Nâng cao chất lượng dạy nghề làm vườn cho học sinh phổ thông tại trường THCS Quang Tiến Nâng cao chất lượng dạy nghề làm vườn cho học sinh phổ thông tại trường THCS Quang Tiến Nâng cao chất lượng dạy nghề làm vườn cho học sinh phổ thông tại trường THCS Quang Tiến luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
- -
NGUYỄN TIẾN NGỌC
VƯỜN CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG TẠI
TRƯỜNG THCS QUANG TIẾN.
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM KĨ THUẬT CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
CHUYÊN SÂU: QUẢN LÝ VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ
HÀ NỘI- 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
- -
NGUYỄN TIẾN NGỌC
VƯỜN CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG TẠI
TRƯỜNG THCS QUANG TIẾN.
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM KĨ THUẬT CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
CHUYÊN SÂU: QUẢN LÝ VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS-TS TR ẦN VIỆT DŨNG
HÀ NỘI- 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, những gì tôi viết trong luận văn này là do sự tìm hiểu
và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể
Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kì một hội đồng bảo
vệ luận văn thạc sĩ nào và chưa được công bố trên bất kì một phương tiện thông tin nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ở trên
Hà Nội, ngày 10 tháng 01 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Tiến Ngọc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi trân trọng tỏ lòng biết ơn sâu sắc tập thể cán bộ giảng viên, Viện Sư phạm kỹ thuật trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và giúp
đỡ tôi hoàn thành khóa học
Tôi xin được bày tỏ lòng cám ơn đến Thầy giáo Trần Việt Dũng đã trực
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường THCS Quang Tiến, các đồng chí giáo viên, cán bộ, công nhân viên của trường THCS Quang Tiến đã giúp
đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình khảo sát, nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng chí chủ tịch, phó chủ tịch và các đồng chí cán bộ trong ủy ban nhân dân xã Quang Tiến đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình khảo sát, nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô, những ý kiến đóng góp của bạn bè đồng nghiệp và những người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 01 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Tiến Ngọc
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
L ời cam đoan
L ời cảm ơn
M ục lục
D anh mục các bảng
D anh mục các sơ đồ
Danh m ục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ VÀ GIÁO D ỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 5
1.1 Những quan điểm hướng nghiệp và dạy nghề cho HSPT 5
1.1.1 Ở nước ngoài 5
1.1.2 Ở trong nước 7
1.2 Những khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Hướng nghiệp 10
1.2.2 Nghề nghiệp 12
1.2.3 Tư vấn nghề 15
1.2.4 Dạy nghề 19
1.2.5 Chất lượng dạy nghề 21
1.3 Quản lý chất lượng dạy nghề phổ thông và hướng nghiệp 1.3.1 Quá trình giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề ở trường phổ thông 23
1.3.2 Các cấp độ quản lý chất lượng dạy nghề 25
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo và hướng nghiệp 29
1.4.1 Mục tiêu đào tạo 30
1.4.2 Chương trình đào tạo 32
1.4.3 Đội ngũ giáo viên 33
1.4.4 Phương pháp giảng dạy 36
1.4.5 Cơ sở vật chất và phương tiện dạy học 38
Trang 61.4.6 Mối quan hệ giữa nhà trường và địa phương 40
1.4.6 Mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy nghề và định hướng nghề 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY NGHỀ LÀM VƯỜN CỦA TRƯỜNG THCS QUANG TIẾN 46
2.1 Khái quát về trường THCS Quang Tiến trong 5 năm gần đây 46
2.1.1 Quá trình phát triển 46
2.1.2 Mục tiêu của trường THCS Quang Tiến 46
2.2 Đặc điểm của quá trình dạy nghề làm vườn tại trường THCS Quang Tiến 47 2.3 Thực trạng về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy nghề làm vườn tại trường THCS Quang Tiến 48
2.3.1 Công tác vận động học sinh học nghề 48
2.3.2 Chương trình dạy nghề 48
2.3.3 Đội ngũ giáo viên 51
2.3.4 Phương pháp dạy học 56
2.3.5 Đội ngũ học sinh 57
2.3.6 Cơ sở vật chất, trang thiết bị 58
2.3.7 Công tác quản lý quá trình dạy nghề làm vườn 59
2.3.8 Mối quan hệ giữa nhà trường và địa phương 62
2.4 Thực trạng về chất lượng dạy nghề làm vườn tại trường THCS Quang Tiến 63
2.4.1 Kết quả học tập của học sinh học nghề 63
2.4.2 Đánh giá đạo đức của học sinh 63
2.5 Phân tích các mặt mạnh, yếu trong quá trình dạy nghề làm vườn tại trường THCS Quang Tiến 64
2.5.1 Mặt mạnh 64
2.5.2 Mặt tồn tại 64
2.5.3 Nguyên nhân 65
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ LÀM VƯỜN TẠI TRƯỜNG THCS QUANG TIẾN 67
Trang 73.1 Một số nguyên tắc đưa ra các giải pháp 67
3.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng dạy nghề làm vườn tại trường THCS Quang Tiến 67
3.2.1 Đổi mới công tác vận động học sinh học nghề 67
3.2.2 Cải tiến nội dung chương trình dạy nghề 70
3.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề 72
3.2.4 Đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên 79
3.2.5 Nâng cao, giáo dục ý thức, thái độ nghề nghiệp cho học sinh học nghề 82
3.2.6 Tăng cường cơ sở vật chất và phương tiện dạy học 83
3.2.7 Tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường và địa phương 85
3.3 Kết quả thăm dò ý kiến về việc xây dựng các giải pháp 86
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PH Ụ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Các tiêu chí phân loại kiến thức, kĩ năng và thái độ của Bloom 29
Bảng 2.1 46
Bảng 2.2 Phân phối chương trình nghề làm vườn THCS 49
Bảng 2.3 Quy định số điểm tối thiểu 49
Bảng 2.4 Số Lượng giáo viên và học sinh tham gia học và dạy nghề làm vườn của trường THCS Quang Tiến 51
Bảng 2.5 Trình độ chuyên môn của giáo viên dạy nghề trường THCS Quang Tiến 52
Bảng 2.6 Trình độ sư phạm của giáo viên trường THCS Quang Tiến 54
Bảng 2.7: Trình độ ngoại ngữ của GV trường THCS Quang Tiến 55
Bảng 2.8 Trình độ tin học của giáo viên trường THCS Quang Tiến 55
Bảng 2.9 Quy mô và hiệu quả đào tạo nghề làm vườn 57
Bảng 2.10 Số lượng phòng lí thuyết và thiết bị giảng dạy lý thuyết 58
Bảng 2.11 Kết quả vận động học sinh học nghề 62
Bảng 3.1 Ý kiến của GV về tính cấp thiết và tính khả thi của giải pháp 87
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ trong GD & ĐT 200
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ trong giáo dục phổ thông cấp THCS 211
Sơ đồ 1.3 Các cấp độ quản lý chất lượng 26
Trang 10DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Trang 11lần thứ X cũng khẳng định: “Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh CNH – HĐH
nông nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn,
đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và có khả năng cạnh tranh cao” Hiện nay khu vực nông thôn đang tập trung một lượng lớn lực
lượng lao động của cả nước, nhưng phần lớn họ chưa được đào tạo nghề làm vườn
