Quan điểm thứ hai ngược lại với quan điểm thứ nhất cho rằng quyền tài sản của quyền tác giả trong trường hợp này là tài sản riêng của vợ chồng, bởi lẽ chỉ khi tác phẩm được hình thành th[r]
Trang 1MỤC LỤC
A LỜI NÓI ĐẦU
B NỘI DUNG
I MỘT SỐ CHỒNG LÀ QUYỀN TÁC GIẢ.VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VẤN
ĐỀ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG VỢ
1 Nguyên tắc chung xác định tài sản chung vợ chồng
2 Nguyên tắc xác định tài sản chung vợ chồng là quyền tác giả
II XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG VỢ CHỒNG ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ
1 Trường hợp hai vợ chồng là đồng tác giả và quyền tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân
2 Trường hợp tác giả là vợ hoặc chồng và tác phẩm được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và quyền tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân
3 Trường hợp tác giả là vợ hoặc chồng và tác phẩm được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và quyền tài sản phát sinh sau thời kỳ hôn nhân
4 Trường hợp tác phẩm hình thành trước thời kỳ hôn nhân và quyền tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân
5 Trường hợp vợ chồng là chủ sở hữu quyền tác giả do được tặng cho, thừa kế, mua bán tác phẩm
III NHẬN XÉT CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG VỢ CHỒNG LÀ QUYỀN TÁC GIẢ
C KẾT LUẬN
Trang 2A LỜI NÓI ĐẦU
Vấn đề tài sản chung vợ chồng luôn là vấn đề tranh cãi phức tạp trong các
vụ việc về ly hôn cũng như chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Bởi lẽ, vợ chồng bên cạnh việc sở hữu tài sản chung thì mỗi người đều có quyền
sở hữu tài sản riêng Do vậy, để xác định đâu là tài sản riêng và tài sản chung của
vợ chồng là một việc không dễ dàng, nhất là trong điều kiện hiện nay khi tài sản của vợ chồng có được không chỉ là tiền lương, tiền thưởng mà còn là những tài sản có được khi vợ chồng tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, các giao dịch dân sự, thương mại, và thậm chí tài sản chung vợ chồng có thể là quyền
sở hữu trí tuệ Chỉ khi xác định được tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng thì mới xác định được quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng, qua đó mới bảo vệ được lợi ích của vợ chồng, đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể thứ ba Có thể thấy thời gian gần đây, tranh chấp của vợ chồng về quyền tài sản đối với tài sản trí tuệ đã trở thành vấn đề gây nhiều tranh cãi vì tính mới
và tính phức tạp của nó Trong phạm vi bài viết này, tác giả mong muốn đưa ra một vài quan điểm của cá nhân mình về vấn đề xác định tài sản chung vợ chồng đối với tài sản là quyền tác giả đồng thời đưa ra kiến nghị để hoàn thiện hệ thống pháp luật về vấn đề tranh chấp về quyền tài sản giữa vợ và chồng đối với loại tài sản này
B NỘI DUNG
Trang 3I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG VỢ CHỒNG LÀ QUYỀN TÁC GIẢ.
