Ước tính hàng năm tiêmchủng đã cứu sống khoảng 1 triệu trẻ em ở các nước đang phát triển [1] Chương trình tiêm chủng mở rộng được triển khai ở Việt Nam từ năm 1981 được sự hỗ trợ của Tổ
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới năm 1997 tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổitrên thế giới vẫn còn cao 6,1%, trong đó các nước công nghiệp 0,7%, cácnước phát triển 6,7% và các nước kém phát triển 10,9%
Tiêm chủng phòng bệnh bằng các vaccine là một thành tựu trong y học
ở thế kỷ XX, có ý nghĩa to lớn trong Y học dự phòng Chương trình tiêmchủng mở rộng đã góp phần làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc và chết của trẻ emdưới 1 tuổi và 5 tuổi về các bệnh truyền nhiễm Ước tính hàng năm tiêmchủng đã cứu sống khoảng 1 triệu trẻ em ở các nước đang phát triển [1]
Chương trình tiêm chủng mở rộng được triển khai ở Việt Nam từ năm
1981 được sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới và Quỹ nhi Đồng liên HiệpQuốc với vaccine phòng 6 bệnh truyền nhiễm: Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván,Sởi, Lao, Bại liệt cho trẻ em dưới 1 tuổi Năm 1985 tiêm chủng mở rộng đượcđẩy mạnh và triển khai trên phạm vi cả nước Mục tiêu tiêm chủng mở rộng
đã hoàn thành với tỷ lệ 87% năm 1990 và trên 90% vào năm 1993 cho toàntrẻ em dưới 1 tuổi trong cả nước được tiêm chủng đầy đủ 6 loại vaccin Năm
2003 có 100% số huyện trên cả nước được tiêm vaccine viêm gan B Năm
2004 tỷ lệ tiêm 3 mũi viêm gan B đạt 94,2% Từ đó vaccine viêm gan B đượccoi là vaccine thứ 7 trong chương trình tiêm chủng mà trẻ em Việt Nam dưới
1 tuổi phải được tiêm chủng đầy đủ [2]
Chương trình tiêm chủng mở rộng không chỉ bảo vệ sức trẻ em mà còn
có ý nghĩa chính trị xã hội và quan hệ quốc tế quan trọng [3] Là một trongnhững chương trình y tế Quốc gia ưu tiên hàng đầu và được đưa vào 10 nộidung chăm sóc sức khỏe ban đầu, đã mang lại thành công lớn trong việc giảm
tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết ở trẻ em do 7 bệnh truyền nhiễm phổ biến gây ra ViệtNam ta đã thanh toán bại liệt năm 2000, dần dần loại trừ Uốn ván sơ sinh vàtiến tới khống chế bệnh Sởi
Trang 2Nâng cao sức khỏe con người là nhiêm vụ trọng tâm của ngành y tế, sựnghiệp chăm sóc sức khỏe là sự nghiệp của toàn xã hội Trong những nămqua được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, chính quyền các cấp, sự phối hợpcủa các ban ngành, ngành y tế đã đạt một số thành tích trong công tác chămsóc sức khỏe nhân dân nói chung và công tác tiêm chủng nói riêng.
Đông Giang là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh QuảngNam, chủ yếu là người dân tộc CơTu sống bằng nghề nông Công tác tiêmchủng mở rộng luôn đạt chỉ tiêu trên 96% trong nhiều năm Năm 2007 tiêmchủng đầy đủ là 97,25% đạt chỉ tiêu, tuy nhiên tiến độ tiêm chủng hàng thánggiao động từ 6 - 8%, nhất là chênh lệch giữa các mũi tiêm [18] Phải chăngđiều này có liên quan đến hiểu biết của các bà mẹ về tiêm chủng Do đó việctìm hiểu kiến thức về tiêm chủng mở rộng của các bà mẹ có con dưới 1 tuổicủa huyện Đông Giang là yêu cầu cần thiết
Vì vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu kiến thức về tiêm chủng mở rộng của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam”.
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Xác định tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng phòng 7 bệnh truyền nhiễm ở huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam
2 Đánh giá kiến thức về tiêm chủng mở rộng của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi ở huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam
Trang 3Chương 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Chương trình tiêm chủng mở rộng
Chương trình tiêm chủng mở rộng (CTTCMR: Expanded Programe onImmunization: EPI) là một trong những chương trình bảo vệ sức khỏe ở ViệtNam, mục tiêu nhằm hạn chế tỷ lệ mắc bệnh, giảm tử vong và di chứng 7bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trẻ em: Bại liệt, bạch hầu, ho gà, sởi, lao, uốnván sơ ván sơ sinh và gần đây là viêm gan siêu vi B Nhằm tiến đến loại trừuốn ván sơ sinh và khống chế bệnh sởi bằng cách gây miễn dịch chủ độngbằng vắc xin trẻ em, phụ nữ có thai, nữ 15 - 35 tuổi (tại các huyện điểm) Đối tượng của chương trình TCMR là trẻ em dưới 1 tuổi, phụ nữ mangthai và nữ 15 - 35 tuổi (lứa tuổi trong độ tuổi sinh đẻ có thể chưa có gia đìnhthì được tiêm 3 liều vắc xin uống ván hoặc đã có gia đình với 1 con đầu tiên
và đã tiêm 2 liều vắc xin phòng uốn ván thì được tiêm 1 liều nữa) tại cáchuyện điểm trên toàn quốc Tiêu chuẩn để chọn huyện điểm là huyện có nhiều
ca đỡ đẻ tại nhà nhất, có tỷ lệ tiêm vắc xin liều thứ hai thấp nhất, có ca uốnván sơ sinh được báo cáo liên tục trong 3 năm qua [5]
1.2.Các hình thức tiêm chủng mở rộng:
- Tiêm chủng thường xuyên:Một hình thái của tiêm chủng được tổ chứcthường xuyên cố định vào các ngày 25-30 hàng tháng tùy điều kiện từng địaphương Chiến lược này chủ yếu ở thành phố, đồng bằng, nơi đông dân cư cónhiều điều kiện thuận lợi
