Mục đích nghiên cứu: Nổi bật nhất trong Truyện Kiều chính là nhịp điệu. Hầu hết các nhà nghiên cứu như Phan Ngọc, Trần Đình Sửu hoặc giáo sư Nguyễn Lộc, học giả Đào Duy Anh, khi xem xét Truyện Kiều đều ít nhiều đề cập đến – có thể gọi thẳng tên nó, chỉ ra đặc điểm và biểu hiện cụ thể. Phan Ngọc đưa ra những lời nhận xét tương đối xác đáng về cách gieo vần, ngắt nhịp, phối thanh, dùng từ... của câu thơ Kiều, từ đó khẳng định Nguyễn Du là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ. Giáo sư Trần Đình Sửu cũng nghiên cứu rất nhiều phương diện nhỏ lẻ của nhịp điệu thơ Kiều nhưng không khái quát thành một chương mục riêng hay thành cơ sở lí thuyết căn bản về nhịp điệu tác phẩm. Bởi vậy sáng kiến này là điểm nhấn để khắc sâu cho học sinh thông qua giảng dạy văn học ở trường THPT.
Trang 1MỤC LỤC
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 2
1 Lời giới thiệu 2
2 Tên sáng kiến 2
3 Tác giả sáng kiến 3
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến 3
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến 3
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử 3
7 Mô tả bản chất của sáng kiến 3
8 Những thông tin cần được bảo mật: Không 36
9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến 36
10 Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến 36
10.1 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: 36
10.2 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân: 36
11 Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 2BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 L i gi i thi u ờ ớ ệ
Nhằm khắc sâu những hiểu biết về Truyện Kiều, đặc biệt là tìm hiểu về nhịp
điệu Truyện Kiều, tôi đã tham khảo một số tài liệu sau:
- Cuốn Thi pháp Truyện Kiều của giáo sư Trần Đình Sửu – NXB GD - 2003.
Cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc
-NXB Thanh niên – 2001
- Cuốn Giảng văn Truyện Kiều của Đặng Thanh Lê – NXB GD – 2000.
Sau khi tham khảo tài liệu trên, tôi thấy mỗi tác giả đều có sự sáng tạo riêngnhưng lại chưa có những điểm nhấn để khắc sâu cho học sinh thông qua giảng dạyvăn học ở trường THPT
Truyện Kiều giúp học sinh tìm hiểu thêm về đặc điểm nhịp điệu Truyện Kiều, giọng điệu, hệ thống từ ngữ, các điệp từ, cấp độ từ ngữ, cấp độ câu, cấp độ tổ
chức văn bản tác phẩm và cấp độ thể loại Chính vì vậy, tôi thấy cần thiết để thựchiện sáng kiến này Nó sẽ góp phần tích cực trong việc nâng cao vốn từ ngữ, từ đóhọc sinh có thể sử dụng nó một cách điêu luyện
2 Tên sáng kiến
ĐẶC SẮC CỦA NHỊP ĐIỆU TRUYỆN KIỀU
Trang 34 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến
Hoàng Thị Hằng, Trường THPT Nguyễn Viết Xuân – Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
- Giáo dục
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử
- Tháng 3,4/2018
7 Mô tả bản chất của sáng kiến
- Về nội dung của sáng kiến:
Trang 4A – MỞ ĐẦU I_ Lý do chọn đề tài:
Nếu tính thời gian theo cách của Nguyễn Du, có lẽ người Việt phải sống những
đêm trống canh dài bằng cả trăm năm Truyện Kiều không phải keo loan, nhưng đã
nối những sợi tơ lòng muôn thế hệ còn bền chặt gấp mấy lần thứ keo thần thoại
Truyện Kiều vô cùng đồ sộ với 3254 câu thơ Truyện tuyệt vời ở chỗ, đã đi vào