1 Nguyên tắc chung xác định tài sản chung vợ chồng.
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì chế độ tài sản của vợ chồng được xác định như sau:
- Theo Điều 27 Luật HN&GĐ 2000 thì tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hoặc là được tặng cho chung, thừa kế chung hoặc tài sản khác vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Như vậy về nguyên tắc tài sản chung vợ chồng là tài sản vợ chồng tạo ra được trong thời kỳ hôn nhân Trừ trường hợp trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có thỏa thuận chia tài sản chung theo Điều 29 thì tài sản chung của vợ chồng được xác định là: những tài sản mà không chia, hoa lợi lợi tức phát sinh từ khối tài sản đó, tài sản được tặng cho, thừa kế chung (theo Điều 8 Nghị định 70/2001)
- Theo Điều 32 Luật HN&GĐ Tài sản riêng của vợ chồng được xác định theo hai trường hợp:
+ Trường hợp trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng không chia tài sản chung thì tài sản riêng vợ chồng gồm tài sản riêng có được trước thời kỳ hôn nhân và trong thời kỳ hôn nhân (tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng) mà không nhập vào khối tài sản chung Tuy nhiên, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ khối tài sản này sẽ là tài sản chung của vợ chồng
+ Trường hợp trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có thỏa thuận chia tài sản chung thì tài sản riêng vợ chồng gồm tài sản đã chia, hoa lợi lợi tức phát sinh từ sản sản chia và thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng sau khi chia tài sản chung, trừ trường hợp
vợ chồng có thỏa thuận khác
Như vậy, thông qua việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng
sẽ xác định được quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng Vợ chồng có quyền và
Trang 4nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung; đối với việc thực hiện hay chấm dứt những giao dịch liên quan tới tài sản chung
có giá trị lớn hay là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư, kinh doanh thì cần có sự bàn bạc, thỏa thuận của vợ chồng (Điều 28 Luật HN&GĐ) Ngược lại, vợ hoặc chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng không phụ thuộc vào ý chí của bên còn lại đối với tài sản thuộc sở hữu riêng của mình trừ trường hợp tài sản riêng đã mang vào sử dụng với mục đích chung của gia đình
Tóm lại, về nguyên tắc thì tài sản chung vợ chồng được xác định là tài sản
do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; tài sản riêng vợ chồng sáp nhập vào tài sản chung; hoa lợi, lợi tức phát sinh trong thời kỳ hôn nhân từ khối tài sản riêng không nhập vào tài sản chung không có thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác
Có thể thấy vấn đề xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được quy định tương đối cụ thể trong Luật HNGĐ, tuy nhiên, trong thực tiễn, một khi đời sống chung giữa vợ chồng càng kéo dài thì các tài sản sẽ có xu hướng không thể tránh khỏi là lẫn lộn với nhau, đặc biệt khi vợ chồng xác lập nhiều các giao dịch liên quan đến tài sản Do đó, không phải lúc nào nguồn gốc của tài sản cũng
có thể xác định được theo các quy định về việc xác định tài sản chung (Điều 27)
và tài sản riêng (Điều 32) Trong bối cảnh đó, pháp luật đã đặt ra nguyên tắc suy đoán tài sản chung tại khoản 3 Điều 27 Luật HN&GĐ, nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp và có ý nghĩa như một nguyên tắc có tính chất định hướng trong việc giải quyết các tranh chấp giữa vợ chồng với nhau về nguồn gốc tài sản Tuy nhiên, với tư cách là một nguyên tắc suy đoán, tác dụng của nguyên tắc này chỉ dừng lại ở chỗ thiết lập một sự suy đoán, không có ý nghĩa khẳng định chắc chắn tất cả tài sản trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng
2 Nguyên tắc xác định tài sản chung vợ chồng là quyền tác giả
Trang 5Điều 18 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định: Quyền tác giả đối với tác phẩm bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản Quyền nhân thân là quyền gắn liền với cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác nên đương nhiên những quyền tác giả là quyền nhân thân chỉ thuộc về tác giả (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác) Khác với quyền nhân thân trong quyền tác giả, theo quy định tại Điều 163 Bộ Luật dân sự năm 2005 thì quyền tài sản là một loại tài sản nên có thể chuyển giao cho người khác thông qua các hợp đồng dân sự như mua bán, tặng cho, thừa kế… do đó có thể phát sinh những tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản này Dẫn đến việc tranh chấp quyền sở hữu tài sản chung vợ chồng
