1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng Ngữ văn 12 tuần 10: Đất Nước (Trích trường ca Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm)

34 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đất Nước (Trích Trường Ca Mặt Đường Khát Vọng - Nguyễn Khoa Điềm)
Tác giả Nguyễn Khoa Điềm
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 6,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mời quý thầy cô giáo và các bạn học sinh cùng tham khảo Bài giảng Ngữ văn 12 tuần 10: Đất Nước (Trích trường ca Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm) thiết kế bằng Powerpoint chuyên ghiệp giúp nâng cao kĩ năng và kiến thức trong việc soạn bài giảng điện tử giảng dạy và học tập. Bài giảng Ngữ văn 12 tuần 10: Đất Nước (Trích trường ca Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm) trình bày bằng Slide rất sống động với các hình ảnh minh họa giúp các em học sinh dễ dàng hiểu được bài giảng và nhanh chóng năm bắt các nội dung chính bài học.

Trang 1

ĐẤT NƯỚC

(Nguyễn Khoa Điềm)

Bài giảng điện tử Ngữ văn 12

Trang 3

•Nguyễn Khoa Điềm sinh ngày 15/04/1943 tại thôn Ưu Điềm, xã Phong Hòa,

huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế

•Quê gốc là làng An Cựu, xã Thủy An, thành phố Huế

•Là con của nhà cách mạng Hải Triều Nguyễn Khoa Văn (Nguyễn Khoa Hải

Triều)

•Ông nội là quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng, gốc An Dương (Hải Dương cũ), bà

nội là nữ sỹ Đạm Phương

•Lên mười một tuổi, mồ côi bố

•Tốt nghiệp Đại học Sư Phạm Hà Nội năm 1964, cùng lứa với Phạm Tiến Duật,

Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm trở về hoạt động ở Thừa Thiên Huế

•Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm từng kinh qua nhiều chức vụ quan trọng: Tổng

Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam; Thứ trưởng rồi Bộ Trưởng Bộ Văn hoá Thông tin; Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, Trưởng ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương Sau khi nghỉ hưu, ông sinh sống tại thành phố Huế

Trang 4

Trong một trận càn, Nguyễn Khoa Điềm bị địch bắt

giam tại nhà lao Thừa Phủ cho đến Mậu Thân 1968

Chính thời điểm này, Nguyễn Khoa Điềm bắt đầu làm

thơ Bài Đất ngoại ô mở ra một hướng đi riêng, một

cách nói riêng, một giọng điệu riêng trong dòng thơ

chống Mĩ Đến trường ca Mặt đường khát vọng,

Nguyễn Khoa Điềm vẫn tiếp tục mạch suy ngẫm về

nhân dân, đất nước bằng lối thể hiện tự nhiên, bình dị,

phóng khoáng, hiện đại vốn có của mình Thanh niên trí

thức yêu nước ở các đô thị miền Nam lúc bấy giờ rất

tâm đắc với bản trường ca này, vì họ tìm được ở đó

những tâm tư sâu kín của mình.

Tác phẩm chính: Cửa thép (ký, 1972); Đất ngoại ô (thơ, 1972); Mặt đường

khát vọng (trường ca, 1974); Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (thơ, 1986); Thơ Nguyễn Khoa Điềm (thơ, 1990) Cõi lặng (thơ, NXB Văn học - 2007).

Trang 5

•Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam cho tập thơ

Ngôi nhà có ngọn lửa ấm

•Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật,

năm 2001 cho các tác phẩm: Đất ngoại ô, Mặt

đường khát vọng, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm.

Trang 6

GIỚI THIỆU MỘT SỐ TÁC PHẨM THƠ

NỔI TIẾNG CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM

•Đất ngoại ô • Mẹ và quả • Bếp lửa rừng

Trang 7

Cảm ơn mẹ sinh con trên thành phố.

Ngàn ngày nắng và mưa, mười lăm năm bỡ ngỡ Nay con lại chào Người dưới một vùng đạn lửa Người đẹp vô cùng với khẩu súng trong tay

Con lại về thăm ảnh cha xưa

người chiến sĩ đánh Tây

Mười lăm năm, mới có mặt trên bàn thờ

Bạn con đến thắp nén nhang thơm ngát

Mắt cha vui phấp phới bóng trăm cờ…

Ngoại ô bừng bừng tiếng hát

Ngực căng phồng Người trấn cửa Thuận An.

