Những giải pháp thúc đẩy xã hội hoá đầu tư cho giáo dục phổ thông tại tỉnh Hà Tây
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã nêu rõ: “Các vấn đề xã
hội đều phải giải quyết theo tinh thần xã hội hóa Nhà nước giữ
vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh
nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước
ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội”
Giáo dục là những nhân tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát
triển của xã hội, gắn liền với đời sống xã hội, chỉ có sự tham gia
của toàn xã hội mới đảm bảo cho lĩnh vực giáo dục phát triển
Do đó, việc thực hiện xã hội hóa giáo dục nhằm huy động nhiều
nguồn lực từ các lực lượng xã hội theo phương châm Nhà nước
và nhân dân cùng làm để phát triển sự nghiệp giáo dục là tất yếu
khách quan và cũng là thực hiện quan điểm chiến lược về các
vấn đề xã hội theo đường lối của Đảng và Nhà nước
Những năm qua, thực hiện Nghị quyết số 90/CP ngày
21/8/1997 và Nghị định 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của
Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa các hoạt động
trên lĩnh vực văn hoá, y tế, giáo dục, tỉnh Hà Tây đã có nhiều
chủ trương, chính sách để hoạt động giáo dục từng bước thực
hiện xã hội hóa, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển về chất
lượng, qui mô và cơ sở vật chất, bước đầu đáp ứng được nhu cầu
cơ bản của nhân dân
Tuy nhiên, trước nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội,
lĩnh vực trên còn bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế cả về nhận thức
và chính sách thực hiện Chất lượng giáo dục đào tạo toàn diện
cho học sinh chưa cao, hiệu quả hoạt động giáo dục đào tạo còn
Trang 2thấp Nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình hình trên là do việc đầu
tư kinh phí để phát triển sự nghiệp giáo dục còn thấp
Xuất phát từ thực tế trên nên em quyết định lựa chọn
nghiên cứu đề tài: “Những giải pháp thúc đẩy xã hội hoá đầu
tư cho giáo dục phổ thông tại tỉnh Hà Tây”
Kết cấu của đề tài gồm 3 phần:
+ Chương I: Sự cần thiết xã hội hoá đầu tư cho giáo dục
+ Chương II: Hiện trạng xã hội hoá đầu tư cho giáo dục
phổ thông tại tỉnh Hà Tây
+ Chương III: Giải pháp thúc đẩy xã hội hoá đầu tư cho
giáo dục phổ thông tại tỉnh Hà Tây
Đây là một bản chuyên đề có tính khoa học cao và logic, do
khả năng và trình độ có hạn nên bài viết không tránh khỏi những
khiếm khuyết Em rất mong được sự bổ sung, góp ý của thầy cô
và bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn
Trang 3CHƯƠNG I SỰ CẦN THIẾT XÃ HỘI HOÁ ĐẦU TƯ CHO
GIÁO DỤC
I GIÁO DỤC VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC TRONG
PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI
1 Giáo dục và đặc điểm hoạt động giáo dục
1 1 Khái niệm
Nói đến “giáo dục” người ta thường nghĩ ngay đến giáo
dục nhà trường Đây là cách hiểu hẹp nhất, thực ra nó chỉ là một
loại trong hoạt động giáo dục Thực ra trong giao tiếp giữa
người với người, trong gia đình, trong công tác v.v…, người ta
từng giờ từng phút tiếp nhận sự giáo dục của người khác và của
xã hội Trên thực tế giáo dục là một hoạt động như sau:
Giáo dục là quá trình sản xuất, truyền bá tri thức thông qua
các tổ chức, cơ cầu Nhà nước và dân gian, nhằm mục đích bồi
dưỡng cho người ta các kỹ năng thích ứng xã hội, thích ứng
Trang 4- Giáo dục xã hội: nó vừa có tác dụng kiểm nghiệm thành
quả của giáo dục nhà trường, vừa là kéo dài và bổ sung cho giáo
dục nhà trường trong xã hội
Trong các hình thức giáo dục nêu trên thì hình thức giáo
dục trong nhà trường có ý nghĩa hết sức lớn lao Sự phát triển
của hình thức giáo dục này đã tạo nên hệ thống giáo dục quốc
dân và là điều kiện quan trong nhất để nâng cao chất lượng của
lực lượng lao động
Theo luật giáo dục Việt Nam ( ban hành ngày 02/12/1998),
hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
1 Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo
2 Giáo dục phổ thông có hai bậc học là bậc tiểu học và bâc
trung học; bậc trung học có hai cấp học là câp trung học cơ sở
và cấp trung học phổng thông
3 Giáo dục nghề nghiệp có trung học chuyên nghiệp và dạy
nghề
4 Giáo dục đại học đào tạo hai trình độ là trình độ cao
đẳng và trình độ đại học; giáo dục sau đại học đào tạo hai trình
độ là trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ
1 2 Đặc điểm của hoạt động giáo dục
Dưới giác độ kinh tế học và trong điều kiện của nền kinh tế
thị trường, hoạt động giáo dục - đào tạo được coi là một trong
những lĩnh vực cung cấp hàng hoá dịch vụ công cộng cho xã hội
Bởi vì sản phẩm của giáo dục là cung cấp các kiến thức và k ỹ
năng cho người học, đây là sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu
tiêu dùng có tính chất xã hội Khi người học được học tập chính
Trang 5là lúc họ đang được thụ hưởng các hàng hoá công cộng do hoạt
động giáo dục cung cấp, kiến thức của họ được tích luỹ, kỹ năng
của họ được từng bước trau rồi trong quá trình học tập, để cuối
cùng họ có được một năng lực nhất định, trở thành người lao
động có ích cho xã hội sau khi được học tập
Các dịch vụ do hoạt động giáo dục cung cấp có một số đặc
điểm sau:
Th ứ nhất, dịch vụ của hoạt động giáo dục chủ yếu là các
dịch vụ công cộng, chúng phục vụ đồng thời cho nhiều người
cùng sử dụng Chúng vừa mang tính chất là hàng hoá dịch vụ
công cộng đại chúng, của toàn xã hội, vừa mang tính chất hàng
hoá dịch vụ công cộng của nhóm, cho từng nhóm người nhất
định Điều này có nghĩa là dịch vụ của hoạt động giáo dục là
hàng hoá công cộng không thuần tuý và có tính chất loại trừ