Do đó, việc đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn đang trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách nhằm xóa đói giảm nghèo, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo và sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước
Khi giảng dạy tại trường THCS Quang Tiến thuộc huyện Sóc Sơn, tỉnh Hà Nội, tôi nhận thấy rằng; sau khi học song lớp 9, hầu hết học sinh đều dự kì thi tuyển vào lớp 10 Trong số các học sinh dự thi thì chỉ có 60% đến 75% được tuyển vào lớp 10 Số học sinh còn lại thường đi học các trường THPT dân lập, TTGDTX của huyện , một trường nghề hoặc ở nhà giúp bố mẹ làm vườn
Hơn thế nữa, Xã Quang Tiến (Sóc Sơn - Hà Nội) là một trong những xã có
đủ các thành phần đất trồng như: Đất nông nghiệp, đất rừng Trong đó đất rừng đã được giao tới tay người dân cũng rất nhiều Đặc biệt là đất rừng kinh tế (rừng cây
ăn quả)
Trang 122
Từ những lí do trên tôi thấy cần phải nâng cao chất lượng dạy nghề làm vườn cho học sinh tại trường THCS Quang Tiến Điều đó sẽ giúp các em học sinh có cơ
của gia đình các em Đồng thời giúp các em định hướng được nghề nghiệp của
tế của xã Quang Tiến nói riêng và của huyện Sóc Sơn nói chung
Đa dạng hóa và chuẩn hóa từng loại hình đào tạo về chất lượng và các điều kiện đảm bảo chất lượng là phương châm hành động để đảm bảo phát triển giáo dục trên cơ sở đảm bảo chất lượng Các công trình nghiên cứu đã thể hiện sự đóng góp thiết thực và quý báu của các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục, các nhà giáo về công tác hướng nghiệp và đào tạo nghề Tuy nhiên, có thể khẳng định cho đến nay tuy có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề dạy nghề phổ thông và hướng nghiệp, song ở đây, tác giả muốn nghiên cứu một nghề phổ thông cụ thể tại trường THCS Quang Tiến Những địa phương có điều kiện kinh tế, đất đai tương
Vận dụng phương pháp kế thừa và phát triển, đề tài " Nâng cao chất lượng
dạy nghề làm vườn cho học sinh phổ thông tại trường THCS Quang Tiến” sẽ kế
thừa các nội dung, số liệu khoa học phù hợp của các công trình nghiên cứu của các
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn sẽ đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng dạy nghề làm vườn
nắm vững kiến thức tốt nhất các kĩ thuật làm vườn Đặc biệt, sau khi học song chương trình đào tạo nghề làm vườn, học sinh có thể:
thác tiềm năng kinh tế ngay trên mảnh đất của gia đình mình
Trang 133
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu cần phải thực hiện như sau:
sinh phổ thông
lượng dạy nghề làm vườn, điều kiện thực hành của trường THCS Quang Tiến
làm vườn và thực hành của trường THCS Quang Tiến
4 Phạm vi nghiên cứu
Trong nội dung này, luận văn sẽ không nghiên cứu chương trình dạy nghề làm vườn trên toàn bộ huyện Sóc Sơn mà chỉ nghiên cứu chương trình dạy nghề làm vườn tại trường trung học cơ sở Quang Tiến, huyện Sóc Sơn, tỉnh Hà Nội Vì trong thực tế hoạt động đào tạo nghề làm vườn chỉ áp dụng cho một số xã có cùng điều kiện đất đai như xã Quang Tiến, huyện Sóc Sơn mà thôi Những xã, thị trấn không có điều kiện đất đai như xã Quang Tiến thì các em học sinh không học nghề làm vườn mà học một nghề khác phù hợp với điều kiện của xã, thị trấn đó
Phạm vi về thời gian: Từ tháng 09 năm 2011 đến tháng 05 năm 2012 (Đây là chu kì một khóa đào tạo nghề cho học sinh trung học cơ sở trước khi các em học sinh bước vào kì thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT)
5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy nghề làm vườn tại trường trung học
cơ sở Quang Tiến
Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề
làm vườn tại trường trung học cơ sở Quang Tiến
6 Câu hỏi nghiên cứu:
nghề Làm Vườn?
bản gì so với những nghề khác?
Trang 144
và học nghề làm vườn của trường trung học cở sơ Quang Tiến?
7 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
tư liệu theo các nguồn khác nhau liên quan đến nội dung đề tài
liệu, đánh giá hiện trạng chất lượng đào tạo nghề làm vườn của trường THCS Quang Tiến, trên kết quả của các phiếu điều tra và ý kiến trả lời trên các phiếu hỏi
tích các số liệu và kết quả điều tra
vực giáo dục – đào tạo Sử dụng các kết quả, kết luận của các hội thảo khoa học về giáo dục và đào tạo
8 Cấu trúc luận văn
phụ lục, luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng dạy nghề và hướng nghiệp ở trường
Trang 155
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ VÀ GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1 Nh ững quan điểm hướng nghiệp và dạy nghề cho HSPT
1.1.1 Ở nước ngoài
Hầu như tất cả các nước tiên tiến trên thế giới đều rất quan tâm đến việc giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh phổ thông Bởi giáo dục chọn nghề phổ thông chính là mối liên hệ giữa trường học và đời sống, giúp HS hiểu rõ
ý nghĩa của việc học tập lý thuyết và liên hệ với thực tiễn là để chọn nghề, học nghề và đi vào cuộc sống một cách vững chắc, thúc đẩy tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào đời sống nhằm nâng cao chất lượng lao động, tiến lên của nền kinh tế hay chính trị của mỗi quốc gia Quan điểm hướng nghiệp và dạy nghề cho HSPT của mỗi nước, thuộc mỗi châu lục có những điểm tương đồng, nhưng cũng có những điểm khác biệt
a) Ở các nước Châu Âu: Tầm quan trọng trong định hướng nghề nghiệp
vượt xa so với sự phát triển về kinh tế, thanh niên họ là đại diện cho sự phong phú của xã hội chúng ta ngày hôm nay và trong tương lai (Sách trắng của ủy ban châu âu
Ở nước Pháp: Sau khi ra đời cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề”, năm
1975, nước Pháp tiến hành cải cách giáo dục nhằm vào hướng: tăng cường giáo dục tự nhiên và toán học, trong đó tăng kiến thức thực hành đối với khoa học tự nhiên, đưa giáo dục kĩ thuật vào để đảm bảo sự liên hệ giữa trường học và đời sống, đồng thời vẫn giữ vững ý nghĩa của các môn xã hội và nhân văn, giảm bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp các kiến thức khoa học, tăng cường tỷ trọng các kiến thức có ý nghĩa thực dụng và ý nghĩa hướng nghiệp để giúp học sinh trung học chuẩn bị đi vào đào tạo và cuộc sống nghề nghiệp
Ở nước Đức: Hệ thống trường phổ thông Đức quán triệt quan điểm nguyên
tắc hướng nghiệp, để chuẩn bị cho học sinh đi vào trường đào tạo nghề tuỳ theo
Trang 166
trình độ học tập của mỗi em Trẻ được phân loại ngay từ bậc Tiểu học, sau lớp 5, căn cứ vào thành tích học tập của từng em, trường phân loại học sinh thành hai loại: Loại học hết lớp 10 rồi đi học công nhân lành nghề tại các trung tâm dạy nghề và loại học hết trung học (lớp 12) Đến đây lại phân loại lần nữa, chỉ cho những học sinh học khá lên lớp 13 thi lấy bằng tú tài toàn phần và vào học các trường đại học, số còn lại sẽ vào học các cơ sở đào tạo nghề Trung cấp Sự phân loại sơ bộ được tiến hành từ khi học hết tiểu học, nhưng sẽ phúc tra đưa ra quyết định chính xác vào sau lớp 9 Xu hướng hiện đại hoá ở đây là tạo điều kiện cho học sinh có thể học nghề ngay khi đang học phổ thông, cung cấp hệ thống và kiến thức khoa học gắn với hướng đào tạo nghề một cách linh hoạt, giảm bớt tính hàn lâm của bậc học trung học hoàn chỉnh
