Mục tiêu của đề tài là Tạo tình huống mở để học sinh tìm hiểu bài đọc. Phát triển khả năng đọc diễn cảm của học sinh trong khâu luyện đọc lại. Giới thiệu một số hình thức đổi mới trong dạy Tập đọc lớp 2. Xây dựng không khí học tập hào hứng, tích cực cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập. Giới thiệu một số hình thức đổi mới trong dạy Tập đọc lớp 2.
Trang 1Phần 1: THỰC TRẠNG ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 có nhiều ưu điểm:
- Trình bày khoa học: kênh chữ rõ ràng, ngắn gọn; kênh hình chiếm khốilượng lớn, rõ nét, hình ảnh phong phú, màu sắc đẹp, hấp dẫn
- Nội dung các bài đọc mang tính thiết thực, gần gũi, tính hướng dẫn giao tiếp
rõ rệt, chứa đựng tình cảm cảm động hay vui nhộn, cuốn hút
- Hình thức diễn đạt trong sáng, ý nghĩa tư tưởng sâu sắc Học sinh dễ hiểu,
dễ cảm nhận và xúc động Ý nghĩa giáo dục dễ dàng đi sâu vào tâm hồn trẻ thơ mộtcách nhẹ nhàng, sâu sắc
- Câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu bài là các yêu cầu tái hiện hay dạng gợi mở,bộc lộ ý kiến cá nhân giúp học sinh tiếp cận và thâm nhập bài đọc từ dễ đến khó ; từnhắc lại, nhớ lại đến tư duy độc lập sáng tạo để có ý thức, có hành động đúng
* Sách giáo viên Tiếng Việt lớp 2 hướng dẫn quy trình thông thường dạy mộtbài tập đọc như sau:
A Kiểm tra bài cũ
B Dạy bài mới
- Giới thiệu bài
- Luyện đọc đúng
+ Đọc từng câu kết hợp luyện phát âm
+ Đọc từng đoạn kết hợp tìm hiểu nghĩa từ
+ Đọc nhóm
+ Thi đọc giữa các nhóm
+ Đọc đồng thanh
- Hướng dẫn tìm hiểu bài (đọc hiểu, trả lời các câu hỏi theo SGK)
- Luyện đọc lại và học thuộc lòng (nếu có)
- Củng cố, dặn dò
Hầu hết các giáo viên đều dạy học phụ thuộc vào sách giáo viên, không mạnhdạn thay đổi, điều chỉnh, nghiên cứu, tìm tòi, đổi mới sáng tạo bởi sợ sai, sợ lệchhướng,… Vì thế, các giáo viên cho rằng:" Dạy theo sách hướng dẫn là tốt nhất" Cứtheo cách đó thì các giờ tập đọc đều được dạy theo một khuôn mẫu, rập khuôn máymóc, cứng nhắc Nó có ưu điểm là thực hiện đúng phương pháp song lại có nhiềunhược điểm là xa rời thực tế, tách rời học sinh, giờ học khô khan, rời rạc Bởi vậy,thực tế chất lượng học sinh chưa cao, khả năng đọc, hiểu, cảm thụ hình thành ý thức
và hành động ở học sinh chưa đáp ứng thoả đáng nhu cầu phát triển của cá nhân vàyêu cầu của nhà trường và gia đình
Trang 2Bởi vậy, để tránh những lúng túng vì khó khăn trong dạy học, bởi sự mới
lạ của sách mới; giúp người dạy, người học tiếp cận và nhanh chóng quenthuộc với toàn bộ chương trình tiểu học mới, dạy và học sáng tạo nhằm nângcao chất lượng giáo dục tiểu học, tôi đã lựa chọn nghiên cứu môn tập đọc với
đề tài" Thiết kế bài học Tập đọc lớp 2 theo hướng đổi mới phương pháp
Trang 3hần 2: NỘI DUNG CẦN GIẢI QUYẾT
Học sinh tiểu học - con người với cấu tạo đầy đủ các bộ phận của cơ thểđang phát triển Trong đó, các cơ quan phát âm, ngôn ngữ phát triển mạnh,phù hợp với sự tiếp nhận và thực hiện dễ dàng hoạt động mới theo chức năngcủa chúng Chức năng phát âm - tập đọc
Khả năng nhận thức, tư duy, tưởng tượng, tình cảm, trí nhớ và nhân cáchhọc sinh đang được hình thành, tiềm tàng khả năng phát triển và đang đượcphát triển
Học sinh tiểu học hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng, hiếu động, tò mò, thíchhoạt động, khám phá, thường độc lập, tự làm việc theo hứng thú của mình.Thầy cô là hình tượng mẫu mực nhất, được trẻ tôn sùng nhất, mọi điều trẻđều nhất nhất nghe theo; sự phát triển nhân cách học sinh tiểu học phụ thuộcphần lớn vào quá trình dạy học và giáo dục của thầy cô trong nhà trường tiểuhọc
Dạy Tập đọc cho học sinh tiểu học, đặc biệt ở các lớp đầu cấp là bước đầuđem đến sự vận động khoa học cho bộ não và các cơ quan phát âm, ngôn ngữ,đem đến những tinh hoa văn hóa, cảm thụ văn học, rèn luyện tình cảm đạođức, ý chí, ý thức, hành động đúng cho trẻ, định hướng con đường phát triển,hình thành nhân cách trẻ; phát triển khả năng học tập các môn học khác, làđiều kiện phát triển toàn diện học sinh tiểu học
Nhân cách học sinh tiểu học phát triển đúng đắn hay lệch lạc phụ thuộc quátrình giáo dục của người thầy tiểu học mà trong đó phương tiện là nghe, đọc,nói, viết, có được nhờ học tập đọc Dạy học tập đọc đòi hỏi người thầy phải
có phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm sinh lý học sinh tiểu học, phùhợp sự phát triển tiến bộ của khoa học, xã hội, đáp ứng nhu cầu ham hiểu biếtcủa học sinh tiểu học và tăng cường giá trị giáo dục đạo đức, nhân cách trẻ.Ngôn ngữ học đã chỉ rõ những nội dung cụ thể về các vấn đề của ngôn ngữnhư: Chữ viết, chính âm, chính tả, nghĩa của từ - câu - đoạn - văn bản, ngữđiệu, nhịp điệu, tình cảm ngôn ngữ Đó chính là những vấn đề gắn bó với việcdạy và học Tập đọc của thầy trò trường tiểu học
Văn học là nghệ thuật, là tinh hoa của ngôn ngữ, là tình cảm đạo đức, lýtưởng, tình yêu Nó có được nhờ cảm xúc của tâm hồn, nó làm cho tâm hồncon người thêm phong phú, sâu sắc
Dạy Tập đọc cho học sinh tiểu học là dạy học sinh biết đọc đúng: Tiếng, từ,câu, chữ, hiểu nội dung rồi đọc đúng ngữ điệu, nhịp điệu, diễn cảm, cảm nhậnđược ý nghĩa tình cảm, có cảm xúc, biết tư duy, tưởng tượng, hình thành ý
Trang 4thức tốt đẹp trong tâm hồn và có hành động đẹp nghĩa là học sinh biết đọcđúng chuẩn ngôn ngữ và biết cảm thụ văn học.