(04/1968 – 04/1969)

Trang 8

Những mùa quả mẹ tôi hái được

Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng Những mùa quả lặn rồi lại mọc

Như mặt trời khi như mặt trăng

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên

Còn những bí và bầu thì lớn xuống Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn

Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi

Và chúng tôi, một thứ quả trên đời Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.

Trang 9

Và chúng ta với sức trẻ tràn bờ Chân bay tới những nẻo đường có giặc Chia điếu thuốc ngắm chấm lòe quen thuộc Lòng bập bùng những bếp lửa xa xôi

Mai ta đi Súng vác, đạn gùi

Ta về giáp ranh, ta tràn xuống biển Trăm bếp lửa, rải đường, ra trận tuyến

Có bếp nào không bóng bạn và tôi ?

Ta vẫn nghe tim bạn đập bồi hồi

Trong ánh cuối một ngày kháng chiến

Ơi ta yêu phút này đây: khói, cây, những tiếng

Cùng bạn mình, như ánh lửa, kề bên

Vẫn như xưa mà như buổi đầu tiên

Ta thấy bạn và mình đều có lớn

Bạn đã đến những ngày ta sẽ sống

Ta cùng về thăm bạn nẻo ưu tư

Trang 10

MẶT ĐƯỜNG KHÁT VỌNG

Trang 11

MẶT ĐƯỜNG KHÁT VỌNG

•Trường ca Mặt đường khát vọng được tác giả hoàn thành

ở chiến khu Trị - Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1974

•Trường ca gồm chín chương: Lời chào, Báo động, Giặc

Mỹ, Tuổi trẻ không yên, Đất nước, Áo trắng và mặt

đường, Xuống đường, Khoảng lớn âm vang, Báo bão

Trang 12

Ta đã đi qua những năm tháng không ngờ

Vô tư quá để bây giờ xao xuyến

Bèo lục bình mênh mang màu mực tím

Nét chữ thiếu thời trôi nhanh như dòng sông

Ta lớn lên bối rối một sắc hồng

Phượng cứ nở hoài hoài như đếm tuổi

Như chiều nay, một buổi chiều dữ dội

Ta nhận ra mình đang lớn khôn

Trang 13

Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta

thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi!" Quét sạch nó đi!

Trang 15

•Bài “Đất nước” trong Sách giáo khoa Ngữ văn 12 là

đoạn trích 89 câu thơ đầu tiên trong số 110 câu thơ

tự do của chương V “Đất nước”, trường ca Mặt

đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm)

•Chủ đề: Bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm nói về cội

nguồn đất nước theo chiều dài lịch sử đằng đẵng và không gian địa lý mênh mông Hình tượng núi sông gắn liền với tâm hồn và chí khí của nhân dân, những con người làm ra Đất nước Đất nước trường tồn hứa hẹn một ngày mai đẹp tươi và hát ca.

ĐẤT NƯỚC

Trang 16

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa "

mẹ thường hay kể Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Trang 17

Đất là nơi "con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc" Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi"

Thời gian đằng đẵng Không gian mênh mông Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ

Trang 18

Đất là nơi Chim về

Nước là nơi Rồng ở

Lạc Long Quân và Âu Cơ

Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng

Trang 19

Những ai đã khuất

Những ai bây giờ

Yêu nhau và sinh con đẻ cái

Gánh vác phần người đi trước để lại Dặn dò con cháu chuyện mai sau

Trang 20

Hằng năm ăn đâu làm đâu

Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ

Trang 21

Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần Đất Nước

Khi hai đứa cầm tay

Đất Nước trong chúng mình hài hòa nồng thắm Khi chúng ta cầm tay mọi người

Đất nước vẹn tròn, to lớn

Trang 22

Mai này con ta lớn lên

Con sẽ mang Đất Nước đi xa

Đến những tháng ngày mơ mộng

Trang 23

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước

những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Trang 24

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng Vương

Trang 25

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta

Trang 26

Khi có giặc người con trai ra trận

Người con gái trở về nuôi cái cùng con Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh Nhiều người đã trở thành anh hùng

Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ

Trang 27

Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng

Họ truyền lửa cho mỗi nhà từ hòn than qua con cúi

Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói

Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân

Họ đắp đập be bờ cho người sau trông cây hái trái

Trang 28

Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại

Trang 29

Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu

Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát

Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi

Trang 30

Bài thơ chia làm nhiều đoạn, mỗi đoạn trả lời cho một câu hỏi:

•Đất nước có từ bao giờ ?