không chỉ dạy lý thuyết đơn thuần, mà còn cung cấp cho học sinh một khả năng chuyển đổi thật nhanh và có sự bình đẳng trong tất cả các học sinh, làm cho học sinh vừa có kĩ năng lao động, vừa có tri thức Việc giáo dục này giúp cho học sinh biết tự ra được những quyết định về việc lựa chọn có tính hướng nghiệp, lập nghiệp trong và sau khi học ở trường và tham gia có hiệu quả vào đời sống lao động
c) Ở các nước Châu Á:
Ở Nhật: Theo tác giả Magumi Nishino ở Viện nghiên cứu giáo dục Nhật
Bản, học sinh trung học phải được: “Bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và
có khả năng lựa chọn nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân” Dù từ lâu, giáo dục Nhật Bản đã chú ý đến vấn đề hoàn thiện nội dung, hình thức dạy học kĩ thuật nhằm cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh phổ thông Chính vì vậy, ở Nhật, trong vòng 30 năm từ
bảo cho giáo dục phổ thông đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế cụ thể của đất nước Trong đó, nhiều biện pháp đã được áp dụng để nâng cao trình độ đào tạo nghề nghiệp và khoa học tự nhiên trong các trường tiểu học và trung học cơ sở
Trang 177
Ở Các nước ASEAN thì: Đang tăng cường GDHN cho học sinh phổ thông
Ví dụ như:
góp phần phát triển nhân cách là xây dựng nguồn nhân lực Mục tiêu của khoá học phổ thông 9 năm (từ lớp 1 – lớp 9) là tạo điều kiện cho mỗi học sinh có cơ hội bước vào ngưỡng của nghề nghiệp
nguồn nhân lực với trình độ tay nghề cần thiết để có thể lựa chọn nghề Chính vì thế mà ở cấp II đã thực hiện giáo dục nghề nghiệp, và chuẩn của học sinh là phải đạt được những kiến thức, kĩ năng, thông tin nghề nghiệp và tinh thần làm việc tối thiểu cần thiết để có thể chọn nghề Sang cấp III tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể như hướng nghiệp – dạy nghề
cơ bản, kĩ năng tối thiểu của một số công việc nội trợ, nông nghiệp và nghề thủ công Sang cấp II đẩy mạnh công tác GDHN gắn với một nghề trên cơ sở phù hợp với độ tuổi, sở thích, nhu cầu của mỗi học sinh, đây là bước tiền đề cho học sinh vào cấp III Giáo dục nghề nghiệp gắn liền với hướng nghiệp nhằm cung cấp cho học sinh những kĩ năng nghề nghiệp, tất cả các trường phải dạy nghề theo quy định của Bộ, học sinh đạt chuẩn sẽ được cấp chứng chỉ nghề
Như vậy, những công trình nghiên cứu về hoạt động dạy học, lao động chuẩn
bị nghề nghiệp ở nước ngoài đều được chú trọng, hầu như các quốc gia đều chú ý nhằm nâng cao hiệu quả dạy học lao động chuẩn bị nghề nghiệp cho học sinh phổ thông, tức là đề cập tới hoạt động GDHN và dạy nghề phổ thông
1.1.2 Ở trong nước
Ngay từ khi nước nhà giành được độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh
và Đảng ta rất coi trọng và vận dụng sáng tạo quan điểm giáo dục của chủ nghĩa
chủ nghĩa là nhà trường: Học đi với lao động; Lí luận đi với thực hành; Cần cù đi với tiết kiệm”
Tại các kỳ Đại hội của Đảng ta, giáo dục đều được quan tâm chú trọng, đặc
Trang 188
biệt là Nghị quyết TW2 (trung ương) khoá VIII đã đề ra nhiệm vụ của ngành giáo dục cần mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục kĩ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp Đại hội X, Đảng ta đã xác định đổi mới toàn diện giáo dục - đào tạo, yêu cầu dạy học phân ban và tự chọn ở cấp THPT trên cơ sở làm tốt công tác hướng nghiệp và phân luồng từ THCS Chính vì thế, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 126/CP ngày 27/4/1981 về công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông và sử dụng học sinh các cấp THCS và THPT ra trường
Trong chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt tại Quyết định 201/2001/QĐ - TTg ngày 28/12/2001 đã nêu rõ: “Thực
hiện nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”
Tiếp theo, năm 2005, luật giáo dục nước Việt Nam, điều 27 đã nêu rõ: “Giáo
dục trung học phổ thông giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân
để lựa chọn những hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” Đặc biệt là chỉ thị 33/2003 của Bộ
trưởng Bộ giáo dục và đào tạo về việc tăng cường công tác giáo dục hướng nghiệp
và dạy nghề phổ thông Chỉ thị đã nêu rõ: Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của nội dung giáo dục toàn diện trong nhà trường phổ thông và đã được xác định trong luật giáo dục và chiến lược phát triển giáo dục năm 2001 – 2010
Từ các Nghị quyết của Đảng và các Quyết định của Nhà nước , Các nhà nghiên cứu giáo dục đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm biến đường lối thành thực tế, có thể đơn cử:
Công trình khoa học của GS TS Phạm Tất Dong đã điều tra: “Trong những người không kiếm ra việc làm có đến 85% là thanh niên Trong tổng số thanh niên đứng ngoài việc làm thì 67,4% là không biết nghề”
Tác giả Hoàng Đức đã viết: “Trong cơ chế đổi mới hiện nay vấn đề chuẩn bị
nghề nghiệp là một yêu cầu nóng bỏng của thực tế xã hội” Học vấn phổ thông và
Trang 199
học vấn nghề nghiệp có phần giao thoa ngày càng rõ Phần giao thoa đó ngày càng lớn nghĩa là công tác GDHN và dạy nghề phổ thông được tiến hành sớm và phát triển mạnh, đó là cơ sở cho việc định hướng và phân luồng học sinh, chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
Kết quả nghiên cứu của tác giả hoàn toàn phù hợp với xu thế đổi mới của giáo dục trung học hiện nay
Có thể nói rằng, các công trình nghiên cứu khoa học khác nhau ở trong nước
và ngoài nước, những quan điểm, những Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng của Thủ tướng Chính phủ, cũng như Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo rất có giá trị về phương pháp luận và lý luận đối với việc thực hiện luận án này
Qua đó ta có thể rút ra những nhận xét sau đây:
Các công trình khoa học khác nhau về lĩnh vực GDHN và DNPT ở trong nước và ngoài nước đều quan tâm đến hoạt động dạy học lao động, chuẩn bị nghề nghiệp cho học sinh phổ thông dưới các hình thức và cách gọi khác nhau, mà thực chất của vấn đề là quan tâm tới hoạt động dạy NPT và hoạt động GDHN, nhằm chuẩn bị cho đa phần học sinh THPT và THCS
Các công trình nghiên cứu trên tập trung quan tâm tới vấn đề đổi mới nội dung, phương pháp, sử dụng tối ưu cơ sở vật chất – kĩ thuật phục vụ cho hoạt động dạy NPT và GDHN cho học sinh phổ thông Mặc dù vậy, việc nâng cao chất lượng GDHN và DNPT cho học sinh phổ thông còn chưa được giải quyết, đó là các vấn
đề đang được tập trung đề cập tới trong luận văn này
1.2 Nh ững khái niệm cơ bản
Học vấn nghề nghiệp Học vấn
Trang 2010
1.2.1 Hướng nghiệp
Ai cũng có thời cắp sách tới trường, học tập và vui chơi ở tuổi niên thiếu, hoài bão lớn lao ở tuổi thanh niên.Và cái đích cuối cùng là chọn cho bản thân một nghề cho tương lai, cống hiến cho tổ quốc, phát triển xã hội Trước khi rời ghế nhà trường phổ thông, tất cả đều phải chọn lựa đường đi cho mình Khi đó các câu hỏi
đại loại như: “mình sẽ làm gì”, “mình chọn nghề gì”, “nghề nào hay nhất” luôn
