BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG NGUYỄN THU HƯƠNG THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA GIA ĐÌNH CÓ CON TỰ KỶ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2020 VÀ MỘT SỐ YẾ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
NGUYỄN THU HƯƠNG
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA GIA ĐÌNH
CÓ CON TỰ KỶ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2020 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Hà Nội năm 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE
BỘ MÔN Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THU HƯƠNG
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA GIA ĐÌNH
CÓ CON TỰ KỶ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2020 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
CHUYÊN NGÀNH: Y tế công cộng
MÃ SỐ : 8 72 07 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐỖ MẠNH HÙNG
Hà Nội, năm 202
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn phổ tự kỷ (gọi tắt là tự kỷ) là một trong những rối loạn phát triển hay gặp ở trẻ em Trẻ bị mắc tự kỷ không những phát triển chậm về quan hệ xã hội, ngôn ngữ, giao tiếp, học hành mà còn có những rối loạn hành vi ảnh hưởng lớn đến gia đình và xã hội
Trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ thường gây ảnh hưởng đến gia đình và có mối liên quan với sự tăng các biểu hiện stress, lo
âu và giảm các mối quan hệ hỗ trợ xã hội
Tại Việt Nam, việc hỗ trợ các gia đình nuôi dạy trẻ tự
kỷ hầu như không có Trong khi đó, trẻ tự kỷ thường khó hoà nhập được môi trường giáo dục, môi trường xã hội bình thường Gia đình hầu như rất ít được hỗ trợ về y tế, giáo dục cho trẻ tự
kỷ, bên cạnh đó gánh nặng về chi phí y tế, giáo dục cũng cao hơn
Tại bệnh viện Nhi Trung ương, mỗi tháng có khoảng hơn 1000 trẻ đến khám được xác định có biểu hiện rối loạn phổ
tự kỷ Đánh giá chất lượng cuộc sống gia đình có trẻ tự kỷ là điều cần thiết, qua đó tìm ra các giải pháp hỗ trợ các gia đình trong việc nuôi dạy trẻ tự kỷ Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào đánh giá thực trạng về chất lượng cuộc sống gia đình trẻ tự kỷ Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu:
Trang 5“Thực trạng chất lượng cuộc sống của gia đình có
con tự kỷ điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2020
và một số yếu tố liên quan” Với 2 mục tiêu:
1 Đánh giá chất lượng cuộc sống của gia đình có con
tự kỷ điều trị tại bệnh việnNhi Trung ương, năm 2020
2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của gia đình có con tự kỷ điều trị tại bệnh viện được nghiên cứu
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Định nghĩa rối loạn phổ tự kỷ (Gọi tắt là tự kỷ)
Năm 1999, tại Hội nghị toàn quốc về tự kỷ ở Mỹ đã
thống nhất xếp tự kỷ vào nhóm các rối loạn phát triển lan tỏa và
đưa ra định nghĩa cuối cùng về tự kỷ: ‘‘Tự kỷ là một dạng bệnh
trong nhóm Rối loạn phát triển lan tỏa, ảnh hưởng đến nhiều
mặt của sự phát triển nhưng ảnh hưởng nhiều nhất đến kỹ năng
giao tiếp và quan hệ xã hội” [6].