Qua đặc điểm này, chúng ta có thể thấy các kiến thức, kỹ
năng… đã được tích luỹ, hệ thống lại và được biên soạn lại
thành giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo… là sảm
phẩm mang tính chất công cộng chung của toàn xã hội (thậm chí
của toàn nhân loại), tất các mọi người đề có quyền tiếp nhận,
khai thác và sử dụng chúng Với góc độ này thì sản phẩm của
lĩnh vực là hàng hoá dịch vụ công cộng mang tính chất đại
chúng, không thể loại trừ bất cứ một ai muốn sử dụng chúng
Song, con người nói chúng không thể tự mình tiếp thu được
tất cả các kiến thức, kỹ năng… mà về cơ bản, muốn có những
kiến thức, kỹ năng… nhất định phải trải qua quá trinh học tập
Nhà trường, thầy cô giáo… sẽ truyền thụ kỹ năng cho người học
Trang 6Trong điều kiện như vậy, các kiến thức, kỹ năng… sẽ không
được truyền thụ một cách đồng loạt cho tất cả mọi người, mà chỉ
có một lượng ( nhóm ) người nhất định nào đó được truyền đạt
những kiến thức, kỹ năng Vì vậy, với góc độ này thì sản phẩm
của hoạt động giáo dục mang tính chất là hàng hoá dịch vụ công
cộng nhóm, chúng bị giới hạn trong những mức độ, điều kiện
nhất định và dành cho một lượng, một nhóm người nhất định
được hưởng thụ chúng
Với đặc điểm là dịch vụ công cộng nhóm cho phé người ta
hạn chế, loại trừ bớt số lượng người tham gia hưởng thụ các dịch
vụ giáo dục với những biện pháp khác nhau như: thi tuyển chọn,
chế độ học phí v.v…, với đặc điểm này cho phép hoạt động giáo
dục không chỉ được cung cấp bởi nhà nước mà còn có thể được
cung cấp bởi khu vực tư nhân
Th ứ hai, Dưới giác độ tiêu dùng, sản phẩm của hoạt động
giáo dục không những không bị tiêu dùng mất đi, mà ngược lại
chúng luôn được đổi mới, bổ sung Tri thức kỹ năng của con
người ngày càng được tích luỹ, kế thừa, phát huy, đổi mới và bổ
sung thêm từ thế hệ này sang thế hệ khác, làm cho sảm phẩm của
hoạt động giáo dục ngày càng thêm phong phú Với ngưới được
truyền thụ các kiến thức và kỹ năng… họ không thể dùng hết
ngay các kiến thức và các kỹ năng đó, mà ngược lại chúng được
vận dụng, ứng dụng… lâu dài trong quá trình lao động sau này
của người được đào tạo Thậm trí các kiến thức, các kỹ năng ban
đầu được trau rồi, bổ sung, đổi mới từng bước được hoàn thiện
Trang 7hơn để người lao động ngày càng phat huy năng lực tốt trong
công việc của họ
Từ những đặc điểm của hoạt động giáo dục trên đây, theo
em có thể rút ra một số nhận xét như sau
M ột là, Kho tàng kiến thức và kỹ năng của nhân loại là vô
tận, mỗi người chỉ có thể tiếp thu một lượng nhất định các kiến
thức, kỹ năng thích hợp nào đó tương ứng với khả năng tâm,
sinh lý học của bản thân, các điều kiện kinh tế - xã hội cho phép
và đòi hỏi những năng lực khác mà xã hội đặt ra cho từng người
Chính vì vậy, xã hội phải có trách nhiệm tổ chức các cơ sở giáo
dục đào tạo tương ứng với nhiều loại bậc học, ngành nghề khác
nhau Mỗi người căn cứ vào khả năng, điều kiện của bản thân và
nhu cầu của xã hội để lựa chọn bậc học, ngành nghề thích hợp
nhằm mục đích có được năng lực lao động tốt nhất phục vụ cho
xã hội sau khi được học tập
học tiếp thu các kiến thức, kỹ năng vừa giúp người học hoàn
thiện và phát huy năng lực của mình lâu dài trong quá trình lao
động sản xuất Đó là quá trình “đào tạo - tự đào tạo - đào tạo
l ại” diễn ra một cách thường xuyên và suốt đời đối với người lao
động
Ba là , Đầu tư các điều kiện cần thiết cho hoạt động giáo
dục có thể nói là trách nhiệm chung của toàn xã hội, nhưng vai
trò chủ đạo phải thuộc về Nhà nước Việc chăm lo phát triển sự
nghiệp giáo dục là trách nhiệm của xã hội, vì hoạt động giáo dục
tạo ra năng lực cho mỗi thành viên của xã hội Do đó, “xã hội
Trang 8h oá g iáo d ục - đào tạo" là vấn đề không có gì mới mẻ, đã tồn tại
lâu đời từ trước tới nay Song, ở đây cần nhận thức rằng Nhà
nước phải giữ vai trò là người chủ đạo Vì:
- Hoạt động giáo dục - đào tạo đòi hỏi nhiều tiềm lực lớn
về cả con người và về cả vật chất, chỉ có Nhà nước là người có
khả năng và điều kiện tốt nhất để giải quyết vấn đề này
- Sự chủ đạo của Nhà nước giúp cho hoạt động giáo dục
đào tạo đi đúng định hướng ở tầm vĩ mô mà xã hội mong muốn
- Nhờ có cơ chế thuế mà Nhà nước có thể thu hồi được chi
phí đầu tư cho hoạt động giáo dục - đào tạo Thật vậy, với những
hàng hoá dịch vụ công cộng mang tính đại chúng, việc loại trừ
“người ăn không” là hầu như không thể nếu như họ không có
nghĩa vụ nộp thuế Còn đối với việc cung cấp các hàng hoá dịch
vụ công cộng nhóm có thể loại trừ được “người ăn không”, thì tư
nhân cũng có thể làm được Song nếu như vậy sẽ là quá nặng cho
người học vì phải nộp học phí cao nhằm trang trải đầy đủ chi phí
cho việc học tập, trong khi người học chưa đi làm nên chưa có
thu nhập Chính vì vậy, giải pháp tốt nhất ở đây là người học
nộp học phí chỉ trang trải một phần chi phí cho giáo dục, phần
còn lại họ “mắc nợ” và trả sau khi đã đi làm, có thu nhập thông
qua nộp thuế (thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng lao động )
cho Nhà nước
Nhà nước là chủ đạo, nhưng không thể phó mặc tất cả cho
Nhà nước, vì nguồn lực của Nhà nước tuy lớn, nhưng cũng rất có
hạn và phải đáp ứng cho mọi lĩnh vực của nền kinh tế - xã hội,
nên không thể kham nổi tất cả Hơn nữa tính công bằng, hiệu quả
Trang 9sẽ bị vi phạm, nhiều người sẽ được “ăn không”, và tất nhiên sẽ
ảnh hưởng đến lợi ích của người khác
B ốn là, Nghĩa vụ của người học Khi người học được học
tập là đang được hưởng các hàng hoá dịch vụ công cộng do hoạt
động giáo dục - đào tạo cung cấp Được hưởng lợi phải trả tiền
