Sự tham gia của phụ nữ trong Hệ thống chính trị cấp cơ sở nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Nam Định. Sự tham gia của phụ nữ trong Hệ thống chính trị cấp cơ sở nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Nam Định. Sự tham gia của phụ nữ trong Hệ thống chính trị cấp cơ sở nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Nam Định. Sự tham gia của phụ nữ trong Hệ thống chính trị cấp cơ sở nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Nam Định. Sự tham gia của phụ nữ trong Hệ thống chính trị cấp cơ sở nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Nam Định.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS.VŨ MẠNH LỢI
Hà Nội, 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ “Sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở: nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Nam Định” là
công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu trong luận án là trungthực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tất cả nhữngtham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Phương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Ba năm học nghiên cứu sinh đã hoàn thành, trong suốt ba năm vừa quabên cạnh việc tiếp thu được nhiều kiến thức khoa học, tôi còn nhận được nhiềutình cảm, sự giúp đỡ và ủng hộ quý báu của các thầy cô, người thân và bạn bè
Để hoàn thành chương trình học và luận án của mình, tôi xin gửi lời biết ơn sâusắc của mình tới:
PGS.TS.Vũ Mạnh Lợi, người thầy mà tôi luôn ngưỡng mộ về kiến thứckhoa học uyên thâm, tôi đã học hỏi được ở thầy nhiều kiến thức, kinh nghiệmquý giá, đặc biệt là thái độ nghiêm túc trong khoa học Nhìn lại tất cả những gìthầy đã dành cho tôi, hai chữ “Cảm ơn” là chưa đủ, tôi chỉ biết mượn một câungạn ngữ để nói rằng “Gặp được thầy tốt, phúc lành một đời”;
GS.TS Tong Xin, Trường Đại học Bắc Kinh đã có nhiều chia sẻ và giúp đỡtrong quá trình tôi nghiên cứu và hoàn thiện Luận án tại Đại học Bắc Kinh, TrungQuốc;
Khoa Xã hội học và các phòng ban thuộc Học viện Khoa học xã hội ViệtNam đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thựchiện luận án;
Hội LHPN tỉnh Nam Định, Hội LHPN các huyện Hải Hậu, Xuân Trường
và thành phố Nam Định, cán bộ, lãnh đạo tại 9 xã, phường, thị trấn mà Luận ántiến hành khảo sát … đã giúp đỡ tận tình trong quá trình tôi khảo sát thực địa tạiđịa phương;
Lãnh đạo Trường Đại học Nội vụ Hà Nội và các đồng nghiệp đã luônkhuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi, sẵn sàng chia sẻ và hỗ trợ trong quátrình tôi học tập và thực hiện luận án;
Bạn bè và các nhà khoa học mà tôi đã có cơ hội được cộng tác, làm việc
đã giúp tôi học hỏi thêm được nhiều kiến thức, kinh nghiệm để tôi có thể hoànthành luận án của mình;
Trang 4Những người thân yêu trong gia đình đã dành cho tôi sự ủng hộ thầm lặngnhưng vô cùng to lớn trong mọi lĩnh vực để tôi có thể yên tâm theo đuổi conđường học vấn đã lựa chọn.
Ba năm chỉ là quãng thời gian ngắn ngủi trong cuộc đời mỗi con người,nhưng với tôi, ba năm qua chính là sự khởi đầu cho một giai đoạn mới, một lựachọn mới – không ngừng nâng cao năng lực, kiến thức của bản thân, gắn bó vớikhoa học và cống hiến hết mình cho khoa học
Cuối cùng, tôi xin nguyện chúc cho tất cả các thầy cô, bạn bè, nhữngngười thân yêu của tôi luôn có được cuộc sống hạnh phúc viên mãn, sức khỏedồi dào
Hà Nội, 15 tháng 3 năm 2018
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các sơ đồ
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9
1.1 Nghiên cứu về sự tham gia chính trị của phụ nữ ở nước ngoài 9
1.2 Nghiên cứu về sự tham gia chính trị của phụ nữ ở Việt Nam 22
1.3 Đóng góp của các công trình nghiên cứu đã được thực hiện 42
1.4 Những khoảng trống trong nghiên cứu về phụ nữ tham gia chính trị 43
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 47
2.1 Một số vấn đề lý luận trong nghiên cứu sự tham gia chính trị của phụ nữ 47
2.2 Một số lý thuyết và phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu sự tham gia chính trị của phụ nữ 58
2.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 68
2.4 Khung phân tích của Luận án 81
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ TỈNH NAM ĐỊNH 83
3.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 83
3.2 Thực trạng sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở 90
3.3 Vai trò của phụ nữ trong giải quyết các vấn đề của hệ thống chính trị cấp cơ sở 100
Trang 6CHƯƠNG 4 MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ TỈNH
NAM ĐỊNH 105
4.1 Yếu tố thể chế 105
4.2 Yếu tố môi trường làm việc 108
4.3 Quan niệm truyền thống về vai trò của phụ nữ 114
4.4 Ảnh hưởng của gia đình 122
4.5 Các nhân tố từ bản thân phụ nữ 126
4.6 Đánh giá mức độ hưởng của một số nhân tố tới sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở 137
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 144
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
PHỤ LỤC 168
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UBQGVSTBPN Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1: HTCTCCS ở Việt Nam 50
Sơ đồ 2: Khung phân tích của Luận án 81
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tỷ lệ nữ tham gia cấp Ủy cấp huyện, thành phố và cấp cơ sở (%) 87
Bảng 3.2 Tỷ lệ nữ tham gia HĐND cấp huyện, thành phố và cấp cơ sở (%) 88
Bảng 3.3 Tỷ lệ nữ tham gia chính quyền cấp huyện, thành phố và cấp cơ sở (%) 90
Bảng 3.4 Tỷ lệ nữ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở (%) 92
Bảng 3.5 Vị trí công tác hiện nay của người được hỏi (%) 93
Bảng 3.6 Thực trạng tham gia vào các lĩnh vực công việc ở địa phương (%) 95
Bảng 3.7 Mức độ phù hợp của cá nhân đối với các lĩnh vực công việc (%) 98
Bảng 3.8 Đánh giá về việc phân công công việc hiện nay (%) 100
Bảng 3.9 So sánh “Làm chính” và “Đóng góp chính” của nam giới 102
Bảng 4.1 Mức độ đồng ý của người được hỏi và của người dân địa phương đối với một số quan niệm định kiến giới (%) 115
Bảng 4.2 Quan niệm về vị trí công tác phù hợp với phụ nữ và nam giới (%) 118
Bảng 4.3 Quan điểm về việc phân công các lĩnh vực công việc phù hợp cho nam giới và phụ nữ tại địa phương (%) 120
Bảng 4.4 Ưu thế về phẩm chất của phụ nữ và nam giới trong HTCTCCS (%) 134 Bảng 4.5 Những yếu tố ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS – tương quan theo giới tính và 139
Bảng 4.6 So sánh mức chênh lệch tỷ lệ giữa nam giới và phụ nữ về mức độ quan trọng của một số nhân tố tới khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ của phụ nữ (%) 141 Bảng 4.7 So sánh mức chênh lệch tỷ lệ giữa nông thôn và thành thị về mức độ quan trọng của một số nhân tố tới khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ của phụ nữ (%) 142
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ được phân công làm các công việc vặt, tạp vụ 96Biểu đồ 4.1 Mức độ nắm bắt thông tin về ban hành các văn bản liên quan đến công tác bình đẳng giới hoặc công tác cán bộ nữ 107Biểu đồ 4.2 Thuận lợi trong quá trình công tác tại HTCTCCS 110Biểu đồ 4.3 Đánh giá về năng lực công tác của phụ nữ 112Biểu đồ 4.4 Một số yếu tố liên quan tới gia đình tác động đến phụ nữ và nam giới 124Biểu đồ 4.5 Trình độ học vấn của những người được hỏi 127Biểu đồ 4.6 Trình độ lý luận chính trị của những người được hỏi 128Biểu đồ 4.7 Đánh giá về năng lực của phụ nữ và nam giới là CB, công chức, người HĐKCT trong HTCTCCS 130Biểu đồ 4.8 Đánh giá về năng lực của phụ nữ và nam giới là đại biểu HĐND trong HTCTCCS 131Biểu đồ 4.9 Trở ngại đối với sự thăng tiến của phụ nữ 136Biểu đồ 4.10 Một số nhân tố có ảnh hưởng quan trọng tới khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ của phụ nữ 140
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử hơn 4000 năm của Việt Nam, phụ nữ luôn chứng tỏ được vaitrò quan trọng của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Phụ nữ cómặt trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong bất kì lĩnh vực nào, ởbất kì giai đoạn lịch sử nào phụ nữ cũng luôn lao động, chiến đấu hết mình, sátcánh cùng nam giới trong sản xuất vật chất, gìn giữ, phát huy văn hóa truyềnthống của dân tộc, giữ gìn và bảo vệ tổ quốc Tuy nhiên, do ảnh hưởng của các tưtưởng thống trị phong kiến, do ảnh hưởng của hệ tư tưởng đạo đức Nho giáo, địa
vị phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội luôn bị hạn chế Phụ nữ luôn bị coi lànhững người phụ thuộc vào nam giới, cho dù nhiều khi trong gia đình họ làngười lao động chính, có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo đời sống kinh tế,vật chất của cả gia đình, nhưng họ thường không có quyền quyết định các côngviệc lớn Các công việc chăm sóc gia đình, chồng con, đảm bảo cuộc sống ổnđịnh cho gia đình được xem như là thiên chức của phụ nữ Ở chế độ phong kiếnphụ nữ rất ít khi được tham gia vào các hoạt động cộng đồng, thậm chí một sốphụ nữ có ý chí và tài năng, đã phải giả trai để tự tạo ra cơ hội được đóng gópnăng lực của mình cho đất nước
Kể từ năm 1930, Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam được thành lập, sựnghiệp giải phóng phụ nữ bắt đầu được quan tâm ở Việt Nam, phụ nữ có cơ hộiđược tham gia vào các hoạt động cộng đồng và tham gia vào đời sống chính trị củađất nước Kể từ đó đến nay, trong các cơ quan của Đảng, trong Quốc hội (QH), các
cơ quan dân cử địa phương, các cơ quan Quản lý nhà nước ở Trung ương (TƯ) vàđịa phương… đều có sự góp mặt của phụ nữ Nhận thức được vai trò to lớn củaphụ nữ, ĐCS Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương,đường lối, chính sách, luật pháp nhằm đảm bảo quyền bình đẳng và phát triển chophụ nữ trên mọi lĩnh vực, đồng thời nhằm huy động sự tham gia, đóng góp và
Trang 12năng to lớn của phụ nữ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Về cơ bảnViệt Nam là một nước có hệ thống cơ sở pháp lý về đảm bảo bình đẳng giới (BĐG)khá toàn diện.