- Tiêm chủng định kỳ :Tại những vùng khó khăn về giao thông, cơ sở y
tế, điện…đặc biệt là các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, áp dụng hình thứctiêm chủng định kỳ Đây là hình thức tiêm chủng mang tính đối phó với cáckhó khăn của một số vùng đặc biệt để nâng cao tỷ lệ tiêm chủng Hình thứcnày ngày càng được thay thế bằng hình thức tiêm chủng thường xuyên đểnâng cao chất lượng của dịch vụ TCMR
Trang 4- Tiêm chủng chiến dịch : Đây là hình thức tiêm chủng đồng loạt cho
đối tượng lớn, trên phạm vi rộng trong một thời gian ngắn Hình thức tiêmchủng này được áp dụng trong chiến dịch những ngày tiêm chủng toàn quốc
để thanh toán bệnh bại liệt, chiến dịch tiêm nhắc mũi 2 vaccin Sởi cho trẻ em
từ 9 tháng đến 10 tuổi nhằm đạt mục tiêu loại trừ Sởi vào năm 2010
1.3 Tình hình tiêm chủng mở rộng trên thế giới
Kỷ nguyên của tiêm chủng bắt đầu từ năm 1796 khi một thầy thuốcngười Anh ở nông thôn tên là Edward Jenner, đã cấy cho một đứa trẻ 8 tuổinhững chất tiết lấy từ tổn thương của bệnh đậu bò và cho thấy rằng đứa trẻ đãđược bảo vệ chống lại bệnh đậu mùa Sau khi tiến hành thí nghiệm này nhiềulần với một kết quả giống hệt nhau, năm 1798 Jenner công bố kết quả nghiêncứu vaccine phòng bệnh đậu mùa Đến năm 1810, nhiều nước ở Châu Âu đãthực hiện tiêm chủng bắt buộc đối với bệnh đậu mùa Bệnh đậu mùa là bệnhđầu tiên trên thế giới thanh toán được trong thập niên 70 của thế kỷ XX, đếnnay toàn thế giới chưa phát hiện bệnh đậu mùa quay trở lại [19] Đây là mộtkết quả có ý nghĩa lớn cho nền y học và là cơ sở cho việc thanh toán các bệnhtruyền nhiễm nguy hiểm trên toàn thế giới sau này
Gần một thế kỷ sau phát minh của Jenner, Louis Pasteur phát hiện rarằng người ta có thể thu được tác nhân gây miễn dịch bằng cách bất hoạt visinh vật gây bệnh nhiễm trùng và ông gọi chúng là những vaccine Năm 1885,sau khi đã thử trên súc vật một vaccine sản xuất từ vi rút bất hoạt gây bệnhdại, ông Louis Pasteur đã đem thử nghiệm cho một đứa trẻ 9 tuổi bị thươngrất nặng do chó dại cắn và chắc chắn đứa trẻ này sẽ tử vong Đứa trẻ đượctiêm 14 mũi vaccine và không bị bệnh dại Từ năm 1890, những thành phốlớn trên thế giới đã có những trung tâm tiêm chủng phòng bệnh dại và có thểnói cho đến nay bệnh dại đã được khống chế một cách hiệu quả
Trong thế kỷ XX, nhiều loại vaccine đã được tạo ra và chương trìnhTCMR đã thu hút được nhều thành công Năm 1921 Albert Calmette và
Trang 5Calmille Guerín đã thành công trong việc tạo ra một chủng vi khuẩn lao giảmđộc lực, và từ đó sản xuất vaccine BCG Việc tiêm BCG đã nhanh chóng triểnkhai ở nhiều nước để phòng bệnh lao cho cộng đồng Chỉ trong năm 1955 hơn
60 triệu người trên thế giới đã được tiêm phòng BCG Năm 1923 GastonRamon đã phát hiện ra độc tố vi khuẩn gây bệnh uốn ván và bạch hầu bất hoạtbằng Formandehyde (gọi là giải độc tố) và có thể dung để phòng bệnh đó.Năm 1925 vaccine phòng bệnh ho gà ra đời, tiếp theo là sự ra đời của vaccinephòng bệnh sốt vàng vào năm 1930 Chỉ trong những năm 40, hơn 20 triệungười Tây Phi đã được phòng bệnh sốt vàng, cho phép khống chế về cơ bảnbệnh dịch này tại khu vực Tây Phi Vaccine bại liệt được thử nghiệm và sau
đó sử dụng rộng rãi trên thế giới năm 1950 Với việc sử dụng vaccine phòngbệnh bại liệt nhanh chóng được đưa vào chương trình tiêm chủng phòng bệnh.Cho đến nay, hầu hết các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới đãtuyên bố thanh toán bệnh bại liệt Tuy nhiên đây là một trong những tháchthức của một số nước Châu Phi, Châu Á chưa thanh toán bệnh bại liệt là đang
có nguy cơ tiềm ẩn cho các nước đã thanh toán bệnh bại liệt quay trở lại [17].Hiện nay có nhiều vaccine gây miễn dịch chủ động phòng chống các bệnhtruyền nhiễm Những vaccine được dùng phổ biến trong chương trình TCMRcủa nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam bao gồm: Vaccine BCG,bại liệt, sởi và DPT… đó là những vaccine WHO và UNICEF muốn làm chophổ cập đến tất cả mọi người
Chương trình TCMR được WHO chính thức thành lập và triển khai từnăm 1974 chủ yếu phòng các bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, lao,sởi…Thực tế cho thấy chương trình tiêm chủng hàng năm đã cứu sống hàngtriệu trẻ em ở các nước đang phát triển, tuy vậy vẫn còn hơn 3.5 triệu trẻ em
bị tử vong hoặc tàn phế mà lẽ ra có thể phòng tránh được bằng tiêm chủngvaccine phòng bệnh [1],[10] Tháng 5 năm 1977 Chương trình TCMR đượcWHO xác định mục tiêu quan trọng là: “ Giảm tỷ lệ tử vong có thể quy cho 6
Trang 6bệnh: bạch hầu, ho gà uốn ván, bại liệt, sởi, lao bằng cách tạo miễn dịch chotất cả các trẻ em trên toàn cầu năm 1990 Đây là những bệnh mà hàng nămtrong thập niên 70 của thế kỷ XX ước tính đã giết hại và gây ra tàn phế chohàng triệu trẻ em Việc tiêm chủng phòng ngừa các bệnh trên vừa hiệu quả,vừa an toàn và thực tế các nước đã cho thấy các trường hợp mắc, chết của 6bệnh giảm đi một cách nhanh chóng khi hầu hết các trẻ em được tiêm vaccinephòng bệnh Theo dự đoán của WHO, nếu tiêm chủng cho trẻ em trên toànthế giới, có thể cứu sống 3 triệu trẻ em trên toàn thế giới [24].