xuất hiện trong suy nghĩ của tuổi trẻ Có những em trả lời những câu hỏi trên thì không khó lắm, nhưng có nhiều em không biết trả lời thế nào nên còn đắn đo, dù các em đã trả lời được hay là chưa trả lời được câu hỏi trên nhưng chung quy lại việc trả lời đó chưa có cơ sở, chỉ mang tính chủ quan Đây là một vấn đề đặt ra cho ngành giáo dục và toàn xã hội cần quan tâm
Các chuyên gia tâm lý học, kinh tế học, chính trị học , tất cả đều cho rằng:
để giúp các em trong việc chọn nghề phù hợp với khả năng của mỗi em, các em có thể phát huy thế mạnh của bản thân khi ra cuộc sống thì cần làm tốt công tác hướng nghiệp cho các em, dưới nhiều hình thức khác nhau, cách tiếp cận khác nhau Hướng nghiệp có thể hiểu theo hai cách sau:
a) Hướng nghiệp trên bình diện xã hội
Để chọn được những con người có năng lực và những phẩm chất tốt phù hợp
trị và xã hội, các trường học, theo đúng những tiêu chuẩn đã định thì những cơ quan, tổ chức nói trên có nhiệm vụ làm cho thế hệ trẻ hiểu được nội dung, tính chất, đặc điểm, điều kiện công tác của mình, giúp cho họ hiểu được những nghề
động cho nghề nghiệp mà các cơ quan xí nghiệp cần tuyển nhân lực là vô cùng cần thiết, đó là cách thức “ hướng nghiệp cho mình”, đều xuất phát từ lợi ích và sự phát triển của mình Chính vì vậy nhiều nhà máy, xí nghiệp đã trang bị máy móc mới cho xưởng và trường học, nhằm giúp cho học sinh sớm làm quen với những phương tiện kĩ thuật mới để sau này, nếu tuyển đội ngũ học sinh vào nhà máy, các
em đã là người nắm được công cụ lao động rồi, từ đó sẽ chủ động và tin tưởng hơn trong công việc của mình
Trang 2111
Như vậy, hướng nghiệp có thể hiểu như là một hệ thống tác động của xã hội
về giáo dục học, y học, xã hội học, kinh tế học.vv nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân
Thanh thiếu niên phải được chọn nghề theo hứng thú, sở thích Công tác hướng nghiệp phải giúp chúng ngày càng nhận thức sâu sắc nghĩa vụ lao động, nhu cầu nhân lực mà xã hội đặt ra Do đó, hướng nghiệp phải là công việc được xã hội quan tâm đặc biệt Không nên để các thanh thiếu niên chọn nghề một cách tự phát, cũng không nên để cho số phận nghề nghiệp của mỗi học sinh, mỗi thanh thiếu niên phụ thuộc vào những gì hết sức ngẫu nhiên Hướng nghiệp đề cập ở đây
đã vượt ra khỏi phạm vi nhà trường phổ thông, liên quan đến cả tuyển chọn nghề, thích ứng nghề và hơn nữa là tư vấn và dịch vụ việc làm (cho cả đối tượng ngoài
xã hội)
b) Hướng nghiệp ở nhà trường phổ thông
Trong trường phổ thông, hướng nghiệp là một hình thức hoạt động dạy hay
tư vấn của thầy và hoạt động học chủ động của trò Với tư cách là hoạt động dạy của thầy, hướng nghiệp được coi như là công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm, có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội
Như vậy, hướng nghiệp trong trường phổ thông được thể hiện như một hệ
thống tác động sư phạm, nhằm làm cho các em học sinh chọn được nghề tương lai một cách hợp lý
Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông là một bộ phận của công tác hướng nghiệp ngoài xã hội, nhà trường phổ thông sẽ giúp các em đi vào các nghề trong xã hội Vì vậy, công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông phải thống nhất với công tác hướng nghiệp ở ngoài xã hội, hai bộ phận này có quan hệ hết sức mật thiết với nhau, bổ sung lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau
Như vậy: “ Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lí
Trang 2212
học, sinh lý học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối thiểu nguyện vọng, thích hợp với những năng lực, sở trường và tâm sinh lý cá nhân, nhằm mục đích phân bố hợp lý
và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động dự trữ có sẵn của đất nước”
Nói một cách khác, “ Hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp tác động
của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường giữ vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho học sinh cả về tâm thế và kĩ năng, để các em có thể sẵn sàng tham gia các hoạt động hoặc tự tạo việc làm ở các ngành nghề mà xã hội cần phát triển, đồng thời phù hợp với hứng thú, năng lực cá nhân cũng như hoàn cảnh gia đình”
c) Vị trí của hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông
Từ những quan điểm và các phân tích nêu trên ta có thể thấy rằng: hướng nghiệp là một hoạt động giáo dục trong nhà trường phổ thông, nhằm giúp cho học sinh những hiểu biết thông thường về thế giới nghề nghiệp, để có thể định hướng phát triển, lựa chọn nghề phù hợp với hứng thú cá nhân, năng lực bản thân và nhu cầu xã hội Trên cơ sở đó, các em tiếp tục học tập, rèn luyện để có thể phát triển
Hướng nghiệp cho học sinh THCS nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho HS; góp phần vào việc phân luồng học sinh phổ thông cấp THCS và cấp Trung học, là bước khởi đầu quan trọng của quá trình phát triển nguồn nhân lực cho xã hội
1.2.2 Ngh ề nghiệp, nghề phổ thông
a) Nghề nghiệp:
Theo chữ La tinh, nghề nghiệp có nghĩa là công việc chuyên môn được hình thành một cách chính thống, là dạng lao động đòi hỏi một trình độ học vấn nào đó,
là hoạt động cơ bản giúp con người tồn tại
Theo tác giả E A Klimốp thì: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức mạnh
vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao động xã hội mà có), nó tạo cho mỗi con người khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cho việc tồn tại và phát triển”
Trang 2313
Như vậy, chúng ta có thể hiểu về nghề nghiệp như một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội), vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản thân), trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thoả mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân Nghề luôn là cơ sở giúp cho con người có “nghiệp” (việc làm) và từ đó tạo ra sản phẩm thoả nãm nhu cầu cá nhân cũng như nhu cầu xã hội Còn nếu như một người nào đó chỉ có nghề mà không có nghiệp, người đó được coi là người thất nghiệp (ví dụ: sinh viên tốt nghiệp ra trường chưa tìm được việc làm)
Như vậy, nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó nhờ có đào
tạo, con người có được những tri thức, những kĩ năng để làm ra các sản phẩm vật chất và tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của bản thân và xã hội
Ở nước ta hiện nay, nhất là ở các khu vực đô thị và đô thị hoá, khái niệm nghề nghiệp càng ngày càng trở nên trừu tượng, phức tạp, khó nắm bắt Người lao động có khuynh hướng nói đến việc làm, việc làm tạm thời, mà chủ yếu là ngắn hạn với trung hạn và dài hạn Tính di động cao với nhiều lần chuyển đổi công ăn việc làm của một người lao động trong suốt quá trình tham gia thị trường của họ, dẫn đến khái niệm di động việc làm bên cạnh khái niệm di động nghề nghiệp, chuyên môn
Yếu tố tác động đến việc xác định lĩnh vực nghề nghiệp của cá nhân là lĩnh vực đào tạo của họ Ngày nay, người ta không chỉ chuyển đổi nhiều công việc khác nhau trong suốt lộ trình nghề nghiệp của cuộc đời, mà còn đồng thời có thể được đào tạo ở nhiều lĩnh vực khác nhau
Những yếu tố trên cho thấy, việc cần thiết phải xác định khái niệm nghề nghiệp trong môi trường xã hội đầy biến đổi và phải liên tục tìm hiểu, phân biệt nhiều khái niệm kề cận và liên quan đến khái niệm nghề nghiệp truyền thống như: việc làm, nghiệp vụ, sự nghiệp, công việc