Trong vài thập kỷ gần đây, địa vị phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực của đờisống xã hội đã được nâng lên khá nhiều, đặc biệt là địa vị chính trị Tuy vậy, trênthực tế, tỷ lệ phụ nữ tham gia các cấp ủy Đảng, tham gia các cơ quan dân cử ở
TƯ và địa phương, tham gia các cơ quan quản lý nhà nước các cấp còn thấp, đặcbiệt tỷ lệ nữ giữ các vị trí lãnh đạo chủ chốt trong các cơ quan này đều rất thấp,chưa tương xứng với những đóng góp, cống hiến của họ cho xã hội và do đóchưa phát huy hết được năng lực, tiềm năng to lớn của lực lượng lao động nữ
Nam Định là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, có trình độ kinh tế,
xã hội tương đối phát triển, trình độ dân trí cao, cách thủ đô Hà Nội – trung tâmchính trị của cả nước không xa Tuy nhiên các số liệu cho thấy, mặc dù tỷ lệ cán
bộ (CB) nữ ở các cấp trên phạm vi toàn quốc thấp, nhưng tỷ lệ CB nữ các cấpcủa tỉnh Nam Định còn thấp hơn so với tỷ lệ chung của toàn quốc
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các cơ quan,
tổ chức và của các nhà nghiên cứu về sự tham gia chính trị của phụ nữ, nhưngcòn rất ít các nghiên cứu đi sâu nghiên cứu sự tham gia của phụ nữ trong hệthống chính trị cấp cơ sở (HTCTCCS) – cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị ởViệt Nam hiện nay Với mong muốn cung cấp thêm các dữ liệu khoa học và thựctiễn để giúp các nhà quản lý và các nhà khoa học có thêm được cái nhìn toàndiện về thực trạng phụ nữ tham gia chính trị trong HTCTCCS, từ đó góp phầnlàm rõ hơn bức tranh tổng thể về sự tham gia chính trị của phụ nữ nói chung,
nghiên cứu sinh đã chọn đề tài “Sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS:
nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Nam Định” để làm Luận án tiến sĩ của mình.
Bên cạnh đó, nghiên cứu sinh cũng kỳ vọng các kết quả thu được từ quá trìnhnghiên cứu sẽ giúp khuyến nghị một số giải pháp thúc đẩy sự tham gia của phụ
Trang 13nữ trong HTCTCCS, thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực chính trị của tỉnh Nam Định nói riêng và của Việt Nam nói chung.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên những luận cứ khoa học và thực tiễn Luận án phân tích thựctrạng và ảnh hưởng của một số nhân tố đến sự tham gia của phụ nữ vàoHTCTCCS trường hợp tỉnh Nam Định, qua đó đề xuất một số giải pháp tăngcường sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS, thúc đẩy BĐG tại tỉnh NamĐịnh nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
(1) Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài;(2) Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
(3) Phân tích thực trạng sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS tỉnh Nam Định;(4) Phân tích ảnh hưởng của một số nhân tố tới sự tham gia của phụ nữ trong
HTCTCCS tỉnh Nam Định;
(5) Khuyến nghị một số giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong
HTCTCCS, thúc đẩy BĐG tại tỉnh Nam Định nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Thực trạng phụ nữ tham gia trong HTCTCCS tại tỉnh Nam Định hiện nay như thế nào?
(2) Những nhân tố xã hội nào tác động đến sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS tại tỉnh Nam Định?
(3) Cần có giải pháp gì để tăng cường và nâng cao hiệu quả sự tham gia
của phụ nữ trong HTCTCCS?
2.4 Giả thuyết nghiên cứu
(1) Tỷ lệ nữ trong HTCTCCS nói chung và tỷ lệ nữ giữ các vị trí lãnh đạo
chủ chốt trong HTCTCCS ở Nam Định hiện nay thấp, khi tham gia công tác trong
Trang 14HTCTCCS phụ nữ thường phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ và thường được giaođảm nhận các lĩnh vực công việc gắn liền với định kiến giới về vai trò của phụ nữ.
(2) Phụ nữ có những ưu thế riêng về trình độ, năng lực và phẩm chất trongviệc thực hiện nhiệm vụ và công tác tại HTCTCCS Phụ nữ có vai trò quan trọngtrong việc góp phần xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội và ổn định HTCTCCS ở địaphương
(3) Thể chế, môi trường công tác, quan niệm về vai trò của phụ nữ, giađình và các đặc điểm cá nhân là những yếu tố có thể góp phần khuyến khích,thúc đẩy hoặc gây cản trở tới việc thực hiện nhiệm vụ, quá trình thăng tiến củaphụ nữ trong HTCTCCS
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là “thực trạng và những nhân tố tácđộng đến sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS”
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận án đi sâu phân tích thực trạng và những nhân tố ảnh hưởng đến sựtham gia của phụ nữ trong HTCTCCS tại tỉnh Nam Định trong nhiệm kỳ 2016-2021
- Luận án được tiến hành từ tháng 5/2015 đến tháng 6/2017, trong đó thờigian thu thập thông tin sơ cấp được chia làm hai giai đoạn: giai đoạn 1 tiến hànhphỏng vấn phiếu được thực hiện từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2016; giai đoạn 2tiến hành phỏng vấn sâu, được thực hiện trong tháng 7 năm 2017
3.3 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của luận án bao gồm: Nam giới và phụ nữ là CB,công chức, người hoạt động không chuyên trách (HĐKCT), đại biểu Hội đồngnhân dân (HĐND) trong HTCTCCS;
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án dựa trên ba nguyên tắc cơ bản trong phương pháp luận nhận thức của
Trang 15chủ nghĩa Mác – Lê nin, bao gồm: Thứ nhất, đó là nguyên tắc đảm bảo tính khách
Trang 16quan, nghiên cứu sự vật, hiện tượng như bản thân chúng đang tồn tại, không phán
đoán chủ quan mà các kết luận phải dựa trên những chứng cứ khoa học tin cậy Thứ
hai, đó là nguyên tắc nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong sự phát triển Mỗi sự vật,
hiện tượng trong xã hội và tự nhiên đều có quá trình nảy sinh, vận động và phát triển
từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ hiện tượng đến bản chất Nguyên tắcnày đòi hỏi phải nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong một hệ thống, đặt sự vật, hiện
tượng trong môi trường với những mối liên hệ của nó Thứ ba, trong mối quan hệ
giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội thì tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội; thựctiễn là tiêu chuẩn của chân lý; thực tiễn kiểm chứng nhận thức
Ngoài ra, các nội dung nghiên cứu của Luận án còn được triển khai trên
cơ sở vận dụng các quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác
CB nữ; vận dụng quan điểm của lý thuyết nữ quyền Mác xít, lý thuyết vị thế vai xã hội và phương pháp tiếp cận Giới và phát triển (GAD) để triển khai cácnội dung nghiên cứu
-4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để có được các dữ liệu khoa học và thực tiễn, góp phần trả lời cho câu hỏinghiên cứu và giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đã được đặt ra, Luận án đã sửdụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, thông quacác phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật thu thập thông tin và phân tích thông cụthể bao gồm: phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp thu thập dữ liệu thứcấp theo biểu mẫu thống kê; phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi; phươngpháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả đã tiến hành thu thập và
nghiên cứu, phân tích thông tin từ các tài liệu có sẵn bao gồm: các văn bản củaĐảng, Nhà nước, của tỉnh Nam Định về công tác CB nữ; các tài liệu viết về một
số lý thuyết xã hội học, phương pháp tiếp cận GAD ; các báo cáo và số liệuthống kê về tình hình công tác CB nữ trong phạm vi toàn quốc và của tỉnh NamĐịnh; các công trình nghiên cứu và các bài báo khoa học của các tác giả trong và
Trang 17ngoài nước về vấn đề phụ nữ tham gia chính trị Tác giả đã sử dụng phươngpháp tổng hợp và so sánh để xử lý và phân tích các thông tin có được từ nguồntài liệu này.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp theo biểu mẫu thống kê: Ba biểu
mẫu thống kê số liệu đã được thiết kế và gửi cho các địa phương được khảo sát(bao gồm một biểu mẫu dành cho cấp tỉnh; một biểu mẫu dành cho cấp huyện,thành phố (TP); một biểu mẫu dành cho cấp xã, phường, thị trấn) nhằm thu thậpcác thông tin cụ thể về: số lượng, tỷ lệ CB nữ cấp cơ sở (tham gia cấp ủy, thamgia HĐND, Ủy ban nhân dân (UBND); tỷ lệ CB nữ giữ các chức danh cụ thể);trình độ, độ tuổi của đội ngũ CB nữ trong HTCTCCS
- Phương pháp phỏng vấn bảng hỏi: được sử dụng để phỏng vấn các đối
tượng là CB, công chức, người HĐKCT và đại biểu HĐND trong HTCTCCS nhằmthu thập các thông tin định lượng về: (1) thực trạng sự tham gia của phụ nữ trongHTCTCCS;
(2) phân tích ảnh hưởng của một số nhân tố đến sự tham gia của CB nữ trongHTCTCCS; (3) những điều kiện và giải pháp cần thiết góp phần tăng cường hiệu quả