Chương trình TCMR đã được WHO xác định là 1 trong 8 nội dungchăm sóc sức khỏe ban đầu theo tuyên ngôn Alma- Ata năm 1978, kêu gọi vàvận động các nước thành viên thực hiện chương trình có ích trong khuôn khổhoạt động, nhằm thực hiện mục tiêu “Sức khỏe cho mọi người năm 2000”.Mục đích của chương trình này là mở rộng, phát triển công tác tiêm chủngcho toàn thể trẻ em trên toàn thế giới, đặc biệt là trẻ em ở các nước đang pháttriển sẽ được tiêm phòng 6 loại vaccine phòng 6 bệnh truyền nhiễm [25]
Cho đến nay các nước thành viên liên hợp quốc đều có chương trìnhTCMR, trong đó có Việt Nam đã đạt được mục tiêu phổ cập tiêm chủng chotrẻ em dưới một tuổi Cách đây hai thập kỷ có 5% trẻ sơ sinh ở các nước đangphát triển được tiêm chủng miễn dịch phòng 6 bệnh chính Ngày nay tỷ lệtiêm chủng trên toàn thế giới đã đạt được 80% [21], đây là một đỉnh cao thànhtựu và các bệnh truyền nhiễm ở trẻ em đã được đẩy lùi một cách đáng kể
1.4 Tình hình tiêm chủng mở rộng ở Việt Nam
Ở Việt Nam chương trình TCMR được đưa vào 10 nội dung chăm sócsức khỏe ban đầu, là một trong những chương trình y tế quốc gia được ưu tiênhang đầu và được triển khai rất sớm từ những năm 1981 Với sự giúp đỡ củaQuỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) và Tổ chức y tế thế giới(TCYTTG), sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng, nhà nước và sự tham gia tích cựccủa các cấp chính quyền, các ban ngành đoàn thể, hưởng ứng tích cực của
Trang 7nhân dân và các gia đình có con diện tiêm chủng, chương trình TCMR đãđược triển khai khắp cả nước trong những năm qua [1], [2], [5], [10], [21].Chương trình đã và đang phát huy có hiệu quả, góp phần bảo vệ sức khỏe thế
hệ trẻ, hạ một cách rõ rệt tỷ lệ mắc/ chết 6 bệnh truyền nhiễm trẻ em, giảmbớt chi tiêu về điều trị [33], [34]
Chương trình TCMR ở nước ta hoạt động theo bốn thời kỳ [3],[18],[27],[28]:
Trong những năm đầu, việc thực hiện tiêm chủng có rất nhiều khókhăn song Đảng, nhà nước, cán bộ y tế và nhân dân dân ta đã cố gắng vượtqua những trở ngại khó khăn đã đưa vaccine đến tận những vùng xa xôi, hẻolánh để tiêm chủng cho trẻ Những nơi có điều kiện tổ chức tiêm chủngthường xuyên, có thể vừa kết hợp tiêm chủng thường xuyên và tiêm chủngchiến dịch Tỷ lệ tiêm chủng được là 80% ở trẻ em trong độ tuổi tiêm chủngtrong cả nước là rất cao so với thực trạng nền kinh tế đất nước ta lúc bấy giờ
Từ năm 1989 chuyển sang tiêm chủng thường xuyên kết hợp tiêm chủngchiến dịch và đã duy trì tiêm chủng ở tỷ lệ cao [2],[7]
Trước năm 1985, điạ bàn thực hiện tiêm chủng chỉ giới hạn trong 1313
xã, phường thuộc 166 huyện, đến năm 1990 đã triển khai được ở 8933 xã,
Trang 8thuộc 522 huyện trong cả nước Đến năm 1995 toàn quốc đã xóa xã trắng vềTCMR Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi tiêm chủng ngày càng cao, những năm cuốithế kỷ XX tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ luôn đạt trên 90%.
Bảng 1.1 Kết quả tiêm chủng những năm cuối thế kỷ XX
Viêm gan vi rút B và viêm não Nhật Bản là những bệnh đang lưu hành
và đe dọa đến sức khỏe và tính mạng trẻ em…Những nguy cơ trên đòi hỏiViệt Nam cần nổ lực hơn nữa trong việc thực hiện TCMR, không những phảiđảm bảo tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ mà còn phải đặc biệt chú trọng đến chấtlượng công tác tiêm chủng, an toàn tiêm chủng và quan trọng hơn nữa là tiêmchủng đúng lịch
Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo tất cả các nước cần đưa vaccine viêmgan B vào chương trình TCMR cho trẻ em dưới 1 tuổi Năm 1997, vaccineviêm gan B được đưa vào chương trình tiêm chủng tại Việt Nam Tuy nhiên,
Trang 9hàng năm TCMR mới chỉ đủ vắc xin cho khoảng 20% số trẻ dưới 1 tuổi trong
cả nước [11] Năm 2003 vắc xin viêm B đã được triển khai trên phạm vi toànquốc với sự giúp đỡ về vaccine, dụng cụ tiêm chủng của Liên minh toàn cầu
về vaccine tiêm chủng (GAVI)
1.5 Tình hình tiêm chủng mở rộng tỉnh Quảng Nam
Quảng Nam là một tỉnh nằm ở miền trung trung bộ dân số 1.489.279người, toàn tỉnh có 2 thành phố (Tam Kỳ, Hội An) và 16 huyện, trong đó có 8huyện miền núi và 8 huyện đồng bằng Phía Đông giáp biển đông, Phía Tâygiáp nước bạn Lào, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi huyện Nam Đông ThừaThiên-Huế Chương trình TCMR được triển khai 100% các xã trong toàn tỉnh,trong đó ở 8 huyện miền núi có tình hình kinh tế và dân trí còn thấp, đường sá
đi lại rất khó khăn gây ảnh hưởng lớn đến việc triển khai các chương trình y
tế Quốc Gia nói chung và chương trình TCMR nói riêng Chỉ tiêu tiêm chủngđầy đủ của các huyện miền núi còn thấp, tuy vậy nhưng ngành y tế toàn tỉnh
đã thực hiện tiêm chủng đầy đủ trong năm 2008, tỷ lệ BCG đạt 90,4%; tiêmchủng đầy đủ đạt 89,9%, tiến độ cao hơn so với năm 2007 (84,7%) Tỷ lệtiêm VG B1 < 24h đạt 9,9% còn thấp so với chỉ tiêu 40%; là do các sự cố xảy
ra trùng hợp sau tiêm chủng, chính điều này cũng ảnh hưởng kết quả VG B3
Bộ y tế đã có công văn chỉ đạo các bệnh viên tiếp tục triển khai tiêm VG B1trong vòng 24h [1] Chỉ đạo của Sở Y tế trong những năm đến toàn tỉnh duytrì thành quả thanh toán bại liệt năm 2000, bảo vệ thành quả loại trừ uốn ván
sơ sinh năm 2005, 100% các huyện đạt tỷ lệ UVSS < 1/1.000 trẻ sống, giảm
tỷ lệ mắc sởi < 0,8 < 100.000 dân, giảm tỷ lệ mắc Bạch hầu < 0,05/100.000dân, giảm tỷ lệ mắc Ho gà xuống < 0,5/100.000 dân, tỷ lệ phát hiện LMC >1/100.000 trẻ 15 tuổi, phát hiện nghi sởi > 2/100.000 dân, 100% ca bệnh trongchương trình được điều tra giám sát [5]
1.6 Tình hình tiêm chủng mở rộng của huyện Đông Giang
Trang 10Đông Giang là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh QuảngNam, phía Đông giáp huyện Hoà Vang thành phố Đà Nẵng, phía Tây giáphuyện Nam Giang, phía Bắc giáp huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam và huyệnNam Đông Thừa Thiên- Huế, dân số 23.390.000 người, chủ yếu là người dântộc CơTu sống bằng nghề nông Huyện có 11 xã, trình độ dân trí thấp, thunhập kém, gây ảnh hưởng lớn đến tình hình TCMR của huyện.