1.2 Khái niệm chất lượng cuộc sống gia đình
Chất lượng cuộc sống gia đình là việc nói đến mức
độ trải nghiệm mỗi cá nhân với chất lượng cuộc sống của họ
trong hoàn cảnh gia đình, cũng như cách gia đình như một
tổng thể các cơ hội để theo đuổi những khả năng quan trọng
và đạt được những mục tiêu là một phần trong cộng đồng và
xã hội [22]
1.3 Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước về thực
trạng chất lượng cuộc sống của gia đình có con tự kỷ
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Brown, MacAdam-Crisp, Wang, và Iarocci (2006) đã
kiểm tra CLCSGĐ trong những gia đình có trẻ mắc tự kỷ so với
cácgia đình có trẻ mắc hội chứng Down và gia đình trẻ bình
thường, kết quả cho thấy những gia đình có trẻ mắc ASD chỉ ra
rằng sự hài lòng thấp hơn so với các gia đình khác trong nghiên
Trang 7cứu về phần lớn các khía cạnh (FQOLS-2000) nhưng nhóm gia đình có trẻ mắc hội chứng Downcó tỷ lệ không hài lòng cao hơn một chút ở yếu tố niềm tin vào tâm linh và văn hoá Hơn nữa, với hầu hết (6/9) khía cạnh, ít hơn 1 nửa gia đình tham gia nghiên cứu chỉ ra rằng họ hài lòng hoặc rất hài lòng [21]
Trong nghiên cứu của Emily Gardiner and Grace Iarocci (2018) về chất lượng cuộc sống gia đình của 118 người thân trong gia đình của trẻ trong độ tuổi từ 6-18 tuổi mắc ASD
ở Columbia và Canada, kết quả cho thấy chỉ 26.2% hài lòng và rất hài lòng với các hỗ trợ dành cho họ
1.3.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Nguyễn Thị Thanh Liên (2009), trong luận văn thạc sỹ
Thái độ của cha mẹ đối với con có chứng tự kỷ tác giả đã chỉ ra
rằng phần lớn cha mẹ của trẻ tự kỷ có thái độ tiêu cực với trẻ Thái độ này xuất phát từ mặc cảm khuyết tật của con mình Tác giả đã chỉ ra rằng nhận thức của cha mẹ có ảnh hưởng đến tình cảm cũng như hành vi của họ đối với con mình [8]
Bác sỹ Quách Thúy Minh và các cộng sự thực hiện
nghiên cứu Tìm hiểu một số yếu tố gia đình và hành vi của trẻ
tự kỷ tại Khoa tâm thần Bệnh viện Nhi Trung ương (2004),
nghiên cứu đã chỉ ra có 55,5% trẻ tăng giao tiếp bằng mắt 64,1% giảm tăng động và 77,8% giảm xung động nếu được tiến hành điều trị tâm vận động và có sự hỗ trợ của gia đình [9]
Trang 8CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Bố hoặc mẹ của trẻ từ 36 tháng tuổi-18 tuổi đã được chẩn đoán mắc rối loạn phổ tự kỷ theo tiêu chuẩn lâm sàng DSM-V trước đó theo danh sách được theo dõi tại khoa Tâm thần - Bệnh
viện Nhi Trung ương
* Tiêu chuẩn lựa chọn:
-Trẻ từ 36 tháng -18 tuổi đã được chẩn đoán mắc rối
loạn phổ tự kỷ theo tiêu chuẩn lâm sàng DSM-V trước
đó theo danh sách được theo dõi tại khoa Tâm thần - Bệnh viện Nhi Trung ương
- Bố hoặc mẹ của trẻ đã được chọn
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Trẻ dưới 36 tháng tuổi
- Bố hoặc mẹ trẻ không biết chữ hoặc không đủ khả năng nhận thức
- Bố hoặc mẹ trẻ không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Khoa Tâm thần, bệnh viện Nhi Trung ương
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ 01 tháng 04 năm 2020 đến 01 tháng 08 năm 2020
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Trang 9Nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang có phân tích, nghiên cứu định lượng
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
* Công thức tính cỡ mẫu:
Trong đó:
n: cỡ mẫu cho gia đình cần tham gia nghiên cứu
Z(1-α/2): là hệ số tin cậy, bằng 1,96 với độ tin cậy 95% (α = 0,05)
p=50%= 0,5: Tỷ lệ không hài lòng với chất lượng cuộc sống gia đình của gia đình trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ Tại thời điểm tiến hành xác định cỡ mẫu nghiên cứu, nhóm nghiên cứu chưa ghi nhận được nghiên cứu nào trước đây tại Việt Nam về đề tài này,
vì vậy chúng tôi lấy p=0,5
d: Khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ p thu được từ mẫu và
từ quần thể (chọn d = 0,09)
Thay vào công thức trên, ta có n = 119, lấy thêm khoảng
5% đề phòng gia đình trẻ mắc phổ tự kỷ không đồng ý tham gia
nghiên cứu hoặc bỏ cuộc, do vậy cỡ mẫu điều tra là 125 gia
) 2
α
p) (1 p Z
Trang 10Nhi Trung ương Bốc thăm ngẫu nhiên, liên hệ và giải thích và mời gia đình bệnh nhi tham gia nghiên cứu
Khi cha, mẹ bệnh nhi đồng ý tham gia nghiên cứu, học viên mời đến khoa tâm thần khám cho trẻ, tư vấn và hướng dẫn cha hoặc mẹ bệnh nhi điền phiếu khảo sát
2.3 Nội dung và biến số nghiên cứu:
2.3.2 Tiêu chuẩn đánh giá rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ
- Sàng lọc tự kỷ chúng tôi sử dụng Phiếu sàng lọc trẻ tự kỷ theo DSM-V [32]
Trước khi tiến hành nghiên cứu, thang đo được đánh giá độ tin cậy bằng Cronbach’s alpha
2.4 Phương pháp thu thập thông tin
2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin
Sử dụng bộ câu hỏi tự điền đối với bố hoặc mẹ trẻ tự
kỷ tham gia nghiên cứu
2.4.2 Xây dựng bộ công cụ và thu thập số liệu
- Xây dựng bộ công cụ:
Trang 11+ Người xây dựng: Học viên kết hợp cùng với khoa Tâm thần bệnh viện Nhi Trung ương
+ Điều tra thử phát phiếu cho 15 đến 20 bệnh nhân và chỉnh sửa
- Người điều tra: Bác sỹ, Điều dưỡng trưởng, Điều dưỡng viên, Học viên được tập huấn kỹ lưỡng về kỹ thuật, phương pháp thu thập thông tin và thống nhất phương pháp điều tra cụ thể, khoa học
2.4.3 Kỹ thuật thu thập thông tin
- Khám tự kỷ: Trẻ được mời đến và khám xác định lại mức độ tự kỷ để đánh giá sự thay đổi tự kỷ
- Kỹ thuật được áp dụng là phỏng vấn gián tiếp đối tượng nghiên cứu (bố hoặc mẹ bệnh nhi được phát phiếu nghiên cứu để tự điền thông tin)
2.4.4 Quy trình thu thập thông tin và sơ đồ nghiên cứu
Bước 1: Xin phép chấp thuận từ Ban Giám đốc và Khoa Tâm thần – Bệnh viện Nhi Trung ương về việc tiến hành thu thập thông tin từ đối tượng nghiên cứu
Bước 2: Thống nhất với giảng viên và các cộng sự về cách lấy số liệu thông qua bộ câu hỏi soạn sẵn
Bước 3: Thông báo cho gia đình bệnh nhi về nghiên cứu
sẽ tiến hành: mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu, cách thức tiến hành, vai trò của gia đình bệnh nhi trong nghiên cứu
Bước 4: Tiến hành thu thập số theo kế hoạch
Trang 122.5 Phân tích và xử lý số liệu
- Làm sạch số liệu trước khi nhập số liệu
- Số liệu được nhập trên phần mềm EPIDATA 3.1 và phân tích trên phần mềm SPSS 20.0
- Các số liệu được tính ra trị số trung bình hay tỷ lệ %
Trang 13- Mỗi một đối tượng nghiên cứu được xác định bằng những mã riêng để dễ quản lý và dễ dàng thu thập lại số liệu
- Kiểm tra, xác định các biến bất thường, tính hợp lệ, tính logic của bộ số liệu
2.7 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu
- Đề cương nghiên cứu được hội đồng xét duyệt đề cương trường Đại Học Thăng Long thông qua
- Được sự đồng ý của Ban Giám đốc, bệnh viện Nhi Trung ương