b) Ngh ề phổ thông
Nghề phổ thông, hiểu theo nghĩa thông thường, là những nghề phổ biến, thông dụng đang cần phát triển ở địa phương, nắm được nghề này học sinh có thể tự tạo việc làm, dễ sử dụng trong các thành phần kinh tế tại chỗ của cộng đồng dân cư
Trang 2414
Nghề phổ thông là những nghề có kĩ thuật tương đối đơn giản, mọi người đều
có thể học được và phục vụ ngay cho cuộc sống của họ, quá trình dạy nghề không đòi hỏi phải có trang thiết bị phức tạp
Thời gian đào tạo nghề ngắn, tối thiểu là 90 tiết tối đa đến 180 tiết
Nguyên liệu dùng cho việc dạy nghề dễ kiếm, phù hợp với điều kiện kinh tế, khả năng đầu tư của địa phương
c) Đặc điểm của nghề làm vườn
* Đối tượng lao động:
Là các cây trồng có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao Đây là những thực vật sống rất đa dạng, phong phú bao gồm các cây ăn quả, các loại hoa, cây cảnh, rau, cây lấy gỗ, cây dược liệu… quan hệ với đất trồng, khí hậu
*Nội dung công việc:
Làm vườn nhằm tận dụng hợp lý đất đai, điều kiện thiên nhiên để sản xuất
ra những nông sản có giá trị cung cấp cho người tiêu dùng, tăng thêm thu nhập Kỹ thuật áp dụng trong làm vườn đòi hỏi phải thâm canh cao, sử dụng hợp lý năng lượng mặt trời, đất đai, bao gồm các loại công việc sau:
cày bừa, đập đất, san phẳng, lên luống…
cây để tạo ra nhiều hạt giống, cây giống tốt phục vụ sản xuất
loại cây
trừ sâu, tỉa cây, cắt cành, tạo hình, sử dụng chất kích thích, phân bón…
hiện công việc một cách nhẹ nhàng, cẩn thận, tránh giập nát, đưa ngay đến nơi tiêu thụ hoặc cất giữ, bảo quản chu đáo
Sản phẩm của làm vườn là các loại rau, hoa, quả, cây cành, gỗ…
* Công cụ lao động: Cày, cuốc, bừa, dầm, xẻng, thuổng, bơm thuốc trừ
sâu, bơm và ống dẫn nước, xe cải tiến, quang gánh, dao, kéo cắt cành, máy cày, máy bừa…
* Điều kiện lao động:
Trang 2515
chịu ảnh hưởng của nhiệt độ, ánh nắng, mưa, gió, tiếp xúc với các loại hóa chất (phân hóa học, thuốc trừ sâu, chất kích thích…) thường xuyên
khi tiến hành những công việc chăm sóc, theo dõi cây
* Các yêu cầu của nghề đối với người lao động:
được những thay đổi của khí hậu và thời tiết
óc thẩm mỹ
thành người kinh doanh vườn giỏi
* Những chống chỉ định cần thiết: Những người mắc các bệnh thấp khớp,
* Nơi đào tạo nghề:
Nghề làm vườn thường được đào tạo tại khoa Trồng trọt các trương trung cấp, cao đẳng và đại học Nông nghiệp hoặc các Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp, Trung tâm dạy nghề…
1.2.3 Tư vấn nghề
a) Khái ni ệm tư vấn nghề
Tư vấn nghề là một hoạt động trong đó chủ thể là một cá nhân hay một tổ chức có kinh nghiệm nắm vững một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp nào đó Chủ thể tư vấn là nơi thu nhận, sàng lọc, chuyền tải thông tin nghề và có khả năng ứng
xử với đối tượng tư vấn để thoả mãn những nhu cầu của đối tượng tư vấn Chủ thể
tư vấn cũng theo đó mà có thành phần xuất xứ rất đa dạng: đó có thể là những chuyên gia xã hội học, khoa học kĩ thuật, văn hoá, mỹ thuật
Mối quan hệ giữa chủ thể tư vấn và đối tượng tư vấn là mối quan hệ tác động, cải biến, trong đó chủ thể tư vấn ở vị trí tạo nên sự tác động nhờ việc truyền tải thông tin, phân tích, khuyên nhủ Đối tượng tư vấn ở vị trí người được cải biến nhờ việc tiếp nhận những thông tin chưa rõ ràng hoặc thiếu hụt
Trang 2616
Thông tin tư vấn nghề bao gồm cả những mặt được và chưa được, những thông tin thuận chiều hoặc ngược chiều của đối tượng thoả mãn nhu cầu kèm theo những lời khuyên nên hoặc không nên của chủ thể Trong rất nhiều trường hợp, nội dung tư vấn nghề lại bao hàm những thông tin phản bác lại suy nghĩ của đối tượng, vạch rõ những sai trái không thể chấp nhận được trong thực tiễn, hoặc những cản trở khiến học sinh không có khả năng thực hiện được ước muốn, đó được gọi là những thông tin phản bác chỉ đưa ra để đối tượng xem xét
và quyết định
Trong hoạt động tư vấn, ngoài sự tham gia chính yếu của chủ thể và đối tượng, chúng ta còn thấy sự có mặt của những phương tiện hỗ trợ như phim, video, tranh ảnh, đôi khi còn có cả những cuộc sát hạch thực tế tại hiện trường để đối tượng có điều kiện mắt thấy, tai nghe, làm sáng tỏ những nhận định của bản thân Hiện nay, có thêm phần mềm hỗ trợ tư vấn nên đã tăng thêm độ chuẩn xác,
đó là cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho các chuyên gia tư vấn đưa ra những lời khuyên tốt nhất cho đối tượng học sinh
Kết quả tư vấn được biểu thị qua mức độ thông hiểu, chấp nhận hay không chấp nhận những thông tin và lời khuyên có liên quan tới nhu cầu do đối tượng đặt
ra của chủ thể tư vấn, có thể là sự chuyển biến về nhận thức và cũng có thể là sự thay đổi những quyết định lớn của cuộc sống Song, nếu thông tin thiếu toàn diện, ứng xử của chủ thể chưa thấu tình đạt lý, có thể dẫn đối tượng tư vấn tới những nhận thức hoặc việc làm vô bổ – sự cải biến diễn ra theo chiều hướng xấu, kém hiệu quả Về phía chủ thể, thông qua hoạt động tư vấn, họ sẽ thu nhận được nhiều thông tin bổ ích về nhu cầu đa dạng của nhiều loại đối tượng tư vấn, tìm được những kinh nghiệm trong giao tiếp với đối tượng trong những hoàn cảnh cụ thể, để
từ đó nâng cao khả năng và hiệu quả tư vấn
Hiểu theo nghĩa thông thường, có thể xem Tư vấn nghề là một hoạt động dựa
vào những biện pháp tâm lí, giáo dục và y học nhằm đánh giá toàn diện năng lực thể chất và trí tuệ của thanh thiếu niên, trên cơ sở đối chiếu với những yêu cầu do nghề đặt ra đối với người lao động, có tính đến nhu cầu địa phương và xã hội, cho các em những lời khuyên về chọn nghề phù hợp
Trang 2717
b) V ị trí của tư vấn nghề trong việc chọn nghề tương lai của học sinh
Ta có thể xem công tác hướng nghiệp nghề gồm 3 khâu gắn bó chặt chẽ với
vấn nghề có tác dụng vô cùng quan trọng, bởi lẽ nó giúp phát hiện sự phù hợp nghề cho thanh thiếu niên, học sinh, đồng thời tạo điều kiện cho họ phát huy khả năng sáng tạo, say mê công việc của mình Ta có thể biểu diễn mối quan hệ đó thông qua sơ đồ ba khâu liên hoàn của công tác hướng nghiệp như sau:
Tư vấn chọn nghề cho học sinh phổ thông có thể chia thành hai loại:
+ Tư vấn sơ bộ: Tư vấn sơ bộ đơn giản có thể thực hiện ở nhiều trường vì
không đòi hỏi phải có thiết bị, các phương tiện kĩ thuật Chuẩn đoán những phẩm chất, nhân cách của học sinh cũng không cần đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên gia tư vấn có tay nghề cao, am hiểu sâu sắc các lĩnh vực tâm – sinh lý, giáo dục học, y học, kinh tế học Ở đây có thể là giáo viên chủ nhiệm hoặc bộ môn hay tổ chức đoàn thanh niên có thể đóng vai trò nhà tư vấn Để đạt hiệu quả tư vấn, yêu cầu các nhà tư vấn cần có những hiểu biết về yêu cầu của một số ngành nghề ở một số trường hoặc ở địa phương, về nhu cầu nhân lực, về năng lực của học sinh, từ đó cho học sinh lời khuyên nên học nghề gì và ở đâu Hoặc là qua những điều giảng
dạy của thầy để học sinh tự trả lời được 3 câu hỏi: Em có muốn học nghề đó không
? Em có khả năng làm nghề đó không ? Và xã hội, địa phương có cần nghề đó không?