1.6.1 Kết quả TCMR tại huyện Đông Giang từ năm 2005-2008
Bảng 1.2 Tình hình TCMR tại huyện Đông Giang 2005-2008
Năm Tổng số trẻ Tiêm chủng đầy
1.7 Dịch tễ học 7 bệnh truyền nhiễm trong chương trình TCMR
1.7.1 BệnhSởi:
Sởi là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút sởi thuộc họ Paramixovirutinfluenzae, giống Morbillivirut gây nên, bệnh thường gặp ở trẻ em Bệnh lâyqua đường hô hấp gây ra Trong năm 2001, ước tính khoảng 30 triệu trườnghợp mắc sởi trên thế giới và 745.000 trường hợp tử vong có liên quan tớibệnh sởi Bệnh sởi gây tử vong cao hơn so với các bệnh khác trong chương
trình TCMR Việt Nam đạt mục tiêu phòng chống sởi vào năm 1995 và cam
kết thực hiện mục tiêu loại trừ sởi vào năm 2010 TCMR cũng đặt ra mục tiêuđến năm 2010, Việt Nam sẽ loại trừ bệnh sởi, do vậy ngay từ năm 2006, việctiêm nhắc vaccin sởi mũi 2 đã được đưa vào lịch tiêm chủng thường xuyêncho trẻ bắt đầu vào lớp 1 [27],[30]
Trang 11Cách thức lây truyền từ người sang người, chủ yếu qua đường phân –miệng, đôi khi thực phẩm và các thức ăn khác bị nhiễm phân là vật truyềnbệnh Với đặc điểm trên, bệnh bại liệt là một trong những bệnh truyền nhiễmnguy hiểm ở trẻ em, nếu mắc có thể bị tử vong hoặc tàn phế suốt đời, là gánhnặng cho gia đình và xã hội.
Do kết quả của chương trình TCMR và sáng kiến của Tổ chức Y tế thếgiới về thnh toán bệnh bại liệt toàn cầu, số nước có vi rút bại liệt hoang dạingày càng giảm
Bệnh xảy ra quanh năm và ở mọi lứa tuổi, chủ yếu bệnh của trẻ em, 70– 80 % các trường hợp mắc bệnh là trẻ dưới 3 tuổi Ghi nhận những trườnghợp bại liệt qua báo cáo hang năm của thế ngày càng giảm
Việt Namđã được Tổ chức Y tế thế giới công nhận đã thanh toán đượcbệnh bại liệt vào năm 2000 Tuy nhiên công tác duy trì tỷ lệ uống vaccine bạiliệt đầy đủ cho trẻ mới sinh và giám sát các trường hợp liệt mềm cấp (LMC)vẫn duy trì để phát hiện sớm những trường hợp từ vùng khác xâm nhập vào
để đề ra các giải pháp chống dịch thích hợp
1.7.3 Uốn ván
Uốn ván là một bệnh nhiễm trùng do vi rút Clostridium tetani gây ra
Vi khuẩn phát triển tại các ngõ vào (các vết thương, cuống rốn trẻ sơ sinh) tiết
ra những độc tố làm tổn thương những tế bào thần kinh vận động của thầnkinh trung ương gây ra co cứng và co giật toàn thân Mọi người đều có thể
Trang 12mắc bệnh uốn ván Ở các nước công nghiệp phát triển bệnh tương đối ít gặp
và có tính chất tản phát Tỷ lệ chết/mắc tăng theo tuổi từ 27% ở những người40- 49 tuổi cho tới 80% ở những người trên 80 tuổi [22]
Trên thế giới hàng năm có khoảng 500.000 trẻ em chết vì uốn ván sơsinh, cứ mỗi phút có 1 trẻ em chết [18] Đặc biệt tình hình mắc uốn ván sơsinh tại Việt Nam cũng như các nước đang phát triển có tỷ lệ chết/ mắc uốnván sơ sinh rất cao
1.7.4 Bạch hầu
Bạch hầu là một bệnh nhiễm trùng cấp tính do vi khuẩnCorynebacterium diphtheria gây ra Bệnh lây do tiếp xúc với người bệnh hoặcngười lành mang trùng qua đường hô hấp, có thể lây do tiếp xúc với đồ vật
có dính chất bài tiết từ chỗ tổn thương của người bị nhiễm khuẩn, sữa tươisống, có thể là một phương tiện lây truyền
Bạch hầu gây ra nhiều biến chứng do độc tố, nhất là biến chứng viêm
cơ tim đưa đến tử vong cao, viêm giác mạc, nghẽn đường thở hoặc gây liệtthần kinh sọ não, thần kinh vận động ngoại biên, tỷ lệ tử vong trong vòng 50năm nay ít thay đổi, tỷ lệ từ 5-10% [22]
Bệnh xảy ra trên toàn cầu, cao nhất vào mùa thu, bệnh xuất hiện 80% ởtrẻ dưới 15 tuổi không được tiêm chủng Những năm đầu thập kỷ 80 của thế
kỷ XX tỷ lệ mắc bệnh bạch hầu tăng lên ở Liên Xô cũ bởi ví chương trìnhchủng ngừa vắc xin cho trẻ em bị phá vỡ Bắt đầu từ năm 1990 dich bạch hầu
đã xảy ra ở Nga và Ucraina Ở nước ta theo số liệu của Viện Vệ sinh Dịch tễTrung Ương, con số mắc trung bình hàng năm từ 1976- 1980 là 3,02 %, từ1981- 1983 số mắc tăng lên 5,4 %
1.7.5 Ho gà
Ho gà là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính đường hô hấp do vi khuẩnBordetella pertusis gây nên, là một bệnh phổ biến ở mọi nơi trên thế giới nhất
Trang 13là vùng khí hậu ôn đới Bệnh xảy ra quanh năm, nhưng thường vào mùa đôngxuân.