- Nghiên cứu chỉ tiến hành thu thập thông tin, ý kiến của NB mà không tiến hành can thiệp
- Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác Mọi thông tin cá nhân sẽ được giữ kín và mã hóa trong nghiên cứu
- Người tham gia nghiên cứu được giải thích, cung cấp đầy đủ các thông tin về nghiên cứu
2.8 Hạn chế của nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích không xác định được mối quan hệ nhân - quả
- Do điều kiện hạn chế về thời gian, nguồn lực nên nghiên cứu tiến hành chọn mẫu với cỡ mẫu là 125 mẫu Vì vậy
dự kiến kết quả nghiên cứu chỉ mang tính chất tham khảo, không
sử dụng để suy rộng ra toàn bộ quần thể
Trang 14CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung về trẻ rối loạn phổ tự kỷ
3.1.1 Đặc điểm chung trẻ tự kỷ
Bảng 3 1 Thông tin chung về trẻ rối loạn phổ tự kỷ (n=125)
Thông tin chung Số lượng Tỷ lệ %
Giới tính Nam 78 62,4
Nữ 47 37,6
Độ tuổi
<6 tuổi 6 4,8 6-9 tuổi 95 76,0
>9 tuổi 24 19,2
Tình trạng đi
học
Học đúng độ tuổi 75 60,0 Học chậm, chuyên
Nhận xét: Trong số trẻ rối loạn phổ tự kỷ trẻ nam chiếm phần lớn với
62,4%, đa số trẻ tự kỷ ở độ tuổi 6-9 tuổi (76%), có 40% trẻ chậm đi học hoặc không thể đi học hoặc phải học lớp chuyên biệt; người chăm sóc trẻ đa số là mẹ với 81,6%
Trang 153.1.2 Một số rối loạn phát triển và bệnh kèm theo ở trẻ tự kỷ
Bảng 3 2 Các rối rối loạn phát triển của trẻ rối loạn phổ tự kỷ
Nhận xét: Ở trẻ rối loạn phổ tự kỷ hầu hết rối loạn ngôn ngữ (92%),
rối loạn phát triển vận động 14,4%, khuyết tật trí tuệ 52,8%, đa số mắc rối loạn tâm thần (80,8%)
Biểu 3 1 Tỷ lệ mắc các bệnh kèm theo của trẻ rối loạn phổ tự kỷ Nhận xét: Hầu hết trẻ rối loạn phổ tự kỷ (98,4%) mắc rối loạn kèm
theo
Mắc rối loạn kèm theo 98,4%
Không mắc 1,6%
Trang 163.2 Thực trạng chất lượng cuộc sống gia đình có trẻ rối loạn phổ tự kỷ
3.2.1 Đánh giá độ tin cậy thang đo chất lượng cuộc sống gia đình
Bảng 3 3 Đánh giá độ tin cậy thang đo chất lượng cuộc sống
gia đình
Khía cạnh thang đo
tương quan tổng biến
Hệ số tin cậy
Cronbach’s alpha
Tương tác gia đình 0,8751 0,8762 Nuôi dạy trẻ 0,8715 0,8765 Sức khoẻ cảm xúc 0,7577 0,9036 Chăm sóc thể chất 0,8629 0,8803
Hỗ trợ liên quan khuyết tật ở trẻ 0,6005 0,9080
Nhận xét: Cronbach’s Alpha là 0,9142, các hệ số tương quan
tổng các biến quan sát trong thang đo đều > 0,4 và không có khía cạnh nào của thang đo bị loại bỏ
Trang 173.2.5.Thực trạng chăm sóc sức khoẻ thể chất
Bảng 3 4 Thực trạng chăm sóc sức khoẻ thể chất (n=125)
Chỉ số đánh giá
Mức điểm hài lòng (n=125) (Số lượng (tỷ lệ%))
TVGĐ đi cùng phương tiện 0(0) 10(8,0) 40(32,0) 47(37,6) 28(22,4)
GĐ được chăm sóc y tế khi
GĐ có cảm giác an toàn tại
nhà, nơi làm việc, trường
học và hàng xóm xung
quanh
5(4,0) 1(0,8) 24(19,2) 74(59,2) 21(16,8)
Nhận xét: Trong các chỉ số về thực trạng chăm sóc thể chất cao nhất
là chỉ số GĐ được chăm sóc y tế khi cần có mức điểm 3,8±0,7 và chỉ
số GĐ có cảm giác an toàn tại nhà, nơi làm việc, trường học và hàng
xóm xung quanh với mức điểm 3,8±0,9, tỷ lệ hài lòng lần lượt tương
ứng là 60% và 66% Trong khi đó chỉ số có mức điểm thấp nhất là GĐ
Trang 18có cách để quan tâm đến sự chi tiêu có mức điểm 3,5±0,7, tỷ lệ hài lòng là 42,4%
Biểu 3 2 Tỷ lệ CLCSGĐ với thực trạngchăm sóc sức khoẻ thể
chất (n=125)