+ Tư vấn chuyên sâu: Tư vấn chuyên sâu khá phức tạp vì việc tư vấn được
Định hướng nghề
Tư vấn nghề
nghề
Trang 2818
tiến hành trên cơ sở khoa học thực sự, đảm bảo độ chính xác cao nhờ một số máy móc hiện đại (ví dụ máy đo độ chính xác của các cử động, sự khéo léo vận động của tay, đo cảm giác, thị giác ), trắc nghiệm thần kinh khí chất và các chỉ số thông minh khác
Như vậy, mục đích của tư vấn nghề là giúp thanh thiếu niên, học sinh tìm
hiểu bản thân, “phát hiện” ra mình, tạo điều kiện cho họ phát huy cao độ các sở
trường đích thực của mình trong thời gian học lao động kĩ thuật, học nghề tại các Trung tâm GDTX, cũng như trong bước đường hoạt động nghề nghiệp tương lai
* Định hướng nghề: Định hướng nghề là một khái niệm bao gồm hai yếu tố
liên kết với nhau chặt chẽ: Yếu tố thứ nhất chỉ trạng thái động của khái niệm đó là việc xác định cho mình một hướng đi, hướng phấn đấu, hướng rèn luyện, yếu tố thứ hai chỉ sự cần thiết phải thực hiện hoạt động của bản thân theo một hướng đã được xác định
Trong nhà trường, chủ thể trực tiếp định hướng tới nghề nghiệp là học sinh, song với tuổi đời con trẻ, kinh nghiệm, vốn sống và trình độ nhận thức xã hội còn hạn hẹp, nên cần có sự trợ giúp của các lực lượng giáo dục Lúc này hoạt động định hướng nghề nghiệp của học sinh trở thành đối tượng lao động giáo dục của người thầy, cô giáo, của các tổ chức chính trị - xã hội, của trường học nhằm giúp cho quá trình định hướng nghề của học sinh diễn ra thuận lợi, đạt tới sự tương hợp cần thiết giữa nguyện vọng cá nhân với yêu cầu của nghề trong những điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể
Như vậy, định hướng nghề nghiệp được hiểu là một quá trình hoạt động
được chủ thể tổ chức chặt chẽ theo một logic hợp lý về không gian, thời gian, về nguồn lực tương ứng với những gì mà chủ thể có được nhằm đạt tới những yêu cầu đặt ra cho một lĩnh vực nghề nghiệp hoặc cụ thể hơn là của một nghề nào đó
Để thực hiện có hiệu quả hoạt động này, các lực lượng sư phạm trong nhà trường cần hiểu rõ định hướng nghề của học sinh với các yếu tố tạo thành như nhận thức nghề, thái độ nghề, lựa chọn nghề và quyết định nghề
* L ựa chọn nghề: Lựa chọn nghề chính là quá trình đánh giá sự phù hợp ban
đầu về phẩm chất, nhân cách, năng lực của cá nhân đối với những yêu cầu do nghề
Trang 2919
đặt ra Trong công tác này, phẩm chất, năng lực, trình độ nhận thức, kĩ năng lao động của học sinh trở thành đối tượng xem xét của quá trình lựa chọn nghề Lựa chọn nghề và thích ứng nghề được tiến hành thông qua quá trình người lao động tham gia vào làm việc tại các cơ quan, xí nghiệp, nhà máy Thông qua đó, người lao động có thể tự quyết định lựa chọn nghề tương lai của mình
1.2.4 D ạy nghề
a D ạy nghề phổ thông
Nghề phổ thông được tiến hành dạy trong các trung tâm dạy nghề, trung tâm
một số kĩ năng nghề cơ bản để học sinh tiếp tục học lên hoặc vào đời lao động Bởi vì nghề phổ thông là nghề phổ biến, thông dụng (đang cần phát triển ở địa phương) Những nghề ấy có kĩ thuật tương đối đơn giản, quá trình dạy nghề không đòi hỏi thiết bị phức tạp, thời gian đào tạo ngắn, phù hợp với điều kiện kinh tế, khả năng đầu tư của địa phương, thời gian học nghề ngắn
Tác giả Phạm Tất Dong quan niệm: “Ở THCS, học sinh cần được giới thiệu
nghề và những công nghệ mới nhất đang được sử dụng trong nghề Mặt khác, các
em vẫn được học nghề bởi vì trong số các em này, không ít sẽ đi vào trường dạy nghề sau khi tốt nghiệp bậc học này”
Theo tác giả Trần Hồng Quân: “ Dạy nghề cho học sinh phổ thông với tư
cách là dạy tri thức, kĩ năng lao động, hướng nghiệp là chính”
Tác giả Nguyễn Sinh Huy và Nguyễn Văn Lê đã đề cập tới nhiệm vụ dạy
nghề của giáo dục phổ thông là: “Giúp học sinh có được năng lực tìm được việc
làm, tự tạo việc làm trong nền kinh tế thị trường, đó là những con người có tri thức văn hoá, khoa học, có kĩ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ sáng tạo và có kỉ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội”
Vấn đề dạy nghề cho học sinh phổ thôngTác giả Phạm Huy Thụ và Đoàn Chi
đã thể hiện quan điểm của mình về Vấn đề dạy nghề cho học sinh phổ thông: “Là
một hoạt động dạy học, dạy nghề phổ thông trong nhà trường phổ thông thực hiện một cách có hiệu quả nguyên lý giáo dục”
Xuất phát từ những điều phân tích trên, ta có thể hiểu NPT là một môn học
Trang 3020
nằm trong kế hoạch dạy học, có chương trình dạy nghề và danh mục nghề cho học sinh phổ thông bậc trung học Thông qua tổ chức hoạt động dạy NPT nhằm không chỉ cung cấp cho học sinh những tri thức, kĩ năng lao động nghề nghiệp cần thiết
và tư duy kĩ thuật mà còn giáo dục học sinh thái độ, tác phong lao động nghề nghiệp thích ứng những yêu cầu của nền kinh tế – xã hội, đồng thời tạo điều kiện
để dịch chuyển lao động nghề nghiệp phù hợp những thay đổi nhanh chóng về việc làm
b D ạy nghề xã hội
tâm dạy nghề, các trường Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề nhằm đạo tạo những người lao động có kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, có ý thức tổ chức kỉ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm và hành nghề kiếm sống, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
Nghề xã hội đòi hỏi trình độ kĩ thuật cao, quá trình dạy học cần đến những trang thiết bị hiện đại, thời gian đào tạo dài, có chương trình dạy nghề ngắn hạn 3 đến 6 tháng, có chương trình dạy nghề đài hạn từ 1 đến 3 năm, học sinh tốt nghiệp được cấp bằng nghề (bậc thợ 3/7)
Khái niệm NPT của giáo dục phổ thông khác với khái niệm nghề được đào tạo trong các trường chuyên nghiệp – dạy nghề Giữa NPT và nghề được đào tạo
có mối quan hệ hữu cơ và hỗ trợ nhau trong giáo dục - đào tạo Mối quan hệ đó được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ trong GD & ĐT
Giáo dục phổ thông
Ngh ề
PT
Giáo dục THCN–DN
GIÁO
D ỤC ĐÀO
T ẠO
Các trường
Trường TTGDTX
Ngh ề được đào tạo
Trang 3121
Nghề được đào tạo có nhiệm vụ cung cấp cho người học hệ thống các tri thức
về văn hoá - xã hội nói chung, khoa học – công nghệ nói riêng và hình thành các kĩ năng lao động chung và chuyên biệt cơ bản, nhằm hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất nghề nghiệp tương ứng với một dạng lao động nghề nghiệp nhất định Như vậy nghề được đào tạo khác NPT ở chỗ, đòi hỏi người học nghề sau khi được đào tạo nghề phải có trình độ nghề nghiệp nhất định (tay nghề – bậc nghề) để
có thể hành nghề và gắn bó lâu dài với hoạt động đó như là một phương thức sinh sống trong xã hội, còn nghề phổ thông, sau khi học xong chương trình quy định, học sinh nắm vững được những kiến thức cơ bản về một lĩnh vực nghề nào đó, thông qua đó rèn luyện kĩ năng, giáo dục ý thức lao động, định hướng giúp cho học sinh chọn nghề có cơ sở khoa học
Đối với cấp THCS thì học sinh có nhiều lựa chọn hơn khi học xong lớp 9
trường nghề, trung tâm nghề Điều đó được thể hiện qua sơ đồ sau