Ho gà lây trực tiếp từ người qua người như trong cùng một gia đình,trường học, gây mạnh nhất vào giai đoạn viêm long, giảm dần tuần thứ ba saukhi bắt đầu ho, không có tình trạng mang mầm bệnh mãn tính
Biến chứng của bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ và dễ gây tử vong, đặc biệt
ở trẻ còn bú, càng nhỏ càng tử vong cao, co giật có thể xảy ra do giảm cungcấp oxy cho não trong cơn ho hoặc do độc tố vi khuẩn, biến chứng nhẹ hơn làviêm tai giữa và mất nước
Tại Việt Nam tỷ lệ mắc giảm nhiều sau khi triển khai chương trìnhTCMR Năm 2000 có 1.426 trường hợp, năm 2001 có 1125 trường hợp.Phòng bệnh ho gà cho trẻ nhỏ hiệu quả nhất là gây miễn dịch cho tất cả trẻ emdưới 1 tuổi
và không gây nhiễm lao cho người khác [17]
Bệnh lao lây truyền qua đường hô hấp khi người mắc bệnh lao ho hoặchắt hơi, mầm bệnh phát tán vào không khí Người hít phải không khí có vikhuẩn lao có thể bị nhiễm lao Ở một vài nơi người ta có thể bị nhiễm lao từsúc vật bị bệnh do dung sữa không tiệt trùng có chứa vi trùng lao
Khoảng 2 tỷ người mắc bệnh lao trên thế giới, hơn 3 triệu người chếtvào năm 1995 [17], hang năm có khoảng 8 triệu trường hợp mắc mới và làm
Trang 142,9 triệu người tử vong do bệnh lao [28] Tỷ lệ mắc và mắc tử vong tăng lêntheo độ tuổi, người già tỷ lệ mắc/ chết cao hơn, nam cao hơn nữ Tỷ lệ mắcbệnh lao ở người nghèo cao hơn nhiều và thành thị cao hơn nông thôn Đốivới những trẻ bị nhiễm lao, nguy cơ tiến triển thành bệnh là 10%.
Việc sử dụng rộng rãi vaccine BCG trên thế giới đã trở thành biện phápphòng lao có hiệu quả cho trẻ em nhất là trong nhiễm khuẩn lao cấp tính Sựchủng ngừa BCG bảo vệ trên 70% trẻ chống lại sự nhiễm trùng lao, tiếp theosau trong vòng từ10-15 năm
1.7.7 Viêm gan siêu vi B
Sự phân chia các vùng dịch tễ nhiễm siêu vi viêm gan B chủ yếu dựavào tỷ lệ người mang HBsAg, anti HBs Việt Nam được xếp vào vùng dịchlưu hành cao với tỷ lệ HBsAg từ 15-20% theo một số nghiên cứu của các tácgiả như Trần Thị Chính, Phạm Hoàng Phiệt, Nguyễn Thu Vân [26]
Đường lây truyền của vi rút viêm gan B xảy ra ở những vùng dịch lưuhành cao chủ yếu theo chiều dọc từ mẹ sang con, tình trạng nhiễm tăng dầntheo tuổi
Những người mang vi rút mạn tính có khả năng bị xơ gan, viêm ganmãn, ung thư gan nguyên phát Việc điều trị viêm gan siêu vi B vẫn còn hạnchế Do đó, biện pháp phòng ngừa bằng cách chủng ngừa vaccine viêm gan B
là biện pháp tích cực nhất
Căn cứ vào tình hình dịch tễ của viêm gan siêu vi B, trong khu vựcChâu Á- Thái Bình Dương đã đưa ra khuyến cáo:
- Trẻ sơ sinh < 10 tuổi không cần xét nghiệm trước khi tiêm chủng
- Trẻ > hoặc bằng 10 tuổi và người lớn cần xét nghiệm HBsAg (-) thìtiếp tục thử anti HBs
Thử anti HBs: Nếu anti HBs (-) thì chủng ngừa; nếu (+) thì không chủngngừa Hàm lượng anti HBs < 10 IU/ml thì không có giá trị bảo vệ khỏi nhiễmmới vi rút viêm gan B
Trang 15Chính phủ Việt Nam quyết định đưa vaccine viêm gan B do Việt Namsản xuất (Thế hệ I) vào chương trình TCMR cho trẻ em < 1 tuổi từ năm 1997.Tuy nhiên, từ năm 1997- 2001 số lượng vaccine viêm gan B trong chươngtrình cũng chỉ mới phủ được 1/6 trẻ sơ sinh trong diện được tiêm chủng Từnăm 2002 với sự tài trợ của tổ chức GAVI và trong nước thì có 6-8 triệu liềuvaccine mỗi năm, đáp ứng nhu cầu của trẻ trong diện tiêm chủng [29].
1.8 Các loại vaccine được dùng trong chương trình TCMR
1.8.1 Vaccine BCG (Bacillus camette Guerin)
Vaccine được tạo ra bằng cách cấy truyền vi khuẩn lao nhiều lần trênmôi trường mật bò Vi khuẩn lao còn sống nhưng rất yếu, không có khả nănggây bệnh nhưng vẫn có vai trò kháng nguyên BCG là vaccine đông khô rấtnhạy cảm với ánh sáng và nhiệt độ Vaccine rất bền vững nếu được bảo quản
ở nhiệt độ 200C Theo nghiên cứu mới đây của TCYTTG, hiệu lực củavaccine BCG là 52 - 90% ở trẻ nhỏ
1.8.2 Vaccine sabin (Bại liệt)
Được chế tạo từ vi rút bại liệt sống đã được xử lý để làm giảm độc tính.Kolmer cho rằng cần thiết dung vaccine sống để đạt được miễn dịch [29] Đó
là một chất lỏng màu hồng trong suốt, rất nhạy cảm với nhiệt độ và ánh sáng,cần giữ nhiệt độ dưới 00C trong quá trình vận chuyển và sử dụng
Vaccine Sabin rất an toàn, nguy cơ bị bại liệt do uống vaccine (dưới 1phần triệu) hết sức thấp so với nhiễm bệnh tự nhiên nếu không được cho uốngvaccine
1.8.3 Vaccine Bạch hầu-Ho gà-Uốn ván (BH-HG-UV)
Đây là vaccine phối hợp gồm 3 thành phần vaccine phòng bệnh bạchhầu, ho gà và uốn ván
- Giải độc tố bạch hầu (BH) là độc tố bạch hầu bất hoạt
- Vi khuẩn ho gà (HG) chết
- Giải độc tố uốn ván (UV) là độc tố bất hoạt
Trang 16Vaccine rất nhạy cảm với nhiệt độ thấp, nhiệt độ dưới 10C làm chovaccine đông băng, nhiệt độ cao phá hủy thành phần vaccine ho gà còn thànhphần bạch hầu và uốn ván chịu đựng tốt hơn Hiệu lực của vaccine khá caokhi tiêm đủ 3 liều, cần hoàn thành đủ 3 mũi tiêm trước khi trẻ đủ 12 thángtuổi.