sự tham gia của đội ngũ CB nữ trong HTCTCCS tại tỉnh Nam Định Các kết quảkhảo sát định lượng được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS Version 22.0 dànhcho các nghiên cứu khoa học xã hội để đảm bảo được tính khách quan, khoa học
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng
đối với: CB, công chức, người HĐKCT, đại biểu HĐND trong HTCTCCS để thuthập những thông tin định tính nhằm lý giải cho các số liệu, những thông tin đãthu được từ quá trình phân tích tài liệu và từ các thông tin định lượng Phươngpháp phỏng vấn sâu được thực hiện sau khi có kết quả xử lý và phân tích số liệuđịnh lượng một cách sơ bộ
4.3 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu
- Luận án đã tiến hành thu thập thông tin sơ cấp tại 3 huyện, TP, đại diệncho 3 vùng của tỉnh Nam Định, việc chọn danh sách các huyện, TP được thực
Trang 18+ Vùng trung tâm công nghiệp, dịch vụ: TP Nam Định
+ Vùng đồng bằng ven biển: huyện Hải Hậu
+ Vùng đồng bằng thấp trũng: huyện Trực Ninh
- Luận án đã tiến hành khảo sát trực tiếp tại 9 xã, phường, thị trấn Để đảmbảo tính đại diện giữa các vùng nông thôn và thành thị, tại TP Nam Định, nhómnghiên cứu đã lựa chọn 2 phường và 1 xã, tại huyện Hải Hậu và huyện TrựcNinh nhóm nghiên cứu đã lựa chọn 1 thị trấn và 2 xã/1 huyện để tiến hành khảosát Như vậy, luận án đã tiến hành khảo sát trực tiếp tại 5 xã và 4 phường, thịtrấn Việc chọn các xã, phường, thị trấn để khảo sát được chọn ngẫu nhiên dựatrên cơ sở danh sách các xã, phường, thị trấn do các địa phương cung cấp
Danh sách các xã, phường, thị trấn được khảo sát cụ thể như sau:
+ TP Nam Định: phường Trường Thi, phường Quang Trung, xã Mỹ Xá;+ Huyện Hải Hậu: xã Hải Long, xã Hải Phong, thị trấn Thịnh Long;
+ Huyện Trực Ninh: xã Trung Đông, xã Trực Chính, thị trấn Cổ Lễ
- Mẫu tham gia phỏng vấn bảng hỏi là toàn bộ CB, công chức, ngườiHĐKCT, đại biểu HĐND tại 9 xã, phường, thị trấn được khảo sát Tổng số mẫutham gia trả lời phỏng vấn bằng bảng hỏi là 360 người
- Mẫu tham gia phỏng vấn sâu: tại mỗi xã, phường, thị trấn phỏng vấn 2người, trong đó có 1 nam giới và 1 phụ nữ Tổng số 2 người/xã x 9 xã = 18 người
5 Đóng góp mới của luận án
- Luận án đã phân tích và chỉ ra ba khía cạnh ý nghĩa quan trọng đối với
sự phát triển của xã hội khi phụ nữ tham gia hoạt động trong hệ thống chính trị
- Luận án đã tập trung phân tích sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCStại một địa phương cụ thể - tỉnh Nam Định, góp phần cung cấp cái nhìn chi tiết,nhiều chiều cạnh hơn cho bức tranh chung về sự tham gia chính trị của phụ nữViệt Nam nói chung
Trang 196 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Luận án đã vận dụng quan điểm của lý thuyết nữ quyền Mác xít, lýthuyết vị thế - vai xã hội và phương pháp tiếp cận Giới và phát triển (GAD) đểlàm rõ cơ sở lý luận về sự tham gia của phụ nữ trong HTCTCCS;
- Luận án đã góp phần làm rõ vai trò của phụ nữ trong HTCTCCS;
- Luận án đã tiến hành phân tích về sự tham gia trong HTCTCCS của phụ
nữ, luận giải những nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của phụ nữ trongHTCTCCS
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án góp phần cung cấp các luận chứng khoa học và thực tiễn đểđưa ra những khuyến nghị nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trongHTCTCCS, thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực chính trị tại tỉnh Nam Định nóiriêng và ở Việt Nam nói chung
7 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và đề xuất giải pháp, nội dung của Luận ánbao gồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 3 Thực trạng sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị cấp
cơ sở tỉnh Nam Định
Chương 4 Một số nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong hệthống chính trị cấp cơ sở tỉnh Nam Định
Trang 20CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Nghiên cứu về sự tham gia chính trị của phụ nữ ở nước ngoài
Rất nhiều nước ở tất cả các châu lục khác nhau trên thế giới đã quan tâm đến
sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động chính trị Sự quan tâm này được thể hiện ởhai khía cạnh: (i) Chính phủ và các Đảng phái ở các nước đã ban hành các quy định
cụ thể nhằm thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị, (ii) các nhànghiên cứu và các cơ quan, tổ chức khác nhau đã tiến hành nhiều nghiên cứu cóliên quan đến vấn đề này Trong quá trình tổng quan tài liệu, chúng tôi tạm thờiphân các nghiên cứu của các nhà khoa học và các tổ chức, cơ quan nghiên cứu củanước ngoài về vấn đề phụ nữ tham gia chính trị theo một số nội dung sau:
- Thực trạng sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị của một số nước;
- Chính sách của các chính phủ trong việc thúc đẩy sự tham gia chính trịcủa phụ nữ;
- Những khó khăn và các nhân tố ảnh hưởng tới phụ nữ khi tham gia chính trị;
- Vai trò và những đóng góp của phụ nữ khi tham gia chính trị
1.1.1 Nghiên cứu về thực trạng sự tham gia chính trị của phụ nữ
Cương lĩnh hành động Bắc Kinh năm 1995 đã đặt ra mục tiêu: trước năm
2025, nghị viện các nước sẽ đạt tỷ lệ 30% phụ nữ Tuy nhiên, theo xu hướnghiện nay cho thấy mục tiêu này khó có thể đạt được
Theo Lương Thu Hiền [169], bản đồ tham chính của phụ nữ thế giới năm
2014 của Liên minh Nghị viện thế giới (IPU) và Quỹ phụ nữ Liên hiệp quốc (UNWomen) cho thấy, phụ nữ đang tham gia ngày càng sâu rộng hơn trong đời sốngchính trị, xã hội của các nước Đáng ngạc nhiên là Rwanda - quốc gia nghèo ở châuPhi đã chịu bao đau thương từ nạn diệt chủng 20 năm trước có tỷ lệ nữ trong QHcao nhất thế giới, lên tới 63,8% IPU gọi QH Rwanda là cơ quan lập pháp thânthiện với nữ giới nhất Tỷ lệ phụ nữ trong QH các nước Bắc Âu chiếm 42,11%.Trên toàn cầu chỉ có 29 quốc gia có tỷ lệ nữ trong QH trên 30%; 24 quốc gia nằmtrong nhóm
Trang 21gần đạt đến tỷ lệ 30% (từ 25% đến 29%) Châu Á- Thái Bình Dương và TrungĐông vẫn là những khu vực có tỷ lệ nữ tham gia QH thấp hơn các khu vực khác(châu Á 18,4%, Thái Bình Dương 16,2%, Trung Đông 16%).
Trong danh sách xếp hạng về tỷ lệ nữ tham chính năm 2014, số lượng phụ
nữ ở các cơ quan ra quyết định chưa nhiều Chỉ có 25 nữ nguyên thủ trên tổng số
195 quốc gia trên thế giới, 36 nước có tỷ lệ phụ nữ giữ chức vụ bộ trưởng trong nộicác Chính phủ trên 30% Có 31 nước có tỷ lệ nữ Bộ trưởng dưới 10% và 8 quốcgia châu Á Thái Bình Dương không có nữ Bộ trưởng nào [169] Mặc dù Nghịquyết quan trọng 1325 của Hội đồng Bảo an LHQ năm 2000 đã công nhận phụ nữphải giữ vai trò trung tâm trong gìn giữ hòa bình, nhưng từ năm 1992 đến 2011 chỉ
có 9% những người tham gia các bàn đàm phán hòa bình là phụ nữ Tính đến tháng
8 năm 2015, chỉ có 22% đại biểu, nghị sĩ quốc hội là phụ nữ [79] Những con sốnày đã mô tả hết sức rõ nét bức tranh bất BĐG sâu sắc trong chính trị đang diễn ratại tất cả các khu vực và vùng lãnh thổ Thế giới vẫn đang khan hiếm lãnh đạo nữtrong toàn bộ hệ thống quản trị nhà nước từ cấp địa phương tới cấp quốc gia
Handbook of Gender and Work, SAGE Publications [149] là công trình mangtính học thuật của nhiều tác giả khác nhau Trong chương 9, với chủ đề “Genderinfluences on performance evaluations - Những ảnh hưởng Giới đối với công việc”,tác giả Kathryn M Barton cho rằng: Mặc dù trong ba thập kỷ vừa qua đã chứngkiến sự gia tăng số lượng lớn phụ nữ giữ những chức vụ quản lý, tuy nhiên vẫn còntồn tại cơ cấu giới tính trong các tổ chức Phụ nữ vẫn có rất ít đại diện trong các cấp
độ quản lý cao hơn Trong Chương 11 của cuốn sách này với chủ đề “Gender Effects
on Social Ifluence and Emergent Leadership - Những tác động giới đối với Ảnhhưởng xã hội và Tiềm năng lãnh đạo” thông qua việc nghiên cứu vị thế của phụ nữtrong các tổ chức, các tác giả phát hiện rằng mặc dù phụ nữ sở hữu 50% bằng cửnhân và 42% bằng cấp cao hơn và chiếm 46% lao động, nhưng phụ nữ vẫn tiếp tục
bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc, thiếu đại diện trong hầu hết các vị trí quyền lực(giữ ít hơn 5% quản lý cấp cao và các vị trí điều hành), lương thấp hơn nam giới
Trang 22Theo International IDEA [141], phụ nữ chỉ chiếm 16% ghế trong QH tính trên toàn thế giới Trong nghiên cứu này, International IDEA đã phân tích thực trạng tham gia chính trị của phụ nữ ở một số quốc gia và khu vực để so sánh sự khác biệt như Arab, Indonesia hay khu vực Mỹ La tinh… Sự tham gia vào chính trường của phụ nữ bản địa ở khu vực Mỹ La tinh được International IDEA (2005) đánh giá như là một hiện tượng.
Một nghiên cứu khác của International IDEA [140] về tình hình phụ nữ thamgia chính trị tiếp tục khẳng định: Mặc dù mỗi nước lại khác nhau, nhưng khu vựcArab nói chung đều có tỉ lệ phụ nữ tham gia chính trị rất thấp Đầu phiếu phổ thông
dù đã trở nên phổ biến ở nhiều nước, nhưng vẫn có những phụ nữ ở Arab bị từ chốiquyền đó Tỉ lệ phụ nữ tham gia vào lập pháp của phụ nữ Arab là thấp nhất trên thếgiới Tỉ lệ trung bình của thế giới vào tháng 1/2005 là 15,7%, trong khi ở Arab chỉ là6,7%
Với đất nước Indonesia, sự xuất hiện trong Nghị viện QH là một quá trìnhđấu tranh lâu dài của phụ nữ, tuy nhiên cho đến nay số lượng nữ giới trong QHIndonesia vẫn là con số khiêm tốn và ít ỏi
Tại Trung Quốc, vào năm 2001, có 14 nữ thứ trưởng, tỷ lệ CB nữ chiếm36,7% tổng số CB của cả nước Năm 2005, tỷ lệ CB nữ cấp Vụ, Cục chiếm 29%
so với tổng số CB lãnh đạo cùng cấp của cả nước Tại Hàn Quốc, vào năm 2002
tỷ lệ nữ công chức chiếm 32,9% tổng số công chức cả nước, nhưng chỉ có 1,3%công chức nữ thuộc đối tượng có thể tham gia vào các quyết định chính sáchquan trọng từ cấp 3 trở lên Tại Nhật Bản, vào năm 2000, tỷ lệ nữ trong Thamnghị viện (Thượng viện) là 17,1%, Chúng nghị viện (Hạ viện) là 7,5% và ởChính phủ các địa phương, tỷ lệ nữ đạt cao nhất là 19,7% [162]
1.1.2 Chính sách của các Chính phủ trong việc thúc đẩy sự tham gia chính trị của phụ nữ
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng việc áp dụng các hạn ngạch giới là một trongnhững giải pháp quan trọng được chính phủ, các đảng phái của một số quốc gia ápdụng có hiệu quả trong việc thúc đẩy sự tham gia chính trị của phụ nữ
Trang 23Tại Trung Quốc, tháng 7 năm 1990, Ban Tổ chức TƯ ĐCS Trung Quốc
và Hội Liên hiệp phụ nữ (Hội LHPN) toàn quốc Trung Quốc đã tổ chức hội nghịbàn về vấn đề bồi dưỡng CB nữ, tỷ lệ CB nữ trong các cơ quan thấp và tình trạnggià hóa của đội ngũ CB nữ Hội nghị đã đưa ra hai mục tiêu: đến năm 1995,100% các huyện và 50% các xã có CB chủ chốt là nữ; các đơn vị làm công tác tổchức CB cần ưu tiên quan tâm đến CB nữ [162]
Tại Indonesia, các nhà hoạt động phong trào ở Indonesia đã phải đấu tranhrất nhiều để có thể đưa hạn ngạch cho phụ nữ vào như một điều luật ở Indonesia và
đã thành công Khoảng 30% hạn ngạch tự nguyện cho mỗi bên đã được quy định ởtrong Điều luật số 12 (năm 2003), có hiệu lực một năm trước khi cuộc bầu cử năm
2004 được tổ chức Một điều khoản trong mục 65 Điều luật số 12 nêu ra là: mỗiđảng phái chính trị trong cuộc bầu cử được phép đề cử ứng viên làm thành viên củanghị viện cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp địa phương cho mỗi khu vực bầu cử với tỷ
lệ hiện diện của phụ nữ ít nhất là 30% Tuy nhiên, hệ thống hạn ngạch này là khôngbắt buộc và không có các chế tài để đảm bảo rằng các hạn ngạch này cần phải đạtđược trong thực tế, việc triển khai trên thực tế phụ thuộc rất nhiều vào ý muốn củacác đảng phái chính trị Không có hình phạt hay hình thức kỷ luật nào dành cho cácbên không áp dụng hạn ngạch [156]
Tại Ấn Độ, Bản Hiến pháp sửa đổi có hiệu lực năm 1992, quy định bắtbuộc phải có ít nhất 1/3 số ghế trong các cơ quan dân cử địa phương của Ấn Độdành cho phụ nữ Các chỉ tiêu giới được đánh giá là đã góp phần giảm sự phânbiệt giới về dài hạn thay vì tạo ra phản ứng chống lại phụ nữ [151] Trong cáckhu vực không xác định trước hạn ngạch, tỷ lệ tham gia của ứng viên nữ rất thấp.Khi cho phép có các lãnh đạo nữ ở các khu vực nhất định, sự tham gia của phụ
nữ như một ứng viên gia tăng đáng kể: trong cuộc bầu cử năm 1997 có tới trungbình 7,5% ứng viên nữ ở các khu vực định trước hạn ngạch, ở các khu vựckhông chỉ định trước hạn ngạch tỷ lệ này là 5% Ở những khu vực chỉ định trướchai lần (không phải chỉ định 1 lần) như Panchayats ở vùng Tây Bengal, số lượng
Trang 24ứng viên nữ được bầu chọn tăng hơn gấp đôi khi được chỉ định 2 lần (10,1%).Việc gia tăng tỷ lệ nữ trong hệ thống chính trị có vẻ như góp phần gia tăng tỷ lệphụ nữ phát biểu trong các cuộc họp ở các làng Ấn Độ: khi có phụ nữ đứng tronghàng ngũ lãnh đạo chính trị, tỷ lệ này lên tới 25% Sự gia tăng này rất có thể làkết quả trực tiếp của chính sách ra chỉ tiêu cho nữ lãnh đạo tham gia vào hội họp,hoặc gián tiếp dẫn đến sự thay đổi trong thiết lập xã hội có lãnh đạo nữ Dù bất
kể thế nào đi chăng nữa thì chính sách đặt ra trước chỉ tiêu cũng sẽ có vai tròquan trọng trong việc gia tăng sự tham gia của công dân nữ trong hệ thống chínhtrị (Bhavani, 2009, dẫn lại từ Panda,R và Ford,D 2011, [151])
Tại Argentina, các hoạt động tích cực đã được triển khai từ năm 1991, đếnnăm 1994, Hội đồng loại trừ mọi hình thái phân biệt đối xử chống phụ nữ đã đượcxây dựng và đưa vào trong nội dung của Hiến pháp quốc gia Ở cấp độ quốc gia họ
đã xây dựng được hạn ngạch là 30% đại biểu và thượng nghị sĩ trong QH, 22/24tỉnh có luật về hạn ngạch giới trong chính trị Các luật này đã được áp dụng và đạtđược các kết quả khác nhau, tùy thuộc vào hệ thống bầu cử ở mỗi địa phương [137].Vào năm 2005, trong Đại hội theo thông lệ lần đầu tiên của ĐCS (24-25/6, 2005) đãthông qua Hiến chương trong đó điều 3 đảm bảo nguyên tắc công bằng hiệu quảgiữa nam và nữ trong Đảng với một số nội dung cụ thể: Mọi sự lãnh đạo, ra quyếtđịnh và cơ quan đại diện trong Đảng đều có sự đại diện ngang bằng của nam và nữ;Danh sách các ứng viên cho các vị trí bầu cử ở tất cả các cấp phải có sự tham gianhư nhau; Trong trường hợp các vị trí chỉ có một thành viên, phải có sự luân phiên
về giới tính; Thúc đẩy bất kỳ biện pháp nào cho phép sự tham gia công bằng củanam và nữ vào các vị trí lãnh đạo và ra quyết định ở cấp quốc gia, tỉnh và huyện,cũng như trong các liên đoàn công nhân và trí thức, các cơ quan tư pháp và giáodục; Thúc đẩy việc trình những dự luật cho phép thực hiện các biện pháp chủ độnghướng đến sự tuân thủ có hiệu quả những nguyên tắc này [144]
Trong việc thúc đẩy tỷ lệ nữ tham gia chính trị, châu Phi nổi lên so với phầncòn lại của thế giới nhờ việc áp dụng hai loại hạn ngạch: đặt chỗ và tự nguyện của
Trang 25đảng Sự đại diện chính trị của phụ nữ đã tăng đều đặn ở châu Phi qua hai thập kỷ.Rwanda dẫn đầu thế giới về sự đại diện của phụ nữ trong chính trị, Mozambique
và Nam Phi cũng đứng trong 15 nước có thứ hạng cao nhất Sự gia tăng nhanhchóng này phần lớn do việc áp dụng hạn ngạch ở một số nước Sự tăng cường đạidiện của phụ nữ trong các cơ quan lập pháp quốc gia trong hơn bốn thập kỷ qua
đã diễn ra ở châu Phi Năm 1960, phụ nữ chiếm 1% các nhà lập pháp châu Phi,đến năm 2003, con số này đã tăng lên 14,3% Trong khi các nước có hạn ngạch ởchâu Phi có trung bình gần 17% phụ nữ trong chính trị thì con số trung bình ở cácnước không có hạn ngạch giới chỉ là 9% [128] Có thể là quá sớm để nói về mộttruyền thống thực thi hạn ngạch ở châu lục này, nhưng có những trường hợp hiệuquả rõ ràng khi hạn ngạch giới góp phần đảm bảo sự tiếp cận của phụ nữ đối vớicác cơ quan ra quyết định tại châu Phi
Bên cạnh việc đưa ra và áp dụng các hạn ngạch giới, các Đảng phái vàChính phủ các nước còn áp dụng nhiều biện pháp khác nhằm nâng cao tỷ lệ đạidiện của phụ nữ Tại Indonesia, các biện pháp như: tuyên truyền vận động lãnhđạo các đảng phái chính trị để tăng cường nhận thức về sự cần thiết của một khốibiểu quyết cụ thể (voting block); tăng cường tiếp cận của phụ nữ với các phươngtiện truyền thông như một công cụ để tập hợp ý kiến công chúng; trao quyền chophụ nữ thông qua giáo dục, đào tạo và khả năng tiếp cận thông tin là các biệnpháp đã được áp dụng [141]
Pakistan đã thành lập mạng lưới các nữ chính trị gia bao gồm các nữ ủyviên và sau đó đã trở thành một liên minh trong bầu cử Đã có tới hơn 500 phụ
nữ tham gia vào liên minh đó và tham gia tranh cử, 13 người trong số họ tranh
cử cho các vị trí lãnh đạo hội đồng và gần 65% trong số họ đã thắng cử Nhóm
nữ giới này giữ một vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước hiện tại [157]
Thông qua nghiên cứu tại Tây Bengal, Ấn Độ, Pande, R và Cirone, A [148]cho rằng sự tiếp xúc liên tục với các lãnh đạo nữ làm giảm thành kiến của cử tri đốivới họ, và điều này giúp cải thiện một cách đáng kể kết quả bầu cử cho phụ nữ
Trang 26Từ kết quả nghiên cứu ở một số quốc gia châu Phi, Ballington, J [128] chorằng những thành công điển hình đã được thấy ở những nước mà phong trào phụ nữkết hợp với các nữ (và nam) chính trị gia, từ các đảng chính trị hoặc trong các cơquan QH Nhiều tổ chức phụ nữ cũng tích cực hỗ trợ các ứng viên nữ qua việc thànhlập các cơ quan và các mạng lưới gây quỹ, cung cấp đào tạo và phát triển các kỹnăng, gây áp lực lên các đảng chính trị để đưa nhiều phụ nữ hơn vào các thứ bậc vàdanh sách ứng cử viên để bầu Bên cạnh đó, áp lực của các phong trào phụ nữ quốc
tế và các tổ chức quốc tế cũng có ảnh hưởng quan trọng đến tỷ lệ nữ tham gia chínhtrị Sự kết hợp các đề xuất của các tổ chức quốc tế và cảm hứng từ những thành côngcủa mỗi quốc gia và các liên minh xuyên quốc gia có ảnh hưởng tiềm tàng lớn
Ở châu Phi, những thành tựu đáng chú ý còn đạt được do kết quả của việcphụ nữ sử dụng chiến lược các cửa sổ đối với cơ hội chính trị Ở một số ít nướcnơi hệ thống lập pháp, bầu cử hay những cải cách trong đảng chính trị được thựchiện, phụ nữ đã nhân đó tạo áp lực để tham gia nhiều hơn vào các quá trình cảicách Trường hợp này cũng xảy ra trong một số kiến thiết sau xung đột
Một số quốc gia vừa trải qua nội chiến hoặc đấu tranh vì tự do, bao gồmEritrea, Mozambique, Namibia, Rwanda, Somalia, Nam Phi và Uganda đã xâydựng các dự thảo hiến pháp và khuôn khổ luật pháp mới, cũng như việc xâydựng lại các cơ quan luật pháp, tạo cho phụ nữ cơ hội chính trị quan trọng
Trên cơ sở nghiên cứu các kinh nghiệm của Rwanda, Ấn Độ và Nam Phinhằm đề xuất cải cách luật pháp và các nỗ lực vận động dân sự để khuyến khích
sự tham gia lớn hơn của phụ nữ vào chính trị ở Liberia, Cole, S [134] cho rằng,trong thời gian gần, Liberia cần thiết phải có những nỗ lực cụ thể, thông qua giáodục và vận động nhân dân, tạo điều kiện cho tất cả các nhân tố chính trị và thểchế trong lồng ghép giới, tạo ra một tương lai nơi nam giới và phụ nữ được đạidiện bình đẳng
Trong nghiên cứu về sự tham gia của phụ nữ trong các đảng chính trị ở châu
Mỹ Latinh, Llanos, B và Sample, K [144] đã cung cấp thông tin chia sẻ hàng loạt
Trang 27kinh nghiệm của các nước thuộc khu vực này trong việc nâng cao tỷ lệ và cải thiệnvai trò của phụ nữ trong hệ thống chính trị: Argentina đã thông qua Hiến chươngtrong đó điều 3 đảm bảo nguyên tắc công bằng hiệu quả giữa nam và nữ trongđảng; một số khu vực ở Costa Rica đã phát triển những Ban Thư ký cho phụ nữ;Costa Rica và Panama đã thiết lập được nghĩa vụ pháp lý phân bổ một phần kinhphí cho sự phát triển của phụ nữ; Một số tổ chức đã lựa chọn tự nguyện hỗ trợkinh phí trực tiếp cho phụ nữ, trang bị để nâng cao năng lực cạnh tranh chonhững nhà hoạt động nữ của họ; Đảng Cộng hòa Trung Mỹ và Dominica đã thúcđẩy các hiệp hội phụ nữ ở địa phương; Ở vài nước, phụ nữ đã đoàn kết lại quanhmột nghị trình chung – để tạo ra những thay đổi trong luật bầu cử nhằm có sựtham gia chính trị nhiều hơn; Tại Honduras, một liên đoàn các nữ đại biểu QH từtất cả các đảng đã kết hợp với các nhà hoạt động xã hội dân sự để khôi phục lạisáng kiến hạn ngạch được đưa ra bởi Ủy ban QH về các vấn đề phụ nữ.
Trong cuốn “Tổng hợp những thực tiễn tốt nhất được sử dụng bởi cácđảng chính trị để thúc đẩy phụ nữ trong chính trị”, dựa trên thông tin đầu vào từcác chuyên gia và thành viên trên toàn thế giới, iKNOW Politics [139] đã tổnghợp và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của các đảng chính trị nhằm thúc đẩy phụ
nữ trong chính trị bao gồm: Thiết lập các nhóm và các ủy ban cho phụ nữ trongcác đảng chính trị; Phân bổ quỹ cho đào tạo phụ nữ; Cung cấp những ưu đãi và
hỗ trợ về tài chính cho các ứng viên nữ; Thiết lập diễn đàn về vận động và thảoluận chính sách cho phụ nữ; Sự cân bằng giới trong các hoạt động của đảng; Tạo
ra động lực cho các đảng chính trị để thúc đẩy phụ nữ
Nghiên cứu những bài học từ Trung Mỹ, Clulow, M [133] đã tổng kếtmột số bài học trong việc nâng cao vai trò của phụ nữ trong chính trị ở khu vựcnày bao gồm: Thực hiện các chiến lược vận động của phong trào phụ nữ; Hànhchính địa phương đảm bảo nguyên tắc “từ, với, vì phụ nữ”; Thúc đẩy hoạt độngcủa các tổ chức của phụ nữ và chính quyền địa phương
Trang 28Theo LHQ, các quốc gia cần có những thay đổi sâu rộng về pháp lý và lậppháp để bảo đảm quyền của phụ nữ trên toàn thế giới Đến năm 2014, hiến phápcủa 143 quốc gia đã đảm bảo công bằng giữa phụ nữ và nam giới, tuy nhiên vẫncòn 52 nước chưa thực hiện được điều này [79].
1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia chính trị của phụ nữ
Mặc dù đã có những tiến bộ về trình độ, năng lực nhưng phụ nữ vẫn tiếptục bị phân biệt tại nơi làm việc Một lý giải cho sự thăng tiến của phụ nữ trongcông việc thiếu tương xứng với những thành tích giáo dục của họ và số lượngtham gia vào lực lượng lao động là phụ nữ đang đối mặt với một bức trần kínhnhững rào cản phân biệt [149]
Các định kiến về khuôn mẫu giới là một trong những rào cản đối với sựtham gia chính trị của phụ nữ ở nhiều nước Khuôn mẫu “nghĩ đến quản lý, nghĩđến nam giới” dường như còn khá phổ biến Vào đầu những năm 1970 nhà tâm
lý học Virginia E.Schein đã xác định khuôn mẫu giới trong quản lý như là ràocản tâm lý chủ yếu đối với sự tiến bộ của phụ nữ ở Mỹ Sự toàn cầu hóa củaquản lý đã đặt ra nhu cầu hàng đầu cần xem xét mối quan hệ giữa các khuôn mẫuvai trò giới và những tính cách cần có trong quản lý trên phạm vi quốc tế Sau đó,các nghiên cứu của tác giả đã được nhân rộng ở Mỹ, Anh, Đức, Trung Quốc vàNhật Bản Dựa trên việc đánh giá lại các nghiên cứu này, tác giả đã cung cấp mộtgóc nhìn nền tảng về hiện tượng “nghĩ đến quản lý, nghĩ đến nam giới” trên phạm
Mô hình thực hành quyền lực cho nam giới cũng là một trong những khíacạnh của khuôn mẫu định kiến giới Theo mô hình này, vai trò sinh sản và chăm
Trang 29sóc được giao cho người phụ nữ và nó có những ảnh hưởng nhất định đến côngviệc Điều này có nghĩa là các đảng chính trị cần quan tâm đến những khía cạnhđời sống riêng của phụ nữ, hay nói cách khác, các đảng chính trị cần chú trọngđến “vai trò giới riêng biệt” này của phụ nữ để có những khu vực/ những phạm
vi công việc chỉ dành riêng cho nữ giới, giúp cho nữ giới chỉ tập trung hoạt động
ở đó và có thể hoàn thành tốt các vai trò giới của mình [144]
International IDEA [138] đã xác định ba nhóm rào cản để trúng cử vào
QH mà phụ nữ nói chung đang phải đối mặt bao gồm:
(i) Các rào cản về chính trị: Sự hiện hành/phổ biến của mô hình chính trị
và bộ máy nhà nước mang tính chất “nam trị”; Thiếu sự hỗ trợ của các đảng phái,
tổ chức Ví dụ: thiếu ngân sách hỗ trợ cho các ứng viên nữ; hạn chế trong việckết nối với các mạng lưới chính trị và các tiêu chuẩn hà khắc hơn áp dụng chophụ nữ; Thiếu sự duy trì trong liên lạc và hợp tác với các tổ chức công cộng khácnhư các tổ chức, công đoàn hay nhóm/hội phụ nữ; Điều đã tồn tại gần như tựnhiên trong hệ thống bầu cử: có thể thiên hay không thiên về các ứng viên nữ;Hạn chế trong tiếp cận với nền giáo dục tiên tiến cho khả năng lãnh đạo của nữgiới nói chung; và định hướng cho nữ giới trẻ tuổi kế cận nói riêng
(ii) Rào cản kinh tế, xã hội: Sự phổ biến của nạn mù chữ và giới hạn trongtiếp cận với giáo dục của phụ nữ so với nam giới; Sự lựa chọn nghề nghiệp theokhuôn mẫu giới của phụ nữ và nam giới; Gánh nặng kép về cả các trách nhiệmtrong gia đình và nghĩa vụ công việc
(iii) Trở ngại tư tưởng và tâm lý: Tư tưởng về giới, mô hình văn hóa vànhững định kiến xã hội gán cho nam giới và phụ nữ; phụ nữ thiếu sự tự tin đểđứng ra tranh cử; Quan niệm của phụ nữ về chính trị như một cuộc chơi “bẩn”;Cách mà các kênh truyền thông đa phương tiện mô tả về phụ nữ
Theo United Nation, Division for the Advancement of Women (DAW)[157], trong thời đại thế giới phẳng như hiện nay, các nhân tố bên ngoài như toàncầu hóa, thông thương quốc tế và chính sách kinh tế đều có ảnh hưởng đến các
Trang 30chính sách phát triển của từng quốc gia Do đó việc tạo ra một môi trường thuậnlợi cho sự tham gia của phụ nữ vào chính trị và phát triển cần được nhìn nhận rangoài phạm vi một quốc gia; nó cần được kết nối với các nhân tố toàn cầu Tráchnhiệm tạo lập ra một môi trường thuận lợi để hỗ trợ cho BĐG và cho sự tiến bộcủa phụ nữ là trách nhiệm chung của các quốc gia và cộng đồng quốc tế.
Một nhân tố quan trọng khác trong tạo môi trường thuận lợi cho phụ nữ cóliên quan đến bản chất của dân chủ và mức độ dân chủ trong xã hội Một phongtrào phụ nữ và xã hội dân sự mạnh là điều kiện để tạo dựng môi trường thuận lợi,tạo ảnh hưởng đến định hướng chính trị và phát triển cho quyền lợi của nữ giới.Việc tiếp cận với giáo dục, sức khỏe và công việc có mối quan hệ trực tiếp vớinâng cao năng lực, để phụ nữ tự tìm chỗ đứng cho mình trong chính trị Mộtnhân tố khác chính là ý thức của phụ nữ trong quyền tham gia vào chính trị - đó
là một yếu tố quan trọng cho cá nhân phụ nữ nói riêng và tập thể nói chung
Phân tích tình trạng số lượng ít ỏi của nữ giới trong QH Indonesia,International IDEA [141] đã chỉ ra 8 nguyên nhân dẫn đến tình trạng này baogồm: (i) Bối cảnh văn hóa gia trưởng; (ii) Nhận thức về BĐG và công lý vẫn cònthấp; (iii) Các ghế trong cơ quan lập pháp của các đảng phái thường được chiacho các ứng viên nam – những người thường được xếp thứ hạng cao hơn trongdanh sách bầu cử của đảng đó; (iv) Công tác truyền thông trong đánh thức nhậnthức của công chúng về sự quan trọng của đại diện phụ nữ trong QH còn thiếuhiệu quả; (v) Mối quan hệ gắn kết mạng lưới của các tổ chức phi chính phủ vàđảng phái chính trị cho mục tiêu tăng cường vai trò của phụ nữ trong QH khônghiệu quả; (vi) Nạn nghèo đói và trình độ giáo dục thấp của phụ nữ; (vii) Phụ nữ
đã có gia đình thường đối diện với nhiều rào cản hơn, đặc biệt khi họ ở thế đốilập với chồng mình; (viii) Các hoạt động chính trị đòi hỏi có sự đầu tư lớn về cảtiền bạc, thời gian và phụ nữ thì thường bị hạn chế, đặc biệt là hạn chế trong đầu
tư tài chính
Trang 31Cũng nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ phụ nữ trong QHIndonesia rất thấp, tác giả Siregar, W.Z.B [156] lập luận rằng trở ngại lớn nhấtđối với bầu cử cho phụ nữ được tìm thấy trong thiết kế tổ chức của hệ thống bầu
cử và cấu trúc của các đảng chính trị Luật cho bầu cử chung của nước này yêucầu người muốn ứng cử tham gia vào QH trước tiên phải là thành viên của mộtđảng phái chính trị, được chứng minh qua thẻ thành viên (điều 62, Điều luật 12,2003) Kết quả là, các đảng phái chính trị trở nên chiếm ưu thế trong quá trìnhlựa chọn ứng viên Danh mục ứng viên cho cấp quốc gia ở tỉnh Đông Java vàSidoarjo cho thấy hầu như các bên chỉ đề cử dưới 30% là phụ nữ
Trong khi đó, hệ thống danh sách bán mở rộng của tỷ lệ đại diện trongcuộc bầu cử năm 2004 góp phần vào sự lưỡng lự, e ngại của các đảng phái chínhtrị trong thực hiện hạn ngạch, càng làm cho phụ nữ khó khăn hơn trong việcđược bầu cử Trong hệ thống bầu cử của Indonesia thứ tự của ứng viên trongdanh sách có vai trò quan trọng trong việc quyết định xem người đó có đượctrúng cử hay không Quy tắc này dẫn đến sự cạnh tranh mãnh liệt trong các đảngphái để giành lấy vị trí dễ thắng cử trong danh sách Những nhân vật nổi bậttrong các đảng phái chính trị - những người mà phần lớn là đàn ông, đều đượcđặt ở các vị trí dễ chiến thắng
Những thách thức mà phụ nữ Bangladesh đang phải đối mặt khi muốntham gia chính trị xuất phát từ các yếu tố về xã hội, văn hóa và tôn giáo đặc thùcủa quốc gia này Bên cạnh đó sự “phớt lờ” bởi các đồng nghiệp nam cũng làmột trong những cản trở đối với phụ nữ [150]
Việc tham gia vào quá trình ra quyết định công của phụ nữ khu vực Trung
Mỹ đang gặp phải một số trở ngại như: Văn hóa gia trưởng và nam quyền; Ảnhhưởng tiêu cực đáng kể của nhà thờ, bởi vì nó có xu hướng gạt người phụ nữ rakhỏi đời sống chính trị và chống lại nghị trình nữ quyền; Các cơ chế cho sự thamgia công cộng hoặc xã hội thường được thiết kế nhằm giới hạn khả năng của phụ
nữ tham gia một cách hiệu quả; Phụ nữ ít tiếp cận với các nguồn lực kinh tế cần
Trang 32thiết để chi trả các chi phí cho các chiến dịch bầu cử; Phụ nữ tham gia vào đờisống chính trị là đối tượng của những hành vi chỉ trích và những lời đồn, trongkhi khả năng và các ý kiến của họ bị nghi vấn và chê cười Thậm chí khi đượcbầu họ cũng phải đối mặt với sự chống đối gay gắt, đặc biệt từ nam giới, nhữngngười cũng được bầu và những nhân viên khác, cả từ chính các đảng của họ và
từ đảng đối lập Thêm vào đó, họ có xu hướng bị đặt ra ngoài lề các vị trí quantrọng, cả trong đảng của họ và trong chính quyền địa phương hay quốc gia [133]
Ban, R and Rao, V [130] nhấn mạnh đến vai trò của người bạn đời trongviệc tham gia chính trị của phụ nữ Theo các tác giả phần lớn phụ nữ nếu khôngnhận được sự ủng hộ của bạn đời họ sẽ không tham gia ứng cử
1.1.4 Vai trò, đóng góp của phụ nữ khi tham gia chính trị
Sự tham gia chính trị của phụ nữ được đánh giá như một thước đo quan trọngcủa BĐG ở mỗi quốc gia Theo International IDEA [141], việc hạn chế sự tham giacủa phụ nữ vào việc đưa ra quyết định cũng phần nào hạn chế sự phát triển kinh tế,
xã hội, chính trị theo hướng BĐG Bởi khi nam giới độc quyền trong bộ máy chínhtrị, đưa ra các đạo luật chính sách ảnh hưởng đến số đông cộng đồng xã hội thì quátrình đưa ra quyết định sẽ không đảm bảo được yếu tố cân bằng lợi ích cho cả namgiới và phụ nữ
Các phát hiện của Lori Beaman, L at all [145] gợi ý rằng tăng quyền năngchính trị cho phụ nữ có thể đem lại những lợi ích quan trọng cho trẻ em Việc đầu tưnhiều hơn vào nước uống sạch có thể dẫn tới những cải thiện lớn cho sức khỏe củatrẻ em bởi vì các bệnh từ nước và bệnh tiêu chảy (trong đó có bệnh tả) hàng năm giếtchết hơn 1,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi Theo cuộc Khảo sát Sức khỏe Gia đình Toànquốc lần thứ hai (1998), 58% trẻ em ở Ấn Độ (ở giai đoạn 12-23 tháng tuổi) khôngđược miễn dịch hoàn toàn Trong hoàn cảnh đó điểm nổi bật mà tác giả phát hiện ra làchính sách của các nhà lãnh đạo nữ tăng khả năng trẻ em được miễn dịch hoàn toàn
Chattopadhyay, R and Duflo, E [132] nghiên cứu tác động của việc phụ
nữ lãnh đạo đối với các quyết định chính sách Nghiên cứu chỉ ra rằng việc đặtchỉ tiêu một ghế trong hội đồng tác động đến loại hình sản phẩm công được cung
Trang 33cấp Cụ thể, các nhà lãnh đạo đầu tư nhiều hơn cho hạ tầng liên quan trực tiếpđến nhu cầu của bản thân giới mình (phụ nữ đầu tư vào nước, nhiên liệu vàđường xá, trong khi nam giới đầu tư hơn vào giáo dục).
1.2 Nghiên cứu về sự tham gia chính trị của phụ nữ ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu về thực trạng tham gia chính trị của phụ nữ
1.2.1.1 Nghiên cứu về thực trạng tỷ lệ nữ tham gia hoạt động chính trị
Khi nghiên cứu về sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị cáccấp, hầu hết các nghiên cứu đều quan tâm đến việc mô tả thống kê về tỷ lệ, sốlượng CB nữ trong các lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn khảo sát Các số liệu đượcđưa ra có thể là những số liệu thống kê chung, nhưng cũng có thể là những sốliệu thống kê riêng cho từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương và từngnhiệm kỳ, từng giai đoạn, tùy thuộc vào phạm vi, mục tiêu nghiên cứu cụ thể củatừng công trình [63], [72], [76], [77], [79], [80], [82], [83], [87], [88], [94], [98],[107], [114], [115]
Việc mô tả các số liệu thống kê trong các công trình nghiên cứu, các bàibáo khoa học đã giúp cho độc giả có được cái nhìn đầy đủ hơn về thực trạngtham gia chính trị của phụ nữ Các tác giả đã rất thống nhất với nhau khi chỉ rarằng: tỷ lệ nữ tham gia cấp Ủy Đảng, QH và HĐND các cấp rất thấp, chưa tươngxứng tới tiềm năng của lực lượng lao động nữ và chưa đảm bảo chỉ tiêu đặt ratrong các văn bản của Đảng và Nhà nước Trong những nhiệm kỳ gần đây, tỷ lệ
nữ đại biểu QH đang có xu hướng giảm, cho thấy tính không ổn định của tỷ lệ
nữ đại biểu QH và đi ngược lại so với xu hướng chung của thế giới [79] Tỷ lệ
nữ đại biểu HĐND các cấp tăng dần, nhưng mức tăng chậm trong những nhiệm
kỳ gần đây [66], [78], [80], [114] Hầu hết các tỉnh đều có hiện tượng cơ cấu nữ
“hình phễu”: tỷ lệ nữ giảm dần từ cấp tỉnh tới cấp huyện và thấp nhất là cấp xã[108] Tỷ lệ nữ tham gia HĐND, tham gia cấp ủy Đảng có sự khác biệt theovùng miền, địa phương [66], [82]
Trang 341.2.1.2 Nghiên cứu về phẩm chất, đặc điểm chung của phụ nữ tham gia chính trị
Bên cạnh việc mô tả các số liệu thống kê, một số tác giả đã quan tâmnghiên cứu, phân tích và chỉ ra những phẩm chất, những đặc điểm chung của độingũ CB nữ và ý kiến của các tác giả cũng khá thống nhất trong chủ đề nghiêncứu này Theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả: đội ngũ CB nữ của nước ta
có năng lực, có những thế mạnh riêng, có khả năng hoàn thành tốt các nhiệm vụđược giao Đội ngũ CB nữ đã và đang có sự biến đổi về chất, số lượng và chấtlượng CB nữ không ngừng phát triển, có đóng góp nhất định trong công tác lãnhđạo, quản lý đất nước [62], [63], [75], [107]
Các tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến những thế mạnh thuộc về phẩm chất cánhân của phụ nữ như phẩm chất đạo đức tốt, lối sống giản dị, có tinh thần tráchnhiệm cao, cần cù, chịu khó, không nề hà vất vả, nghiêm túc, chịu khó nghiên cứu,không la cà, nhậu nhẹt, trung thực, thẳng thắn, khiêm tốn, biết lắng nghe, ứng xử hòanhã, dân chủ trong lãnh đạo, quản lý, có khả năng thuyết phục, tác phong sâu sát, liêmkhiết, tiết kiệm, ít tham nhũng, tạo được niềm tin với xã hội [47], [54], [61], [66], [94]
So sánh trong mối tương quan với đội ngũ CB nam, nhiều tác giả cùng cóchung nhận định, CB nữ hiện nay ngày càng có đầy đủ năng lực, có khả năngsáng tạo, hiện đang có mặt trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội: trong hệthống dân cử, trong các cấp ủy Đảng, trong hệ thống chính quyền, các cơ sở sảnxuất, kinh doanh và phụ nữ đã có đại diện ở vị trí lãnh đạo trong nhiều ngành,nhiều cấp [62], [63], [73] [107] Tác giả Trương Thị Minh Thông [103] khẳngđịnh, dù trong lĩnh vực hoạt động nào, đội ngũ CB nữ cũng đều phát huy đượcnăng lực, phần lớn chị em đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần
to lớn vào sự tăng trưởng kinh tế, xã hội của đất nước Phụ nữ ngày càng khẳngđịnh vị thế của mình trong sự bình đẳng với nam giới [98]
Trong nghiên cứu của mình, tác giả Phan Thanh Trâm và các cộng sự[107] còn nhấn mạnh: Qua thực tiễn, CB nữ đã chứng tỏ họ không thua kém nam
Trang 35giới và đang từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, khẳng định vai trò, vị trí, sựđóng góp của mình vào sự nghiệp quản lý đất nước, quản lý xã hội.
Nguyễn Đức Hạt [66] cho rằng: ở bất kỳ một lĩnh vực nào, hay với bất kỳmột chỉ báo năng lực nào phụ nữ đều có những thế mạnh nhất định so với namgiới và họ đều có khả năng làm tốt các công việc được phân công nếu họ đượcquan tâm tạo điều kiện, được đào tạo
Thông qua việc phân tích số liệu từ cuộc Tổng điều tra Nông thôn, Nôngnghiệp và Thủy sản năm 2006, tác giả Vũ Mạnh Lợi [82] phát hiện ra rằng, các
nữ Bí thư Đảng ủy xã có học vấn cao hơn các nam Bí thư Đảng ủy xã, để đạtđược vị trí Bí thư Đảng ủy xã, phụ nữ phải có trình độ học vấn cao hơn để giànhđược sự tín nhiệm trong các đảng viên ở địa phương
1.2.1.3 Nghiên cứu về vị trí, chức danh của phụ nữ trong hệ thống chính trị
Một khía cạnh khác cũng được các tác giả quan tâm nghiên cứu đó là vị trí,chức danh thực tế của phụ nữ trong các cấp Ủy Đảng, QH và HĐND các cấp.Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, không chỉ có tỷ lệ tham gia thấp mà phụ
nữ cũng rất ít giữ các vị trí, chức danh chủ chốt trong các cấp ủy, các ban Đảng,
QH và HĐND các cấp và thường ở vị trí cấp phó Để đưa ra được các kết luận,nhận định về vấn đề này, các tác giả thường dựa trên các số liệu thống kê chung
về tình hình tỷ lệ nữ giữ các vị trí chủ chốt trong các cấp ủy Đảng, QH vàHĐND các cấp [66], [79], [82], [86], [87], [98], [103], [104], [109], [114]
Theo Vương Thị Hanh [61], hầu hết phụ nữ trong thường vụ Đảng ủy cáccấp đều phụ trách công tác dân vận hoặc kiểm tra Phụ nữ ít có thực quyền trong bộmáy lãnh đạo và quyền lực Quyền lực chính trị thường tập trung vào nam giới.Trong bộ máy lãnh đạo Đảng, chính quyền và trong cơ quan dân cử, đa số phụ nữchỉ ở vị trí lãnh đạo cấp phó, là cấp giúp việc cho thủ trưởng Tỷ lệ phụ nữ giữ vị tríquyết định cao nhất trong hệ thống Đảng, HĐND, UBND các cấp chỉ dưới 5% VũMạnh Lợi [82] chỉ ra rằng tỷ lệ nữ giữ các vị trí lãnh đạo trong Đảng thấp hơnnhiều so với tỷ lệ Đảng viên nữ nói chung Nguyễn Phương Thảo [98] cho rằng,
Trang 36tham gia vào các cơ quan dân cử ít hơn nhiều so với nam giới và số phụ nữ đảmnhận chức vụ cao trong các cơ quan này lại càng ít hơn, phụ nữ thường chỉ làm cấpphó, giúp việc cho cấp trưởng là nam giới Trương Thị Minh Thông [103] cũngkhẳng định, tỷ lệ phụ nữ tham gia vào các cơ quan lãnh đạo, quản lý các cấp, cácngành từ TƯ đến cơ sở còn thấp Thậm chí ở nhiều cấp ủy, chính quyền, các cơquan lãnh đạo, quản lý không có nữ tham gia Võ Thị Mai [86] cũng đồng tình vớiquan điểm trên khi cho rằng, ở những vị trí chủ chốt của cả 3 cấp (tỉnh/huyện/xã)như bí thư và phó bí thư thì tỉ lệ nữ đều thấp Trong nghiên cứu của Nguyễn ĐứcHạt [66] nhấn mạnh: Số lượng CB nữ tham gia Thường vụ cấp ủy, HĐND, UBNDcác cấp vừa thấp lại vừa thiếu tính bền vững, ổn định, chưa đảm bảo chỉ tiêu tỷ lệ
CB nữ của nhiệm kỳ sau cao hơn nhiệm kỳ trước Nhiều Ban Thường vụ cấp ủycác cấp chưa có sự tham gia của CB nữ, đặc biệt ở cấp tỉnh
Trong báo cáo năm 2016 của LHQ tại Việt Nam còn đưa ra nhận định: TạiViệt Nam, số phụ nữ nắm vị trí lãnh đạo đang giảm Tỷ lệ phụ nữ nắm giữ vị trí
bộ trưởng và tương đương đã giảm từ 12% trong giai đoạn 2007-2011 xuống còn4,5% trong giai đoạn 2011-2016 Những vị trí cao trong lĩnh vực thực thi phápluật như công an, kiểm sát và tóa án phần lớn vẫn do nam giới nắm giữ [79].Trong năm 2015, trong số 281 vị trí thứ trưởng và tương đương thì chỉ có 36 vị trí
do phụ nữ đảm nhận (11%) [80] Trong một báo cáo khác của LHQ cũng khẳngđịnh, mặc dù có tỷ lệ đại diện tham gia hoạt động chính trị cao nhưng phụ nữ vẫnkhông xuất hiện nhiều ở vai trò lãnh đạo; tỷ lệ nữ công chức của Việt Nam cũngcao, nhưng chỉ có một tỷ lệ nhỏ phụ nữ nắm cương vị đưa ra quyết định [80]
1.2.1.4 Nghiên cứu về vai trò và đóng góp của phụ nữ khi tham gia chính trị
Một số tác giả còn quan tâm nghiên cứu về vai trò và những đóng gópthực tế của phụ nữ khi tham gia các cấp Ủy Đảng, QH và HĐND các cấp, tuynhiên chủ đề này chưa được các tác giả tập trung, đầu tư nghiên cứu nhiều.Trong Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 37-CT/TƯ của Ban Bí thư TƯ
Trang 37Đảng khóa VII (2004) đã khẳng định: hầu hết CB nữ lãnh đạo quản lý các ngành,các cấp đã đảm nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao [47].
Thông qua việc phân tích số liệu của kỳ họp thứ 5, QH khóa X, tác giả PhanTrung Lý [83] cho rằng: đại biểu nữ tích cực tham gia thảo luận, xem xét các vấn đềthuộc chương trình kỳ họp Nếu lấy tỷ lệ đại biểu nam/nữ phát biểu so với tổng sốđại biểu nam/nữ cho thấy không có sự khác biệt đáng kể theo giới tính: số đại biểu
nữ phát biểu so với tổng số đại biểu nữ trong QH đạt 61%, trong khi đó tỷ lệ này ởđại biểu nam là 64,5% Tỷ lệ đại biểu nam và nữ thảo luận về kinh tế, xã hội làtương đương Tỷ lệ đại biểu nam tham gia thảo luận Luật báo chí và Luật doanhnghiệp cao hơn so với tỷ lệ này ở đại biểu nữ, nhưng tỷ lệ nữ tham gia thảo luận về
dự thảo Bộ Luật hình sự và chất vấn Bộ trưởng lại cao hơn so với tỷ lệ này ở đạibiểu nam
UNDP cũng cho rằng, mặc dù hiện chỉ có chưa tới 30% tổng số đại biểu
QH là nữ, song sự hiện diện, tiếng nói, ý kiến, quan điểm của họ đang ngày càngtrở nên quan trọng Nữ đại biểu QH trình bày về các vấn đề của phụ nữ, đứng rabênh vực và bảo vệ cho quyền lợi của phụ nữ nhiều hơn so với các đại biểu QH lànam giới Việc tăng cường sự hiện diện của phụ nữ trong các cơ quan dân cử sẽgóp phần cải thiện chất lượng quản trị nhà nước (dẫn lại từ UNDP, 2015 [114])
Tác giả Võ Thị Mai [88] có những nhận định trái chiều so với đánh giácủa Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 37-CT/TƯ của Ban Bí thư TƯĐảng khóa VII (2004) [47] và của Phan Trung Lý [70] về vai trò, đóng góp của
CB nữ: trong nhiều cơ quan như QH vai trò tư vấn và ra quyết định của nữ CBcòn nhiều hạn chế và yếu kém
Có thể thấy, trong những năm qua nhiều tổ chức, cơ quan nghiên cứu vànhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu về vấn đề phụ nữ tham gia các cấp ủyĐảng, QH và HĐND các cấp Các công trình nghiên cứu, các bài viết về chủ đềnày thường dựa trên những số liệu thống kê để đưa ra bức tranh chung về thựctrạng tình hình tham gia cũng như thực trạng về vai trò của phụ nữ trong những cơ
Trang 38định
Trang 39tính để khái quát nên những đặc điểm, phẩm chất, năng lực chung và những đónggóp thực tế của phụ nữ khi tham gia cấp Ủy Đảng, QH và HĐND các cấp Tuynhiên, trong số các đầu tài liệu mà tác giả thu thập được, chỉ có rất ít các tài liệuquan tâm đến chủ đề về những đóng góp thực tế của phụ nữ khi tham gia cấp ỦyĐảng, QH và HĐND các cấp Ngoài một vài công trình, bài viết trích dẫn lạinhững nhận định, đánh giá trong Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 37-CT/TƯ của Ban Bí thư TƯ Đảng khóa VII (2004) ([66], [76]) thì chỉ có rất ít tácgiả khác quan tâm đến chủ đề này, tuy nhiên những kết luận, nhận định của cáctác giả dường như chưa có được sự thống nhất ([83], [88]).
1.2.2 Nghiên cứu về những nhân tố tác động đến sự tham gia hoạt động chính trị của phụ nữ
Các nghiên cứu đã chỉ ra năm nhóm nhân tố chính có tác động đến tỷ lệ
nữ tham gia chính trị ở nước ta bao gồm: (1) Các nhân tố liên quan đến cơ chế,chính sách của Đảng và nhà nước; (2) Các nhân tố liên quan đến việc chỉ đạo, tổchức thực hiện công tác CB của các cấp, các ngành; (3) Các nhân tố liên quanđến nhận thức giới, nhận thức về vai trò của phụ nữ của CB lãnh đạo các cấp vàtoàn xã hội; (4) Các nhân tố liên quan đến gia đình của CB nữ và (5) Các nhân tố
từ đặc điểm cá nhân người phụ nữ
1.2.2.1 Các nhân tố liên quan đến cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước
LHQ đánh giá Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc xây dựngkhung chính sách và pháp luật cho công tác thúc đẩy BĐG và quyền của phụ nữ[80] Tuy nhiên, việc triển khai chính sách và pháp luật còn yếu do thiếu cơ chếtrách nhiệm giải trình và thiếu nguồn nhân lực, năng lực kỹ thuật và ngân sách,cũng như nhận thức chưa đầy đủ về khái niệm BĐG thực chất của các nhà làmluật, chính sách và nhân viên chính phủ (Ủy ban CEDAW,CEDAW/C/VNM/CO/7-8.(2015), Nhận xét kết luận về báo cáo kết hợp báo cáođịnh kỳ lần thứ 7 và 8 của Việt Nam, ngày 6-24/7/2015, trích lại từ báo cáo củaLHQ [80]) LHQ cũng cho rằng khung pháp lý hiện hành của Việt Nam không
Trang 40cung cấp một cơ sở tốt để giải quyết sự phân biệt đối xử mang tính tương giaonhằm vào phụ nữ [80] Khuôn khổ pháp lý và các chính sách có sự phân biệt đối
xử (ví dụ như tiêu chí không công bằng về độ tuổi tham gia các chương trình đàotạo, không cân nhắc các cản trở sự nghiệp của phụ nữ do sinh con và các nghĩa
vụ với gia đình trong hệ thống thâm niên công tác, về hưu trước tuổi đối với phụnữ…) (Báo cáo của LHQ trích lại từ báo cáo của UNDP (2014): Sự lãnh đạo củaphụ nữ ở Việt Nam: Huy động tối đa các nguồn lực) [80]
Trong một số công trình nghiên cứu khác, các tác giả đã dành thời gian để
rà soát lại các văn bản chính sách, chỉ thị, nghị quyết, các quy định của luật phápcủa Đảng và nhà nước về những vấn đề có liên quan đến công tác CB nữ nóichung và trực tiếp là những quy định về tăng tỷ lệ nữ tham gia các cấp Ủy Đảng,
QH và HĐND các cấp Tùy theo mục tiêu và phạm vi nghiên cứu, có những tácgiả tiến hành rà soát các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa nhà nước kể từ những năm 1930 – khi ĐCS Việt Nam mới bắt đầu đượcthành lập [66], [107], nhưng cũng có những tác giả chỉ đi sâu rà soát các văn bản,quy định trong những giai đoạn nhất định [45], [88], [89]
Tác giả Phạm Thu Hiền [67] lại đi sâu phân tích yếu tố Giới trong các quyđịnh về hoạt động của HĐND Trong một nghiên cứu khác của Hội LHPN ViệtNam [46] đã chuyên khảo về các quy định có liên quan đến công tác bầu cử QH
và HĐND các cấp Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Việt Nam là nước có môitrường pháp lý thuận lợi, ủng hộ phụ nữ tham gia vào đời sống chính trị của đấtnước, Việt Nam là nước làm tốt công tác CB nữ, thể hiện không chỉ trên nhậnthức mà bằng những hành động cụ thể trong khuôn khổ pháp lý và công tác xãhội hóa… [62], [66] So với nhiều nước thì có vẻ điều này đúng, tuy nhiên, trênthực tế vẫn còn tồn tại những chính sách, những quy định cản trở phụ nữ vươnlên địa vị quản lý cấp cao Nổi bật nhất là chính sách phụ nữ về hưu trước namgiới 5 tuổi Điều này khiến cho con đường sự nghiệp của phụ nữ bị nén lại, ngắnhơn nam giới 5 năm [114]