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ trong giáo dục phổ thông cấp THCS
1.2.5 Chất lượng dạy nghề
Hiện nay, chất lượng dạy nghề cũng có nhiều quan niệm khác nhau:
đặc chưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình dạy nghề theo các nghành nghề cụ thể
Trường
TTGDTX
Trường THPT
Trường THCS
Nghề PT
Hướng nghiệp
Trường THCN - DN
Trang 3222
sản phẩm dạy nghề Chất lượng đó là trình độ hiện thực hóa hay trình độ đạt được của mục tiêu dạy nghề, thể hiện ở trình độ phát triển nhân cách của học sinh sau khi kết thúc quá trình đào tạo
thể hiểu là đầu ra của quá trình dạy nghề và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu dạy nghề của từng nghành đào tạo trong hệ thống đào tạo Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm
về chất lượng dạy nghề không chỉ dừng ở kết quả của quá trình dạy nghề trong nhà trường với những điều kiện đảm bảo nhất định như cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên … mà còn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp với thị trường lao động như tỉ lệ có việc làm sau khi tốt nghiệp, năng lực hành nghề tại các vị trí làm việc cụ thể ở các doanh nghiệp, cơ quan, các tổ chức sản xuất – dịch vụ, khả năng phát triển nghề nghiệp v.v …
nhìn tổng thể Trong lĩnh vực dạy nghề gồm có yếu tố đầu vào (học sinh, giáo viên, trang thiết bị, cơ sở vật chất), quá trình dạy nghề (quá trình dạy và học, môi trường dạy nghề), yếu tố đầu ra (sự hình thành và phát triển nhân cách, kĩ năng, kĩ xảo và tri thức mà học sinh nhận được trong quá trình dạy nghề) Vì vậy tôi nhất
trí với quan điểm cho rằng: Chất lượng dạy nghề bao gồm chất lượng đầu vào,
chất lượng quá trình dạy nghề và chất lượng đầu ra
Xét theo quan niệm chất lượng chứa cả hai yếu tố là sự chuẩn mực và sự tuyệt hảo, thì chất lượng giáo dục được đo bằng mức học sinh đạt chuẩn Đó không chỉ là việc học sinh đạt các mục tiêu cụ thể do khóa học đặt ra mà còn các ý kiến đánh giá và có được nhận thức về cách suy nghĩ và hành động Sự tuyệt hảo ở đây liên quan đến các khái niệm: đẹp, tốt, chân thật … , hay nói đến khía cạnh đạo đức và thẩm mĩ của nhân cách học sinh
Theo tác giả chất lượng dạy nghề dù được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng đều thống nhất với nhau ở một điểm: chất lượng dạy nghề được đo bằng
Trang 3323
các chuẩn nhằm xem xét mức độ đạt được các nhiệm vụ, mục tiêu dạy nghề, thể
hiện ở kết quả phát triển nhân cách của người học như thế nào Các chuẩn này phải phù hợp giữa nhà trường và xã hội, đáp ứng nhu cầu phát triển của mỗi cá nhân học sinh và yêu cầu của xã hội
là tập hợp các điều kiện được thể hiện bằng các chuẩn phù hợp mục tiêu dạy nghề
đã đề ra và đồng thời phải phù hợp và đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội
1.3 Qu ản lí chất lượng dạy nghề phổ thông và hướng nghiệp
1.3.1 Quá trình giáo d ục hướng nghiệp và dạy nghề ở trường phổ thông
a Hoạt động giáo dục nói chung
Trong các nước XHCN thì hoạt động giáo dục được bắt nguồn từ các hoạt động xã hội Ở nước ta vào cuối thập kỉ 70 của thế kỉ trước, với sự phát triển giáo dục mạnh mẽ sau khi miền nam được hoàn toàn giải phóng, nhất là từ khi có trường cán bộ quản lý giáo dục TW và các trường cán bộ quản lý giáo dục ở các tỉnh ra đời, thì việc nghiên cứu lý luận hoạt động giáo dục phát triển mạnh mẽ Vào cuối thập kỉ 80 nhiều sách, tài liệu chuyên khảo về hoạt động giáo dục đã ra đời từ một số trung tâm nghiên cứu như: Viên khoa học giáo dục Việt Nam, khoa
lý TW (nay là Học viện quản lý cán bộ), cục đào tạo và bồi dưỡng Bộ Giáo dục
đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại
Theo từ "Giáo dục" tiếng Anh - "Education" - vốn có gốc từ tiếng La tinh
"Educare" có nghĩa là "làm bộc lộ ra" Có thể hiểu "giáo dục là quá trình, cách thức làm bộc lộ ra những khả năng tiềm ẩn của người được giáo dục"
nghĩa như là quá trình truyền thụ, phổ biến tri thức, truyền thụ sự suy luận đúng đắn, truyền thụ sự hiểu biết Hoạt động giáo dục là nền tảng cho việc truyền thụ,
Trang 3424
phổ biến văn hóa từ thế hệ này đến thế hệ khác Hoạt động giáo dục là phương tiện
để đánh thức và nhận ra khả năng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người Nó ứng dụng phương pháp giáo dục, một phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa dạy và học để đưa đến những rèn luyện về tinh thần,
và làm chủ được các mặt như: ngôn ngữ, tâm lý, tình cảm, tinh thần, cách ứng
xử trong xã hội
phát triển trí tuệ, hoàn thiện nhân cách học sinh
thành tố có liên hệ mang tính hệ thống với nhau: mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, phương tiện giáo dục, hình thức tổ chức và chỉ tiêu đánh giá
Sự giáo dục của mỗi cá người bắt đầu từ khi sinh ra và tiếp tục trong suốt cuộc đời (Một vài người tin rằng, sự giáo dục thậm chí còn bắt đầu trước khi sinh
ra, theo đó một số cha mẹ mở nhạc, hoặc đọc cho những đứa trẻ trong bụng mẹ với
hy vọng nó sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của đứa trẻ sau này) Với một số người
sống, cung cấp kiến thức nhiều hơn cả sự truyền thụ kiến thức ở các trường học
ảnh hưởng nhiều hơn việc giáo dục ở nhà trường và xã hội, mặc dù việc dạy dỗ trong gia đình có thể không mang tính chính thức, chỉ có chức năng giáo dục rất thông thường
b Hoạt động GDHN và DNPT
Hoạt động GDHN và DNPT được thực hiện trong các trường phổ thông và
hoạt động GDHN và DNPT cũng tuân theo 4 chức năng cơ bản, đó là: Xây dựng
kế hoạch hoạt động GDHN - DNPT, Tổ chức hoạt động GDHN - DNPT, Chỉ đạo hoạt động GDHN - DNPT và kiểm tra đánh giá hoạt động GDHN - DNPT
Đến đây chúng ta cần bàn tiếp về cái gọi là “Quá trình dạy học” Trong cuốn sách giáo dục học, các tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt đã xem xét “Quá
Trang 3525
trình dạy học là một hệ thống”, và theo quan điểm của lý luận dạy học các tác giả
đã viết: “Quá trình dạy học với tư cách là một hệ thống bao gồm những nhân tố cơ bản sau đây: mục đích, nhiệm vụ dạy học, nội dung day học, thầy và hoạt động dạy, trò và hoạt động học, các phương pháp và phương tiện dạy học, kết quả dạy học” Tất cả các nhân tố cấu trúc của hệ thống quá trình dạy học tồn tại trong mối quan hệ qua lại thống nhất với nhau
Mặt khác, toàn bộ hệ thống quá trình dạy học lại có mối quan hệ qua lại và thống nhất với môi trường của nó: Môi trường kinh tế – xã hội và môi trường khoa học – công nghệ Ở đây có điều đáng chú ý là các môi trường kinh tế – xã hội, và cách mạng khoa học – kĩ thuật một mặt đòi hỏi phải hoàn thiện quá trình dạy học; mặt khác lại đòi hỏi quá trình dạy học phải phục vụ đắc lực cho chúng, đồng thời chúng cũng tạo điều kiện cho việc hoàn thiện quá trình dạy học
