1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Cảm nhận đoạn thơ Những người vợ ...Đã hóa núi sông ta trong đoạn trích Đất nước Nguyễn Khoa Điềm

22 2K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 288,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất nước là bài thơ viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ miền Nam xuống đường đấu tranh hòa hợp với cuộc kháng chiến dân tộc. Với 12 câu thơ mở đầu phần hai của đoạn thơ Đất nước : Những người vợ ...Đã hóa núi sông ta với nội dung ngợi ca, khẳng định đất nước là của nhân dân. Sự khẳng định của nhà thơ về vai trò của nhân dân trong việc làm nên không gian địa lý - bức tranh văn hóa đất nước muôn màu muôn vẻ. Tài liệu tổng hợp 3 bài văn mẫu Cảm nhận đoạn thơ Những người vợ ...Đã hóa núi sông ta trong đoạn trích Đất nước Nguyễn Khoa Điềm, mời bạn đọc tham khảo tài liệu.

Trang 1

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”

II/ Thân bài :

- Thật vậy, đây là 12 câu thơ mở đầu phần hai của đọan thơ “Đất Nước” với nội dung ngợi ca, khẳng định tư tưởng đất nước của nhân dân

1 Trước hết, tác giả nêu ra một cách nhìn mới mẻ,có chiều sâu địa lý về những danh lam thắng cảnh trên khắp các miền đất nước Nhà thơ đã kể, liêt kêmột loạt kì quan thiên nhiên trải dài trên lãnh thổ từ Bắc vào Nam như muốn phác thảo tấm bản đồ văn hóa đất nước.Đây là những danh lam thắng cảnh do bàn tay tự nhiên kiến tạo nhưng từ bao đời nay, ông cha ta đã phủ cho nó tính cách, tâm hồn, lẽ sống của dân tộc.Những ngọn núi, những dòng sông kia chỉ trở thành thắng cảnh khi nó gắn liền với con người, được cảm thụ qua tâm hồn, qua lịch sử dân tộc

+ Trong thực tế, bao thế hệ người Việt đã tạc vào núi sông vẻ đẹp tâm hồn yêu thương thủy chung để ta có những “núi Vọng Phu”, những “hòn Trống mái” như những biểu tượng văn hóa Hay vẻ đẹp lẽ sống anh hùng của dân tộc trong buổi đầu giữ nước để ta có những

“ao đầm”…như những di tích lịch sử về quá trình dựng nước và giữ nước hào hùng…

“ Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên

VĂN MẪU LỚP 12

PHÂN TÍCH ĐOẠN THƠ NHỮNG NGƯỜI VỢ ĐÃ HÓA NÚI SÔNG TA

TRONG ĐOẠN TRÍCH ĐẤT NƯỚC NGUYỄN KHOA ĐIỀM

Trang 2

Con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh”

+ Thật sự, nếu không có những người vợ mòn mỏi chờ chồng cả thời chinh chiến thì không có sự cảm nhận về núi Vọng Phu.Cũng như nếu không có truyền thuyết Hùng Vương dựng nước thì không thể có sự cảm nhận nét hùng vĩ của núi đồi quanh đền Hùng.Nói cách khác, những núi Vọng Phu, những hòn Trống Mái, những núi Bút, non Nghiên không còn là những cảnh thiên nhiên thuần túy nữa, mà được cảm nhận thông qua những cảnh ngộ, số phận của nhân dân, được nhìn nhận như là những đóng góp của nhân dân, sự hóa thân của những con người không tên, không tuổi

2.Thiên nhiên đất nước, qua cái nhìn của Nguyễn Khoa Điềm, hiện lên như một phần tâm hồn, máu thịt của nhân dân Chính nhân dân đã tạo dựng nên đất nước này,đã đặt tên, ghi dấu vết cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông, tấc đất này.Từ những hình ảnh, những cảnh vật, hiện tượng cụ thể, nhà thơ đã “quy nạp” thành một khái quát sâu sắc:

“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…”

=> Với cấu trúc quy nạp ( đi từ liệt kê các hình ảnh, địa danh…đến khái quát mang tính triết lý) , dường như nhà thơ không thể kể ra hết những danh lam thắng cảnh và những nét đẹp văn hóa dân tộc vô cùng phong phú, đa dạng trên khắp đất nước.Nên cuối cùng, nhà thơ

đã khẳng định : trên không gian địa lý đất nước, mỗi địa danh đều là một địac chỉ văn hóa được làm nên bằng sự hóa thân của bao cuộc đời, bao tâm hồn người Việt

III/ Kết bài:

- Đoạn thơ thể hiện được đặc điểm tiêu biểu của trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm : chất chính luận hài hòa chất trữ tình, giọng thơ tự sự ; ngôn từ, hình ảnh đẹp, giàu sức liên tưởng

- Viết về đề tài đất nước - một đề tài quen thuộc, nhưng thơ Nguyễn Khoa Điềm vẫn mang những nét riêng, mới mẻ, sâu sắc Những nhận thức mới mẻ về vai trò của nhân dân trong việc làm nên vẻ đẹp của đất nước ở góc độ địa lý-văn hóa càng gợi lên lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm với đất nước cho mỗi người

Trang 3

“Ôi! Việt Nam từ trong biển máu; Người vươn lên như một thiên thần”

Với chương Đất Nước trong Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm đã nói lên những cảm nhận sâu sắc về đất nước, về nhân dân, về dân tộc và trách nhiệm lớn lao của tuổi trẻ Việt Nam trước non sông đấtnước

2 Vài nét về tác giả và tác phẩm

- Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943 ở Thừa Thiên Huế, là con nhà phê bình văn học Hải Triều, một nhà phê bình xuất sắc đã từng chủ trì lý thuyết “nghệ thuật vị nhân sinh” trong cuộc tranh luận với Hoài Thanh năm 1936 – 1969

- Đất Nước thuộc chương V của trường ca Mặt đường khát vọng (1974) Bản trường ca viết

về sự thức tỉnh của tuổi trẻ sinh viên các đô thị tạm chiếm ở miền Nam trước năm 1975 trước vận mệnh hiểm nghèo của đất nước; kêu gọi họ hướng về nhân dân mà xuống đường đấu tranh hoà nhập với cuộc kháng chiến của toàn dân tộc

- Trong các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm giàu chất suy tưởng, xúc cảm dồn nén, thể hiện một chiều sâu văn hoá, đặc trưng của thế hệ các nhà thơ thời kỳ chống Mỹ cứu nước đã có một hành trang văn hóa chuẩn bị khá chu đáo trước khi bước vào chiến trường

- Chương Đất Nước khai triển có vẻ phóng túng, tự do như một thứ tuỳ bút thơ, nhưng thật

ra tứ thơ vẫn tập trung thể hiện tư tưởng “Đất Nước của nhân dân” qua các bình diện chủ yếu: Đất Nước trong chiều dài thời gian lịch sử, Đất Nước trong chiều rộng không gian lãnh thổ địa lý, Đất Nước trong bề sâu truyền thống văn hoá, phong tục, lối sống tâm hồn, cốt cách dân tộc

- Tư tưởng “đất nước của nhân dân” là một tư tưởng rất tiến bộ của thơ ca thời đại Cách mạng Đoạn trích bình giảng trên đây đã thể hiện một cách sâu sắc và cụ thể sự “hoá thân” của nhân dân vào đất nước muôn đời

THÂN BÀI

Trang 4

Trọng tâm của đoạn thơ nằm ở phần lí giải: “Ai làm nên Đất Nước?” và bằng lí giải đầy sức thuyết phục của mình, Nguyễn Khoa Điềm đã khẳng định: Nhân dân làm nên đất nước, “Đất Nước này là đất nước của nhân dân”

a Nguyễn Khoa Điềm đã có những phát hiện mới mẻ về thiên nhiên địa lí của đất nước:

- Để nói lên công lao to lớn của nhân dân trong quá trình dựng nước và giữ nước, nhà thơ

đã nhắc đến những danh lam thắng cảnh, những tên đất, tên làng trên mọi miền đất nước từ Nam chí Bắc

+ Nguyễn Khoa Điềm đã nhìn thấy hình sông, thế núi là sự kết tinh đời sống tâm hồn của nhân dân Xuất phát từ quan niệm của nhà Phật (hóa thân), tác giả đã trình bày những cảm xúc, suy tưởng của mình: chính nhân dân đã hoá thân thành đất nước “hóa thân cho dáng hình xứ sở” làm nên đất nước vĩnh hằng

+ Qua cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm, những danh lam thắng cảnh không còn là những cảnh thú thiên nhiên thuần tuý nữa mà đã được cảm nhận thông qua những cảnh ngộ, số phận của nhân dân, được nhìn nhận như là những đóng góp của nhân dân, sự “hoá thân” của những con người không tên không tuổi

Chúng chỉ trở thành thắng cảnh khi đã gắn liền với cuộc sống của nhân dân, với con người, được tiếp nhận, cảm thụ quan tâm hồn nhân dân và qua lịch sử của dân tộc

- Tư tưởng “Đất Nước của nhân dân” khiến cho những địa danh ngàn đời của Tổ quốc qua cái nhìn sắc sảo đầy khám phá của nhà thơ chính là sự hoá thân của những con người bình

dị, vô danh những con người “không ai nhớ mặt đặt tên” “nhưng họ đã làm ra đất nước”:

“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất nước những núi Vọng Phu

Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái”

+ Những địa danh, những hình sông thế núi mang hình người, linh hồn dân tộc Chúng là sự tượng hình kết tinh đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân mang đậm chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo Việt Nam

+ Núi Vọng Phu ở Lạng Sơn, Thanh Hóa, Bình Định…, hòn Trống Mái ở Sầm Sơn là do

"những người vợ nhớ chồng" hoặc những "cặp vợ chồng yêu nhau" mà "góp cho", "góp thêm", làm đẹp thêm, tô điểm cho Đất Nước Núi Vọng Phu, hòn Trống Mái cũng là kết tinh tình yêu thuỷ chung của biết bao người vợ chờ chồng trong chiến tranh liên miên, của sự gắn kết muôn đời, bất chấp mọi bão tố của thời gian:

“Không hoá thạch kẻ ra đi mà hóa thạch kẻ đợi chờ

Đợi một dáng hình trở lại giữa đơn côi”

Trang 5

- Tác giả không chỉ chiêm ngưỡng những hình ảnh núi Bút, non Nghiên mà còn nhìn ra trong đó phẩm chất, truyền thống hiếu học và khát vọng trí tuệ của dân tộc ta từ bao đời nay

+ Những núi Bút, non Nghiên phô bày vẻ đẹp mỹ lệ giữa đất trời nước Việt hay là hình tượng những người học trò nghèo đã gửi gắm quyết tâm, ước vọng của mình vào đấy:

“Người học trò nghèo góp cho Đất nước mình núi Bút non Nghiên”

"Nghèo" nhưng “người học trò” vẫn góp cho đất nước ta “núi Bút non Nghiên”, làm rạng rỡ nền văn hiến Đại Việt, văn hiến Việt Nam Đó cũng chính là truyền thống hiếu học, vượt khó vươn lên của nhân dân ta

- Nhà thơ đã tìm về cội nguồn để cảm nhận sâu sắc dáng hình đất nước Những hình ảnh thân quen của non sống đất nước gợi lên quá khứ hào hùng với truyền thống đánh giặc ngoại xâm oanh liệt của nhân dân ta qua truyền thuyết Thánh Gióng nhổ tre đánh đuổi giặc Ân:

“Ta như thuở xưa thần Phù Đổng Vụt lớn lên đánh đuổi giặc Ân Sức nhân dân khoẻ như ngựa sắt Chí căm thù ta rèn thép thành roi Lửa chiến đấu ta phun vào mặt

Lũ sát nhân cướp nước hại nòi”

(Tố Hữu) cùng với sự nghiệp dựng nước đầy gian lao của vua Hùng:

“Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương”

Ở đây, Nguyễn Khoa Điềm đã ca ngợi vẻ đẹp của Đất Nước về mặt lịch sử và truyền thống Chính cái "gót ngựa của Thánh Gióng" đã "để lại" cho đất nước bao ao đầm ở vùng Hà Bắc ngày nay "Chín mươi chín" núi con Voi đã quần tụ, chung sức chung lòng "góp mình dựng đất tổ Hùng Vương”

- Cho đến “những con rồng nằm im” cũng góp phần làm nên “dòng sông xanh thẳm”, “con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh” và cả những địa danh thật nôm na, bình dị “những ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm”

Trang 6

+ “Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm” Những dòng sông trên đất nước ta

là do rồng "nằm im" từ bao đời nay Nhờ đó mà quê hương ta có "dòng sông xanh thẳm", thơ mộng cho nước ngọt phù sa, nhiều tôm cá, mênh mông biển lúa bốn mùa

+ Tư tưởng "Đất Nước của nhân dân" cũng thể hiện trong kì quan nổi tiếng, những tên tuổi

có công với dân với nước:

"Con cóc con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh

Những người dân nào đã góp tên ông Đốc, ông Trang, bà Đen, bà Điểm"

Theo cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm, Hạ Long trở thành kì quan, thắng cảnh là nhờ có

"con cóc, con gà quê hương cùng góp cho"

Những tên làng, tên núi, tên sông như "Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm " là do những con người vô danh, bình dị làm nên

+ Nguyễn Khoa Điềm đã đặt cái nhìn trân trọng của mình vào nhân dân không tên không tuổi, “những người dân nào” không ai biết cũng làm nên tên núi, tên sông và tất cả những cái bình thường trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân cũng hoá thân thành “dáng hình

xứ sở” Những địa danh ở vùng cực Nam đất nước xa xôi này tượng trưng cho tinh thần xả thân vì cộng đồng, đức tính cần cù, siêng năng, dũng cảm trong lao động sáng tạo của nhân dân ta

+ Để khẳng định và nhấn mạnh tư tưởng "Đất nước của nhân dân" và chính nhân dân vô tận, những người vô danh không tên không tuổi đã làm nên đất nước, ở đoạn thơ trên tác giả

đã sử dụng rất thành công điệp từ "góp", một động từ diễn đạt hành động "cùng mọi người đưa cái riêng của mình vào thành cái chung" (Từ điển Tiếng Việt - trang 758)

+ Đọc đoạn thơ này ta cảm thấy ngạc nhiên thích thú trước những lí giải của Nguyễn Khoa Điềm Ai ngờ những điạ danh, thắng cảnh quá thân quen lại có khả năng nói được nhiều điều sâu xa như thế Số phận, cảnh ngộ, công lao của mỗi người đã đóng góp, hoá thân vào Đất Nước Đất Nước thấm sâu vào tâm hồn, máu thịt của nhân dân

b Từ đó, Nguyễn Khoa Điềm đi đến kết luận mang tính khái quát sâu sắc giàu chất suy tư và triết luận về sự hoá thân của nhân dân vào đất nước:

- Tính khái quát của hình tượng thơ cứ được nâng dần lên Đó là một hình dáng của tư thế truyền thống Việt Nam, truyền thống văn hiến của dân tộc có bốn nghìn năm lịch sử:

“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng, gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha”

Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hoá núi sống ta…”

Trang 7

+ Thì ra trên mọi miền Đất Nước của Tổ quốc Việt Nam, những tên núi, tên sông, tên làng, tên bản, tên ruộng đồng , gò bãi… đều mang đậm “một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha”

+ Chính cuộc đời của cha ông ta – những người dân không tên tuổi – đã làm nên Đất Nước Tất cả đều do nhân dân tạo ra, đều kết tinh từ công sức và khát vọng của nhân dân - những con người bình thường, vô danh

+ Nhưng tầm vóc của Đất Nước và nhân dân không chỉ trên bình diện địa lí "mênh mông"

mà còn ở dòng chảy thời gian lịch sử “bốn nghìn năm” "đằng đẵng"

KẾT BÀI

- Đoạn thơ có kết cấu chặt chẽ, tự nhiên và được viết theo thể tự do Câu thơ mở rộng kéo dài nhưng không nặng nề mà biến hoá linh hoạt làm cho đoạn thơ giàu sức biểu hiện và sức khái quát cao

- Đó là hình ảnh “Đất Nước của nhân dân” – nhân dân đã hoá thành đất nước Bởi trên khắp ruộng đồng gò bãi, núi sông đâu đâu cũng là hình ảnh của văn hoá, của đời sống tâm hồn, cốt cách của Việt Nam

Trang 8

BÀI MẪU SỐ 3:

“Đất nước” đó là nguồn thi hứng dạt dào trong thơ ca từ xa xưa đến tận bây giờ và có lẽ cả trong tương lai Và cái nguồn thi ca dào dạt ấy, đã được thể hiện rất thành công trong văn chương kháng chiến Chúng ta đã có “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi, có “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm và chúng ta lại có thêm “Đất nước” trong trường ca “Mặt trời khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm

“Đất nước” là một bài thơ được trích từ trường ca “Mặt trời khát vọng” được nhà thơ trẻ Nguyễn Khoa Điềm sáng tạo nên Với thi sĩ ấy, thì đất nước thân yêu phải là đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại, đất nước của những con người cần cù chất phác thủy chung son sắt, đất nước của những con người luôn vượt lên nghèo khổ để trở thành những người hiền tài giúp nước, giúp quê hương

Có lẽ đoạn thơ sau sẽ góp phần làm rõ cái tư tưởng cốt lõi nhất của đất nước: đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại:

“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất nước những núi Vọng Phu

Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương

Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

Người học trò nghèo góp cho Đất nước mình núi Bút, non Nghiên

Những cuộc đời đã hoá núi sông ta”

Đây có lẽ là những đoạn thơ hay nhất, thể hiện rõ nhất tư tưởng đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại

Đối với nhà thơ, “Đất nước” không phải là cái gì to lớn quá, trừu tượng quá mà nó rất cụ thể, nó là những gì diễn ra trong cuộc sống hàng ngày từ xa xưa đến tận bây giờ:

“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất nước những núi Vọng Phu

Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái”

Đất nước không phải là cái gì đó quá xa xôi mà nó ở ngay trong tình cảm của những người

vợ người chồng, họ thuỷ chung son sắt, họ sống với thời gian của họ, họ hạnh phúc rồi khi nào họ phải xa rời nhau thì họ vẫn luôn thuỷ chung nhớ về nhau Không chỉ họ sống với

Trang 9

thời hiện tại của họ, mà họ còn lưu lại cho mai sau và mãi mãi những hình tượng, những dấu

ấn, những di tích như “Núi Vọng Phu”, như “Hòn Trống Mái”, những di tích mà họ để lại sẽ giúp cho con cháu đời đời học tập và noi theo Nó trở thành truyền thống trong mỗi con người mang dòng máu của tiên rồng, nó tựa như một phương thức sống

Tình cảm vợ chồng thuỷ chung sâu nặng cũng chỉ là một phần làm nên đất nước Nhưng đâu chỉ có vậy, nhân dân ta là một nhân dân có lòng yêu nước nồng nàn, đó cũng chính là một truyền thống quý báu vô cùng của dân tộc ta:

“Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương

Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm”

Thánh Gióng xưa đi đuổi giặc, một mình với sức mạnh phi thường đã dùng những cây tre của quê hương để bảo vệ quê hương, bảo vệ xóm làng thân thuộc Rồi ngay cả những con voi, những con vật của quê hương giàu lòng yêu nước, sau khi đánh thắng giặc đã cùng với các vua Hùng dựng nên đất Tổ Hùng Vương Hẳn ai đó là cháu con của vua Hùng không thể quên được câu ca dao giờ đã hằn in trong nếp nghĩ của tất cả mọi người dân đất Việt: “Dù ai

đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba” Đúng vậy, liệu có một quê hương, một đất nước nào đó mà nhân dân có chung một ngày giỗ Tổ? Chắc là không có, mà nếu có thì cũng rất ít

Người Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học, đó là một trong những nét văn hoá tinh anh

mà các lớp cha anh đi trước truyền lại cho con cháu mai sau để rồi cái tinh thần hiếu học ấy

đã xây dựng nên một tượng đài:

“Người học trò nghèo góp cho Đất nước mình núi Bút, non Nghiên”

Vậy đấy, con người Việt Nam quả thật đáng khâm phục Họ tuy nghèo về đời sống vật chất, nhưng cuộc sống văn hoá tinh thần thì họ có cả một bề dày lịch sử Những “Núi Bút non Nghiên” là những hình ảnh cụ thể minh chứng cho điều đó Còn gì hạnh phúc hơn khi đất nước luôn là niềm tự hào trong những “anh học trò nghèo” mà có những phẩm chất cao đẹp như thế?

Đất nước ta không chỉ đẹp bởi tình cảm thuỷ chung vợ chồng, bởi truyền thống lịch sử hào hùng, bởi những anh học trò nghèo nhưng đầy trí tuệ, mà đất nước ta còn đẹp bởi những thắng cảnh quê hương:

“Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh”

Những con vật gắn đến truyền thuyết rồi đến những con vật rất đỗi quen thuộc hàng ngày cũng góp phần làm nên đất nước Nếu như thi sĩ Hoàng Cầm tự hào với quê hương Kinh

Trang 10

Bắc tươi đẹp bởi “lúa nếp thơm nồng”, tranh Đông Hồ và dòng sông Đuống, thì Nguyễn Khoa Điềm lại tự hào về núi Bút, non Nghiên, về thắng cảnh Hạ Long và có lẽ một điều đặc biệt ta nhận thấy trong thơ ông đó là niềm tự hào về người dân:

“Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi

Chẳng mang một dáng hình, một ước ao, một lối sống ông cha”

Vâng, nhân dân chính là ngọn nguồn của mọi sự sáng tạo, chúng ta tự hào vì chúng ta có những ông Đốc, ông Trang, và Đen, bà Điểm

Có lẽ trong văn thơ giai đoạn kháng chiến, hình tượng về những người dân áo vải đứng lên thành những anh hùng dân tộc đã xuất hiện rất nhiều, như trong “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi chẳng hạn:

“Ôm đất nước những người áo vải

Đã đứng lên thành những anh hùng”

Những con người rất đỗi bình dị ấy đã trở thành những tấm gương sáng cho con cháu noi theo, lớp con cháu đi sau vẫn luôn mong ước được sống “một lối sống của ông cha” Vậy đấy, lớp trẻ sẽ luôn luôn kế tiếp truyền thống của cha ông Nếu đặt trong hoàn cảnh Nguyễn Khoa Điềm lúc viết bài thơ này, hẳn chúng ta sẽ hiểu rõ hơn, sâu sắc hơn về câu thơ trên Kết thúc đoạn thơ trên, nhà thơ viết:

“Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy

Những cuộc đời đã hoá núi sông ta”

Đất nước với bốn nghìn năm xây dựng và bảo vệ, đất nước tươi đẹp và thật đáng yêu Trong bốn nghìn năm ấy, con người luôn là hình ảnh đẹp, họ nối tiếp truyền thống tốt đẹp của cha anh để rồi đi đâu và ở đâu ta cũng thấy “Những cuộc đời đã hoá núi sông ta” Con người đã hoá thân vào đất nước Tất cả đã tạo nên một đất nước văn hiến giàu truyền thống lịch sử Qua đoạn thơ trích giảng, ta thấy rất rõ tư tưởng đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại, đất nước của truyền thống lịch sử Mỗi con người trong chúng ta hiện nay muốn làm nên đất nước muôn đời hãy cố gắng vươn lên và thực hiện như ý nguyện của nhà thơ:

“Em ơi em phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên Đất Nước muôn đời”

Trang 11

BÀI MẪU SỐ 4:

Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ những nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ Trường ca Mặt đường khát vọng là tác phẩm sâu sắc, mang vẻ độc đáo cùa ông được sáng tác vào năm 1971 tại núi rừng chiến khu Trị - Thiên Bài Đất Nước là chương V của trường

ca này Tác giả đã sử dụng một cách sáng tạo các chất liệu - thi liệu từ tục ngữ, ca dao dân

ca, từ truyền thuyết cổ tích đến phong tục, ngôn ngữ., của nền văn hóa dân tộc để khơi nguồn cảm hứng về Đất Nước, một Đất Nước có nguồn gốc lâu đời, một Đất nước của Nhân dân vĩnh hằng muôn thuở

Đoạn thơ 12 câu này trích trong phần II bài Đất Nước đã ca ngợi Đất Nước hùng vĩ, tự hào khẳng định những phẩm chất cao đẹp của nhân dân ta, dân tộc ta Câu thơ mở rộng đến 13,

14, 15 từ, nhưng vẫn thanh thoát, nhịp nhàng, giàu âm điệu và nhạc điệu gợi cảm:

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

(…)

Những cuộc đời đã hóa núi sông ta

Tám câu thơ đầu nói về tượng hình Đất Nước, một Đất Nước hùng vĩ, một giang sơn gấm vóc Khắp nơi trên mọi miền Đất Nước ta, ở đâu cũng có những danh lam thắng cảnh Núi Vọng Phu, hòn Trống Mái đã đi vào huyền thoại cổ tích Nguyễn Khoa Điềm đã có một cái nhìn khám phá, nhân văn Núi ấy, hòn ấy là do “những người vợ nhớ chồng”, hoặc “cặp vợ chồng yêu nhau” mà đã “góp cho", đã “góp nên”, làm đẹp thêm, tô điểm thêm Đất Nước

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu

Cặp vợ chồng yêu nhau góp thêm hòn Trống Mái

Núi Vọng Phu ớ Lạng Sơn, Thanh Hóa, Bình Định hòn Trống Mái ớ sầm Sơn không chỉ

là vẻ đẹp thiên nhiên mà còn là biểu tượng cho vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam

Vợ có "nhớ chồng”, cặp vợ chồng có “yêu nhau” thì mới “góp cho Đất Nước”, mới “góp nên” những núi Vọng Phu, hòn Trống Mái ấy Tình yêu lứa đôi có thắm thiết, tình nghĩa vợ chồng có thủy chung thì Đất Nước mới có tượng hình kì thú ấy Tác giả đã vượt lên lối liệt

kê tầm thường để có một cách nhìn, một cách diễn đạt mới mẻ, nhân văn

Hai câu thơ tiếp theo ca ngợi vẻ đẹp Đất Nước về mặt lịch sử và truyền thống Cái “gót ngựa của Thánh Gióng ấy để lại” cho Đất Nước ta bao ao đầm ở vùng Hà Bắc ngày nay! Chín mươi chín núi con Voi ở Phong Châu đã quần tụ, chung sức chung lòng “góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương” Các từ ngữ: “đi qua còn để lại”, “góp mình dựng" đã thế hiện một cách bình dị mà tự hào về sự thiêng liêng của Tổ quốc, về khí phách anh hùng, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc của nhân dân ta trong xây dựng và bảo vệ Đất Nước:

Ngày đăng: 29/04/2021, 17:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w