Nghiên cứu về ngôn ngữ ta thấy vấn đề về ngữ nghĩa đặc biệt quan trọng,
nó là yếu tố then chốt trong quá trình dạy học Tập đọc: Nghĩa của từ, nghĩacủa từ trong văn cảnh, nghĩa của câu, đoạn, bài văn Khái quát lên nó là ýnghĩa giáo dục đối với học sinh Làm sao để học sinh tiếp nhận ý nghĩa ấy mộtcách tự nhiên, có cảm xúc, có sự cảm thụ cảm nhận đúng - sai, tốt - xấu, đểcác em cảm thụ được cái hay cái đẹp của văn học phát triển tâm hồn phongphú Đó là cả một nghệ thuật, nghệ thuật trong lao động dạy học sáng tạo củangười thầy tiểu học Dạy tập đọc sẽ càng tinh tế, càng sáng tạo càng hiệu quảkhi ta nghiên cứu vận dụng tốt những thành tựu của ngôn ngữ và văn học.Tập đọc là một phân môn thực hành Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó làhình thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc thể hiện ở 4 yêu cầu vềchất lượng của" đọc", đó là : đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý thức (đọc hiểu) vàđọc hay (đọc diễn cảm) Cần phải hiểu kỹ năng đọc có nhiều mức độ, nhiềutầng bậc khác nhau Đầu tiên là trong giải mã chữ - âm một cách sơ bộ tiếptheo đọc là phải hiểu được nghĩa của từ, tìm được các từ, câu "chìa khoá"trọng yếu trong bài, biết tóm tắt nội dung của đoạn Với những bài văn: biếtphát hiện ra những yếu tốn"văn" và đánh giá được giá trị của chúng trong việcbiểu đạt nội dung Như vậy, biết đọc đồng nghĩa với việc có kỹ năng làm việcvới văn bản
Nhiệm vụ thứ hai của dạy học là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thànhphương pháp và thói quen làm việc với sách cho học sinh Dạy Tập đọc phảilàm cho học sinh thích đọc và thấy được rằng khả năng đọc có ích lợi cho các
em trong cả cuộc đời Đọc là một trong những con đường đặc biệt để tạo chomình một cuộc sống đầy đủ và phát triển
Nhiệm vụ thứ ba của Tập đọc là làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống
và kiến thức văn học cho học sinh Đọc giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi dưỡng
ở các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy các em biết suy nghĩ một cáchlogic cũng như biết tư duy có hình ảnh… Dạy học không chỉ giáo dục tư tưởngđạo đức mà còn giáo dục tính cách, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh Dạy Tậpđọc có ý nghĩa to lớn vì nó thực hiện cả 3 nhiệm vụ : giáo dục, giáo dưỡng vàphát triển
Như vậy, ta thấy phương pháp dạy Tập đọc nói chung và Tập đọc lớp 2 nóiriêng phải dựa trên cơ sở thực hiện các nhiệm vụ của môn tập đọc trong nhàtrường tiểu học: Giáo dưỡng - giáo dục và phát triển
Trang 5Tài liệu học tập của học sinh đối với môn học Tiếng Việt lớp 2 gồm SGK
và vở bài tập, song do vở bài tập Tiếng Việt ông biên soạn bài tập cho phânmôn Tập đọc nên ta chỉ xem xét Tập đọc trên SGK Tiếng Việt lớp 2
Với tổng số 93 văn bản tập đọc được dạy - học trong 124 tiết/ 31 tuần thựchọc (không kể 4 tuần ôn tập) phân môn Tập đọc lớp 2 được chia ra các mảngvới 15 chủ điểm cụ thể
- Tiếng Việt lớp 2 - tập 1 với các bài tập đọc tập trung vào các mảng: Họcsinh - nhà trường - gia đình, với 8 chủ điểm : Em là học sinh, Bạn bè, Trườnghọc, Thầy cô, ông bà, cha mẹ, anh em, bạn trong nhà
- Tiếng việt lớp 2 - tập 2 với các bài tập đọc tập trung vào các mảng: Thiênnhiên- Đất nước, với 7 chủ điểm: Bốn mùa, Chim chóc, Muông thú, Sôngbiển, Cây cối, Bác Hồ, Nhân dân
(Mỗi chủ điểm được học trong 2 tuần được gọi là một đơn vị học)
Từ thực trạng lớp tôi như thế Tôi thiết nghĩ cần giải quyết những vấn đề sau
để đều khắp cả lớp tôi say mê hứng thú học môn Tập đọc hơn
1 Đọc mẫu bằng tâm hồn văn học và âm nhạc
2 Hướng dẫn học sinh luyện đọc một cách linh hoạt, khéo léo
3 Tạo tình huống mở để học sinh tìm hiểu bài đọc
4 Phát triển khả năng đọc diễn cảm của học sinh trong khâu luyện đọclại
5 Giới thiệu một số hình thức đổi mới trong dạy Tập đọc lớp 2:
6 Xây dựng không khí học tập hào hứng, tích cực cho học sinh thôngqua tổ chức trò chơi học tập:
7 Giới thiệu một số hình thức đổi mới trong dạy Tập đọc lớp 2:
Trang 6Phần 3: BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT
Đổi mới phương pháp dạy học không được hiểu là máy móc là dạy học
bó buộc: phải có phiếu bài tập, phải hoạt động nhóm, phải chơi trò chơi,…không phải là tìm ra phương pháp dạy học mới Đổi mới phương pháp dạy học
là phát huy những ưu điểm tích cực của các phương pháp dạy học truyền thốngkết hợp với các hình thức tổ chức cho học sinh học tập một cách tự lực, tíchcực nhất
Chúng ta đều biết trong điều kiện cụ thể của mỗi địa phương, mỗi nhàtrường, mỗi lớp học đều mang những đặc thù riêng đòi hỏi người dạy học phảivận dụng cái đổi mới vào điều kiện cụ thể cho hiệu quả Đó mới thực sự là dạyhọc đổi mới Đổi mới phương pháp dạy học không chỉ dừng ở vận dụng nó đòihỏi người giáo viên phải năng động sáng tạo để có những thay đổi, để cónhững giờ học mới lạ hấp dẫn, hiệu quả
Để thiết kế bài tập đọc lớp 2 theo hướng đổi mới phương pháp dạy họcchúng ta phải tìm được các biện pháp dạy học theo định hướng đổi mới, phảitìm được các hình thức dạy học đổi mới cụ thể để đưa vào kế hoạch bài họckhi thiết kế
1 Đọc mẫu bằng tâm hồn văn học và âm nhạc
Đọc mẫu đòi hỏi giáo viên phải đọc đúng, rõ ràng, ngữ điệu phù hợp Đó
là việc thể hiện giọng đọc, ngắt giọng diễn cảm, thể hiện tốc độ, cường độ, cao
độ của âm thanh
Đọc mẫu diễn cảm là sử dụng ngữ điệu để phô diễn cảm xúc bài học.Phải hoà nhập tâm hồn với nội dung bài đọc, với văn cảnh mới có tình cảm,cảm xúc, mới tìm thấy ngữ điệu phù hợp Văn bản qui định ngữ điệu đọc chochúng ta chứ không phải ta áp đặt ngữ điệu đọc theo chủ quan của mình vàovăn bản Bài đọc mẫu của giáo viên phải làm sao có tình cảm sâu lắng, tâmnhập, lây truyền tới học sinh, mở ra không gian liên tưởng, tưởng tượng chocác em
2 Hướng dẫn học sinh luyện đọc một cách linh hoạt, khéo léo.
Dạy đọc, hướng dẫn học sinh phải vừa mang tính đại trà vừa mang tính
cá thể hoá Đặc biệt, cần sử dụng triệt để ưu thế sách giáo khoa với mục tiêudạy hoạt động giao tiếp cho học sinh Dùng sách giáo khoa để đọc, quan sáttranh, phân tích tìm tòi nội dung ý nghĩa…
Bước 1 : Đọc từng câu
Học sinh đọc nối tiếp từng câu, cô giáo và học sinh cả lớp theo dõi vàphát hiện những từ học sinh đọc sai (khó đọc) để luyện phát âm Yêu cầu học
Trang 7sinh đọc lại cả câu chứa từ đó để học sinh xác định đúng cách đọc trong văncảnh.
Chẳng hạn bài "danh sách học sinh tổ 1" lớp 2, phần ngày 1996" Học sinh đọc năm 1996 "năm một chín chín sáu " là chưa chính xác,nếu học sinh không phát hiện thì tôi cần nhắc nhở và đưa ra để các em luyệnđọc cho đúng " năm một nghìn chín trăm chín mươi sáu", sau đó cho học sinhđọc lại cả dòng tên học sinh có năm sinh đó
sinh"5-3-Chú ý khi gặp lời thoại, nếu một nhân vật nói nhiều hơn một câu thìnhắc học sinh đọc liền cho hết lời nhân vật, tránh ngắt một lời nói ra làm 2, 3câu để 2, 3 học sinh đọc
Ví dụ bài "Có công mài sắt , có ngày nên kim" - lời bà cụ giảng giải chocậu bé: " Mỗi ngày mài thỏi sắt nhỏ đi một tí, sẽ có ngày nó thành kim Giốngnhư cháu đi học, mỗi ngày cháu học một ít, sẽ có ngày cháu thành tài."
Bước 2: Đọc từng đoạn trước lớp
Từng học sinh đọc từng đoạn nối tiếp nhau đến hết bài học (với nhữngvăn bản không chia đoạn, giáo viên có thể tự ngắt ở những điểm phù hợp đểhọc sinh luân phiên đọc), cả lớp theo dõi nhận xét bạn đọc về phát âm, giọngđọc, ngữ điệu,… Tôi tổ chức cho các em luyện đọc kỹ câu dài, câu "chốt" củabài văn để ngắt nghỉ đúng ý nghĩa của câu, đồng thời là cơ sở cho việc hiểu,cảm thụ văn bản Ngoài ra, có thể chọn một đoạn chính (có ý nghĩa khái quáthoặc khó đọc) để luyện kỹ hơn, nhiều hơn
Ví dụ: bài "Sự tích cây vú sữa"
Cần chú ý ngắt nghỉ đúng khi đọc câu văn: Cậu đi la cà khắp nơi/ chẳngnghĩ đến mẹ ở nhà / mỏi mắt mong chờ"; "Lá một mắt xanh bóng/ mặt kia đỏhoe/ như mắt mẹ khóc / chờ con." đây cũng là các câu văn " chốt" của bài, nóilên tình cảm yêu thương của ngườii mẹ
Trong khi đọc bài, học sinh kết hợp tìm hiểu nghĩa từ với các cách nhưsau:
- Dùng tranh ảnh vật thật
Nêu ví dụ, tình huống, câu chuyện nói lên ý nghĩa của từ
- Đặt câu có từ đó để giải thích
- Tìm từ cùng nghĩa để thay thế, từ trái nghĩa để phủ định
- Dùng cử chỉ, động tác, cách biểu hiện để miêu tả
-Định nghĩa từ
Trang 8Bước 3: Đọc từng đoạn theo nhóm (Đọc luân phiên các bạn trong
nhóm, do học sinh tự điều khiển)
Mục đích: Học sinh được luyện đọc tự giác, tích cực, tự nhiên, chủ động,
có thể học tập lẫn nhau
* Lưu ý với các nhóm học sinh:
- Điều khiển để tất cả các bạn trong nhóm được đọc lần lượt
- Cường độ đọc vừa đủ nghe trong nhóm không ảnh hưởng đến nhómkhác
- Chú ý nghe bạn đọc, phát hiện lỗi để sửa
- Bạn đọc yếu được luyện đọc nhiều hơn, được các bạn giúp đỡ nhiềuhơn
Trong hoạt động đọc nhóm, tôi phải thường xuyên quan tâm, giúp đỡ, hỗtrợ để các nhóm hoạt động có hiệu quả Vài lần đầu giáo viên chọn cử nhómtrưởng sau cho học sinh tự cử và luân phiên nhau làm nhóm trưởng để tácđộng các em đều được làm quen với công việc tổ chức, được rèn luyện khảnăng nói và giao tiếp, rèn luyện thói quen mạnh dạn trước đám đông, năngđộng, hào hứng học tập tích cực, hiệu quả
Bước 4: Thi đua giữa các nhóm :
Là hình thức học sinh trình bày kết quả luyện đọc nhóm Thi đọc tạo sựhào hứng, phấn khởi học tập cho học sinh, là hoạt động đa dạng và phong phú
về hình thức tổ chức (có thể là đọc thuộc lòng phối hợp cử chỉ, động tác.)
- Thi tập thể: đọc đồng thanh, đọc tiếp sức, đọc theo cặp, đọc theo vai
* Lưu ý việc đánh giá kết quả cần đảm bảo tính động viên, khích lệ coitrọng sự tiến bộ của học sinh Cuối cùng có bình chọn vị trí xuất sắc nhất đểđọc mẫu cho cả lớp học tập
Bước 5 :Đọc đồng thanh
Đây là bước củng cố, đọc chung thống nhất trong cả lớp về phát âm, tốc
độ nhịp điệu, giọng điệu để những em đọc chưa chuẩn sẽ tự điều chỉnh chođúng và hay Tôi hướng dẫn các em đọc vừa phải, đủ nghe không đọc to quágây ầm ĩ Đọc đồng thanh chỉ nên áp dụng với các văn bản đọc có nội dungmiêu tả, truyện vui, thơ, không nên đọc đồng thanh các văn bản thông thường(dạng hành chính) hoặc văn bản có nội dung buồn, xúc động cần giọng đọc nộitâm, sâu lắng
Trang 93 Tạo tình huống mở để học sinh tìm hiểu bài đọc:
Bước 1 : Học sinh đọc thầm tự trả lời câu hỏi:
Đây là bước để học sinh chuẩn bị trước khi cùng cả lớp tìm hiểu nộidung bài đọc, là khâu quan trọng và cần thiết để tạo cho các em thói quen tựgiác, tự lực học tập, giúp các em chủ động trả lời các câu hỏi tìm hiểu bài Cóthể có nhiều hình thức tổ chức hoạt động này:
- Cá nhân đọc thầm, tự trả lời câu hỏi
- Cá nhân đọc thầm, hỏi và trả lời cặp đôi với bạn
- Cá nhân đọc thầm, trao đổi hoàn thiện nội dung trả lời theo nhóm
Bước 2 : Đàm thoại trước lớp (tìm hiểu bài)
- Với hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa, giáo viên có thể bổ sungthêm các câu hỏi gợi mở, dẫn dắt học sinh tách nhỏ câu hỏi cho phù hợp vớiđối tượng học sinh Một nội dung rất quan trọng là liên hệ, vận dụng thực tiễn
và hình thành ý thức, thái độ ứng xử đúng mực trong cuộc sống hàng ngày Đókhông chỉ là việc làm giáo dục tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ văn học cho họcsinh mà còn là giáo dục đạo đức, giáo dục vệ sinh môi trường, giáo dục nhânvăn … cho các em
Ví dụ:
Sau khi trả lời các câu hỏi tìm hiểu bài: " Mẩu giấy vụn" tôi đưa thêmtình huống cụ thể như: Nhận xét về công tác vệ sinh của lớp ta và nêu tráchnhiệm của mình trong công tác này
Như vậy học sinh mới có ý thức quan sát nhận xét và làm tốt hơn côngtác vệ sinh trường lớp
Với bài " Tự thuật" có thể thêm các yêu cầu: về nhà em hãy viết tự thuật
về mình
( học sinh được làm quen với viết văn bản, chính là giao tiếp bằng văn bản)
* Chú ý: Trong quá trình hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài, giáo viên cầnkhai thác tốt những từ " nút", câu " chìa khóa" chứa đựng nội dung ý nghĩa củabài Những từ, câu đó thường không được sách hướng dẫn đề cập mà phải dogiáo viên tự tìm ra qua quá trình thâm nhập, cảm nhận bài đọc Giáo viên càngtạo ra các tình huống hoặc dùng câu hỏi mở để học sinh liên tưởng, tưởngtượng để hiểu được ý nghĩa của nó trong văn cảnh và "cảm" được cái nhân vănsâu sắc, lớn lao
Ví dụ: Trong bài " Mẹ " có câu:
Trang 10Đêm nay con ngủ giấc tròn
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời
- Học sinh giải nghĩa từ " giấc tròn" : giấc ngủ ngon lành đầy đặn
- Tôi gợi thêm: Nhờ đâu con ngủ ngon lành trong thời tiết nóng nực? (Nhờ mẹ thức, mẹ quạt, mẹ ru) Em hãy tả về hình ảnh người mẹ trong khungcảnh ấy? Như vậy học sinh có cảm xúc, xúc động và cảm nhận được tình yêuthương sự hi sinh của mẹ dành cho mình
4 Phát triển khả năng đọc diễn cảm của học sinh trong khâu luyện đọc lại:
Luyện đọc lại và học thuộc lòng (nếu có) là bước cuối cùng trong giờ tậpđọc, là bước củng cố kỹ năng đọc toàn bài, bước kiểm tra cuối cùng việc rèn
kỹ năng đọc của học sinh trong một giờ tập đọc Bởi thế lúc này đọc phải thểhiện rõ chất lượng cao Ngoài đọc đúng, đọc trôi chảy học sinh phải bước đầudiễn tả được bài đọc ở mức độ ngắt nghỉ đúng, giọng điệu phù hợp, thể hiệnđược tình cảm, cảm xúc của bài Đọc lại và nghe đọc lại sẽ giúp các em cảmthụ bài sâu sắc hơn Tăng cường cá thể hoá học sinh, phát huy khả năng và sựtiến bộ của các em ở mức độ cao nhất, chú ý nhiều đến những học sinh kémhơn
- Giáo viên đọc mẫu
- Học sinh nêu cách đọc (giọng đọc, điểm nhấn giọng, ngắt nghỉ, nhịpđiệu đọc, biểu hiện cử chỉ thái độ, ánh mắt, nét mặt)
- Học sinh thi đọc cá nhân hoặc phân vai, đọc tự chọn câu, đoạn emthích…
- Thi đọc thuộc lòng diễn cảm (với các bài học thuộc lòng)
5 Xây dựng không khí học tập hào hứng, tích cực cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập:
Trong giờ học vẫn những hoạt động ấy, các bước dạy học ấy, nếu giáoviên biết làm cho nó hấp dẫn hơn, vui hơn thì học sinh sẽ hào hứng học, say
mê tích cực hơn, giờ học sẽ đạt hiệu quả cao hơn Muốn vậy hãy làm chonhững hoạt động ấy mang tính chất của trò chơi
Ví dụ:
* Giới thiệu bài "Gọi bạn"
Chơi trò chơi : một học sinh bắt chước tiếng kêu của dê" bê bê "
Trang 11Giáo viên nêu: Vì sao dê lại kêu như vậy nhỉ? Chúng mình cùng giải đápcâu hỏi này bằng bài học "Gọi bạn" hôm nay nhé!
* Luyện đọc bài "Một trí khôn hơn trăm trí khôn"
Chồn, gà rừng, mỗi con một vật có một giọng điệu nói chuyện khácnhau Các con hãy đọc và thi xem ai thể hiện đúng giọng của mỗi con vật nhé!
* Tìm hiểu bài:" Quả tim khỉ"
Câu hỏi 5: Hãy tìm những từ nói lên tính nết của hai con vật Tôi tổ chứccho học sinh chơi trò chơi thi tìm từ : hai nhóm thi, một nhóm tìm từ chỉ tínhnết của khỉ, một nhóm tìm từ chỉ tính nết của cá sấu Sau đó hai nhóm viết kếtquả lên bảng để thi xem nhóm nào tìm được nhiều hơn và đúng hơn
- Sắm vai nhân vật
- Thi tìm nhanh, phân loại, xác định đúng, tìm tiếng từ, nối từ ngữ, thithuộc nhanh
- Xem tranh: quan sát, phân tích, nhận xét, phát hiện kiến thức mới…
- Thao tác trên đồ vật, làm động tác thể hiện, biểu diễn…
- Rút thăm phiếu học tập với các nội dung khái quát bài, củng cố, xử lýtình huống, liên hệ thực tế, bài tập trắc nghiệm nhanh…
Trò chơi học tập phải nhịp nhàng, ăn khớp với nội dung hoạt động họctập của học sinh và tránh lạm dụng tràn lan
6 Giới thiệu một số hình thức đổi mới trong dạy Tập đọc lớp 2:
Đổi mới phương pháp dạy học, hình thức dạy học phải đảm bảo cácnguyên tắc sau:
- Đúng nội dung tư tưởng, mục tiêu bài học
- Hướng vào hoạt động giao tiếp tích cực của học sinh
- Đảm bảo tính khoa học và vừa sức, tính phổ biến và cá thể hoá
- Sử dụng triệt để ưu thế của SGK
Trang 126.1- Phần kiểm tra bài cũ:
- Đọc một đoạn văn (tự chọn hoặc theo chỉ định của giáo viên) và liên hệbản thân
- Quan sát tranh trong bài, nêu ý nghĩa
- Đọc đoạn em thích, nêu ý nghĩa
- Đọc phân vai - em chọn bạn để đọc cùng để hỏi và trả lời câu hỏi
- Đọc (trình bày) bài tập em làm ở nhà
6.2 - Phần giới thiệu bài mới:
- Kể chuyện có liên quan để giới thiệu bài
- Dùng động tác, cử chỉ điệu bộ, tiếng kêu, thao tác (hát, vẽ)
- Thông qua một sự việc thực tế trong lớp, học sinh…
- Học sinh thực hiện trò chơi học tập để giới thiệu bài
- Đóng vai, mượn lời nhân vật trong bài để giới thiệu
6.3 - Phần bài mới:
a Luyện đọc:
- Chọn từ luyện đọc theo khả năng phát âm của lớp
- Chọn từ học sinh phát âm chưa chuẩn để luyện đọc
- Chọn câu, đoạn khó đọc hoặc "câu chốt" để luyện kỹ, lưu ý cách ngắtnghỉ khi không có dấu câu (ngắt nghỉ tâm lý, ngắt theo sự biểu hiện ý nghĩa)
- Phân công nhóm đôi, đọc và phân vai hợp lý (luân phiên nhóm trưởngđiều khiển)
b Tìm hiểu bài:
- Bổ sung câu hỏi để học sinh trả lời theo trình tự diễn biến nội dungtruyện - bài đọc
- Bổ sung câu hỏi về liên hệ, vận dụng thực tế
- Tìm từ "chốt" để giải nghĩa theo ngữ cảnh nhằm khái quát ý nghĩa tưtưởng bài đọc
- Quan sát tranh, phân tích để khái quát ý nghĩa, nội dung bài học
c Luyện đọc lại và học thuộc lòng (nếu có)
Trang 13- Chọn học sinh có giọng đọc phù hợp để đọc trình bày cho cả lớp nghe
- Yêu cầu đọc diễn cảm ở mức độ phù hợp, phối hợp cử chỉ điệu bộ
- Kiểm tra và rèn đọc nhiều cho đối tượng học sinh (đánh giá nhìn vào
sự tiến bộ của từng cá nhân)
- Quan tâm đầu tư hướng dẫn nâng cao cho học sinh có khả năng pháttriển
- Luyện đọc thuộc lòng từng đoạn rồi chép lại cho thuộc cả bài
d Phần củng cố:
Học sinh thực hiện
- Nêu khái quát nội dung ý nghĩa
- Nói một câu về chủ đề, nội dung bài học theo suy nghĩ của em
- Nêu điều em học tập được sau bài học
- Nhận xét, đánh giá về nhân vật trong bài
- Liên hệ bản thân, vận dụng thực tế
- Làm bài tập trắc nghiệm
- Làm một việc, một hành động tốt theo nội dung giáo dục của bài học
- Dự đoán tình huống câu chuyện, diễn biến tình cảm nhân vật sẽ pháttriển
7 Thiết kế bài Tập đọc theo hướng đổi mới phương pháp dạy học và thể nghiệm dạy học:
* Thiết kế bài học Tập đọc lớp 2 theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học:
Tập đọc: GỌI BẠN
A- Mục tiêu:
- Kỹ năng : Đọc trơn toàn bài, đọc đúng các từ khó (thuở nào, sâu thẳm,hạn hán, khắp nẻo, gọi hoài), biết ngắt nhịp hợp lý ở các câu thơ, nghỉ hơi mỗikhổ thơ, biết đọc toàn bài với giọng tình cảm, nhấn giọng ở các từ ngữ gợi cảm
và lời gọi tha thiết của Dê Trắng (hạn hán, lang thang, khắp nẻo, Bê! bê!)
- Kiến thức: hiểu các từ " sâu thẳm, hạn hán, lang thang, khắp nẻo" thấyđược tình bạn cảm động, thân thương của Bê Vàng và Dê Trắng
- Thái độ: Có tình cảm yêu quý bạn bè, biết giúp đỡ bạn
Trang 14B- Đồ dùng dạy học:
- Cảnh hạn hán
- Một học sinh chuẩn bị bắt chước tiếng kêu của dê
- Bảng phụ chép nội dung khổ thơ 3
C- Các hoạt động dạy và học (35 phút)
Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ (4 phút)
Kiểm tra kỹ năng đọc, kiến thức hiểu biết về xếp thứ tự và ứng dụng lậpdanh sách của học sinh bài học (Danh sách học sinh tổ 1 lớp 2A)
- Đọc các cột mục trong danh sách (1 học sinh)
- Đọc số thứ tự kèm theo tên các bạn trong tổ 1, lớp 2A (1 học sinh) - trảlời câu hỏi: Tên học sinh trong danh sách được xếp theo thứ tự nào?
- Đọc bài tập ở nhà của em (xếp tên các bạn trong tổ em theo thứ tự bảngchữ cái)
Hoạt động 2: Giới thiệu bài mới (1 phút)
- Một học sinh mượn lời Dê Trắng, tôi đi tìm bạn Bê Vàng của tôi Bạnđâu rồi, "Bê! Bê!"
- Giáo viên: Vì sao Dê Trắng đi tìm Bê Vàng, Dê Trắng tìm bạn như thếnào? Chúng ta sẽ biết qua bài học này nhé, bài "Gọi bạn"
Hoạt động 3: Luyện đọc (12 phút)
- Đọc cá nhân nối tiếp dòng thơ cho hết lượt học sinh, cả lớp theo dõiphát hiện bạn đọc sai, giáo viên cho học sinh luyện lại các từ phát âm sai
- Đọc nối tiếp từng dòng thơ lần 2
- Đọc nối tiếp khổ thơ, tìm hiểu nghĩa các từ, sâu thẳm, hạn hán, langthang, khắp nẻo, giới thiệu tranh cảnh hạn hán
Trang 15
Tổng số học
sinh đầu năm Thích thú học Tập trung Chưa tập trung Ghi chú
Trang 16Phàn 5: KẾT LUẬN
1 Tóm lược giải pháp:
Từ kết quả thu được, qua sự chuyển biến của từng đối tượng học sinh lớp tôi.Cho phép tôi khẳng định rằng: Muốn học sinh cả lớp hứng thú trong học tập, họcsinh đọc bài to, rõ, trôi chảy, lưu loát, hiểu nội dung bài và trả lời các câu hỏi trongbài tập đọc nhanh đòi hỏi tất cả giáo viên dạy lớp 2 phải tâm quyết với nghề, luôn sửdụng tốt các biện pháp dạy học sau:
1 Đọc mẫu bằng tâm hồn văn học và âm nhạc
2 Hướng dẫn học sinh luyện đọc một cách linh hoạt, khéo léo
3 Tạo tình huống mở để học sinh tìm hiểu bài đọc
4 Phát triển khả năng đọc diễn cảm của học sinh trong khâu luyện đọclại
5 Giới thiệu một số hình thức đổi mới trong dạy Tập đọc lớp 2
6 Xây dựng không khí học tập hào hứng, tích cực cho học sinh thôngqua tổ chức trò chơi học tập
7 - Giới thiệu một số hình thức đổi mới trong dạy Tập đọc lớp 2
2 Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm:
- Gây hứng thú, kích thích trí tò mò, tạo không khí hào hứng sôi nổi, say
mê học tập; học sinh hoạt động tự giác, tích cực sáng tạo, hiệu quả, nâng caochất lượng học tập
- Rèn luyện kỹ năng sử dụng Tiếng Việt cho học sinh, bồi dưỡng tình cảm,thái độ hành động ứng xử đúng đắn trong cuộc sống, phát triển tối đa khả nănghọc tập của các em, phát hiện, khơi nguồn học sinh có năng khiếu môn TiếngViệt
- Thiết kế Kế hoạch bài học mới theo hướng đổi mới phương pháp dạyhọc là mang đến những điều mới, phù hợp với thực tế khả năng học tập năngđộng của học sinh thời đại mới Tôi mong muốn được sự ủng hộ, giúp đỡ củacác bạn đồng nghiệp
Trang 17TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- Lê A, Thành Tị Yên Mĩ, Lê Phương Nga, Nguyễn Trí: Phương phápdạy học Tiếng Việt - NXBGD 1994
2 - Hoàng Hoà Bình - Dạy Văn cho học sinh tiểu học - NXB GD 1997
3 - Nguyễn Huy Bình - Dạy văn dạy cái hay, cái đẹp - NXB GD 1983
4 - Nguyễn Kế Hào, Nguyễn Hữu Dũng - Đổi mới nội dung và phươngpháp giáo dục ở tiểu học - NXB GD 1998
5- Phạm Minh Hạc ( chủ biên) - Tâm lí học - NXB GD 1993
6 - Đặng Hiển - Dạy văn , học văn - NXB Đại học sản phẩm 2005
7 - Trần Mạnh Hưởng, Lê Hữu Tỉnh - Giải đáp 88 câu hỏi về dạy họcTiếng Việt ở tiểu học - NXB GD 2000
8 - Lê Phương Nga - Dạy tập đọc ở tiểu học - NXB GD 2001
9 - Hà Thế Ngữ( chủ biên) - Giáo dục học - NXB GD 1991
10 - Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 - Chương trình tiểu học hiện hành
11- Chương trình tiểu học - NXB GD 2002
Trang 18
Phần 1: THỰC TRẠNG ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Để thực hiện mục tiêu hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sửdụng tiếng việt nhằm giúp học sinh học tập và giao tiếp trong các môi trường họatđộng của lứa tuổi Trên cơ sở đó trong chương trình tiểu học mới đã lấy nguyên tắcdạy giao tiếp, dạy thông qua giao tiếp làm định hướng cơ bản Bởi giao tiếp là hoạtđộng quan trọng để phát triển xã hội Có nhiều phương tiện giao tiếp khác nhau,nhưng ngôn ngữ vẫn là phương tiện giao tiếp nhằm thiết lập quan hệ, sự hiểu biết,công tác giữa các thành viên trong xã hội Trong ngôn ngữ mỗi hành vi đều có thểđược thực hiện bằng 2 hình thức là cơ bản nhất và quan trọng nhất vì nó là hoạtđộng trao đổi tư tưởng, tình cảm khẩu ngữ ( nghe, nói ) và bút ngữ ( đọc, viết ).Chính vì lẽ đó mà trong môn Tiếng Việt ở tiểu học giáo viên là người giúp học sinh
có kĩ năng đọc đúng và viết đúng chính tả Song so với kĩ năng nghe và đọc thì kĩnăng nghe, viết của học sinh là một vấn đề luôn được mọi người quan tâm
Vào đầu năm học 2017 – 2018, tôi được phân công dạy lớp 2/1 với sĩ số là
23 học sinh Qua khảo sát thực tế phần đông các em sai rất nhiều lỗi chính tả, mànguyên nhân chính vẫn là do ảnh hưởng của cách phát âm tiếng địa phương; dokhông hiểu đầy đủ về các quy tắc chính tả và nội dung ngữ nghĩa của các từ
Chắc rằng nhu cầu về chính âm tiếng việt vẫn được đặt ra và vẫn cần phảigiải quyết càng sớm càng tốt Song hiện tượng phương ngữ vẫn sẽ tồn tại vì nó làmột thực tế và thực tế ấy đã , đang và sẽ diễn ra hằng ngày trong gia đình, ngoài xãhội ( trong nhà trường, trên các phương tiện thông tin …) Vậy cái cần giải quyết làkhắc phục những lỗi do phương ngữ tạo ra trên cơ sở nắm vững đặc điểm của nó.Còn đối với những thiếu hụt trong kiến thức về chính tả và ngữ nghĩa tiếng việt thìphải học, trước hết là học các “ mẹo luật” chính tả Nhưng để giúp các em có kiếnthức cơ bản, chắc chắn , để có những kĩ năng viết thành thạo không sai lỗi chính tả
đó là một vấn đề vô cùng cần thiết Vì thế tôi chọn đề tài “Giúp học sinh học tốt môn chính tả ở lớp 2”.
Trang 19Phân môn chính tả có một vị trí rất quan trọng ở bậc tiểu học Do vậy nó được
bố trí thành một phân môn độc lập, có tiết dạy riêng trong khi ở bậc trung học cơ sởkhông có
Chính tả ở tiểu học có hai kiểu bài đó là chính tả đoạn bài và chính tả âm vần.Nội dung các bài chính tả âm vần là luyện viết đúng chữ ghi tiếng có âm vần , thanh
dễ viết sai chính tả Thời gian giành cho bài tập không nhiều so với chính tả đoạnbài, song việc rèn kĩ năng qua bài tập có ý nghĩa rất lớn đối với học sinh Vì qua đócác em được rèn luyện để tránh được viết sai chính tả Đồng thời hình thành các kĩnăng kĩ xảo cho học sinh thông qua bài viết và bài tập thực hành
Điều tra số liệu khảo sát chất lượng đầu năm như sau:
Tổng số học
sinh đầu năm Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành Ghi chú
Phần 2: NỘI DUNG CẦN GIẢI QUYẾT
Trong quá trình dạy và học, phân môn chính tả rất quan trọng Bởi chính tảrèn kĩ năng viết, nghe, đọc qua chữ viết đúng, đẹp của giáo viên còn bồi dưỡng tìnhyêu Tiếng Việt , hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng giàu đẹp của Tiếng Việt
Do đó viết đúng chính tả là việc cần thiết trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữviết Việc hình thành cho học sinh kĩ năng viết đúng chính tả là vấn đề bức xúc vàkhó khăn Vì vậy tôi nhận thấy rằng dạy chính tả phải xuất phát từ tình hình thực tếmắc lỗi chính tả của học sinh ở từng vùng, miền để giáo viên có hướng lựa chọn nộidung giảng dạy sao cho phù hợp đối với học sinh lớp mình phụ trách Bên cạnh đóphần lớn cũng phải phụ thuộc vào sự nhận thức , có ý chí phấn đấu, kiên trì nhẫnnại của mỗi học sinh
Qua quá trình giảng dạy nhiều năm ở lớp 2 tôi nhận thấy các em thường viếtsai rất nhiều các phụ âm đầu như : ng, ngh, gh, g, gi, d, x, s, … , âm cuối : ng, t, c,
… vần khó và dễ lẫn : uênh, uêch, uya, ac, at, ut, uc … , lỗi do phát âm của địaphương như lẫn lộn dấu thanh , tiếng : dễ / dể ; uống sữa / uống sửa ; man/ mang;ngát / ngác; mặn / mặng … Ngoài ra các em còn không hiểu nghĩa một số từ Dovậy viết đúng đó là việc làm cần thiết và là giai đoạn then chốt trong quá trình hìnhthành cách viết đúng chính tả cho học sinh
Từ thực trạng lớp tôi như thế Tôi thiết nghĩ cần giải quyết nhũng vấn đề sau
để đều khắp cả lớp tôi viết chính tả đúng hơn, ít sai sót hơn
Trang 20Phần 3: BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT
Để giúp học sinh học tốt phân môn chính tả giáo viên phải lựa chọn và phốihợp các hình thức tổ chức học tập khác nhau trong lớp học để tạo nên sự mềm dẻo,linh hoạt và sinh động cho quá trình dạy học, đồng thời giáo viên có thể sử dụngnhiều biện pháp và phương pháp dạy khác nhau nhất là phần bài tập Từ đó tạo cơhội cho học sinh đều được tham gia vào hoạt động học tập, tạo cho học sinh cáchlàm việc tập thể theo nhóm, cách chủ động tự tin trình bày ý kiến cá nhân từ đó tạonên môi trường học tập thuận lợi cho học sinh Ngoài việc giáo viên cung cấp từkhó, giải nghĩa từ , phân tích từ, học sinh còn phải tự tìm hiểu từ cùng nghĩa, tráinghĩa để có thể viết đúng Từ đó phát huy được khả năng hiểu biết của từng họcsinh Sau đó tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi để tiết học thêm phong phú vàkhắc sâu kiến thức
Để tiết học đạt kết quả cao trước hết tôi yêu cầu học sinh :
1 Chuẩn bị bài ở nhà
- Bước đầu giáo viên dặn học sinh chuẩn bị bài trước ở nhà bằng cách yêu cầucác em đọc lại bài nhiều lần, viết những từ khó ra bảng con Hầu như bài chính tảnằm ở bài tập đọc nên tiết tập đọc giáo viên cần chú trọng luyện đọc cách phát âm,
mở rộng từ cần hiểu nghĩa , từ đó đến tiết chính tả học sinh sẽ viết đúng hơn
- Truy bài đầu giờ : Những buổi có tiết chính tả nhóm trưởng của các nhómđọc các từ khó cho các bạn viết bảng con, khi vào tiết học sẽ khắc sâu kiến thứchơn
- Ở phần kiểm tra : Giáo viên đọc lại những từ mà ở bài trước học sinh mắclỗi nhiều và các từ ở phần bài tập cho học sinh viết bảng con Sau đó giáo viên kiểmtra xem có sửa lỗi không
2 Phần bài mới
- Giáo viên đọc mẫu, nêu câu hỏi để học sinh nhớ lại nội dung của bài viết.Cho học sinh tự nêu từ khó để cả lớp cùng phân tích và so sánh với những tiếng dễ
Trang 21lẫn lộn, nhấn mạnh ở những điểm khác nhau để học sinh ghi nhớ.
- Ví dụ : Từ gay gắt
gay = g + ay
gắt = g + ăt + thanh sắc
Không được lẫn lộn với từ gai gắc
Do phương ngữ của từng miền khác nhau nên cách phát âm đôi khi chưathống nhất với chữ viết học sinh cần nắm vững nghĩa của từ khó
Ví dụ: Học sinh đọc “suy nghỉ” nhưng viết “suy nghĩ” nên giáo viên giúp họcsinh cần hiểu “nghỉ” có nghĩa là hoạt động bị ngừng lại, còn “nghĩ” là tính toánđiều gì đó Vì vậy phải viết “suy nghĩ ”
Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Luyện từ và câu, Tập đọc,Tập làm văn…nhưng nó cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết Chính tả khi mà họcsinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạo tiếng
Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh: Giáo viên có thể cho học sinhđọc chú giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩa từ),tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình,tranh ảnh… với những từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể
để giải nghĩa từ
Về âm chính:
Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau đây:
+ oe/ eo: mạnh khẻo
+ iu/ iêu: chìều chuộng
+ ip / iêp: típ theo
+ ui/ uôi: đầu đui
+ uôm / ươm: cánh bườm
Về âm cuối:
Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:
+ at/ ac: đồ đạt
+ an/ ang: hoa lang
+ ăt/ ăc: mặt quần áo
+ ăn/ ăng: khăng quàng
+ n/ ng: kỉ càn, bàng ghé
+ t/ ch: chênh lệt
+ n/ nh: lên đên
+ t/ c: thân thiếc
+ uôn/ uông: mong muống
+ uôt/ uôc: trắng muốc
+ ươn/ ương: con lương
+ ươc/ươt: lần lược
Người miền Nam phát âm hoàn toàn không phân biệt các vần có âm
cuối n / ng / nh; t / c / ch Mặt khác còn lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu ch / tr; s/ x;d/ gi; v/ d, phát âm không phân biệt được thanh hỏi, thanh ngã
Trang 223 Giúp học sinh ghi nhớ mẹo luật chính tả:
- Ngay từ lớp 1, các em được làm quen với luật chính tả đơn giản như: Các
âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với âm i, e, ê Ngoài ra giáo viên có thể cung cấpthêm cho học sinh một số mẹo luật khác như sau :
- Để phân biệt âm đầu s/ x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầubằng s : si, sồi, sả, sứ, sắn, sung, sao, sim, su su, sầu đâu, sơn trà, sậy, sấu, sến, sam,sán, sầu riêng, so đũa…sáo, sâu, sên, sam, sán, sếu, sị, sĩ, sứa, so sậu, sư tử…
- Để phân biệt âm đầu tr/ ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vậtđều bắt đầu bằng ch: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum, chạn, chĩnh,chuơng, … chuột, chĩ, chí, chồn, chuồn chuồn, chào mào, châu chấu, chiền chiện,chèo bẻo, chìa vơi…
+ Hỏi + hỏi : lỏng lẻo, thủ thỉ…
- Giáo viên đọc chính tả cho học sinh viết cần rõ ràng, tốc độ đọc vừa phải
- Cho học sinh tự bắt lỗi chéo
- Giáo viên nhận xét bài của học sinh để phân ra các nhóm như : viết chậm,viết không cẩn thận, viết đẹp, viết sai chính tả để nhận xét lưu ý đến học sinh, để rútkinh nghiệm cho các bài sau
- Những em viết sai cần sửa lại cho đúng ở cuối bài Điều này giáo viên phảinhắc nhở thực hiện liên tục, thường xuyên để khắc phục lỗi chính tả
- Ngoài viết đúng học sinh còn phải viết đẹp, đúng mẫu Giáo viên có thể kếthợp với môn tập viết Như vậy mỗi học sinh phải có 1 cuốn vở để luyện viết
4 Bài tập chính tả:
Có rất nhiều dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học sinh tập tận dụngcác kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể Sau mỗibài tập, giáo viên giúp các em rút ra các qui tắc chính tả để ghi nhớ
Ví dụ
a/ Bài tập lựa chọn:
Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu sau:
Em thích nghe kể…………hơn đọc……… ( truyện, chuyện ).