Quá trình dạy học là quá trình trang bị, cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản, những kĩ năng nghề nghiệp nhất định, đó là cơ sở tạo nguồn nhân lực cho xã hội, phục vụ xã hội Do vậy, để quá trình dạy học đạt kết quả tốt, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực, nó đòi hỏi phải có một nền khoa học, kĩ thuật tiên tiến, môi trường giáo dục lành mạnh, đó là mối quan hệ hữu cơ thống nhất và hỗ trợ nhau trong một hệ thống
-Thông tin
DNPT là (các sản phẩm vật chất do tổ chức dạy học NPT và việc định hướng chọn nghề cho học sinh lớp 12)
Trong quá trình dạy học, các nhân tố mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học vận động và kết hợp chặt chẽ với nhau thông qua hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Hai hoạt động này là hai hoạt động trung tâm của một quá trình dạy học, là hai hoạt động mang tính chất khác nhau và thống nhất với nhau trong mối quan hệ qua lại giữa thầy và trò, dạy và học Vậy
Trang 3626
một quá trình dạy học đã diễn ra như thế này mà không như thế kia, một kết quả dạy học sẽ là như thế này mà không như thế kia còn phụ thuộc rất nhiều vào những tác động của các chủ thể tham gia trong hoạt động giáo dục
1.3.2 Các c ấp độ quản lý chất lượng dạy nghề
a) Quản lý chất lượng dạy nghề
Quản lý chất lượng dạy nghề là quá trình thiết kế các tiêu chuẩn và duy trì các cơ chế quản lý để sản phẩm hay dịch vụ đạt được các tiêu chuẩn xác định Trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quản lý chất lượng được phát triển qua các
giai đoạn: Kiểm soát chất lượng (Quality Control); Đảm bảo chất lượng (Quality
ngày càng cao hơn,thể hiện ở sơ đồ 1.3.1 [17, 40]:
S ơ đồ 1.3 Các cấp độ quản lý chất lượng b) Kiểm soát chất lượng
Phòng ngừa
Trang 3727
Kiểm soát chất lượng nhằm phát hiện và loại bỏ hoặc để làm lại nếu có thể các chi tiết hoặc các sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay dịch vụ không đạt tiêu chuẩn quy định [17,40]
Trong giáo dục và đào tạo, thanh tra và kiểm tra là hai phương pháp phù hợp nhất được sử dụng rộng rãi để xem xét việc thực hiện các tiêu chí đề ra như: Các tiêu chuẩn đầu vào, tiêu chuẩn quá trình đào tạo và tiêu chuẩn đầu ra
c) Đảm bảo chất lượng
Đảm bảo chất lượng được tiến hành trước và trong quá trình sản xuất hoăc dịch vụ.Toàn bộ các hoạt động có kế hoạch,có hệ thống được tiến hành trong hệ thống chất lượng và được chứng minh là đạt mức cần thiết để thỏa mãn các yêu cầu chất lượng của khách hàng Nói cách khác, đảm bảo chất lượng có nghĩa là tạo
ra sản phẩm không lỗi, gọi là “nguyên tắc không lỗi”
d) Quản lý chất lượng tổng thể
Quản lý chất lượng tổng thể là cách quản ký một tổ chức tập trung vào
chất lượng dựa vào sự tham gia của tất cả các thành viên nhằm đạt tới sự
viên của tổ chức đó và cho xã hội [17, 40].Cải tiến chất lượng tổng thể bao gồm ba nội dung: cải tiến liên tục, cải tiến từng bước và luôn hướng tới khách hàng
Trong hệ thống dạy nghề quản lý chất lượng tổng thể là sự cố gắng làm mọi việc đúng ngay từ đầu và đúng mọi thời điểm Tất cả mọi công việc, mọi quá trình, mọi người (CBQL, GV, HS,…) phải luôn thực hiện liên tục và từng bước cải thiện chất lượng dạy nghề ở cơ sở của mình
Để đội ngũ làm việc tự giác, tích cực có hiệu quả và sản phẩm đạt được chất lượng đòi hỏi nhà trường cần tạo được môi trường, điều kiện làm việc và cơ chế chính sách phù hợp cho đội ngũ thay vì kiểm soát họ Cần khuyến khích đội ngũ cán bộ và giáo viên phát huy sáng kiến, cải tiến trong công việc hàng ngày v.v… Công tác quản lý chất lượng đào tạo có mục đích là tìm ra biện pháp khắc phục kịp thời các nguyên nhân đã dẫn đến sự giảm sút chất lượng dạy nghề chung
Trang 38toàn bộ quá trình dạy nghề, những học sinh yêu kém toàn diện hoặc từng mặt nào đó
các biện pháp đó nhằm khắc phục kịp thời những yếu kém đã phát hiện ở khâu trước Việc thực hiện hai khâu chủ yếu dựa trên bao gồm 5 bước được tiến hành trên kết quả học tập, rèn luyện của từng học sinh, từng lớp, từng khóa và tất cả các
một cách kịp thời, đầy đủ và chính xác
thông tin về kết quả học tập, rèn luyện không đạt yêu cầu của học sinh
Trong giáo dục và đào tạo, nếu quan tâm đúng mức đến công tác quản lý chất lượng của cơ sở đào tạo sẽ đảm bảo chất lượng đến từng học sinh một cách vững chắc, đảm bảo nâng cao chất lượng của cả quá trình dạy nghề
e) C ác tiêu trí đánh giá chất lượng dạy nghề
Xác định các tiêu chí có ý nghĩa nhất để dánh giá chất lượng dạy nghề là một việc rất quan trọng nhưng đồng thời cũng là một việc khó Xuất phát từ quan niệm
Trang 3929
chất lượng dạy nghề lên trên, hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng dạy nghề đối với từng nghành đào tạo nhất định gồm có:
Đối với các tiêu chí về trình độ kiến thức, kĩ năng có thể dựa vào các tiêu chí phân loại kiến thức, kĩ năng, thái độ của Bloom [8, 59].(xem bảng sau)
Bảng 1.1 Các tiêu chí phân loại kiến thức, kĩ năng và thái độ của Bloom Thành phần
Dựa vào các mức chất lượng của kiến thức và kĩ năng này, giáo viên có thể soạn các bài tập đánh giá tổng hợp về trình độ phát triển kiến thức, kĩ năng phát triển nghề của học sinh tốt nghiệp sau một quá trình dạy nghề, đồng thời kết hợp với cách đánh giá về phẩm chất xã hội - nghề nghiệp, sức khoẻ và đặc trưng tâm, sinh lí Trên cơ sở đó có thể xác định hệ thống đánh giá và phân loại chất lượng dạy học nghề nghiệp theo năng lưc thực hiện
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy nghề và hướng nghiệp cho học sinh ph ổ thông
Trang 4030
Một số yếu tố vĩ mô như đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng và nhà nước, các quyết định của trung ương và địa phương về những vấn đề liên quan đến đào tạo nghề nghiệp và lao động, việc làm có tác động đáng kể đến chất lượng đào tạo tuy nhiên trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ đề cập đến những yếu tố chủ yếu sau:
Mỗi yếu tố trên đều đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên chất lượng đào tạo, từ đầu vào, quá trình đào tạo và đầu ra Muốn nâng cao chất lượng đào tạo, ta phải phân tích làm rõ nội dung của từng yếu tố, tìm cách tác động vào chúng để phát huy cao nhất những mặt có lợi và hạn chế tối đa những mặt bất lợi của các yếu tố nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao chất lượng đào tạo Sau đây tác giả đi vào phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo
1.4.1 Mục tiêu đào tạo
Mục tiêu đào tạo là kết quả mong muốn đạt được sau khi kết thúc quá trình đào tạo, thể hiện ở những yêu cầu về nhân cách, kiến thức, kĩ năng và thái độ của người học sau khi kết thúc khóa học
Đào tạo nghề nhằm mục tiêu phát triển nhân cách của người học đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Mục tiêu đào tạo của hệ thống giáo dục nghề nghiệp được quy định tại điều 33 Luật Giáo dục năm 2005: “Đào tạo người lao động có kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỉ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người lao động, có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh”