Vịnh Xuân Đài Trên tuyến du hành xuyên Việt, đến đỉnh dốc Găng, du khách không khỏi choángngợp trước phong cảnh sơn thuỷ hữu tình với rừng dừa bạc ngàn, núi non hùng vĩ baobọc lấy một vù
Trang 1Sông Cầu quê hương tôi.
Cụm tuyến du lịch Bãi Bàng , Bãi Bàu , Bãi Nhổm, Bãi Rạng, Bãi Ôm, Bãi Tràm.
Bãi Nồm (Hòa An, xã Xuân Hòa), Bãi Tràm (Hòa Thạnh, xã Xuân Cảnh), Từ Nham (xã Xuân Thịnh), Gành Đỏ (thôn An - Bình Thạnh) có hệ sinh thái cát biển đẹp
Sông Cầu có nhiều lễ hội tiêu biểu mang đậm bản sắc văn hoá địa phương như: Lễ hội cầu ngư
tổ chức hàng năm ở các xã Xuân Hải, xã Xuân Hòa, xã Xuân Cảnh, xã Xuân Thịnh Lễ hội Sông Nước Tam Giang được tổ chức trong 02 ngày (mồng 5,6 tháng Giêng - Âm lịch), là lễ hội mang đậm chất dân gian và truyền thống của vùng đất Sông Cầu Bên cạnh đó trên địa bàn huyện còn
có nhiều công trình kiến trúc tôn giáo có quang cảnh đẹp như: chùa Triều Tôn, Long Ân, Phật Học, Thiên Thai, Xuân Long, Phước Điền, Linh Thiên
Sông Cầu được mệnh danh là xứ dừa của Phú Yên Dừa ở Sông Cầu thân cao tỏa bóng mát rợp trải dài từ chân đèo Cù Mông đến tận dốc Gành Đỏ Sông Cầu có một số đặc sản nổi tiếng, trong
đó phải kể đến món đuông dừa
Đuông là một loại bọ cánh cứng, có họ gần với con kiến vương, chuyên đục phá cây dừa Đuông trưởng thành to bằng ngón tay trỏ, dài chừng năm phân, toàn thân có màu nâu, riêng đôi cánh cứng lại có màu đỏ tươi, bên trên có điểm mấy chấm đen tròn bao lấy hai màng cánh lụa phía trong Đến mùa sinh sản, đuông cái đục ngọn và đẻ trứng vào gần cuống của trái dừa Ấu trùng lớn gần bằng ngón tay thì hoá nhộng và mỗi con chui vào nằm trong một cái kén được dệt bằng
áo tố dừa rất khéo và chắc chắn Thời kỳ này, con đuông non nào cũng ứ sữa, mập tròn, trắng phau Người ta chỉ tìm được nó khi thấy chòm lá trên ngọn cây dừa bị héo và đổ gục xuống Khi bắt, người ta leo lên tận ngọn hốt trọn ổ mang về nhà Con đuông non đem chiên bột là món đặc sản.
Trước khi chiên, con đuông phải được dội sơ nước sôi cho sạch, sau đó cho vào hỗn hợp bột mì
số 6, hột gà, tiêu, muối Dầu ăn được đổ vào chảo vừa phải rồi bắc lên bếp, khi thấy dầu bắt đầu sủi tăm thì có thể trút từng con đuông đã lăn bột vào để chiên Lửa quá già sẽ làm cho miếng bột chín hỗn, bên ngoài cháy sém đen hoặc ngả màu vàng đậm không bắt mắt còn bên trong thì con
Trang 2đuông chưa chín; lửa non sẽ làm cho miếng bột trắng nhờ nhờ trông không hấp dẫn Biết cách chiên, mỗi con đuông được bao quanh một khối bột tròn đều, có màu vàng mật non Lúc vớt con đuông tẩm bột ra khỏi chảo dầu nhớ phết qua chút bơ margarin để tăng thêm hương vị Khi ăn, người sành điệu đưa lên miệng cắn từng miếng nhỏ để thưởng thức Vị ngọt bùi thơm lựng của đuông non hòa với vị của hột gà pha trong bột mì và vị béo của dầu ăn lẫn chút hương bơ còn vương khói nóng, tất cả cùng tan trên đầu lưỡi Món đuông chiên bột đã ngon lại càng ngon hơn nếu nhắm với rượu gạo chính hiệu được cất tại làng Mỹ Phụng (Xuân Lộc, Sông Cầu).