Nhận xét: Mức điểm hài lòng với chăm sóc sức khoẻ thể chất
từ 12 đến 25, trung bình là 18,4±2,9 Đánh giá chung tỷ lệ CLCSGĐ với việc chăm sóc sức khoẻ thể chất mức độ thấp là 16%, mức độ trung bình/cao là 84%
3.2.7 Đánh giá chung
Biểu 3.3 Đánh giá chung CLCS GĐ có trẻ tự kỷ (n=125)
Nhận xét: Tổng điểm chung CLCSGĐ trẻ tự kỷ, trung bình
điểm là 88,9±13,84 Đánh giá chung CLCSGĐ mức độ cao là 80%, trong khi mức độ thấp/trung bình là 20%
CLCSGĐ trung bình/cao;
84,0%
CLCSGĐ thấp; 16,0%
CLCSGĐ trung bình/cao;
80,0%
CLCSGĐ thấp;
20,0%
Trang 193.3 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống gia đình có trẻ tự kỷ tại bệnh viện Nhi Trung ương
Bảng 3 5 Mối liên quan giữa CLCSGĐ và bất đồng cha mẹ
Nhận xét: Bất đồng trong nuôi dạy trẻ có mối liên quan có ý nghĩa thống
kê với CLCSGĐ ở trẻ tự kỷ Những gia đình có sự bất đồng trong nuôi dạy trẻ có khả năng CLCSGĐ mức độ thấp cao gấp 5,64 lần so với những gia đình không có sự bất đồng trong nuôi dạy trẻ (OR= 5,64; 95%CI 2,22-14,35); p<0,001)
Trang 20- Thực trạng chất lượng cuộc sống của gia đình trẻ tự kỷ:
+ Tương tác gia đình: Các chỉ số có mức điểm từ 3,7 đến 3,9, trung bình tổng điểm là 22,5±3,8, đánh giá chung chất lượng cuộc sống của gia đình trẻ tự kỷ mức độ thấp chiếm 20%,
+ Nuôi dạy con: Các chỉ số có mức điểm từ 3,5 đến 3,8, trung bình tổng điểm là 22,0±3,7, đánh giá chung chất lượng cuộc sống của gia đình trẻ tự kỷ mức độ thấp chiếm 21,6%
+ Sức khoẻ cảm xúc: Các chỉ số có mức điểm từ 3,1 đến 3,3, trung bình tổng điểm là 12,9±2,5, đánh giá chung chất lượng cuộc sống của gia đình trẻ tự kỷ mức độ thấp chiếm 49,6%
+ Chăm sóc sức khoẻ thể chất: Các chỉ số có mức điểm
từ 3,5 đến 3,8, trung bình tổng điểm là 18,4±2,9, đánh giá chung chất lượng cuộc sống của gia đình trẻ tự kỷ mức độ thấp chiếm 16%
+ Hỗ trợ liên quan đến tự kỷ ở trẻ: Các chỉ số có mức điểm từ 3,0 đến 3,4, trung bình tổng điểm là 13,1±2,9, đánh giá
Trang 21chung chất lượng cuộc sống của gia đình trẻ tự kỷ mức độ thấp chiếm 43,2%
+ Tổng điểm chung về chất lượng cuộc sống của gia đình trẻ tự kỷ trung bình 88,9±13,84, chất lượng cuộc sống của gia đình trẻ tự kỷ mức độ thấp chiếm 20%
2 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của gia đình có con tự kỷ điều trị tại bệnh viện Nhi Trung ương
- Các yếu tố thuộc về bản thân trẻ:
+ Đặc điểm trẻ tự kỷ: Người chăm sóc trẻ có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với chất lượng cuộc sống của gia đình (p<0,05), trong đó bố, ông, bà chăm sóc chính cho trẻ có khả năngvchất lượng cuộc sống của gia đình trẻ tự kỷ mức độ thấp cao gấp 3,46 lần so với người mẹ (95%CI 1,28-9,33)
+ RLPT và bệnh kèm theo: Rối loạn vận động, khuyết tật trí tuệ có mối liên quan đến chất lượng cuộc sống của gia đình trẻ
tự kỷ (p<0,05); trẻ rối loạn vận động có khả năng chất lượng cuộc sống của gia đình mức độ thấp cao gấp 4,24 lần so với trẻ bình thường (95%CI 1,46-12,28); trẻ khuyết tật trí tuệ có khả năng chất lượng cuộc sống của gia đình mức độ thấp cao gấp 3,57 lần so với trẻ bình thường (95%CI 1,32-9,69)
- Các yếu tố từ cha, mẹ trẻ:
+ Đặc điểm người mẹ: Học vấn, thu nhập người mẹ có liên quan có ý nghĩa thống kê với chất lượng cuộc sống của gia đình trẻ tự kỷ (p<0,05), mẹ học vấn ≤ PTTH có khả năng chất lượng cuộc sống của gia đình mức độ thấp cao gấp 3,12 lần so