là nguyên lý thông thường của kinh tế học thị trường Song, ở
đây người học thể hiện sự trả tiền thông qua việc trả học phí,
nhưng học phí chỉ bù đắp một phần chi phí cho giáo dục - đào
tạo, và cũng không nên có chế độ học phí quá cao vì người học
hiện tại chưa tạo ra thu nhập Sau quá trình học tập, người học
có năng lực làm việc, tạo ra thu nhập, sẽ trích một phần thu nhập
để trả chi phí cho giáo dục - đào tạo (nộp thuế cho Nhà nước,
phụng dưỡng “bố mẹ già yếu” đã có công nuôi ăn học )
N ăm là, Các cơ sở sử dụng lao động đã được đào tạo phải
có nghĩa vụ trả chi phí cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo Xã hội
đào tạo năng lực cho người lao động, các cơ sở sử dụng lao động
khai thác các năng lực đó và thu được các nguồn lợi cho mình
Vậy thì họ cũng phải có nghĩa vụ trích một phần nguồn lợi (lợi
nhuận) để trang trải chi phí cho hoạt động giáo dục - đào tạo mà
xã hội đã bỏ ra trước đây - Điều này hoàn toàn phù hợp với quy
luật của kinh tế thị trường Cơ chế tốt nhất để các cơ sở sử dụng
lao động hoàn trả chi phí cho hoạt động giáo dục - đào tạo là
nộp thuế cho Nhà nước (thuế quỹ lương, thuế thu nhập doanh
nghiệp )
Tóm lại, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động
giáo dục về mặt kinh tế học cũng là một lĩnh vực cung cấp các
Trang 10hàng hoá dịch vụ công cộng cho xã hội Do đó, cần phải có
những nhận thức và đối xử đúng đắn để lĩnh vực này cung cấp
các hàng hoá dịch vụ công cộng với chất lượng ngày càng tốt
hơn, thoả mãn nhu cầu của xã hội và đảm bảo phát triển một
cách bền vững
2 Vai trò của giáo dục trong phát triển kinh tế – xã hội
2 1 Giáo d ục với tái sản xuất dân số và việc làm
Giáo dục với tái sản xuất dân số
Tái sản xuất dân số bao gồm cả mặt số lượng và mặt chất
lượng.Tốc độ tăng dân số và chất lượng dân sô chịu tác động bởi
nhiều yếu tố trong đó tác động của giáo dục là vô cùng quan
trọng
Khi nhân thức của con người được nâng cao, tuổi lập gia
đình tăng lên và là một nguyên nhân làm mức sinh giảm xuống
và tỷ lệ sinh cũng giảm Giáo dục có ảnh hưởng đến nhiều mặt
của tính cách, trong trường hợp đối với phụ nữ thì bao gồm cả
thái độ với việc sinh đẻ, nhiều nghiên cứu cho thấy, trình độ học
vấn của phụ nữ có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với sự sinh đẻ của
họ, (phụ nữ càng học nhiều càng có xu hướng đẻ ít con), họ
muốn đẻ ít con hơn để có điều kiện tham gia vào các hoạt động
xã hội, và phát huy được khả năng của minh Khi trình độ được
nâng cao, quan niệm về con cái cũng khác đi, con người mất dần
quan niệm có con cái để nhờ vả sau này, đó cũng là một nguyên
làm giảm tỷ lệ sinh
Nếu muốn nâng cao chất lượng dân số mà không có giáo
dục thì không thể làm được Giáo dục là then chốt bảo đảm chất
Trang 11lượng của dân số, giáo dục có vai trò quan trọng trong việc nâng
cao trí lực của con người Đồng thời giáo dục còn có ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khoẻ của con người Trình độ học vấn làm
thay đổi trong việc vệ sinh phòng bệnh của gia đinh như rửa tay
và uống nước sôi… và việc sử dụng các dich vụ y tế chăm sóc
sức khoẻ và khám chữa bênh Trình độ học vấn của cha mẹ có
liên quan mật thiết đế sức khoẻ của trẻ em, đặc biệt là người mẹ
càng có học thì tỷ lệ trẻ em sơ sinh chết càng giảm và đứa trẻ
càng khoẻ mạnh
Giáo dục với vấn đề việc làm
Vấn đề việc làm là mối quan tâm của tất cả các quốc gia
trên thế giới trong quá trình phát triển Sức lao động có đầy đủ
việc làm vừa là tiêu chí của một quốc gia phát triển cao, vừa là
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Vấn đề này được quyết đinh
bởi sự tác động tổng hợp của rất nhiều nhân tố, trong đó ảnh
hưởng của giáo dục lá vô cùng mạnh mẽ
Đào tạo nhân tài về chuyên môn ở các cấp để thoả mãn nhu
cầu của xã hội là nhiệm vụ cơ bản của sự nghiệp giáo dục, cũng
là điều kiện cơ bản bảo đảm cho sức lao động có đầy đủ việc
làm Vì rằng, xã hội cần có nhân tài ở nhiều tầng, nhiều bậc, vừa
cần có cán bộ quản lý cao cấp, vừa cần có nhân viên kỹ thuật có
trình độ kỹ thuật trung cấp, sơ cấp Nếu sự nghiệp giáo dục chỉ
theo đuổi việc đào tạo nhân tài chuyên nghiệp đại học hoặc nhân
tài ở một vài chuyên môn nào đó, coi nhẹ việc đào tạo nhân tài
trung, sơ cấp thì sẽ gây ra sự thất nghiệp giả tạo theo cơ cấu
Trang 12hoặc là hạ thấp nhân tài xuống để sử dụng gây lãng phí chi phí
đào tạo
Đồng thời sự nghiệp giáo dục còn có một vai trò nữa không
kém phần quan trọng là đổi mới tri thức cho những người lao
động, nếu những người lao động không được đổi mới tri thức, kỹ
năng làm việc thì sẽ gây ra một tình thế “hao mòn vô hinh” của
đội ngũ lao động, khó thích ứng với yêu cầu mới của sự phát
triển kinh tế Vơi tư cách là biện pháp làm cho người ta có được
kỹ năng chuyên môn, đổi mới tri thức, giáo dục là một trong
nhưng điều kiện cần thiết khiến sức lao động có đầy đủ việc làm
2 2 Giáo d ục gắn bó chặt chẽ với thu nhập và tiêu dùng
Nói chung mức độ cao, thấp của trình độ học vấn tỷ lệ
thuận với thu nhập tiền bạc của cá nhân Thu nhập của người lao
động trí óc tương đối cao hơn thu nhập của người lao động chân
tay Đối với những người lao động có khả năng học hết bậc trung
học và đại học thì họ có cơ hội tìm kiếm những công việc tốt với
mức thu nhập cao hơn những người lao động mới học hết một
phần hoặc hết cấp tiểu học, và mức chênh lệch về tiền lương có
thể đạt cỡ 300 đến 800%
Tỷ trọng chi phí giáo dục trong tổng chi phí tiêu dùng của
mọi người có thể được thể hiện ở trình độ nhận thức và mức độ
khát khao được giáo dục của mọi người ở các lứa tuổi khác nhau
Chi tiêu giáo dục thuộc phạm trù chi tiêu cho đời sống tinh thần,
văn hoá, mức chi tiêu của nó tăng theo mức thu nhập của dân cư
Nói chung khi thu nhập thấp, tỷ trọng chi tiêu cho đời sống vật
chất tương đối lớn Theo đà nâng cao mức thu nhập, tỷ trọng chi
Trang 13tiêu cho giáo dục tăng nhanh Như vậy, giáo dục là nội dung
quan trọng làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mọi
người, nhất là trong xã hội phát triển, việc coi trọng giáo dục
làm cho mọi người sẵn lòng đầu tư nhiều hơn vào sự nghiệp giáo
dục
2 3 Giáo d ục có tác động tích cực đến sự nghiệp y tế, văn
ho á thể dục thể thao
Giáo dục thông qua đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhân viên y
tế chuyên nghiệp, vừa có thể làm cho họ mau chóng nắm vững
các phương pháp trị bệnh, nâng cao tỷ lệ chữa bệnh, lại có thể
làm cho tố chất tu dưỡng của đông đảo cán bộ nhân viên y tế
được nâng cao rộng rãi, có được đạo đức nghề nghiệp tốt đẹp,
cung câp những nhân tài chuyên môn có trình độ cao để đẩy
mạnh sự phát triển của sự nghiệp y tế, bảo vệ sức khoẻ
Sự nghiệp giáo dục cũng có tác động tương tự như vậy đối
với sự phát triển của thể dục, thể thao Giáo dục sẽ bồi dưỡng
cho thể thao các huấn luận viên, vận động viên có chuyên môn
và phẩm chất đạo đức tốt
Giáo d ục ngoài vai trò phân tích ở trên còn đóng vai trò
q uan trọng trong các lĩnh vực chính trị, văn hóa….Giáo dục
k hông chỉ tác động tới việc hoàn thiện con người, m à còn có
tá c động trực tiếp tới sự phát triển kinh tế xã hội Giáo dục tạo
ra ng uồn nhân lực có học thức, có kỹ năng nghề nghiệp, có
p hẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân Vì
vậy đầu tư cho giáo dục không chỉ là đầu tư để xoá đói giảm
ng hèo m à cò n là đầu tư cho sự phát triển kinh tế – xã hội
Trang 14II SỰ CẦN THIẾT XÃ HỘI HOÁ ĐẦU TƯ CHO GIÁO
DỤC
1 Các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục
Hoạt động giáo dục - đào tạo cung cấp các dịch vụ cũng
giống như lĩnh vực sản xuất vật chất, trong quá trình sản xuất
đòi hỏi phải có các nguồn lực đầu tư nhất định để hình thành các
yếu tố đầu vào Trong quá trình hoạt động các yếu tố đầu vào
luôn bị tiêu hao, do đó để thực hiện quá trình tái sản xuất, tái
cung cấp đòi hỏi nguồn lực phải được bổ sung và tái tạo, nguồn
lực quan trọng nhất là nguồn tài chính Vậy nguồn tài chính
được hình thành từ đâu?
Cũng như các hoạt động khác, nguồn tài chính đã cung cấp
cho giáo dục - đào tạo một lực lượng vật chất để duy trì sự hoạt
động của ngành, trên cơ sở đó mà thực hiện được các chức năng
nhiệm vụ của mình Từ việc xây dựng cơ sở vật chất như: xây
dựng các trường học, mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện
làm việc, giảng dạy, chi cho con người để duy trì hoạt động
của ngành
Trong nhiều năm qua, với cơ chế kế hoạch hóa tập trung
bao cấp, nền kinh tế căn bản dựa trên sở hữu toàn dân và sở hữu
tập thể Các hoạt động xã hội cũng chủ yếu dựa trên cơ sở hai
hình thức sở hữu đó Tức là Nhà nước hầu như độc quyền chi
phối mọi mặt hoạt động xã hội như: y tế, giáo dục, văn hóa, thể
dục thể thao xã hội hầu như chỉ có công lập Nên nguồn tài
chính cung cấp cho các hoạt động này chủ yếu do ngân sách Nhà
nước đảm nhận (từ cấp trung ương đến cấp cơ sở) Đó là một
Trang 15trong những lý do cơ bản làm cho cơ sơ vật chất ngành giáo dục
xuống cấp và lạc hậu, chất lượng của hoạt động giáo dục giảm
sút, không đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của
đất nước
Từ năm 1986 chúng ta đã thực hiện cải cách kinh tế,
chuyển nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước, Sự đổi mới này cũng bắt
nguồn từ nhận thức của chúng ta về xã hội: Trong quá trình phát
triển lịch sử của loài người vấn đề có tính quy luật là xu hướng
ngày càng tăng tính chất xã hội hóa mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội Xã hội ngày càng phát triển thì tính chất xã hội hóa ngày
càng cao, ngược lại tính chất xã hội hóa càng cao thì xã hội càng
có điều kiện để phát triển
Bước sang thời kỳ đổi mới, Nhà nước thực hiện chính sách
“Đa phương hóa, đa dạng hóa”, tức là thực hiện các chính sách
mở cửa, tăng cường giao lưu hợp tác với bên ngoài theo tinh
thần Việt Nam muốn làm bạn với các nước trên thế giới Kết quả
của các chính sách cải cách kinh tế này đã tạo điều kiện thuận
lợi cho mọi thành phần kinh tế khai thác các tiềm năng về nhân
tài, vật lực và kinh nghiệm quản lý, thúc đẩy nền kinh tế tăng
trưởng, thu hút được vốn đầu tư nước ngoài và một nguồn viện
trợ đáng kể phục vụ quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế -
xã hội
Tác động của cải cách kinh tế trong thời gian vừa qua đã
ảnh hưởng sâu sắc đến các hoạt động giáo dục Mở rộng các hình
Trang 16thức dịch vụ giáo dục - đào tạo: công lập, bán công, dân lập
cũng từ đó thúc đẩy tính năng động, sáng tạo và kích thích sự cố
gắng của hệ thống giáo dục - đào tạo của Nhà nước trong điều
kiện có cạnh tranh Cùng với việc cải cách kinh tế, Nhà nước
cũng đã thực hiện cải cách hệ thống giáo dục quốc dân, làm đa
dạng hóa các nguồn tài chính cung cấp cho hoạt động giáo dục -
đào tạo Ở thời kỳ này, nguồn tài chính bao gồm:
- Ng uồn ngân sách nhà nước
- Ng uồn ngoài ngân sách nhà nước
Các nguồn tài chính này ngày càng được hoàn thiện, phù
hợp với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội và kích thích sự
nghiệp giáo dục - đào tạo và y tế phát triển Suy cho cùng đầu tư
bằng nguồn tài chính nào thì người dân cũng phải trả các khoản
chi phí đó Nhưng mỗi nguồn đều có những thế mạnh và hạn chế
nhất định, nên phải sử dụng tổng hợp tất cả các nguồn tài chính
đó
1 1 Ng uồn ngân sách nhà nước
Trong cơ chế thị trường, ngân sách Nhà nước không còn là
ngân sách của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nhưng trong tất cả
các nguồn tài chính đầu tư cho hoạt động giáo dục thì nguồn
ngân sách Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo và quan trọng nhất,
có tính chất quyết định đối với việc hình thành, mở rộng và phát
triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo Được thể hiện:
Thứ nhất, chi phát triển văn hoá - xã hội trong đó có sự
nghiệp giáo dục-đào tạo là một trong những nội dung cơ bản
nhất của hoạt động chi ngân sách Nhà nước
Trang 17Như ta đã biết, Đảng và Nhà nước ta coi giáo dục - đào tạo
là: “quốc sách hàng đầu”, vì vậy đầu tư cho hoạt động giáo
dục-đào tạo cũng là ưu tiên hàng đầu và tại điều 89 của “Luật Giáo
d ục” đã nêu rõ: “Nhà nước dành ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí
n gân sá ch g iáo d ục, bảo đảm tỷ lệ ngân sách Nhà nước chi cho
g iáo d ục tăng dần theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo
d ục” Bên cạnh đó, nền kinh tế đa thành phần ở nước ta mới
được hình thành và phát triển, trong đó thành phần kinh tế quốc
doanh còn nhỏ bé nên sự đóng góp cho hoạt động giáo dục-đào
tạo còn nhiều hạn chế Mặt khác, hệ thống trường công của nước
ta còn chiếm tỷ lệ lớn, việc phát triển các trường bán công, dân
lập chưa nhiều, vấn đề “xã hội hoá sự nghiệp giáo dục-đào tạo”,
đa dạng hoá các loại hình trường, lớp chưa được phổ biến rộng
rãi, do đó chưa có khả năng thu hút được các nguồn đầu tư khác
cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo Chính vì vậy, nguồn đầu tư của
ngân sách Nhà nước trong những năm vừa qua vẫn chiếm ưu thế
trong tổng chi cho sự nghiệp giáo dục- đào tạo, nhằm duy trì và
phát triển hệ thống giáo dục-đào tạo theo định hướng của Đảng,
Nhà nước trong chiến lược phát triển chung của quốc gia
Thứ hai, đầu tư của ngân sách nhà nước như: xây dựng cơ
sở vật chất, tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu
một mặt tạo điều kiện để tăng về số lượng và từng bước nâng
cao chất lượng giáo dục - đào tạo Mặt khác, đây cũng là cơ sở
ban đầu để khuyến khích các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã
hội, các thành phần kinh tế đóng góp nhằm thực hiện phương
Trang 18châm: “Nhà nước và nhân dân cùng chăm lo phát triển sự nghiệp
g iáo d ục - đào tạo”
Thứ ba, ngân sách nhà nước còn có vai trò điều phối cơ
cấu của mỗi trường cũng như toàn hệ thống
Thông qua định mức chi ngân sách hàng năm cho sự nghiệp
giáo dục đã góp phần định hướng, sắp xếp cơ cấu mạng lưới
trường trong hệ thống giáo dục quốc dân, cơ sở vật chất của mỗi
trường và toàn hệ thống Tập trung ngân sách Nhà nước cho
những mục tiêu chương trình quốc gia như: chương trình xóa
mù, xác định hệ thống trường lớp, xây dựng trung tâm đào tạo có
chất lượng cao
Ngoài ra, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nguồn
vốn ngân sách Nhà nước đầu tư cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo
còn có quan hệ mật thiết với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã
hội
1 2 Ng uồn vốn ngoài ngân sách nhà nước
Sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, do dân, vì
dân Do đó, việc quan tâm đến sự nghiệp này là trách nhiệm của
toàn xã hội với định hướng phát triển sự nghiệp giáo dục - đào
tạo, thực hiện xã hội hoá trong giáo dục - đào tạo, đa dạng hoá
các nguồn vốn đầu tư cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo với
phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” Khi sự nghiệp
giáo dục - đào tạo có tính xã hội thì các tổ chức, doanh nghiệp,
cá nhân, gia đình, cộng đồng đều có trách nhiệm quan tâm góp
sức lực, trí tuệ, tiền của để phát triển sự nghiệp giáo dục
Trang 19Trong những năm vừa qua, chi ngân sách Nhà nước cho sự
nghiệp giáo dục - đào tạo có xu hướng tăng lên, nhưng vẫn chưa
đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển của sự nghiệp này Trên thực
tế, việc tăng chi cho sự nghiệp này chủ yếu bằng nguồn ngân
sách Nhà nước đã và đang tỏ ra không còn phù hợp với sự phát
triển đa dạng của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ
chuyển đổi và hội nhập hiện nay Chính vì lẽ đó, cần phải tích
cực huy động các nguồn lực tài chính ngoài ngân sách Nhà nước
để đầu tư cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo, những nguồn thu này
tuy chưa nhiều, chưa triệt để nhưng cũng đã góp phần đáng kể
vào việc phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo ở nước ta
Các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước đầu tư phát triển
sự nghiệp giáo dục - đào tạo bao gồm:
- Nguồn đầu tư của gia đình học sinh Nguồn gốc của
nguồn này là từ thu nhập của hộ gia đình, trích một phần để chi
tiêu cho việc học tập của con em họ Nguồn này bao gồm các
khoản sau:
+ Tiền học phí, lệ phí tuyển sinh của học sinh do gia đình
họ đóng góp (có ưu tiên miễn giảm cho những học sinh thuộc đối
tượng chính sách) Đây là nguồn cơ bản, chiếm tỷ trọng chủ yếu
trong nguồn ngoài ngân sách Nhà nước của các trường ở nước ta
hiện nay
+ Các khoản tiền mà các gia đình chu cấp cho con, em họ
để chi tiêu phục vụ việc học tập và sinh hoạt hàng ngày gồm:
tiền mua sách vở, tài liệu, phương tiện, đồ dùng học tập, tiền ăn,
ngoài ra còn tiền học thêm tin học, ngoại ngữ
Trang 20- Nguồn vốn của các đơn vị kinh tế, các doanh nghiệp tự bỏ
ra để đào tạo cán bộ, công nhân viên của mình
- Tiền ủng hộ của các cơ quan đơn vị, các doanh nghiệp
đầu tư cho các trường, lớp
- Tiền tài trợ của các tổ chức quốc tế thông qua các dự án
đào tạo Đây là nguồn tài chính có ý nghĩa không nhỏ trong phát
triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo ở nước ta trong những năm
vừa qua
- Tiền ủng hộ của các tổ chức Việt kiều ở nước ngoài Hàng
năm đồng bào ta ở nước ngoài ủng hộ hàng trăm suất học bổng
cho học sinh, sinh viên Việt Nam trị giá hàng tỷ đồng
- Các khoản được tặng biếu cho các trường bằng hiện vật
như: máy vi tính, đồ dùng thí nghiệm, giáo trình, giáo khoa
của các tổ chức kinh tế, đoàn thể và tổ chức xã hội
2 Vai trò của xã hội hoá đầu tư cho giáo dục
Nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước được hình thành từ
nhiều nguồn vốn khác nhau, do đó nguồn vốn này có vai trò đặc
biệt quan trọng trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục - đào
tạo Và nó được thể hiện ở các mặt sau đây:
Một là, nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước góp phần làm
tăng nguồn vốn đầu tư cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo, và làm
giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc chi cho sự
nghiệp giáo dục - đào tạo Phần lớn ngân sách giáo dục dùng để
chi trả lương cho cán bộ, giáo viên, phần chi cho cơ sở vật chất
và các hoạt động sự nghiệp còn lại quá ít Vì vậy, nguồn vốn
ngoài ngân sách nhà nước do học sinh đóng góp và được các tổ
Trang 21chức tài trợ, đóng một phần không nhỏ trong việc nâng cấp và
xây dựng mới cơ sở vật chất cho các cơ sở giáo dục - đào tạo,
cải thiện đời sống cán bộ giáo viên và học sinh nhằm đảm bảo
nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập Ngoài ra việc các
thành phần, các tổ chức kinh tế và các cá nhân đầu tư vào lĩnh
vực giáo dục - đào tạo cũng sẽ tạo ra những cơ sở vật chất cho
ngành giáo dục mà nhà nước không phải bỏ tiền ra để đầu tư
Ha i là , xã hội hoá đầu tư cho giáo dục có vai trò quan
trọng trong việc phát triển nhiều loại hình trường lớp, như bán
công, dân lâp, tư thục Các loại hình trường lớp này được mở ra
góp phần làm giảm sự quá tải cho các trường công lập
Ba là , thực hiện xã hội hoá đầu tư cho sự nghiệp giáo dục
đào tạo là thực hiện quan điểm “xã hội hoá sự nghiệp giáo dục -
đào tạo” của đảng và nhà nước, là giải pháp quan trọng để thực
hiện chính sách công bằng xã hội trong chiến lược phát triển
kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước Công bằng xã hội không
chỉ biểu hiện về mặt hưởng thụ, tức là người dân được xã hội và
nhà nước chăm lo, mà còn biểu hiện cả về mặt người dân đóng
góp, cống hiến cho xã hội theo khả năng thực tế của từng người,
từng địa phương
Bốn là, xã hội hoá đầu tư cho giáo dục giúp cho ngành
Giáo dục - Đào phát huy tính năng động của mình trong việc huy
động các nguồn tài chính đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục -
đào tạo
Trong điều kiện ngân sách nhà nước còn rất nhỏ bé và phải
chi cho nhiều lĩnh vực của nền kinh tế – xã hội, thì việc huy
Trang 22động mọi tầng lớp nhân dân, tổ chức kinh tế – xã hội, doanh
nghiệp đầu tư cho giáo dục - đào tạo là một biện pháp quan
trọng để phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo ở nước ta trong
giai đoạn hiện nay cũng như sau này
Trang 23CHƯƠNG II.HIỆN TRẠNG XÃ HỘI HOÁ ĐẦU TƯ CHO
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TẠI TỈNH HÀ TÂY
I ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIỆN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH
HÀ TÂY
1 Điều kiện tự nhiên, dân cư của tỉnh Hà Tây
1 1 Điều kiện tự nhiên
Hà Tây là tỉnh thuộc châu thổ sông Hồng bao bọc phía Tây
và Nam thủ đô Hà Nội Hà Tây có 12 huyện, 2 thị xã với 325 xã,
phường, thị trấn Diện tích tự nhiên khoảng 2.192 Km2, dân số
2,39 triệu người Địa hình chia làm hai vùng khác nhau: Địa
hình đồng bằng tập trung ở phía đông gồm 8 huyện thị xã với
tổng diện tích là 1.488 km2, địa hình đối núi phía tây gồm 6
huyện, thị xã với diện tích tự nhiên 704 km2
Về mặt tự nhiên, Hà Tây hình thành trong một không gian
với nhiều hình thái địa hình khác nhau đã tạo nên một vùng lãnh
thổ có sự tiềm năng về sự đa dạng sinh học: Có đồng bằng, có
đồi núi, có rừng, có hệ thống sông lớn bao quanh, các sông nhỏ
phân bố trên lãnh thổ Các điêu kiện này kết hợp với các lợi thế
Trang 24tự nhiên khác nhau như vị trí địa lý, đã tạo nên các thế mạnh về
sản xuất nông nghiệp
Hà Tây là tỉnh nằm cạnh Thủ đô Hà Nội và trong khu vực
kinh tế trọng điểm phía bắc, tạo cho Hà Tây có nhiêu thuận lợi:
Có một thị trường tiêu thụ lớn để có thể tiêu thụ các nông sản
hàng hoá, hàng tiểu thủ công mỹ nghệ, Hà Tây có đồng bằng phì
nhiêu có mức thâm canh cao, có vùng đồi gò với sinh thái đa
dạng nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú có thể phát triển
thành khu vực bảo tồn thiên nhiên động thực vật quý hiếm, tạo
môi trường cảnh quan thiên nhiên cho du lịch, nghỉ ngơi, vui
chơi, giải trí
1 2 Đặc điểm dân cư
Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 1999, thì dân số
của tỉnh Hà Tây là 2.378.438 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên
bình quân hàng năm là 1,5 %/năm Mật độ dân số trung bình tỉnh
Hà Tây 1.083 người/Km2, trong đó khu vực đồng bằng trên
1.000 người/Km2, vùng đồi núi 791 người/Km2 Dân số sống ở
nông thôn 2,2 triệu người chiếm gần 90%, sống ở thành thị hơn
10% Hà Tây có 9 xã đồng bào dân tộc, trong đó có 7 xã ở vùng
núi Ba Vì, 1 xã thuộc huyện Quốc Oai, 1 xã thuộc huyện Mỹ Đức
với số dân khoảng 30.000 người, chủ yếu là người dân tộc
Mường
Lao động trong độ tuổi năm 1996 là 1.147.800 nguời, năm
1999 là 1.292.000 người, trong đó 80% là lao động nông nghiệp,
tốc độ tăng bình quân là 2% Hà tây là tỉnh có nguồn lao động
dồi dào, số người lao động trong đội tuổi có xu hướng trẻ hoá,
Trang 25có 1/3 số xã trong tỉnh có làng nghề tiểu thủ công nghiệp với
200.000 lao động có tay nghề, chất lượng lao động ở nông thôn
có trình độ văn hoá khá, chất lượng lao động trong các cơ quan
quản lý nhà nước và khối kinh doanh đáp ứng được với yêu cầu
phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới
Bên cạnh nhưng thuận lợi, điều kiện tự nhiên và dân cư
cũng tạo ra nhưng khó khăn cho Hà Tây trong phát triển kinh tế
cũng như phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo:
- Có mật độ dân số cao, hiện tại kinh chủ đạo toàn tỉnh là
nông nghiệp, trong khi đó bình quân đất nông nghiệp trên đầu
người rất thấp chỉ có 514 m2
- Do vị trí địa lý và cấu tạo địa hình nên Hà Tây có một
phần lãnh thổ thuộc các huyện đồng bằng nằm trong vùng phân
lũ của quốc gia nên việc bố trí sử dụng, xây dựng cơ sở vật chất
cho các công trình gặp khó khăn như : trường lớ, đường xá
Đặc biệt là trong mùa lũ học sinh gặp rất nhiều khó khăm trong
việc đi lại và học tập
2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
Kể từ năm 1996 đến nay, nền kinh tế Hà Tây đã có những
bước chuyển biến tích cực Tổng sản phẩm trong tỉnh tăng bình
quân hàng năm 7,3%, năm 2000 GDP bình quân đầu nguời đạt
315 USD/năm, khu vực nông thôn đạt khoảng 150 USD/năm
Bình quân GDP/người của Hà Tây năm 2000 gần bằng 60% mức
bình quân cả nước và 48% bình quân vùng trọng điểm Bắc Bộ
Hà Tây là tỉnh có trình độ dân trí cao, sự nghiệp giáo dục
đào tạo phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, cả tỉnh có
Trang 26hơn 70.000 người đi học, chiếm gần 30% dân số Là tỉnh được
Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn quốc gia về xóa mù
chữ và phổ cập giáo dục tiểu học năm 1992, đạt chuẩn phổ cập
giáo dục tiểu học đúng độ tuổi năm 2000, đạt chuẩn phổ cập giáo
dục trung học cơ sở năm 2001 Người lao động được đào tạo
chiếm 14,5%
II ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
PHỔ THÔNG TẠI TỈNH HÀ TÂY
1 Giáo dục tiểu học
Do tốc độ tăng dân số tỉnh Hà Tây hàng năm vẫn ở mức
trên 1% nên số lượng học sinh đến trường vẫn ngày càng tăng,
tuy nhiên tốc độ tăng giảm dần, đặc biệt đến năm học 2001-2002
số lượng học sinh đã giảm so với các năm học trước Năm 1992,
toàn tỉnh có 305 trường tiểu học, đến năm 2002 có đến 350
trường, bình quân tăng 0,6%/năm Mỗi xã, phường trong tỉnh đều
có ít nhất 1 trường tiểu học, một số nơi ở mỗi cụm dân cư có 1
cụm lớp học, đảm bảo thuận tiện cho học sinh đi học Có thể
đánh giá số lượng trường, lớp, số học sinh tiểu học hiện nay qua
Trang 27Ngu ồn: Số liệu điều tra hiện trạng ngành giáo dục tháng 4/2002
Nhìn vào bảng số liêu trên ta có thể thấy số học sinh công
lập năm học 2001 – 2002 giảm 6,7% so với năm học 2000 –
2001 Số lớp công lập giảm 4,15% Số học sinh dân lập có tăng
nhưng tăng ít chỉ tăng có 8,13% tức là tăng 10 học sinh
Nhìn chung, việc đa dạng hóa các loại hình giáo dục ở hệ
tiểu học còn hạn chế, toàn tỉnh hiện mới có 1 trường tiểu học
dân lập với qui mô còn rất nhỏ Quá trính đa dạng hoá các loại
hình trường lớp ở cấp tiểu học của tỉnh còn diễn ra chậm, chưa
phát triển Nguyên nhân là do số trường công lập đã đáp ứng đủ
nhu cầu học tập của con em nhân dân trong tỉnh và số lượng
học sinh hàng năm không những không tăng mà có xướng giảm:
số học sinh từ năm 1991 đến năm 2001 giảm 39.792 học sinh (
khoảng 4.000 học sinh/năm), nhịp độ giảm bình quân số học sinh
vào giai đoạn 1996 – 2000 là 2,4%
Tỷ lệ học sinh tiểu học so với số trẻ em trong độ tuổi (6-10
tuổi) năm 1991 là 109%, năm 1995 là 108% và năm 2001 là
100,5% Điều này cho thấy kết quả của chương trình phổ cập
giáo dục tiểu học Sau 5 năm thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học
đúng độ tuổi, tỷ lệ trẻ nhập học và số học sinh tiểu học ổn định
dần, đến nay đã huy động được 99,8% trẻ 5 tuổi vào học lớp 1
Đội ngũ giáo viên tiểu học tỉnh Hà Tây những năm gần đây
phát triển nhanh, đảm bảo về số lượng, chất lượng và cơ cấu
giáo viên, đáp ứng nhu cầu dạy học Đặc biệt những năm gần
đây, số lượng giáo viên tiểu học đã thừa về số lượng và vẫn có
xu hướng gia tăng
Trang 28Ngu ồn: Sở Giáo dục và Đào tạo - 2001
Về đầu tư cơ sở vật chất: Theo chủ trương phân cấp đầu tư
xây dựng, cơ sở vật chất các trường tiểu học, trung học cơ sở
chủ yếu do ngân sách địa phương đầu tư nên cơ sở vật chất các
trường tiểu học còn nhiều khó khăn Năm học 2000-2001, toàn
tỉnh có 5.186 phòng học tiểu học, năm học 2001-2002 là 5.246
phòng Với số lượng phòng học như trên, về cơ bản đã đáp ứng
nhu cầu về lớp học hiện nay, không còn tình trạng học ca 3 Tuy
nhiên, chất lượng phòng học còn rất hạn chế, tỷ lệ phòng học
đảm bảo tiêu chuẩn còn thấp, số lượng phòng học cao tầng đủ
tiêu chuẩn chiếm tỷ lệ 28%, phòng cấp 4 trở lên chiếm 62%,
phòng học tạm chiếm 10%
Về đầu tư dụng cụ học tập: thiết bị, đồ dùng dạy và học còn
sơ sài, chủ yếu còn học chay
2 Hệ trung học cơ sở
Cũng như bậc tiểu học, hệ thống các trường trung học cơ sở
đã đảm bảo cho nhu cầu học tập của con em nhân dân trong tỉnh
Mỗi xã, phường trong tỉnh đều có ít nhất 1 trường trung học cơ
Trang 29sở, hầu hết là các trường công lập Số liệu về trường, lớp, học
sinh 2 năm học như sau:
Bảng 3: số lượng trường, lớp, học sinh trung học cơ sở
Chỉ tiêu Năm học 2000-2001 Năm học 2001-2002
Ngu ồn: Số liệu điều tra hiện trạng ngành giáo dục tháng 4/2002
Do thực hiện chính sách dân số – kế hoạch hóa gia đình
triệt để nên những năm gần đây số lượng học sinh trung học cơ
sở tăng chậm, tốc độ tăng giảm dần Năm học 2000-2001 có
203.074 học sinh, năm học 2001-2002 có 210.611 học sinh, như
vậy số học sinh chỉ tăng có 3,7% so với năm học 2000 – 2001
Số trường trung học cơ sở tăng đều hàng năm, nhưng mức
tăng thấp Năm 1992 có 318 trường, đến năm 2001 có 328
trường, như vậy trung bình hàng năm tăng là 0,31% trường, tức
là trung bình mỗi năm có một trường trung học cơ sở mới
Từ năm 1999, ngành giáo dục tỉnh bắt đầu thí điểm tuyển
sinh học sinh hệ bán công tại 14 trường THCS chất lượng cao
trong tỉnh, song việc đa dạng hoá các loại hình trường lớp còn
chận, toàn tỉnh mới chỉ có một trường dân lập liên cấp 2- 3, với
quy mô còn rất nhỏ: trường chỉ có 4 lớp với 113 học sinh và số
lượng học sinh không tăng qua hai năm học 2000 và 2001 Sau
Trang 30khi bắt đầu thí điểm tuyển sinh hệ bán công vào năm 1999 thì
đến năm 2001 đã có 44 lớp, với 2244 học sinh Số lượng và quy
mô trường lơp bán công còn hạn chế, năm 2001 số lớp bán công
chỉ bằng 0,86% số lớp công lập và chỉ thu hút được 1,06% tổng
số học sinh trung học cơ sở toàn tỉnh Tuy nhiên so với năm
2000 số lớp đã tăng 120%, và số học sinh tăng 136% Nhìn
chung, công tác thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường lớp
trung học cơ sở bước đầu đã có những kết quả tốt: phát triển
nhanh về số lớp cũng như số học sinh Tuy nhiên các quy mô của
loại hình bán công, dân lập còn nhỏ bé, chỉ có lớp bán công chứa
chưa có trường bán công, cơ sở vật chất của loại hình bán công
chủ yếu vẫn là của các trường công lập
Đội ngũ giáo viên trung học cơ sở những năm gần đây đang
dần được kiện toàn và tiêu chuẩn hóa Mặc dù số lượng giáo viên
hàng năm vẫn tăng cao hơn tốc độ tăng học sinh nhưng với hệ
trung học cơ sở thì số lượng giáo viên vẫn còn thiếu so với nhu
cầu Năm học 1998-1999 có 8.171 giáo viên, thiếu so với nhu
cầu 1.027 giáo viên; đến năm học 2000-2001 có 8.988 giáo viên,
thiếu so với nhu cầu là 443 giáo viên
Về đầu tư cơ sở vật chất: Theo chủ trương phân cấp trong
đầu tư xây dựng cơ sở vật chất ngành giáo dục, cơ sở vật chất
các trường trung học sơ sở chủ yếu do huyện và xã đầu tư nên cơ
sở vật chất các trường trung học cơ sở còn nhiều khó khăn Năm
học 2000-2001, toàn tỉnh có 3.469 phòng học, năm học
2001-2002 là 3.610 phòng Với số lượng phòng học như trên, về cơ
bản đã đáp ứng nhu cầu về lớp học hiện nay, không còn tình
Trang 31trạng học ca 3 Tuy nhiên, chất lượng phòng học còn rất hạn chế,
tỷ lệ phòng học đảm bảo tiêu chuẩn so với bậc học tiểu học có
cao hơn nhưng vẫn còn thấp so với tiêu chuẩn Số lượng phòng
học cao tầng đủ tiêu chuẩn chiếm tỷ lệ 50%, phòng cấp 4 chiếm
47%, phòng học tạm 3%
Về đầu tư dụng cụ học tập: thiết bị, đồ dùng dạy và học còn
sơ sài, chủ yếu còn học chay
3 Trung học phổ thông
Hiện nay toàn tỉnh có 58 trường trung học phổ thông, mỗi
huyện, thị xã đều có ít nhất 2 trường, so với năm 1997 tăng 13
trường Việc đa dạng hoá các hình thức giáo dục đối với bậc
trung học phổ thông đã bước đầu có kết quả, tỷ lệ trường bán
công, dân lập chiếm 19% (8 trường bán công, 3 trường dân lập)
Từ năm 1999 đến năm 2000 có thêm 2 trường bán công mới, tăng
33,3% so với năm trước, đến năm 2001 số trường bán công và
dân lập không tăng Năm 1999 chỉ có 468 lớp với số lượng học
sinh là 24.636, chiếm 27,2% tổng số lớp học toàn tỉnh và 28,3%
tổng số học sinh toàn tỉnh Đến năm 2000 số lớp học tăng lên
628 lớp với 33.697 học sinh, chiếm 33,3% tổng số lớp học và
33,7% tổng số học sinh Như vậy đến năm 2000 số lớp học đã
tăng 34,2% và số học sinh tăng 36,8% so với năm 1999 Tuy
nhiên đến năm 2001 số lớp bán công đã giảm 35 lớp, tức là giảm
5,6% so với năm 2000 và số học sinh cũng giảm 2688 học sinh,
tức là giảm 8% Nguyên nhân là do số học sinh tăng ít 1,4%,
trong khi đó số lớp công lập năm 2001 tăng 93 lớp, tức là tăng
Trang 327,5% so với năm 2000 Số lớp học này đã thu hút 3465 học sinh,
tăng 5,3% so với năm 2000
Nhìn chung quá trình đa dạng hoá các loại hình trường lớp
ở cấp trung học phổ thông phát triển khá mạnh mẽ cả về quy mô,
tốc độ và chất lượng Các trường, lớp bán công này đã góp một
phần không nhỏ cho sự nghiệp giáo dục của tỉnh trong những
năm qua Hàng năm thu hút hàng chục nghìn học sinh, góp phần
làm giảm sự quả tải cho các trường công lập Tuy nhiên các
trường dân lập qui mô còn nhỏ, mới chỉ có 3 trường với 17 lớp,
các trường dân lập này chưa thu hút được nhiều học sinh ( ở cả 3
chỉ thu hút được 885 học sinh ); các trường bán công vẫn chưa
tách được cơ sở vật chất ra khỏi các trường công lập
Giai đoạn 1996-2000, số lượng học sinh trung học phổ
thông tăng 12,9%, những năm gần đây xu hượng này giảm dần,
năm học 2001-2002 tăng so năm học trước 1,01% Số lớp học
tăng bình quân 11,9% nên chưa đáp ứng được tiêu chuẩn về số
học sinh/lớp Bình quân học sinh/lớp năm học 2000-2001 là 52,5
học sinh, vượt so với tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục qui định 45
học sinh/lớp
Đội ngũ cán bộ, giáo viên bậc trung học phổ thông hầu hết
đã đạt chuẩn quốc gia Măc dù hàng năm số lượng giáo viên
trung học phổ thông vẫn tăng nhưng không tăng kịp với số lớp
học nên số giáo viên đã thiếu lại tiếp tục có xu hướng thiếu
thêm Năm học 1999-2000 có 2.278 giáo viên, thiếu so với nhu
cầu 301 giáo viên; năm học 2000-2001 có 2.301 giáo viên, thiếu
309 giáo viên