1.8.4 Vaccine Sởi
Vaccine sởi được chế tạo từ vi rút sởi sống đã làm giảm độc lực.Vaccine sởi nhạy cảm với nhiệt độ cao, cần bảo quản nhiệt độ đông lạnh.Dung môi cũng cần bảo quản ở nhiệt độ 2- 80C
Hiệu lực của vaccine sởi khá cao (95%) Hiệu lực cao nhất nếu tiêmcho trẻ đúng lúc từ 9-12 tháng tuổi
1.8.5 Vaccine viêm gan B
Từ những năm 1980, vaccine viêm gan B lần đầu tiên có mặt trên thếgiới Các vaccine viêm gan B đã sử dụng kháng nguyên bề mặt của siêu viviêm gan B (HBsAg) có độ tinh khiết cao Cho đến nay đã có ba thế hệvaccine viêm gan B tùy theo tính chất của kháng nguyên HBsAg
Vaccine thế hệ I điều chế HBsAg từ huyết tương người lành mangHBsAg (gồm kháng nguyên S, tiền S1 và S2), vaccine này có ưu điểm hiệuquả bảo vệ cao và giá thành thấp, tuy nhiên do nguồn kháng nguyên cạn kiệt
và tính an toàn nên vaccine thế hệ II ra đời
Ví dụ: Vaccine viêm gan B thế hệ I do Viện Vệ sinh Dịch tễ Hà Nội sản xuất
và ứng dụng trong chương trình TCMR năm 1997
Vaccine thế hệ II là vaccine tái tổ hợp sản xuất do công nghệ di truyền.Cài đặt một gen mã hóa tổng hợp HBsAg vào một véc tơ (các plasmid khácnhau), sau đó chuyển nạp chúng vào một trong các tế bào nấm men (S.cerevisiae, H polymorpha, P pastoris) Tuy nhiên có khoảng 5-15% số ngườitiêm vaccine này không có đáp ứng miễn dịch
Ví dụ: Vaccine Hepavac-gen, Engerix-B, Recombivac,…v.v
Trang 17Vaccine thế hệ III sản xuất dựa trên công nghệ di truyền giống thế hệ
II, nhưng ngoài kháng nguyên S còn có kháng nguyên tiền S1 và tiền S2; chohiệu quả bảo vệ cao hơn Đoạn gen tổng hợp được đưa vào tế bào tr ứng chuộtvàng Trung Quốc, loại vaccine này có tính miễn dịch cao và an toàn Sự pháttriển của các thế hệ vaccine nhằm mục đích tăng cường đáp ứng tạo kháng thểvới nồng độ cao, bảo đảm an toàn, giảm tỷ lệ thất bại sau tiêm chủng và bảo
vệ tránh đột biến về HBsAg [17], [20], [26]
1.9 Bảo quản dây chuyền lạnh
Bảng 1.2 Nhiệt độ và thời gian bảo quản vaccine
vực Kho tỉnh Vận chuyểnThời gian bảo quản
Vaccine
SởiBại liệt - 15
0C đến - 250CBH-HG-UV
BCGVGSVB
Các loại vaccine nhạy cảm với nhiệt độ được xếp theo thứ tự từ cao đếnthấp như sau: Bại liệt – Sởi – BCG – Bạch hầu – Ho gà – Uốn ván – Viêmgan B Vaccine bại liệt là loại vaccine nhạy cảm với nhiệt độ nhất, trong đó
Trang 18vaccine Uốn ván lại ít nhạy cảm với nhiệt độ hơn cả Nếu vaccine được bảoquản ở nhiệt độ quy định, hiệu quả vaccine càng cao và lâu dài.
1.9.1 Hệ thống dây chuyền lạnh
Dây chuyền lạnh bao gồm nhiều công đoạn các khâu vận chuyển nốitiếp kèm theo làm lạnh thích hợp nhằm bảo quản duy trì hiệu lực vaccine.Nguy cơ DCL mất tác dụng sẽ tăng lên vì vaccine phải vận chuyển theo DCL
từ nơi sản xuất cho đến tận các đối tượng cần được tiêm phòng
Dù tổ chức tại trạm y tế xã, thôn hay tiêm chủng lưu động thì nhân viên
y tế là người trực tiếp tiêm chủng cho trẻ em và các phụ nữ trong diện tiêmchủng, vì vậy trước hết là thái độ trách nhiệm trong khâu nhận, bảo quản và
sử dụng vaccine
1.9.2 Nhận vaccine
Hiện nay phần lớn phải nhận vaccine từ các trung tâm y tế huyện, cóthể nhận trực tiếp từ kho vaccine của trung tâm y tế dự phòng tỉnh, nếu tổchức tiêm chiến dịch Đảm bảo lượng vaccine sử dụng trong buổi tiêm chủng
và trang thiết bị giữ lạnh số lượng vaccine sẽ nhận về
Dự trù vaccin hàng tháng cách tốt nhất là xem sổ tiêm chủng trẻ em và
sổ tiêm chủng phụ nữ, đếm cụ thể bao nhiêu đối tượng được tiêm hay uốngcho từng loại vaccine Sau đó, nhân số liều vaccine đếm được trong sổ với hệ
số sử dụng cho phép Đối với vaccine BCG, hệ số sử dụng cho phép là 2 Cácloại khác, hệ số sử dụng cho phép là 1,3
1.9.3 Bảo quản trang bị
Từ kho vaccine và dung môi có thể được giữ lạnh nhiều ngày nếu làmtốt khâu bảo quản trong: Phíclạnh, hòm lạnh, tủ lạnh…
- Phích vắc xin: Phích vaccine chỉ giữ lạnh nhiều nhất 1 ngày rưỡi
(36giờ) với điều kiện sử dụng cẩn thận và thao tác đúng Phích vaccine chỉgiữ lạnh vaccine nếu đặt bình tích lạnh hoặc đá vào cùng vaccine Nên đặtnhiệt kế vào cùng vaccine để biết nhiệt độ chính xác, nếu không có nhiệt kế
Trang 19thì lấy đá chưa tan hết nghĩa là vaccine vẫn còn đủ lạnh Không để vaccineDPT và uốn ván tiếp xúc trực tiếp vào bình tích lạnh và đá Để tránh đông vàlàm hỏng vaccine cần đặt giấy ngăn cách Có thể bỏ vaccine vào túi nilon đểgiữ khô, không ướt và bong nhãn.
