệm vụ

- Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng:

+ Nhiệm vụ giao cho cá nhân/nhóm nào?

+ Nhiệm vụ là gì?

+ Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?

+ Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?

+ Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì?

+ Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?

+ Cách thức trình bày/ đánh giá sản phẩm như thế nào?

- Nhiệm vụ phải phù hợp với: mục tiêu hoạt động, trình độ HS, thời gian, không gian hoạt động và cơ sở vật chất, trang thiết bị

Trang 9

Kĩ thuật đặt câu hỏi

Trong dạy học theo PP cùng tham gia, GV thường phải sử dụng câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt HS tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới, để đánh giá kết quả học tập của HS; HS cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm GV và các HS khác về những ND bài học chưa sáng tỏ

Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HS GV và HS

-HS Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của HS càng nhiều; HS sẽ học tập tích cực hơn

Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau:

- Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học

- Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu

- Đúng lúc, đúng chỗ

- Phù hợp với trình độ HS

- Kích thích suy nghĩ của HS

- Phù hợp với thời gian thực tế

- Sắp xếp thep trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp

- Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xính

- Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc

Kĩ thuật khăn trải bàn

- HS được chia thành các nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Mỗi nhóm sẽ có một tờ giấy A0 đặt trên bàn, như là một chiếc khăn trải bàn

- Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh, tiếp tục chia phần xung quanh thành 4 hoặc 6 phần tuỳ theo số thành viên của nhóm ( 4 hoặc 6 người.)

- Mỗi thành viên sẽ suy nghĩ và viết các ý tưởng của mình ( về một vấn đề nào đó mà

GV yêu cầu) vào phần cạnh “khăn trải bàn” trước mặt mình Sau đó thảo luận nhóm, tìm ra những ý tưởng chung và viết vào phần chính giữa “khăn trải bàn

Kĩ thuật phòng tranh

Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm

- GV nêu câu hỏi/ vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm

- Mỗi thành viên ( hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạ những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh

- HS cả lớp đi xem “ triển lãm’’và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ sung

Cuối cùng, tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và tìm phương án tối -ưu

Kĩ thuật công đoạn

- HS được chia thành các nhóm, mỗi nhóm được giao giải quyết một nhiệm vụ khác nhau Ví dụ: nhóm 1- thảo luận câu A, nhóm 2- thảo luận câu B, nhóm 3- thảo luận câu C, nhóm 4- thảo luận câu D,…

- Sau khi các nhóm thảo luận và ghi kết quả thảo luận vào giấy A0 xong, các nhóm

sẽ luân chuyển giáy AO ghi kết quả thảo luận cho nhau Cụ thể là: Nhóm 1 chuyển cho nhóm 2, Nhóm 2 chuyển cho nhóm 3, Nhóm 3 chuyển cho nhóm 4, Nhóm 4 chuyển cho nhóm 1

Trang 10

- Các nhóm đọc và góp ý kiến bổ sung cho nhóm bạn Sau đó lại tiếp tục luân chuyển kết quả cho nhóm tiếp theo và nhận tiếp kết quả từ một nhóm khác để góp ý

- Cứ như vậy cho đến khi các nhóm đã nhận lại được tờ giấy A0 của nhóm mình cùng với các ý kiến góp ý của các nhóm khác Từng nhóm sẽ xem và xử lí các ý kiến của các bạn để hoàn thiện lại kết quả thảo luận của nhóm Sau khi hoàn thiện xong, nhóm sẽ treo kết quả thảo luận lên tường lớp học

Kĩ thuật các mảnh ghép

- HS được phân thành các nhóm, sau đó GV phân công cho mỗi nhóm thảo luận, tìm hiểu sâu về một vấn đề của bài học Chẳng hạn: nhóm 1- thảo luận vấn đề A, nhóm 2- thảo luận vấn đề B, nhóm 3- thảo luận vấn đề C, nhóm 4- thảo luận thảo luận vấn đề D,…

- HS thảo luận nhóm về vấn đề đã được phân công

- Sau đó, mỗi thành viên của các nhóm này sẽ tập hợp lại thành các nhóm mới, như vậy trong mỗi nhóm mới sẽ có đủ các “chuyên gia” về vấn đề A, B, C, D, và mỗi “ chuyên gia” về từng vấn đề sẽ có trách nhiệm trao đổi lại với cả nhóm về vấn đề mà em đã có cơ hội tìm hiểu sâu ở nhóm cũ

Kĩ thuật động não

Động não là kĩ thuật giúp cho HS trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề nào đó Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng ( nhằm tạo ra cơn lốc các ý tưởng)

Động não thường được:

- Dùng trong giai đoạn giới thiệu vào một chủ đề

- Sử dụng để tìm các phương án giải quyết vấn đề

- Dùng để thu thập các khả năng lựa chọn và suy nghĩ khác nhau

Động não có thể tiến hành theo các bước sau :

- Giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề ( có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước

cả lớp hoặc trước nhóm

- Khích lệ HS phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt

- Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp

- Phân loại các ý kiến

- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng

- Tổng hợp ý kiến của HS và rút ra kết luận

Kĩ thuật “Trình bày một phút”

Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho HS tổng kết lại kiến thức đã học và đặt những câu hỏi

về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và cô đọng với các bạn cùng lớp Các câu hỏi cũng như các câu trả lời HS đưa ra sẽ giúp củng cố quá trình học tập của các em và cho GV thấy được các em đã hiểu vấn đề như thế nào

Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:

- Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học), GV yêu cầu HS suy nghĩ, trả lời các câu hỏi sau: Điều quan trọng nhất các em học đuợc hôm nay là gì? Theo các em, vấn đề gì là quan trọng nhất mà chưa được giải đáp?

- HS suy nghĩ và viết ra giấy Các câu hỏi của HS có thể dưới nhiều hình thức khác nhau

Ngày đăng: 30/04/2021, 20:51

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w