•Đất nước lớn lên như thế nào ?

•Đất nước của ai ?

Đất nước được cảm nhận qua ba khía cạnh:

•Không gian địa lý

•Thời gian lịch sử

•Truyền thống văn hóa

Từ đó, tác giả kết luận: Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân

Trang 31

Phần Một: Đất Nước - cội nguồn dân tộc

1.Từ đầu đến “Đất Nước có từ ngày đó”: Nhà thơ đã nhìn đất nước trong mối quan hệ ruột rà thân thuộc Nhắc đến Đất Nước là nhắc đến bà, đến mẹ, đến ta Những mảnh ghép giản đơn đến không ngờ đã tạo nên Đất Nước Đất Nước có ngay trong bản thân đời sống nhân dân.

2.Tiếp theo đến “Làm nên Đất Nước muôn đời”: Trên chiều rộng không gian địa lý, chiều dài thời gian lịch sử, Đất Nước được thể hiện ở các bình diện văn hóa, phong tục truyền thống, tinh thần dân tộc, trong những bước thăng trầm của lịch sử, trong cuộc sống cộng đồng và mỗi cá nhân Đất Nước không phải ở đâu xa mà chính là những con người đang sống trên đó, dẫn đến suy ngẫm và trách nhiệm đối với đất nước.

→ 42 câu thơ đầu tiên nói về nguồn gốc của Đất Nước và sự gắn bó, san sẻ đối với Đất Nước Ý tưởng sâu sắc ấy được diễn tả bằng một thứ ngôn ngữ đậm đà màu sắc dân gian, một giọng điệu thủ thỉ tâm tình vô cùng thấm thía, xúc động Chất trữ tình hòa quyện với tính chính luận.

Trang 32

Phần Hai: Đất Nước của Nhân dân

Đất nước của ca dao thần thoại

Không gian đất nước được mở rộng theo phép liệt kê Muôn vàn vẻ đẹp đều gắn với con người, là kết tinh biết bao công sức và khát vọng, là cuộc sống vật chất và tinh thần và cũng là kết tinh của văn hóa và lối sống, cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm của ông cha Đoạn thơ cũng ca ngợi những phẩm chất của

nhân dân.

Tư tưởng “Đất nước của nhân dân” đã hình thành trong lịch sử dựng nước

và giữ nước nhưng đến giai đoạn này, cảm nhận về đất nước, về nhân dân mới thật thấu đáo Đây là cảm nhận của thế hệ trẻ Việt Nam đã qua sự trải nghiệm của chính mình và thực sự đi vào cuộc kháng chiến của dân tộc Đất nước

cũng không chung chung, có hình hài và vóc dáng của con người.

Kết Luận: Bài thơ trữ tình chính luận lấp lánh trí tuệ, cách lập luận theo hướng quy nạp Bài thơ có hai kiểu tư duy: trữ tình và chính luận; giọng thơ lúc hùng hồn, lúc tha thiết thủ thỉ tâm tình, những ký ức về bà, về mẹ, về anh về em cùng chất liệu văn hóa dân gian được vận dụng một cách nhuần nhị

đã trở thành thi liệu độc đáo Ý tưởng đẹp, cảm xúc và hình tượng hài hòa hội

tụ nên những vần thơ mỹ lệ Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” được thể hiện sâu sắc với tất cả niềm tự hào và lòng yêu nước.

Trang 33

•Đoạn trích thể hiện sự mới mẻ của tác giả về đất nước

qua những vẻ đẹp được phát hiện ở chiều sâu trên nhiều bình diện : lịch sử, địa lý, văn hóa …

•Đóng góp riêng của đoạn trích là ở sự nhấn mạnh tư

tưởng “ Đất nước của Nhân dân” bằng hình thức biểu đạt giàu suy tư, qua giọng thơ trữ tình – chính trị sâu

lắng, thiết tha.

•Các chất liệu của văn hóa dân gian được sử dụng nhuần

nhị, sáng tạo, đem lại sức hấp dẫn cho đoạn trích.

Ngày đăng: 30/04/2021, 00:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w