- Tủ lạnh: Cho đến nay các huyện, xã phường triển khai chương trình
TCMR đã được trang bị tủ lạnh dùng để bảo quản vaccine ở nhiệt độ quy địnhlàm đông băng các bình tích lạnh, phích vaccine, để các túi đá trong các cốcvaccine giữ vaccine suốt buổi tiêm chủng để giữ lạnh Yêu cầu sắp xếp cácvaccine trong tủ lạnh:
+ Vaccine sởi, bại liệt bảo quản ở ngăn đá, nhiệt độ dưới 00C
+ Vaccine BH-HG-UV, BCG, VGSV B, cùng dung môi bảo quản
ở ngăn mát, nhiệt độ ở đây là 4-80C
+ Không đặt vaccine vào ngăn ở cánh tủ (ở nơi đó không đủ lạnh).+ Luôn đóng tủ lạnh, không mở quá 2-3 lần/ngày Kiểm tra nhiệt độtrong khoang chính 2 lần/ngày khi đến làm việc và trước khi về
1.10 Lịch tiêm chủng mở rộng tại Việt Nam
1.10.1 Lịch TCMR cho trẻ em dưới 1 tuổi tại Việt Nam
Bảng 1.3. Lịch TCMR cho trẻ em dưới 1 tuổi tại Việt Nam
Sơ sinh 2 tháng 3 tháng 4 tháng 9 tháng
Trang 201.10.2 Lịch tiêm chủng vaccine uốn ván cho phụ nữ
Bảng 1.4 Lịch tiêm chủng vaccine uốn ván cho phụ nữ
Mũi 1: Càng sớm càng tốt khi có thai lần đầu hoặc nữ 15- 35 tuổi ở
vùng có nguy cơ mắc uốn ván sơ sinh cao Mũi 2: Ít nhất 4 tuần sau mũi 1
Mũi 3: Ít nhất 6 tháng sau mũi 2 hoặc trong thời kỳ có thai lần sauMũi 4: Ít nhất 1 năm sau mũi 3 hoặc trong thời kỳ có thai lần sau Mũi 5: Ít nhất 1 năm sau mũi 4 hoặc trong thời kỳ có thai lần sau
Trang 21Chương 2ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Trẻ em dưới 1 tuổi
Trẻ em được xác định trong nghiên cứu là trẻ sinh ra từ ngày 01 tháng
01 năm 2008 đến ngày 31 tháng 12 năm 2008 ( tính theo ngày dương lịch)
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
- Tất cả trẻ em dưới 1 tuổi ở huyện Đông Giang, gồm 428 trẻ em sinh
ra từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 đến ngày 31 tháng 12 năm 2008
- 428 bà mẹ có con dưới 1 tuổi
2.3 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA
2.3.1 Công cụ thu thập thông tin
- Sổ quản lý chương trình TCMR, sổ vaccine tại các xã trong huyệnĐông Giang
- Phiếu hoặc sổ tiêm chủng cá nhân của trẻ
- Bộ câu hỏi phỏng vấn
- Thước đo sẹo BCG
Trang 22* Biến cố gây nhiễu
- Tuổi của mẹ, tính theo năm, có 2 giá trị:
- ≤ 30 tuổi
- > 30 tuổi
- Trình độ học vấn của mẹ, chia 3 nhóm có 2 giá trị:
+ Tiểu học
+ Trung học phổ thông + Trên trung học phổ thông
- Số con của bà mẹ, phân 2 nhóm có giá trị:
Trang 23Xác định tiêu chuẩn tiêm chủng đầy đủ và không đầy đủ.
Xác định tiêu chuẩn tiêm chủng đầy đủ khi trẻ trong năm đầu đượctiêm 8 liều, uống 3 liều và có sẹo BCG đạt tiêu chuẩn Trẻ tiêm chủng khôngđầy đủ xác định là khi có 1 trong số 8 liều không được tiêm, uống hoặc trẻkhông được tiêm chủng Để xác định tiêu chuẩn này cần dựa vào: phiếu tiêmchủng, sổ tiêm chủng và phỏng vấn
Kiểm tra phiếu tiêm chủng của trẻ
- Số trẻ còn giữ được phiếu tiêm chủng
- Số trẻ mất phiếu tiêm chủng hoặc không có phiếu tiêm chủng có thể
có các lý do sau:
+ Không tới các cơ sở y tế để tiêm chủng
+ Cán bộ y tế không cấp phiếu tiêm chủng
- Trẻ mất phiếu tiêm chủng:
+ Nếu bà mẹ hoặc người thân trong gia đình trả lời rõ ràng khôngchần chừ là trẻ có đến trạm y tế để tiêm vaccin 8 lần và uống vaccin 3 lần thì
có thể đánh giá bước đầu trẻ được tiêm chủng đầy đủ (TCĐĐ)
+ Nếu trả lời không rõ thì kiểm tra sổ quản lý chương trình tiêmchủng tại trạm y tế xã
* Nếu có tên trẻ, tên mẹ cùng địa chỉ và ghi đầy đủ các mũi tiêmvaccin kèm theo trẻ có sẹo BCG đạt tiêu chuẩn thì đánh giá bước đầu TCĐĐ
Trang 24* Nếu thiếu 1 hoặc nhiều mũi tiêm thì đánh giá tiêm chủng khôngđầy đủ (TCKĐĐ).
* Nếu không có tên trẻ trong sổ quản lý chương trình thì đánh giá trẻkhông được tiêm chủng
Kiểm tra sẹo BCG
- Sẹo BCG đạt chuẩn của CTTCMR: Nằm ở cơ Delta trên cánh taytrái của trẻ, sẹo có đường kính từ 3 - 5 mm, bờ không nhăn nhúm, mặt sẹophẳng hoặc hơi lõm Sẹo đạt tiêu chuẩn của CTTCMR chứng tỏ tiêm đúngliều lượng, đúng kỹ thuật, vaccin bảo quản tốt
- Sẹo không đạt tiêu chuẩn: đường kính < 3 mm và không đạt các yêucầu trên
- Không có sẹo BCG
Trong quá trình kiểm tra sẹo BCG cần đánh giá phản ứng phụ sau khitiêm BCG, hay gặp nhất là hạch phản ứng sau tiêm chủng, hạch phản ứng cóthể ở nách, cổ
Đánh giá tình trạng tiêm chủng của trẻ dựa vào kết quả điều tra
- Có phiếu tiêm chủng
+ Tiêm chủng đầy đủ: trẻ có phiếu, TCĐĐ các loại vaccin và sẹoBCG đạt tiêu chuẩn thì đánh giá trẻ được TCĐĐ
+ Tiêm chủng không đầy đủ
Trẻ có phiếu TCĐĐ kèm theo sẹo BCG không đạt tiêu chuẩnhoặc không có sẹo BCG thì đánh giá trẻ TCKĐĐ
Trẻ có phiếu tiêm chủng ghi không đầy đủ và có sẹo BCG khôngđạt tiêu chuẩn hoặc không có sẹo BCG thì đánh giá trẻ TCKĐĐ
- Không có phiếu tiêm chủng
+ Tiêm chủng đầy đủ
Trẻ có cha, mẹ trả lời đầy đủ (8 lần tiêm, 3 lần uống) cộng với cósẹo BCG đạt tiêu chuẩn
Trang 25 Trẻ có cha, mẹ trả lời không nhớ rõ, kiểm tra sẹo BCG đạt tiêuchuẩn và tiến hành kiểm tra đối chiếu với sổ quản lý chương trình TCMR tạitrạm y tế xã để đánh giá.