là quyền tác giả chỉ đặt ra đối với quyền về tài sản của tác giả đối với tác phẩm
mà thôi
Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 cũng quy định những chủ sở hữu của quyền tác giả bao gồm: tác giả, các đồng tác giả, tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả, người thừa kế, Nhà nước Do bài viết này chỉ đề cập tới quyền tác giả với tư cách là tài sản trong quan hệ vợ chồng, nên không đề cập tới chủ thể là Nhà nước Đối với chủ sở hữu quyền tác giả là cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả thì có thể tùy thuộc vào nguồn gốc số tiền dùng để giao kết với tác giả mà xác định tác phẩm là tài sản chung hay riêng của vợ chồng, từ đó áp dụng những quy định tương ứng của pháp luật để xác định quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng Bên cạnh đó, pháp luật về thừa kế với quyền tác giả cũng đã được quy định khá rõ ràng nếu quyền tài sản của quyền tác giả được thừa kế chung thì đó là tài sản chung vợ chồng, nếu được thừa kế riêng thì là tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng Do
đó, bài viết này chỉ tập chung đề cập tới chủ sở hữu tài sản là tác giả hoặc đồng tác giả (gọi chung là tác giả) là vợ chồng
Các tác giả được pháp luật cho phép đăng ký quyền tác giả với tác phẩm thuộc sở hữu của mình Quy định này áp dụng cả trường hợp chủ sở hữu quyền tác giả đang trong thời kỳ hôn nhân hoặc không, cũng không đề cập tới quyền lợi của người vợ (hoặc chồng) nên có thể hiểu rằng nhà làm luật xác định đây là tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng Có nhiều ý kiến cho rằng những quy định
Trang 6này mâu thuẫn với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Cụ thể: Điều 27, Luật Hôn nhân gia đình quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà
vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác
mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung… Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất” “Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng” Theo quy định này, có thể hiểu quyền tác giả nếu được hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì sẽ là tài sản chung của vợ chồng, nếu đăng ký quyền sở hữu phải ghi tên cả hai vợ chồng
Tuy nhiên, do tính chất đặc biệt của sản phẩm trí tuệ, có ý kiến khác cho rằng vợ hoặc chồng là người trực tiếp sáng tạo, đầu tư thời gian, công sức của mình để sáng tạo ra các tác phẩm nên phải được công nhận chủ sở hữu duy nhất Nếu coi quyền sở hữu trí tuệ là tài sản chung của vợ chồng thì cũng phải xác định thời điểm phát sinh quyền này Bởi vì sáng tạo là một quá trình lâu dài và nghệ thuật không phải là bất biến, nên phát sinh những trường hợp như: tác phẩm được định hình trong thời kỳ hôn nhân nhưng sau khi ly hôn mới hoàn thành; tác phẩm được hình thành trong thời kỳ hôn nhân nhưng sau khi ly hôn mới phát sinh quyền tài sản… Nếu phát sinh tranh chấp trong trường hợp như vậy thì giải quyết như thế nào? Vấn đề này pháp luật chưa có quy định cụ thể
Theo quan điểm của cá nhân tác giả thì việc xác định tài sản chung vợ chồng đối với tài sản là quyền tác giả trước hết phải dựa trên nguyên tắc chung về xác định tài sản chung vợ chồng nói chung theo quy định tại Điều 27 Luật HN&GĐ 2000, đồng thời phải dựa trên tính chất đặc thù của loại tài sản này là thời điểm hình thành tác phẩm và thời điểm phát sinh quyền tài sản của quyền tác giả không trùng nhau Bên cạnh đó, quyền tài sản trong quyền tác giả cũng là một loại tài sản theo quy định của Luật Dân sự do vợ chồng tạo ra nên việc xác định loại tài sản này là tài sản chung hay riêng của vợ chồng cũng phải dựa trên thời điểm phát sinh quyền tài sản đó và mối quan hệ của thời điểm phát sinh quyền tài
Trang 7sản hay nói cách khác là thời điểm hình thành tài sản này với “thời kỳ hôn nhân” như thế nào Từ đó có thể đưa ra nguyên tắc xác định tài sản chung vợ chồng là quyền tác giả như sau: các tác phẩm hình thành trước hoặc trong thời kỳ hôn nhân và quyền tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng
II XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG VỢ CHỒNG ĐỐI VỚI TÀI SẢN
LÀ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ.