Vịnh Xuân Đài
Trên tuyến du hành xuyên Việt, đến đỉnh dốc Găng, du khách không khỏi choángngợp trước phong cảnh sơn thuỷ hữu tình với rừng dừa bạc ngàn, núi non hùng vĩ baobọc lấy một vùng nước non trong xanh, tĩnh mịch tựa như bức tranh thuỷ mặc Đó là mộtgóc của vịnh Xuân Đài Vịnh Xuân Đài với diện tích 13.045 ha, trong vịnh có nhiều vũngnhỏ như: Vũng La, Vũng Sứ, Vũng Chào… và có nhiều đảo và bán đảo nằm uy nghitrong vịnh như: cù Lao Ông Xá, Nhất Tự Sơn, mũi Đá Mài, mũi Tai Mã, hòn Mù U…Xưa kia, Vịnh Xuân Đài mang nhiều dấu tích lịch sử, là căn cứ quân sự của quân TâySơn - Nguyễn Huệ, là thương cảng buôn bán sầm uất của thực dân Pháp và cũng là cảngquân sự của phát xít Nhật trong Thế chiến Thứ Hai …
Ngày nay, Vịnh Xuân Đài được các chuyên gia đánh giá là một trong những vịnh
có tiềm năng du lịch lớn nhất Miền trung Nơi đây được qui hoạch phát triển các loại hình
du lịch nghĩ dưỡng biển, du lịch thể thao dưới nước, du lịch sinh thái biển…
Trang 3Đầm Cù Mông
Được bao bọc xung quanh bởi 6 xã vùng Đông Bắc Sông cầu: Xuân Cảnh, XuânHoà, Xuân Hải, Xuân Lộc, Xuân Bình và Xuân Thịnh Diện tích tự nhiên 2.655 ha Nơiđây có nhiều đặc sản biển rất ngon, khí hậu mát mẻ, mặt đầm tĩnh mịch, trông xa là cáclàng mạc ẩn hiện dưới bóng dừa xanh bạt ngàn, xung quanh đầm có nhiều thắng cảnh,nhiều di tích lịch sử, văn hoá có giá trị như :
* Miếu Công Thần: còn gọi là miếu hòn Nần, nằm trên Cù lao hòn Nần,ngay cửabiển đi vào đầm Cù Mông, thuộc thôn Hoà Lợi, xã Xuân Cảnh Miếu Công Thần đượcxây dựng vào năm 1802, để ghi nhớ công lao những tướng sĩ của Chúa Nguyễn bị tử trậntại đây, trong cuộc giao chiến với nghĩa quân Tây Sơn
* Di tích Cù lao Nần, Hòn Hương, Mả 9 tầng (xã Xuân Cảnh) là nơi nghĩa quânTây Sơn – Nguyễn Huệ đã giao chiến với quân thuỷ bộ của Nguyễn Ánh
* Di chỉ khảo cổ học Gò Ốc (thôn Thọ Lộc, xã Xuân Bình): nằm ngay sát đầm CùMông, là di tích về cuộc sống của người nguyên thuỷ thời tiền sử có niên đại cách ngàynay khoảng trên dưới 3.500 năm Di chỉ này được bảo tàng lịch sử Việt Nam tiến hànhkhai quật năm 1991
Du khách ra Bắc vào Nam trên Quốc lộ 1A, cả khách du lịch quốc tế đến đây đềudừng chân ngắm cảnh, thưởng thức những làn gió mát nhẹ, trong lành và các món ăn đặcsản nổi tiếng như: Ốc nhảy, cá mú, tôm hùm, ghẹ đầm Cù Mông, …
* Vịnh Xuân Đài: Trên tuyến du hành xuyên Việt, đến đỉnh dốc Găng, du khách
sẽ thấy phong cảnh tuyệt đẹp của một vùng vịnh, với rừng dừa bạc ngàn, núi non hùng vĩbao bọc lấy một vùng nước non trong xanh, tĩnh mịch tựa như bức tranh thuỷ mạc VịnhXuân Đài với diện tích 13.045 ha, trong vịnh có nhiều vũng nhỏ như: Vũng La, VũngLắm, Vũng Sứ, Vũng Chào… và có nhiều đảo và bán đảo trong vịnh như: cù Lao Ông
Xá, Nhất Tự Sơn, mũi Đá Mài, mũi Tai Mã, hòn Mù U…
Trang 4Vịnh Xuân Đài mang nhiều dấu tích lịch sử, xưa kia là căn cứ quân sự của nghĩaquân Tây Sơn - Nguyễn Huệ, là thương cảng buôn bán sầm uất và cũng là nơi thực dânPháp thường cập tàu chiến vào đánh phá nhân dân ta.
Ngày nay, Vịnh Xuân Đài được các chuyên gia đánh giá là một trong những vịnh
có tiềm năng du lịch lớn ở miền Trung Nơi đây được qui hoạch phát triển du lịch nghĩdưỡng, thể thao dưới nước, du lịch sinh thái biển…
Bãi Bàng - Bãi Bàu - Bãi Nhổm - Bãi Rạng
Là một trong những điểm du lịch biển lý tưởng nằm dọc theo tuyến đường QuiNhơn - Sông Cầu( Quốc lộ 1D), thuộc địa phận xã Xuân Hải (phía Đông Bắc huyện SôngCầu), cách thành phố Qui Nhơn khoảng 20 km, cách thành phố Tuy Hòa khoảng 80 km.Nơi đây cảnh quan thiên nhiên hữu tình, có dãy núi cao ôm lấy những bờ cát trắng mịn vàsạch, hình thành những vòng cung hướng nhìn ra biển và hòn Cù Lao Xanh tạo thànhnhững bãi tắm đẹp, bờ biển có độ dốc thoai thoải dần ra xa, nước biển trong xanh lặngsóng, khí hậu mát mẻ, trong lành
Trang 5Đây là địa chỉ thích hợp cho khách du lịch nghỉ ngơi cuối tuần, nghỉ lễ và kháchvào Nam ra Bắc, là điểm lý tưởng cho các hoạt động nghỉ ngơi, vui chơi, cắm trại, dãngoại, tắm biển….và thưởng thức những món ăn đặc sản biển như: tôm, cua, ghẹ, ốc, cá,mực….Hiện nay, đã có một số cơ sở đầu tư kinh doanh dịch vụ du lịch, thu hút khách dulịch đến đây ngày càng nhiều.