+ Tiêm chủng không đầy đủ
Trẻ có cha, mẹ trả lời đầy đủ trẻ được tiêm 8 lần, uống 3 lần kèmtheo sẹo BCG không đạt tiêu chuẩn hoặc không có sẹo BCG
Kiểm tra sổ quản lý chương trình TCMR tại xã ghi đầy đủ số lầntiêm và uống 7 loại vaccin kèm theo sẹo BCG không đạt tiêu chuẩn hoặckhông có sẹo BCG
+ Trẻ không được tiêm chủng: Trẻ không có phiếu tiêm chủng vàkhông có sẹo BCG
Đánh giá kiến thức của bà mẹ về tiêm chủng mở rộng
- Biết đúng lợi ích của tiêm chủng: Khi bà mẹ trả lời tiêm chủng đểphòng bệnh
- Biết đúng lịch tiêm chủng: Nếu bà mẹ trả lời đúng thời gian tiêm
và số lần tiêm
- Biết đúng các bệnh phòng được nhờ TCMR: Nếu bà mẹ kể tên đầy
đủ 7 bệnh truyền nhiễm: Bại liệt, Sởi, Lao, Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Viêmgan B
- Biết các phản ứng phụ sau tiêm chủng
2.4.1 Công tác chuẩn bị
Lập kế hoạch và hướng dẫn mẫu điều tra cho điều tra viên cách ghichép số liệu và cách phỏng vấn theo bộ câu hỏi thiết kế sẵn gồm:
- Cán bộ chuyên trách, cán bộ làm công tác tiêm chủng mở rộng
của trung tâm y tế huyện
- Cán bộ chuyên trách, cán bộ làm công tác tiêm chủng mở rộng
của trạm y tế xã
- Các cộng tác viên SDD và nhân viên y tế thôn bản ở các thôn
Trang 26Nội dung:
- Hướng dẫn mẫu điều tra trẻ và bà mẹ
- Đối tượng điều tra
- Sắp xếp bố trí nhân lực và thời gian tiến hành
Trong quá trình phỏng vấn cần lưu ý các vấn đề sau:
- Hỏi lần lượt từng câu hỏi đã soạn sẵn, không tự ý sữa câu hỏi, khônggiải thích tùy tiện làm cho đối tượng hiểu sai về câu hỏi hoặc hướng về mộtcâu trả lời nào đó
- Không ngắt lời đối tượng và không được hỏi vặn vẹo khi đối tượngtrả lời chưa được rõ
- Câu trả lời đầu tiên được công nhận Nếu trả lời “có”, sau đó đínhchính lại “ không”, phần đính chính không được công nhận
2.4.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứutừ tháng 3 năm 2009 đến tháng 8 năm 2009
2.4.3 Kiểm soát sai lệch thông tin
- Liệt kê đầy đủ các biến số
- Có bảng đối chiếu để xác định tháng tuổi của trẻ được chính xác
- Xây dựng bộ câu hỏi phỏng vấn phù hợp, sát mục tiêu nghiên cứu
- Tập huấn kỹ những người tham gia: kiểm tra trẻ, phỏng phấn, ghichép, thống kê số liệu…
- Khảo sát kỹ để kiểm tra tính phù hợp và hiệu chỉnh bộ câu hỏi
- Thu thập đầy đủ các thông tin trong bộ câu hỏi
- Thường xuyên giám sát trong quá trình thực hiện khảo sát
- Loại bỏ các phiếu điều tra không đạt yêu cầu
2.5 XỬ LÝ SỐ LIỆU
- Nhập và phân tích số liệu: số liệu sau khi mã hóa được nhập vào máytính Phân tích các biến số thu nhập được bằng phần mềm EpiData 3.1- Stata10
Trang 27- Mô tả và phân tích kết quả nghiên cứu qua các bảng, biểu đồ và tính
Trang 28Chương 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
3.1.1 Phân bố giới tính của trẻ dưới 1 tuổi
Bảng 3.1 Tỷ lệ giới tính của trẻ dưới 1 tuổi
Trẻ nam chiếm tỷ lệ 46,73% và trẻ nữ chiếm 53,27%
3.1.2 Đặc điểm chung của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi
Bảng 3.2. Phân bố tuổi, học vấn, nghề nghiệp, số con của các bà mẹ
Số con ≤ 2 con≥ 3con 37058 86,413,6
- Tuổi: ≤ 30 tuổi chiếm 84,3%, > 30 tuổi chiếm 15,7 %
- Trình độ học vấn: Mù chữ - Cấp I chiếm 67,8%, cấp II ,cấp III và trêncấp III là 32,2%
- Nghề nghiệp: Nông dân chiếm 78,9%, CBCC 14,3%, buôn bán 6,8%
- Bà mẹ có 1-2 con chiếm tỷ lệ 86,4%, có 3 con trở lên chiếm 13,6%
3.2 Tình hình tiêm chủng của trẻ em dưới 1 tuổi
3.2.1 Tỷ lệ tiêm chủng mở rộng
Bảng 3.3 Tỷ lệ trẻ có tiêm chủng
Trang 29Tiêm chủng Số lượng Tỷ lệ %
Số trẻ có đến cơ sở y tế tiêm chủng chiếm tỷ lệ 100%
3.2.2 Tình trạng quản lý phiếu tiêm chủng của trẻ
Bảng 3.4 Tỷ lệ trẻ còn được giữ phiếu tiêm chủng
Trẻ còn được giữ phiếu chiếm tỷ lệ 96,6%, mất phiếu chiếm 3,4%
3.2.3 Kết quả sẹo sau khi tiêm vaccine BCG
Trang 30427 (99,8%)
1 (0,2%)
0 20 40 60 80 100
Trang 31386 (90,2 %)
42 (9,8 %)0
20 40 60 80 100
Đầy đủ Không đầy đủ
Tiêm 7 loại vaccine
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ trẻ tiêm chủng đầy đủ 7 loại vaccine
Qua bảng 3.6 và biểu đồ 3.2 nhận thấy: Trẻ tiêm chủng đầy đủ 7 loạivaccine chiếm tỷ lệ 90,2%, trẻ tiêm chủng không đầy đủ (trẻ bỏ sót mũi, trẻkhông đi tiêm chủng) chiếm 9,8%
3.2.5 Trẻ tiêm chủng đầy đủ có tính thêm sẹo BCG đạt yêu cầu
Bảng 3.7 Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ (có sẹo BCG đạt yêu cầu)