Mời các bạn cùng tham khảo nội dung bài thuyết trình Nước Đại Việt thời Trần từ năm 1226 đến năm 1400 dưới đây để nắm bắt được hoàn cảnh ra đời nước Đại Việt thời Trần, nhà Trần xây dựng đất nước,... Với các bạn đang học và giảng dạy chuyên ngành Sư phạm Lịch sử thì đây là tài liệu tham khảo hữu ích.
Trang 1CƠ SỞ TỰ NHIÊN XÃ HỘI Bài Thuyết Trình Môn
LỊCH SỬ (Lớp 4)
Trang 21 Đoàn Anh Tấn
2 Lưu Anh Đào
3 Hoàng Mai Trinh
4 Nguyễn Như Tuyền
10.Nguyễn Phương Bảo Ngân
11.Nguyễn Thị Thùy Dương
Lịch Sử Lớp 4 (Bài 12 – bài 16)
Lịch Sử Lớp 5 (Bài 6 – bài 10)
NHÓM 3
Trang 3NƯỚC ĐẠI VIỆT THỜI TRẦN
(Từ năm 1226 đến năm 1400)
Trang 4I Hoàn
Bài 12: NHÀ TRẦN THÀNH LẬP
Trang 5I HOÀN CẢNH RA ĐỜI
• Cuối thế kỷ XII, nhà Lý suy yếu: triều đình lục đục, đời sống nhân dân khổ cực, giặc ngoại xâm lăm le xâm lược
• Vua Lý phải dựa vào thế lực của nhà Trần (Trần Thủ Độ) để giữ ngai vàng
• Lý Huệ Tông truyền ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng
• Năm 1225, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh Nhà Trần được thành lập
Trang 6• Trần Thủ Độ (1194 – 1264) là một quyền thần
có ảnh hưởng lớn của triều đại nhà Trần, có vai trò lớn trong việc họ Trần đoạt ngôi nhà Lý
Trang 7III NHÀ TRẦN XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC
• Bộ máy nhà nước thời Trần
VuaLộPhủChâuXã
Trang 8III NHÀ TRẦN XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC
• Các vua Trần đặt lệ nhường ngôi sớm cho con và
tự xưng là Thái thượng hoàng, cùng trông nom việc nước
• Vua Trần cho đặt chuông lớn ở thềm cung điện
để dân đến đánh khi có điều cầu xin hoặc oan ức
• Trai tráng khỏe mạnh được tuyển vào quân đội, thời bình thì ở làng sản xuất, lúc có chiến tranh thì tham gia chiến đấu
Trang 9III NHÀ TRẦN XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC
• Nhà Trần lập thêm một số chức quan:
Trang 10• Đền thờ các vị vua thời Trần (Đông Triều, Quảng Ninh)
Trang 11• Đền thờ họ Trần (Nam Định)
Trang 12BÀI 13: NHÀ TRẦN VÀ VIỆC ĐẮP ĐÊ
Trang 13I ĐIỀU KIỆN NƯỚC TA VÀ TRUYỀN
THỐNG CHỐNG LỤT CỦA NHÂN DÂN TA
• Dưới thời Trần, nhân dân ta làm nghề nông nghiệp là chủ yếu
• Hệ thống sông ngòi nước ta chằng chịt, có nhiều sông như sông Hồng, sông Đà, sông Đuống, sông Cầu, sông Mã, sông Cả,
• Sông ngòi chằng chịt là nguồn cung cấp nước cho việc cấy trồng nhưng cũng thường xuyên tạo ra lũ lụt
Trang 14II NHÀ TRẦN TỔ CHỨC ĐẮP ĐÊ CHỐNG LỤT
• Đặt chức quan Hà đê sứ để trông coi việc đắp đê.
• Đặt ra lệ mọi người đều phải tham gia đắp đê
• Hằng năm, con trai từ 18 tuổi trở lên phải dành một số ngày tham gia việc đắp đê
• Có lúc, các vua Trần cũng tự mình trông nom việc đắp đê
Trang 16III KẾT QUẢ CÔNG CUỘC ĐẮP ĐÊ CỦA
NHÀ TRẦN
• Hệ thống đê điều đã được hình thành dọc theo sông Hồng và các con sông lớn khác ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, giúp cho sản xuất nông nghiệp phát triển, đời sống nhân dân thêm ấm no
• Công cuộc đắp đê, trị thủy cũng làm cho nhân dân
ta thêm đoàn kết
Trang 17BÀI 14: CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC MÔNG - NGUYÊN
Trang 18I Ý CHÍ QUYẾT TÂM ĐÁNH GIẶC CỦA
• Các chiến sĩ tự thích vào cánh tay mình hai chữ: “Sát thác” (giết giặc Mông Cổ)
Trang 19• Trần Hưng Đạo (1232 – 1300) tên thật là Trần Quốc Tuấn, là một nhà quân sự kiệt xuất thời Trần.
• Chiến công 3 lần đánh bại giặc Mông – Nguyên
Trang 20II KẾ SÁCH ĐÁNH GIẶC CỦA VUA TÔI NHÀ TRẦN VÀ KẾT QUẢ CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN
1 Kế hoạch đánh giặc: Khi giặc mạnh quân ta rút lui
để bảo toàn lực lượng Khi giặc yếu quân ta tấn công quyết liệt buộc chúng phải rút lui.
2 Tác dụng: Việc cả ba lần vua tôi nhà Trần đều rút
khỏi Thăng Long có tác dụng làm cho địch khi vào Thăng Long không thấy một bóng người, không một chút lương ăn càng thêm mệt mỏi và đói khát.
3 Kết quả: Sau ba lần thất bại quân Mông – Nguyên
không dám sang xâm lược nước ta nữa, đất nước ta sạch bóng quân thù, độc lập dân tộc được giữ vững.
Trang 22• Cọc nhọn trên sông Bạch Đằng
Trang 23III TẤM GƯƠNG YÊU NƯỚC TRẦN QUỐC
TOẢN
• Trần Quốc Toản (Đinh Mão 1267- Ất Dậu 1285) là một quý tộc nhà Trần, sống ở thời kỳ trị
vì của vua Trần Nhân Tông,
có công trong kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai
• Lòng dũng cảm và tinh thần yêu nước thể hiện qua lá cờ thêu 6 chữ vàng của ông: "Phá cường địch, báo hoàng ân" (phá giặc
Trang 24BÀI 15:
Trang 25I TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC CUỐI THỜI
TRẦN
• Vua quan ăn chơi sa đọa, những kẻ có thế lực ngang nhiên vơ vét của dân để làm giàu, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ
• Nhân dân bất bình, phẫn nộ; nông dân và nô tì đã nổi dậy đấu tranh
• Chu Văn An dâng sớ chém 7 tên quan đã lấn át quyền vua, coi thường phép nước
• Nạn ngoại xâm: phía Nam quân Chăm Pa luôn quấy nhiễu, phía bắc nhà Minh hạch sách đủ điều
Trang 26• Chu Văn An (1292 –
1370) là một nhà giáo, thầy
thuốc, đại quan nhà Trần,
được phong tước Văn
Trinh Công.
• Đến đời Dụ Tông, thấy
quyền thần làm nhiều điều
vô đạo, ông dâng Thất
trảm sớ xin chém 7 tên
gian nịnh, nhưng vua
không nghe Ông chán nản
từ quan về ở núi Phượng
Trang 27II QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ SỤP ĐỔ
CỦA NHÀ HỒ
1 Hoàn cảnh ra đời: nhà Trần suy tàn không còn đủ sức
gánh vác công việc trị nước, cần có một triều đại khác thay thế nhà Trần.
2 Quá trình thành lập: năm 1400 Hồ Quý Ly truất ngôi vua
Trần và xưng làm vua, lập nên nhà Hồ, dời thành về Tây
Đô (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa), đổi tên nước là Đại Ngu Sau khi lên ngôi vua Hồ Quý Ly đã thực hiện nhiều cải cách.
3 Nguyên nhân sụp đổ: năm 1406, quân Minh sang xâm
lược nước ta, Hồ Quý Ly không liên kết được toàn dân để tiến hành kháng chiến mà chỉ dựa vào quân đội nên đã thất bại Nước ta bị nhà Minh đô hộ.
Trang 28• Thành nhà Hồ (Thanh Hoá)
Trang 29BÀI 16: CHIẾN THẮNG CHI LĂNG
Trang 30• Lê Thái Tổ (1385 – 1433) tên thật là Lê Lợi,
là người khởi xướng khởi nghĩa Lam Sơn chiến thắng quân đội Minh và trở thành vị Hoàng Đế đầu tiên của triều đại Hậu Lê, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử Việt Nam
Trang 31I BỐI CẢNH DẪN ĐẾN TRẬN CHI LĂNG
• Cuối năm 1406, quân Minh xâm lược nước
ta, nhà Hồ không đoàn kết được toàn dân nên cuộc kháng chiến thất bại (1407) Dưới ách
đô hộ của nhà Minh, nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta đã nổ ra, tiêu biểu là khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi khởi xướng
Trang 32• Năm 1418, từ vùng núi Lam Sơn (Thanh Hóa), cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ngày càng lan rộng ra
cả nước Năm 1426, quân Minh bị quân khỏi nghĩa bao vây ở Đông Quan (Thăng Long) Vương Thông, tướng chỉ huy quân Minh hoảng
sợ, một mặt xin hòa, mặt khác bí mật sai người về nước xin quân cứu viện Liễu Thăng chỉ huy 10 vạn quân kéo vào nước ta theo đường Lạng Sơn
Trang 33II DIỄN BIẾN TRẬN CHI LĂNG
• Liễu Thăng cầm đầu một đạo
quân đánh vào Lạng Sơn Mờ
sáng, chúng đến cửa ải Chi
Lăng Kị binh ta ra nghênh
chiến rồi quay đầu giả vờ thua
để nhử Liễu Thăng cùng đám
kị binh vào ải Khi ngựa của
chúng đang bì bõm vượt qua
đồng lầy Lập tức từ hai bên
sườn núi, những chùm tên và
những mũi lao vun vút phóng
Trang 34III KẾT QUẢ VÀ Ý NGHĨ TRẬN ĐÁNH
1 Kết quả: Liễu Thăng và hàng vạn quân Minh bị
giết, số còn lại rút chạy
2 Ý nghĩa: Đập tan được mưu đồ cứu viện cho
Đông Quan của nhà Minh Quân Minh phải xin hàng và rút về nước Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế (Lê Thái Tổ) Nhà Hậu Lê bắt đầu từ đây
Trang 35CẢM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN
ĐÃ LẮNG NGHE!