Bãi biển Từ Nham
Thuộc xã Xuân Thịnh, huyện Sông Cầu, cách thành phố Tuy Hoà khoảng 71 km
về phía Bắc theo đường quốc lộ 1A và rẽ vào con đường chạy ven vịnh Xuân Đài qua dãynúi Đồng Tranh ra đến biển Đông Ấn tượng đầu tiên đối với du khách là cảnh những đồicát trập trùng, mỗi đồi cát với một vẻ đẹp riêng luôn biến dạng theo thời gian tạo thànhnhững hình thù kỳ lạ, thoả mãn trí tưởng tượng của những du khách thích tìm hiểu, khámphá
Đứng trên những đồi cát cao nhìn xuống, bãi biển Từ Nham giống như hình haicánh cung lớn ôm lấy Vũng Quan và Vũng Mo O với mặt nước xanh thăm thẳm Ẩn dướirặng phi lao cao vút sát chân núi Mũi Ông Diên còn có một làng chài nhỏ, du khách cóthể thả bộ đến đây để thưởng thức những món ăn hải sản tươi ngon nhất, mới được ngưdân đánh bắt từ biển lên
Với những tiềm năng du lịch do thiên nhiên ban tặng, bãi biển Từ Nham có nhiềuthuận lợi để đầu tư thành một khu nghỉ dưỡng biển lý tưởng trong tương lai
Trang 6Bãi Nồm
Thuộc thôn Hoà An, xã Xuân Hoà, phía Đông Bắc huyện Sông Cầu, cách Quốc lộ1A khoảng 15 km theo đường ô tô Bãi cát hình vòng cung ôm lấy biển Bờ cát trắng, mịnthoai thoải dần ra xa, nước biển trong xanh, lặng sóng Bãi tắm được tựa lưng vào cánhrừng phi lao xen lẫn những đồi cát và có núi che chắn ở hai đầu Cảnh vật ở đây cònnguyên sơ và không khí trong lành, là điều kiện tốt để hình thành khu du lịch nghỉ dưỡng,tắm biển, cắm trại, dã ngoại cuối tuần Hiện nay là điểm đến hấp dẫn của du khách
Bãi Tràm
Từ thành phố Tuy Hoà đi về phía Bắc khoảng 70km theo đườngQuốc lộ 1A, rồi rẽ về hướng Đông khoảng 4 km là đến được Bãi Tràm –một thắng cảnh tự nhiên tuyệt đẹp thuộc thôn Hoà Thạnh, xã Xuân Cảnh,huyện Sông Cầu Được dãy núi Hoà An bao bọc ba mặt Bắc – Tây –Nam, Bãi Tràm trông tựa một lưỡi liềm bạc dài khoảng 1 km Bờ biểndốc thoai thoải, nước biển trong xanh lặng sóng, bãi cát trắng mịn vànhững bóng dừa xanh mát nối tiếp nhau, cùng dấu tích một ngôi nhà domột thương gia người Pháp xây dựng làm nơi nghỉ mát.…tất cả tạo nên
vẻ đẹp hoang sơ, quyến rũ mời gọi bước chân du khách
Trang 7-Khu du lịch sinh thái Nhất Tự Sơn Nằm trong vịnh Xuân Đài, thuộcthôn Mỹ Thành, xã Xuân Thọ 1, huyện Sông Cầu Từ Quốc lộ 1A, tạithôn Chánh Nam (phía Nam Dốc Găng) đi về phía Đông khoảng hơn cây
số theo con đường khá rộng, du khách sẽ thấy có dãy núi trông tựa nhưhình chữ nhất trong Hán tự, có lẽ vì vậy mà gọi là Nhất Tự sơn Khi thủytriều xuống, Nhất Tự Sơn được nối liền với bờ bằng một doi cát Khithủy triều lên thì Nhất Tự Sơn hoàn toàn là một Cù lao Trên núi có rừngnguyên sinh với nhiều loài cây quí hiếm
Đèo Cù Mông
Địa chỉ hiện nay
Xuân Lộc - Sông Cầu - Phú Yên
Đèo Cù Mông nằm trên quốc lộ 1A, giáp ranh giữa hai tỉnh Phú Yên Bà Bình Định Chân đèo phía Bắc thuộc địa bàn phường Bùi Thị Xuân, TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Chân đèo phí Nam thuộc xã Xuân Lộc, huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên Đèo nằm trên núi cũng có tên là Cù Mông, một phần của dãy Trường Sơn Nam, hay còn gọi là dãy Nam Sơn Thế núi nằm trải dài từ cao nguyên An Khê, Gia Lai đổ ra biển, giống như con rồng nằm phủ phục mà đầu là Xuân Lộc ra tới Gành Ráng, đuôi níu giữ dãy Ngok Linh Nửa núi phía Bắc thuộc về địa giới huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định, trên núi có trạm Bình Phú là một trạm dịch để liên lạc, thông tin, chạy giấy tờ giữa các địa phương; phía Tây có núi Nhuệ, núi Giả và Hùng Sơn, phía Đông có núi Hùng, phía Bắc
có núi Qui Núi đồi trùng điệp, địa thế rất hiểm yếu Nằm chếch lên hướng Tây có núi Phú Cốc, còn có tên khác là núi Hổ có hình giống như con hổ nằm phủ phục.
Kế cận với Cù Mông, đáng chú ý hơn cả là núi Chóp Vung nằm ở phía Đông cao 676 mét, núi Ông Bai ở phía Nam cao 381 mét, núi Hòn Khô ở Tây Nam cao 806 mét Gò Cà trên dãy Cù Mông có một ngôi miếu rất cổ xưa gọi là miếu Phò Giá Đại Vương, trong miếu lại có ba ngôi tháp lớn đựng đầy xương khô.
Tên xưa của Cù Mông chính là Cù Mãng Mãng là con rắn thần, Cù là linh vật có đầu lân mình rồng Đèo Cù Mông nằm gần biển Tuy không dốc như đèo An Khê nhưng dài và quanh co khó
đi Ngày xưa nơi đây tiêu điều vắng vẻ, nước độc mà thiêng, cực chẳng đã lắm người dân Bình Định mới lên xuống Từ Cù Mông trở xuống đến mé biển, núi tiếp nhau thành dãy Nhưng từ Cù Mông trở ra, tuy sơn mạch vẫn liền, mà các ngọn núi thường đứng cách nhau dường không có mối liên hệ Đỉnh núi lại không cao, tuy vậy thế vẫn hiểm
Liên quan đến đèo Cù Mông, ca dao có câu:
Tiếng ai than khóc nỉ non?
Vợ chàng lính thú lên hòn Cù Mông.
Trang 8Về tiếng khóc trên đèo Cù Mông, có nhiều cách giải thích khác nhau Có người cho rằng, đó là tiếng khóc của người vợ tiễn chồng đi lính trong thời chiến tranh Tây Sơn Nguyễn Ánh Ý kiến khác lại cho rằng, đó là tiếng khóc tiễn chồng đi lính trong thời hậu Tây Sơn, tức thời Cảnh Thịnh, sau khi Nguyễn Ánh chiếm được thành Tây Sơn, bắt lính ra Bắc để đánh nhau với quân của Cảnh Thịnh
Một truyền thuyết khác có vẻ như khá khách quan, không liên quan gì đến lịch sử cho rằng “tiếng khóc” xuất phát từ cuộc hành trình Nam tiến gian nan vất vả và nhiều nguy hiểm của lớp cư dân miền Bắc trên đừng vào Nam lập nghiệp Thời bấy giờ, dãy Cù Mông cao và hiểm trở Khi đoàn lưu dân đến bên này chân núi thì nhiều người trong đoàn đã kiệt sức, đặc biệt là phụ nữ Đèo cao, dốc thẳm, suối sâu khiến nhiều người sợ hãi muốn quay trở lại nhưng không biết phải trở về đâu, đành nhắm mắt đưa chân tiến về phía trước Một chiều nọ, đoàn người tiến sát đến ngọn núi dốc đứng, ngó lên “trật ót”, liền hạ trại, nấu cơm chiều Ăn uống xong trời tối sầm Chung quanh văng vẳng tiếng cọp gầm, vượn hú… thật thê lương Sau nhiều ngày hạ trại vừa nghỉ dưỡng sức vừa tìm kiếm con đường ngắn và thấp nhất để vượt qua núi hiểm, đoàn người lại tiếp tục bám lấy nhau trèo đèo, vượt dốc, nhưng hầu hết phụ nữ đều không thể vượt qua, một số phải bỏ mạng giữa núi rừng thâm u…
Những nấm mồ chôn cất vội vã không đủ ấm lòng người nằm xuống Qua thời gian, mưa bão xói mòn lớp đất che phủ, xương cốt theo triền dốc trôi xuống các khe lũng dưới chân đèo Hàng năm
cứ đến mùa mưa bão, từ dưới khe sâu chân đèo vọng lên tiếng than khóc ai oán khiến khu vực này đã quạnh hiu vắng vẻ càng trở nên u tịch huyền bí hơn Tiếng than khóc nương theo tiếng gió hú rít trên đỉnh càng bay xa, đến nỗi những người tiều phu không dám vào rừng như trước.
Để cho các linh hồn được siêu thoát, người dân bên kia đèo (phần đất Bình Định) cho xây một
am thờ nhỏ gọi là am cô hồn Mỗi năm cứ vào dịp Rằm tháng Giêng và tháng Bảy, các nhà sư đến tụng niệm cúng chay Dần dà lâu sau đó, có lẽ các linh hồn cô độc đã siêu thoát, nên không còn nghe thấy tiếng khóc bi thương như trước nữa Ngôi miếu thờ này tồn tại khá lâu, nhưng mưa nắng thời gian và chiến tranh đã xóa dần vết tích, không còn nữa.
Cù lao Ông Xá
Trang 9Địa chỉ hiện nay
Xuân Thọ 2 - Sông Cầu - Phú Yên
Truyền thuyết
Truyền thuyết kể rằng, thuở xa xưa, từ núi Gành Đỏ ra mỏm đuôi của hòn cù lao Ông Xá có một dãi đất tựa như một cái bờ chắn ngang mặt vũng Lúc bấy giờ có một con cá vược khổng lồ từ biển khơi lạc vào đấy, bị cản trở đường đi, cá vược tức giận đập đuôi quẫy nước, nước văng bắn lên cao, sóng réo ầm ầm, bờ chắn bị sụt lở gần hết, chỉ còn lại ở hai mỏm núi, người ta gọi đấy là
bờ ngăn cá vược Rồi từ đó cá quay ra biển Đông, không bao giờ trở lại vũng này nữa.
Một truyền thuyết khác kể rằng, ngày xưa, vũng Lắm là một hồ nước mặn bị núi vây bọc bốn bên Một đêm kia, trời đang yên, gió đang lặng thì đến giờ Tý bỗng dưng sóng dậy ầm ầm Những cột nước cao hơn ba trượng đổ ập vào xé toạc ngọn núi phía đông ngăn cách giữa biển
và đầm, sau đó thì trời lặng sóng yên như không có chuyện gì xảy ra trước đó Sáng ra, dân chúng men ra mé vũng ngoài coi thì thấy chiếc mai con rùa biển to bằng bốn cái nong Dân chúng làm lạ, lên đền cầu khấn được bà cốt báo rằng: Long Vương có đứa con trai út bị lạc vào đầm không ra được nên sai Hà Bá thống lĩnh thiên binh tới phá rặng núi chắn ngang vũng để cứu hoàng tử ra Hoàng tử chính là con rùa thỉnh thoảng dân trong vũng thấy nổi lên
Chợ Gò Duối
Trang 10Địa chỉ hiện nay
Xuân Lộc - Sông Cầu - Phú Yên
Chợ Gò Duối thuộc xã Xuân Lộc, huyện Sông Cầu , tỉnh Phú Yên Chợ tuy nhỏ nhưng rất đông đúc Đặc biệt, chợ có món bánh hỏi lòng heo ngon nổi tiếng Nếu có dịp đi qua đây mà không ghé vào thưởng thức thì quả là thiếu sót.