Có thể nhận thấy rằng tài sản chung vợ chồng là quyền tác giả chỉ được xác định là quyền tài sản trong quyền tác giả Do vậy vấn đề đặt ra là cần phải xác định thời điểm hình thành tác phẩm và thời điểm phát sinh quyền tác giả có mối liên hệ như thế nào với thời kỳ hôn nhân Dễ dàng nhận thấy nếu tác phẩm hình thành trước hoặc sau thời kỳ hôn nhân và quyền tài sản cũng được phát sinh trước hoặc sau thời kỳ hôn nhân thì quyền tài sản đó đương nhiên được xác định
là tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng là tác giả của tác phẩm Vậy việc xác định quyền tác giả là có phải là tài sản chung vợ chồng hay không chỉ có thể đặt
ra trong các trường hợp sau:
1 Trường hợp hai vợ chồng là đồng tác giả và quyền tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân
Luật SHTT năm 2005, sửa đổi năm 2009 không định nghĩa thuật ngữ “tác
giả”, nhưng điều 8 Nghị định 100/2006/NĐ-CP đã quy định: “Tác giả là người
trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học”, đồng thời, pháp luật SHTT cũng không có định nghĩa về thuật ngữ
“đồng tác giả” mà mặc nhiên quan niệm trong trường hợp có từ hai tác giả trở lên cùng sáng tạo nên một tác phẩm thì họ là các đồng tác giả của tác phẩm đó Như vậy, qua quan niệm đó có thể thấy vợ chồng là đồng tác giả của tác phẩm khi cả hai vợ chồng cùng sáng tạo nên tác phẩm, từ đó theo quy định của Luật SHTT thì
vợ chồng là đồng sở hữu chung duy nhất quyền tác giả đối với tác phẩm Điều đó
có nghĩa là quyền tài sản trong quyền tác giả đối với tác phẩm mà họ là đồng tác giả được xác định là tài sản chung của họ không phụ thuộc vào việc tác phẩm đó
Trang 8được hình thành trước, trong hay sau thời kỳ hôn nhân Tuy nhiên, chế độ tài sản chung vợ chồng chỉ đặt ra khi có hôn nhân nên tác giả chỉ xét với trường hợp quyền tài sản trong quyền tác giả hình thành trong thời kỳ hôn nhân mà thôi Do xác định vợ chồng là đồng sở hữu quyền tác giả nên vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt loại tài sản này, đồng thời tài sản này cũng được có thể được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng trong giao dịch dân sự với người thứ ba
Như vậy, mặc dù Luật HN&GĐ 2000 không có quy định nào về tài sản chung vợ chồng là quyền tác giả nhưng căn cứ theo các quy định của Luật SHTT thì quyền tác giả cũng là một loại tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng Tuy nhiên, do việc không có quy định cụ thể về vấn đề này nên trong thực tế khi việc giải quyết tranh chấp giữa vợ chồng về xác định quyền sở hữu đối với tài sản là quyền tác giả gặp nhiều khó khăn Với tư cách là luật chính điều chỉnh các quan
hệ hôn nhân gia đình Luật HN&GĐ cần bổ sung quy định về vấn đề này để hoàn thiện hơn
2 Trường hợp tác giả là vợ hoặc chồng và tác phẩm được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và quyền tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân
Như đã phân tích ở trên thì quyền nhân thân trong quyền tác giả luôn gắn liền với một tác giả xác định mà không thể chuyển giao cho người khác Điều đó
có nghĩa là khi tác giả của tác phẩm là vợ hoặc chồng thì quyền nhân thân trong quyền tác giả chỉ thuộc về một người là người vợ hoặc chồng là tác giả Họ có đầy đủ các quyền nhân thân của tác giả theo quy định của Luật SHTT mà không phụ thuộc vào ý chí của bên còn lại trong mối quan hệ vợ chồng như: đặt tên cho tác phẩm, đứng tên tác phẩm; công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm của mình; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho phép người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả…Điều này đã được quy định khá cụ thể trong Luật SHTT và các văn bản pháp luật liên quan Tuy nhiên, vấn
đề đặt ra là quyền tài sản trong quyền tác giả ở trường hợp này được xác định
Trang 9như thế nào? Là tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng là tác giả hay là tài sản chung của vợ chồng? Luật HN&GĐ 2000 không có quy định nào quy định về nội dung này Cá nhân tác giả cho rằng căn cứ theo Điều 27 Luật HN&GĐ 2000:
“Tài sản chung của vợ chồng sẽ là tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân…” có thể xác định quyền tài sản trong quyền tác giả này là tài sản chung vợ chồng Bởi lẽ, thứ nhất tác phẩm được hình thành trong thời kỳ hôn nhân đồng thời quyền tài sản cũng phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên phải được coi là thu nhập hợp pháp của một bên vợ hoặc chồng trong thời kỳ hôn nhân Thứ hai, mặc dù tác phẩm là sự sáng tạo cá nhân của tác giả, là sản phẩm trí tuệ của cá nhân tác giả là vợ hoặc chồng nhưng do họ đang ràng buộc trong mối quan hệ hôn nhân gia đình nên xét trên khía cạnh nào đó thì có thể thấy dù ít hay nhiều họ cũng đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ từ bên còn lại trong mối quan
hệ này cho quá trình hình thành tác phẩm Với ý nghĩa đó thì việc xác định quyền tài sản trong quyền tác giả trong trường hợp này là tài sản chung vợ chồng là phù hợp với thực tiễn cũng như lý luận
3 Trường hợp tác giả là vợ hoặc chồng và tác phẩm được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và quyền tài sản phát sinh sau thời kỳ hôn nhân.
Đây là một trường hợp khó xác định và thực tế cũng có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này Có quan điểm cho rằng trong trường hợp này quyền tài sản trong quyền tác giả phải xác định là tài sản chung vợ chồng vì trước khi có quyền tài sản thì phải có tác phẩm mà tác phẩm lại được hình thành trong thời kỳ hôn nhân cho nên dù quyền tài sản phát sinh trong hay sau thời kỳ hôn nhân nó vẫn phải được xác định là tài sản chung vợ chồng Một quan điểm khác cho rằng trường hợp này phải xác định là tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng là tác giả của tác phẩm do căn cứ theo Điều 27 Luật HN&GĐ 2000 thì tài sản chung vợ chồng phải là tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân… Tức là các tài sản được xác định là tài sản chung vợ chồng khi nó được hình thành trong thời kỳ hôn nhân trừ trường hợp tài sản riêng sáp nhập vào tài sản
Trang 10chung Mà trường hợp này quyền tài sản phát sinh sau thời kỳ hôn nhân tức là tài sản không hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên theo quy định tại Điều 27 nó không phải tài sản chung của vợ chồng mà là tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng là tác giả của tác phẩm Cá nhân tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai vì nhận thấy những giải thích cho quan điểm đó khá hợp lý, bảo vệ được lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ này đặc biệt là của tác giả sáng tạo nên tác phẩm Tuy nhiên, để tạo nên sự thống nhất trong việc áp dụng các quy định của pháp luật Luật HN&GĐ cần có quy định khi nhận cụ thể, tránh nhiều cách hiểu khác nhau nên nhiều cách giải quyết khác nhau khi có tranh chấp xảy ra
4 Trường hợp tác phẩm hình thành trước thời kỳ hôn nhân và quyền tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân.
Đối với trường hợp này thì thực tế cũng có nhiều quan điểm khác nhau Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền tác giả trong trường hợp này là tài sản chung vợ chồng căn cứ theo Điều 27 Luật HN&GĐ vì tài sản này được hình thành trong thời kỳ hôn nhân Hơn nữa, Luật HN&GĐ 2000 đã xác định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng mà không có chia tài sản chung trong vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì trường hợp này cũng phải được hiểu tương tự tức là quyền tác giả phải được xác định là tài sản chung vợ chồng Quan điểm thứ hai ngược lại với quan điểm thứ nhất cho rằng quyền tài sản của quyền tác giả trong trường hợp này là tài sản riêng của vợ chồng, bởi lẽ chỉ khi tác phẩm được hình thành thì quyền tác giả nói chung và quyền tài sản của quyền tác giả nói chung mới phát sinh, mà tác phẩm lại là sản phẩm trí tuệ của cá nhân tác giả hình thành trước thời kỳ hôn nhân không có sự đóng góp công sức của bên kia trong việc hình thành tác phẩm đó hay nói rộng hơn là trong việc hình thành tài sản đó, nên cho dù quyền tài sản có hình thành trong thời kỳ hôn nhân hay không nó vẫn phải được xác định là tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng là tác giả Cá nhân tác giả đồng ý với quan điểm thứ nhất bởi lẽ theo Điều 32, Luật HN&GĐ 2000 quy định: “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người
có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời
kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1