Bánh hỏi ở nơi nào cũng có, lòng heo lại càng không phải món hiếm, nhưng quả thật muốn ăn miếng bánh hỏi ngon thì phải về đây Khách đường xa đã từng một lần thử món này hẳn sẽ khó quên hương vị của nó Tiêu chuẩn của một đĩa bánh hỏi ngon là cọng bánh phải nhỏ bằng que tăm tre, các miếng bánh không bị rời ra hay vón cục, khi cắn vào miệng người ăn không thấy bở, lúc nhai kỹ thì cảm nhận được vị ngọt của bột gạo, vị béo của dầu dừa và mùi thơm của lá hẹ Tất cả sẽ hòa lẫn cùng vị ngọt bùi của miếng gan heo, vị béo của miếng phèo non hoặc miếng thịt ba chỉ được luộc khéo để thành món ăn sáng được xếp vào hàng đặc sản của vùng đất một thời nổi tiếng dệt lãnh.
Để làm ra bánh hỏi ngon, người thợ phải giàu kinh nghiệm Đầu tiên, chọn gạo tốt ngâm với nước lã một đêm Sau đó, vo và xả đi xả lại ba bốn lần Khi nào thấy nước trong thì đem xay thành bột Tiếp tục, bột được ngâm thêm một buổi, lóng trong và thay nước vài ba lần nữa (chính giai đoạn này sẽ làm cho bột nở ra, sau này giúp chiếc bánh có độ dai hấp dẫn mà không phải thêm bất kỳ một chất phụ gia nào) Hoàn tất khâu chuẩn bị, người thợ bánh dùng một thanh tre lớn (đẽo hình giống chiếc mái chèo) dáo bột Công việc này đòi hỏi phải khuấy liên tục cho đến khi thấy bột không đóng cục trên cây dáo bột là được Bước tiếp theo, người thợ bánh bắc thau bột lên lò lửa rồi dùng cây khuấy mạnh, một lát thì bột đặc lại Tay người thợ vẫn tiếp tục xốc, trộn liên tục cho đều, đến lúc sờ vào bột không thấy dính thì nhắc xuống lấy bột lăn thành con bỏ vào khuôn ép Đến giai đoạn này, cùng lúc phải có hai người thực hiện hai thao tác khác nhau: một người bắt ép khuôn, một người bắt bánh trải lên vỉ Một xửng hấp bánh lớn được đặt lên lò lửa hừng hực, khi nào nước sôi thì vỉ bánh được đưa vào hấp Mỗi lần có thể hấp từ hai đến ba
vỉ Lửa cháy to, chừng năm phút thì bánh chín.
Mỗi khi ăn, từng lá bánh được gỡ bày ra đĩa rồi phết lên đó hỗn hợp dầu dừa pha với lá hẹ xắt thật nhỏ Dầu dừa phải là loại dầu ép tay vàng óng có màu hổ phách non được thắng tới thơm lừng Lá hẹ phải là loại hẹ chỉ, hơi cay và thơm (không bao giờ dùng hành lá hay hẹ trâu lớn cọng mà không hương vị như ở thành phố) Dùng kèm bánh hỏi Xuân Lộc, để hưởng hết hương
vị ngọt bùi của hạt gạo quê hương, người ta không ăn với tôm chà bông như kiểu ăn của người Huế hay ăn cùng nhân tôm thịt theo kiểu người Sài Gòn mà lại ăn cùng lòng heo-thịt luộc Một đĩa lòng heo dọn kèm đĩa bánh hỏi, cộng thêm đĩa rau sống tươi xanh và chén mắm pha gia vị vừa phải sẽ tạo nên hương vị đậm đà đặc biệt.
Riêng khoản chọn thịt, luộc lòng cũng không đơn giản Muốn đĩa lòng heo được ngon, người chủ phải chọn mua lòng con heo mới làm Đĩa lòng phải có đủ tim, gan, cật, phèo non và nhất định không thể thiếu miếng thịt ba chỉ, loại lấy dưới nây bụng Khi luộc, thịt và lòng được xâu vào một
Trang 11sợi lạt tre, chờ nước sôi già thả nguyên xâu lòng vào chừng mười phút Vấn đề quan trọng của việc luộc thịt luộc lòng không phải là làm thế nào cho chín mà phải làm thế nào cho ngon Muốn lòng và thịt ngọt ngon, có độ giòn thì sau khi vớt xâu thịt khỏi nồi nước sôi lập tức thả ngay vào một thau nước đá cục được chuẩn bị sẵn Chính cái lạnh dưới 00C của đá sẽ làm cho bề mặt miếng thịt se lại, giữ nước ngọt trong miếng thịt và đặc biệt làm cho miếng thịt, miếng lòng vừa trắng vừa giòn
Miếu Công Thần
Địa chỉ hiện nay
Xuân Cảnh - Sông Cầu - Phú Yên
Vị trí
Miếu ở xã Xuân Cảnh, huyện Sông Cầu , tỉnh Phú Yên Miếu nằm trên đảo Hòn Nầng, giữa đầm
Cù Mông Hòn Nầng có chu vi khoảng khoảng 2km, có núi cao đất bằng, chung quanh bao bọc bởi mặt nước trong xanh của đầm Cù Mông Đây là ngôi miếu lớn nhất, tế lễ uy nghiêm nhất trong vùng
Lịch sử
Tương truyền miếu do vua Gia Long ra sắc lập vào năm 1806 Sở dĩ miếu có tên là Công Thần vì ngày xưa vùng này là nơi trú quân của Nguyễn Ánh trong cuộc chiến với Tây Sơn Buổi sáng, xuất quân ra đánh thành Quy Nhơn, buổi chiều Nguyễn Ánh lui quân về đồn trú ở đây Số binh lính tử trận cũng được đưa về đây chôn cất Sau khi thắng Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua vào năm 1802, lấy niên hiệu là Gia Long Đến năm 1806 thì vua ra sắc lập miếu
an toàn ra đảo miếu.
Gành Tướng
Trang 12Địa chỉ hiện nay
Xuân Phương - Sông Cầu - Phú Yên
Vị trí
Gành Tướng là một doi đất nhô ra biển phía ngoài vũng La , thuộc xã Xuân Phương, huyện Sông Cầu , tỉnh Phú Yên , phía Đông thị trấn Sông Cầu Nơi đây còn lưu truyền câu chuyện về bàn cờ tiên khá thú vị
Truyền thuyết
Chuyện kể rằng, vào ngày mùng hai Tết năm ấy là ngày kị Hà Bá, một ngư dân đi đánh chài vào lúc chiều tối, phát hiện hai ông lão râu tóc bạc phơ, tướng mạo phương phi đang đánh cờ trên gành đá, ông hốt hoảng buông tay chài Hai ông lão nhìn ông và nói: “Ta là thiên tướng nhà trời, thấy phong cảnh hữu tình nên xuống đánh cờ, ngươi đã trông thấy thì không được kể với bất cứ
ai, ta sẽ cho ngươi sống đến trăm tuổi, nếu kể “ắt phải chết” rồi biến mất
Người đàn ông chài lưới kia hoảng sợ mang chài về, không dám xuống vịnh chài cá như những hôm trước đây Quả nhiên sau đó công việc làm ăn của gia đình ông ngày mỗi khấm khá, trở thành một ngư dân giàu có trong làng, mua sắm được nhiều ghe bầu chở cá, mắm, muối đi vào tận Đàng Trong bán, rồi chở gạo, vải vóc về bán lại cho các thương buôn khác trong vùng Mãi đến năm ông chín mươi mốt tuổi, nhân dịp cúng lăng, ông vô tình kể lại câu chuyện xảy ra cách đây bốn mươi năm Đêm ấy, trong giấc ngủ chập chờn, ông thấy hai thiên tướng xuất hiện, bảo ông đã phạm lời nguyền Ông tỉnh giấc, gọi con cháu kể lại giấc mơ rồi nhắm mắt ra đi Ngày này, trên mỏm đá Gành Tướng vẫn còn in dấu bàn cờ, mặc dù thời gian, mưa nắng, sóng biển đánh vào đã làm cho phiến đá mòn đi khá nhiều.
Dốc Xuân Đài
Địa chỉ hiện nay
Xuân Thọ 2 - Sông Cầu - Phú Yên
Dốc Xuân Đài nằm án ngữ trên quốc lộ 1A, đoạn qua địa bàn xã Xuân Thọ 2, huyện Sông Cầu , tỉnh Phú Yên Từ thành phố Quy Nhơn vào huyện Tuy Hoà, buộc phải đi ngang qua đây Dốc cao, hiểm trở; mùa mưa thì trơn trợt do đất sỏi thấm ướt; mùa nắng nóng leo lên được tới đỉnh dốc cổ họng khô rốc, mà trên đỉnh thì không có giếng nước nào để uống đỡ khát.
Từ phía Nam đi ra, bắt đầu từ thị trấn Chí Thạnh, huyện Tuy An đến gần dốc Vườn Xoài chừng
3000 mét có con đường đất rẽ trái đi về hướng Tây Bắc độ một cây số thì đến chân dốc Xuân Đài Dốc ngược theo triền núi cao khoảng 500 mét Leo lên dốc như thể ta bước từng cấp một
Trang 13lên đỉnh núi Yên Tử, hai bên có nhiều cây cổ thụ tán lá che phủ cả con đường đi vào một vùng rộng lớn Đỉnh dốc phía Bắc có vườn cam nổi tiếng thơm ngon, đã từng tiến vua cùng với xoài
Đá Trắng, xuống khỏi dốc, đi ngược về phía Nam non 7 km nữa thì tới ngã ba Triều Sơn, nơi trước kia triều đình nhà Nguyễn có đặt hai khẩu thần công để bảo vệ vịnh Xuân Đài.
Nói về sự hiểm trở của dốc Xuân Đài, ca dao địa phương có câu:
Đèo nào cao bằng đèo Phú Cốc Dốc nào ngược bằng dốc Xuân Đài Đèo cao dốc ngược đường dài Anh còn qua được huống chi vài lạch sông.
Hay:
Không đi thì nhắc thì trông
Đi rồi thấy sợ Cù Mông Xuân Đài
An Dân, Xuân Thọ chia hai Chỉ vì cái đảnh Xuân Đài ngăn đôi
Vũng La
Địa chỉ hiện nay
Xuân Phương - Sông Cầu - Phú Yên
Riêng Vũng La nằm về phía Nam của các vũng, có hai mỏm núi nhô ra nên cá thường vào ẩn trú Mỗi lần có mẻ cá dạt vào, ngư dân hô hoán la to, báo hiệu cùng nhau đem thuyền lưới ra bắt,
lệ ấy thành quen Vũng hẹp chiều ngang, nhà ở của dân chạy theo bờ vũng Dọc bờ có trồng
Trang 14nhiều dừa tỏa bóng mát Phía Bắc vũng La có bãi cát nằm sâu vào giữa hai hòn núi nhô ra, từ mỏm núi này đến mỏm núi kia dài chừng 600m, bãi cát này có tên là bãi Ôm, nơi bãi Ôm không
có nhà cửa, vắng vẻ, chỉ nghe tiếng sóng vỗ quanh năm.
Truyền thuyết
Tương truyền, ngày trước có nhiều đôi trai gái đưa nhau đến bãi này vui sống tự nhiên, nếu đôi nào còn giữ theo lễ giáo ắt bị trời đánh Cũng theo truyền thuyết, đây là nơi trú ẩn một thời gian của nhân vật huyền thoại có sức mạnh: chàng Lía Lại có giai thoại kể rằng: Nguyễn Ánh, khi dừng quân ở đây, nhìn núi non hùng vĩ, ông đã “giậm non, thề biển” nếu còn chân mạng đế vương thì xin trời đất, thánh thần chứng giám Ông giậm mạnh bàn chân phải xuống ngay tảng
đá làm tảng đá lõm sâu dấu chân ông Ngày nay, dấu bàn chân ấy vẫn còn lưu trên một tảng đá
ở vũng La.
Những câu chuyện tryền thuyết:
1-TIẾNG KHÓC TRÊN ĐÈO CÙ MÔNG
Đèo Cù Mông Ảnh: Đào Minh Hiệp
Trang 15Núi Cù Mông nằm ở phía bắc huyện Đồng Xuân và huyện Sông Cầu Nửanúi phía bắc thuộc về địa giới huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định, trên núi có trạmBình Phú là một trạm dịch để liên lạc, thông tin, chạy giấy tờ giữa các địa phương;Phía tây có núi Nhuệ, núi Giả và Hùng Sơn, phía đông có núi Hùng, phía bắc cónúi Qui Núi đồi trùng điệp, địa thế rất hiểm yếu Nằm chếch lên hướng tây có núiPhú Cốc, còn có tên khác là núi Hổ có hình giống như con hổ nằm phủ phục.
Kế cận với Cù Mông, đáng chú ý hơn cả là núi Chóp Vung nằm ở phíađông cao 676 mét, núi Ông Bai ở phía nam cao 381 mét, núi Hòn Khô ở tây-namcao 806 mét Gò Cà trên dãy Cù Mông có một ngôi miếu rất cổ xưa gọi là miếuPhò Giá Đại Vương, trong miếu lại có ba ngôi tháp lớn đựng đầy xương khô
Truyền thuyết “tiếng khóc” dựa trên cuộc hành trình Nam tiến gian nan vất
vả và nhiều nguy hiểm, được các cụ già ở Xuân Lộc (huyện Sông Cầu, Phú Yên)
và Phú Tài (bên kia chân đèo Cù Mông thuộc địa phận Bình Định) kể lại như sau:
Thời bấy giờ, dãy Cù Mông cao và hiểm trở Khi đoàn lưu dân đến bên nàychân núi thì nhiều người trong đoàn đã kiệt sức (do cuộc hành trình quá dài), đặcbiệt là phụ nữ Đèo cao, dốc thẳm, suối sâu khiến nhiều người sợ hãi muốn quaytrở lại nhưng không biết phải trở về đâu, đành nhắm mắt đưa chân tiến về phíatrước Một chiều nọ, đoàn người tiến sát đến ngọn núi dốc đứng, ngó lên “trật ót”,liền hạ trại, nấu cơm chiều Ăn uống xong trời tối sầm Chung quanh văng vẳngtiếng cọp gầm, vượn hú… thật thê lương Sau nhiều ngày hạ trại vừa nghỉ dưỡngsức vừa tìm kiếm con đường ngắn và thấp nhất để vượt qua núi hiểm, đoàn ngườilại tiếp tục bám lấy nhau trèo đèo, vượt dốc, nhưng hầu hết phụ nữ đều không thểvượt qua, một số phải bỏ mạng giữa núi rừng thâm u…
Những nấm mồ chôn cất vội vã không đủ ấm lòng người nằm xuống Quathời gian, mưa bão xói mòn lớp đất che phủ, xương cốt theo triền dốc trôi xuốngcác khe lũng dưới chân đèo Hàng năm cứ đến mùa mưa bão, từ dưới khe sâu chânđèo vọng lên tiếng than khóc ai oán khiến khu vực này đã quạnh hiu vắng vẻ càngtrở nên u tịch huyền bí hơn Tiếng than khóc nương theo tiếng gió hú rít trên đỉnhcàng bay xa, đến nỗi những người tiều phu không dám vào rừng như trước
Để cho các linh hồn được siêu thoát, người dân bên kia đèo (phần đất BìnhĐịnh) cho xây một am thờ nhỏ gọi là am cô hồn Mỗi năm cứ vào dịp Rằm thángGiêng và tháng Bảy, các nhà sư đến tụng niệm cúng chay Dần dà lâu sau đó, có lẽcác linh hồn cô độc đã siêu thoát, nên không còn nghe thấy tiếng khóc bi thươngnhư trước nữa Ngôi miếu thờ này tồn tại khá lâu, nhưng mưa nắng thời gian vàchiến tranh đã xóa dần vết tích, không còn nữa
Như vậy với câu chuyện dân gian về “tiếng khóc” có hai chuyện được kểkhác nhau về thời gian: Một là tiếng khóc trong thời điểm sau cuộc Nam tiến và
Trang 16một là trong cuộc chiến giữa nhà Tây Sơn và Chúa Nguyễn được ghi lại ở phầnsau.
Vì là truyền thuyết, nên xin ghi lại ở đây như là những cứ
2-TRUYỀN THUYẾT GÒ CÀ VÀ VỰC LINH THIÊNG
Gò Cà Ảnh: Trần Quỳ
Gò Cà nằm ở phía nam dãy Cù Mông thuộc địa phận xã Xuân Lộc, huyện
Sông Cầu Từ trung tâm xã Xuân Lộc, đi về phía tây khoảng trên 2 cây số có một
gò đất nổi cao nằm dưới chân núi là nơi xưa kia chôn cất các chiến sĩ tử nạn thờiNam tiến
Tương truyền, khi vua Lê Thánh Tông mang đại quân vào phía nam mởmang bờ cõi, và sau này là Lương Văn Chánh, Văn Phong… trong các trận giaotranh lớn nhỏ, quân sĩ hai bên tử trận đều được chôn cất tử tế, đặc biệt với quânĐại Việt đều được an táng trên núi cao, tại Gò Cà Tại đây, quan quân và nhân dânđịa phương xây dựng một ngôi miếu gọi là miếu Phò Giá Đại Vương để thờ cácbinh sĩ đã hy sinh trong chiến trận Hàng năm đều cúng tế linh đình Thời gian trôiqua cùng mưa nắng khiến cho ngôi miếu đổ nát, làm xói lở các ngôi mộ nghĩa
Trang 17quân, nên sau này quan quân đưa tất cả các bộ xương vào ba ngôi tháp lớn mà thờ.Chiến tranh nối tiếp chiến tranh, khiến ngôi miếu và ba toà cổ tháp cũng khôngcòn nữa Hiện nay Gò Cà chỉ còn lại một bãi đất bằng phẳng, cỏ cây, bụi rậm mọc
um tùm, ba ngôi tháp cổ chỉ còn phần đế móng Theo Website của thư viện Hải
Phú (http//:wwwhaiphu.com.vn) có một truyền thuyết về ngôi miếu này như sau:
Những năm Tây Sơn chuẩn bị khởi binh, chiêu tập nông dân quanh vùng
An Khê, Bình Đinh, Vân Canh, La Hiên… vào quân cơ, chia thành đội ngũ đểluyện tập theo binh pháp trong nhiều năm ròng rã Hễ chiều buông xuống, mặt trờilặn sau những dãy núi cao phía tây, hoàng hôn bắt đầu phủ một màn đen khắpcánh rừng đại ngàn thì có một đội binh thứ hai cũng khua gươm giáo luyện tập.Tiếng hò reo, binh khí chạm nhau vang tới doanh trại của nữ tướng Bùi Thị Xuân.Nhiều đêm như vậy, bà liền bí mật đến nơi phát ra tiếng binh khí chạm nhau kia đểxem xét và nhìn thấy trong bóng đêm mờ mờ, hàng hàng đội ngũ binh sĩ tiến luinhịp nhàng theo tiếng trống trận, đến canh ba là chấm dứt, đội quân kia cũng biếnmất
Bà lấy làm lạ, sai các phó tướng theo dõi nhiều đêm liền Đến một đêm kia,đang mơ màng trong trướng, bỗng thấy có một người mặc chiến bào Quỳ xuốngtrước trướng cúi lạy, thưa rằng: “chúng tôi là những chiến binh trước đây đã từngtheo các ông Lương Văn Chánh, Văn Phong mở đất, nay thấy việc khởi binh củađại vương Tây Sơn là hợp ý trời, lòng dân nên thiên đình sai chúng tôi theo phò tánghĩa quân Tây Sơn, dẹp giặc lộng hành Trương Phúc Loan và chúa Trịnh…” Giậtmình thức dậy, bà không thấy viên tướng kia đâu nữa Sáng bà đem chuyện thưavới tướng quân Vũ Văn Nhậm Cả hai liền mang câu chuyện huyền bí kia tâu lên
ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ Thấy đây là điềm báo ứngtốt đẹp, Nguyễn Nhạc bèn sai xây một ngôi miếu trên bãi Gò Cà gọi là Miếu PhòGiá Đại Vương để thờ vong linh các nghĩa binh, phù trợ cho cuộc khởi binh thắnglợi
Trong các trận đánh lớn nhỏ, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ, đội hùngbinh này luôn đi tiên phong và giúp nhà Tây Sơn phá tan giặc nhà Thanh, thu hồigiang sơn về một mối
Phía bên dưới ngôi miếu Phò Giá Đại Vương có một vực rất sâu mà dântrong vùng gọi là vực Linh Thiêng Hàng năm cứ vào ngày mùng 9 Tết thì dânlàng đến cúng tế thần linh gọi là lễ cúng khai sơn Lễ cúng thường là các chim thúsăn được quanh vùng núi này Người dân lập đàn, bày hương án và các lễ vật váivong linh các tử sĩ trên ngôi miếu Phò Giá Đại Vương, bà Hậu Thổ, Thổ Địa, cùngcác vị chư thần phù hộ cho mùa săn bắt hái lượm gieo hạt mới trong năm, sau đóthì tất cả chim thú dùng tế lễ đều được phóng sanh Suốt cả ngày mùng 9, tất cảdân đinh quanh vùng đều phải trai tịnh Và đến giờ hoàng đạo ngày hôm sau mới
có thể vào núi khai khẩn, sản xuất Có nhiều người vì mưu sinh vì miếng ăn cho