lòng người bằng chính cái giai điệu sẵn có của mình – một thứ nhịp điệu vô cùnggiàu có, khả năng biểu hiện gần như trùng khớp với tiếng lòng của nhân dân Tưtưởng có lớn, có hay mà âm điệu tồi, thì câu thơ cũng coi là bỏ Là một thành tựu
nghệ thuật nổi bật của Truyện Kiều, nhịp điệu cần được nghiên cứu sâu sắc hơn, để
người đọc tiếp cận gần hơn với những kết luận khoa học chuẩn xác, chứ khôngphải chỉ dừng lại ở những ấn tượng, những cảm giác – tuy giàu có, nhưng lại vôcùng mơ hồ
Truyện Kiều đã đi vào lòng người từ lâu, nhưng với một phạm trù khó khăn
như thế này, người viết trước nay vẫn sợ rằng nếu như đi sâu nghiên cứu, sẽ làm
hỏng đi chính những ấn tượng cảm tính mơ hồ tuyệt diệu mà câu thơ Kiều mang lại Tuy nhiên, Truyện Kiều lại làm dày thêm vốn kinh nghiệm nghiên cứu khoa
học, hi vọng đưa đến những kết luận ban đầu xác đáng
II_ Mục đích nghiên cứu:
Nổi bật nhất trong Truyện Kiều chính là nhịp điệu Hầu hết các nhà
nghiên cứu như Phan Ngọc, Trần Đình Sửu hoặc giáo sư Nguyễn Lộc, học giả Đào
Duy Anh, khi xem xét Truyện Kiều đều ít nhiều đề cập đến – có thể gọi thẳng tên
nó, chỉ ra đặc điểm và biểu hiện cụ thể Phan Ngọc đưa ra những lời nhận xéttương đối xác đáng về cách gieo vần, ngắt nhịp, phối thanh, dùng từ của câu thơ
Kiều, từ đó khẳng định Nguyễn Du là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ Giáo
Trang 5sư Trần Đình Sửu cũng nghiên cứu rất nhiều phương diện nhỏ lẻ của nhịp điệu thơ
Kiều nhưng không khái quát thành một chương mục riêng hay thành cơ sở lí thuyết
căn bản về nhịp điệu tác phẩm Bởi vậy sáng kiến này là điểm nhấn để khắc sâucho học sinh thông qua giảng dạy văn học ở trường THPT
III _ Phạm vi tư liệu:
Tôi tiến hành khảo sát phân loại dựa trên văn bản Truyện Kiều – NXB GD –
1995 do giáo sư Thạch Giang biên soạn và chú giải
IV_ Phương pháp nghiên cứu:
1 Phương pháp thống kê – phân loại
2 Phương pháp so sánh
3 Phương pháp phân tích – bình giảng
V_ Cấu trúc của sáng kiến kinh nghiệm:
Gồm 3 phần lớn:
Mở đầu
Nội dung
Kết luận và kiến nghị
Trang 6B - NỘI DUNG CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ NHỊP ĐIỆU
I Khái niệm và một số vấn đề lí thuyết
1 Khái niệm
1.1 Từ điển Tiếng Việt
- Theo Từ điển Tiếng Việt - NXB Đà Nẵng
+ Nhịp điệu là sự lặp lại một cách tuần hoàn các âm mạnh và nhẹ, sắp xếptheo những hình thức nhất định
+ Nhịp độ được hiểu là độ nhanh của bản nhạc, bài hát hay mức độ tiếntriển của sự việc
- Như ta đã thấy, “nhịp độ” và “nhịp điệu” được định nghĩa tương đối giốngnhau Tuy nhiên, “nhịp điệu” được nhấn mạnh hơn ở yếu tố “nhịp”, còn “nhịp độ”lại được nhấn mạnh ở yếu tố “độ” Điều này sẽ càng trở nên rõ nét khi ta nghiêncứu nhịp điệu nghệ thuật trong mối quan hệ với các yếu tố nghệ thuật gần gũi vớinó
1.2 Từ điển thuật ngữ văn học
- Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “nhịp điệu” được định nghĩa là một
phương tiện quan trọng để cấu tạo hình thức nghệ thuật trong văn học, dựa trên sựlặp lại có tính chất chu kì, cách quãng hoặc luân phiên của các yếu tố
- Như vậy, nhịp điệu với tư cách là một phương diện nghệ thuật, đặc trưngbởi chức năng thể hiện “sự cảm nhận thẩm mĩ về thế giới” Nhịp điệu ấy đã tạo nênnhững cảm xúc thẩm mĩ mới mẻ, đã thể hiện lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn, của tácphẩm như thế nào?
Trang 7- Đó là những khác biệt lớn giữa nhịp độ và nhịp điệu nghệ thuật mà tôimuốn phân biệt
2 Một số vấn đề lí thuyết
2.1 Vấn đề thuật ngữ
- “Nhịp điệu” là một trong những thuật ngữ dễ nhầm lẫn Nó thường được sửdụng lẫn với các thuật ngữ khác, về bản chất là tương đối gần gũi về chức năng,đặc điểm, như nhịp độ, nhạc điệu, ngữ điệu
2.1.1 Nhạc điệu và nhịp điệu
- Khi đi tìm hiểu đặc điểm về hình thức nghệ thuật của các tác phẩm – đặcbiệt là tác phẩm trữ tình, có một hiện tượng phổ biến xảy ra là có sự đồng quy haikhái niệm “nhịp điệu” và “nhạc điệu”
- Tuy vậy, các nhà thơ thường đánh đồng hai khái niệm đó Họ rất chú trọngnhịp điệu, bởi thơ có hay chỉ nhờ hai yếu tố là từ và nhịp điệu
Vì vậy, nhạc điệu chính là cấu tạo ngữ âm của lời văn nghệ thuật Khi xemxét nhạc điệu, chỉ có thể dừng lại ở những cấp độ cao hơn như: tư tưởng, hìnhtượng, cốt truyện
Sự phân biệt này chỉ mang tính tương đối, nhằm xác lập một định nghĩangắn gọn, rõ ràng, cụ thể về nhịp điệu tác phẩm
2.1.2 Nhịp điệu và nhịp độ
Đây là hai thuật ngữ đã được nhắc đến và so sánh sơ bộ ở phần định nghĩa
- “Nhịp điệu” là thuật ngữ khá gắn bó với bút pháp nhà văn
- Nhịp độ chú ý đến lượng của hiện thực sự việc ấy, sự kiện ấy đã diễn rađược bao lâu, còn nhịp điệu chú ý đến chất của hiện thực
Trang 8Nhưng nhịp độ chỉ là công cụ, trong khi nhịp điệu lại có thể “ tạo ra cảmgiác của vận động của sự sống, chống lại sự đơn điệu, đơn nhất của văn bản nghệthuật”.
Như vậy, nhịp điệu là thuật ngữ khác biệt hoàn toàn với nhạc điệu và nhịpđộ: mang những đặc trưng và sắc thái thẩm mĩ riêng biệt nhưng vẫn có sự tươngđồng hay quan hệ qua lại lẫn nhau trong phạm vi tác phẩm
2.2 Một số vấn đề thể loại
Khái niệm của “nhịp điệu” thực chất thuộc về lí luận kiểu tác phẩm trữ tình– cụ thể là thể loại thơ “Nhịp điệu là lực lượng chủ yếu, năng lực chủ yếu củathơ” (Maiacopxki) Nhưng thực ra, nhịp điệu vẫn là độc quyền, là sở trường, làthế mạnh của tác phẩm trữ tình
Truyện Kiều là một tác phẩm truyện thơ Nôm, cho nên, về mặt lí thuyết, nhịp
điệu của nó sẽ là nhịp điệu của tác phẩm tự sự Do vậy, nhịp điệu trên thực tế là
nhịp điệu của nhà thơ – nhịp điệu của một tác phẩm trữ tình Truyện Kiều có một
dung lượng đồ sộ dường ấy, lại có thể có một đời sống lâu bền và gắn bó đậm sâuvới tâm hồn người Việt, tựa như những vần ca dao thâm thúy
Có thể nói, Truyện Kiều mang cái cốt của một tác phẩm tự sự, nhưng lại có cái hồn của một tác phẩm trữ tình Nhịp điệu của Truyện Kiều là nhịp điệu của tác phẩm Cung oán ngâm.
Cái tài của Nguyễn Du là đã khiến cho người Việt quên đi rằng truyện Nôm
nói chung và Truyện Kiều nói riêng là tác phẩm tự sự Đọng lại trong trái tim họ, là những nhịp điệu trữ tình Truyện Kiều lớn không chỉ ở tư tưởng, mà còn vĩ đại bởi
thứ nhịp điệu giản dị mà mê hồn đó!
Trang 9II Khảo sát và phân loại
1 Tiêu chí và phương pháp khảo sát, phân loại
1.1 Khảo sát, phân loại chỉ có tính tương đối
Sau khi thực hiện khảo sát ban đầu, tôi nhận thấy rằng nhịp điệu của Truyện Kiều được thể hiện trên nhiều cấp độ.
Vì vậy, tôi quyết định lựa chọn tiêu chí khảo sát thống kê chỉ mang tính chấttương đối, nghĩa là khảo sát sơ bộ và sử dụng số ước đoán gần đúng
Tôi hi vọng sẽ có dịp khảo sát được sâu sắc và kĩ lưỡng hơn trong một vài báocáo sáng kiến kinh nghiệm khác
1.2 Khảo sát điểm
Trong quá trình nghiên cứu, tôi có tiến hành so sánh Truyện Kiều với Truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự và so sánh với ca dao (trích từ “ Tục ngữ ca dao Việt
Nam” do Mã Giang Lân tuyển chọn và giới thiệu – NXB Giáo dục – 1998)
1.3 Sử dụng những số liệu các công trình nghiên cứu đi trước
- Tìm hiểu và sử dụng những số liệu từ các công trình nghiên cứu đi trước, tôi
đã có dịp tham khảo cuốn Từ điển Truyện Kiều do học giả Đào Duy Anh biên soạn
– NXB VHTT - 2000
- Ngoài ra, tôi còn sử dụng các số liệu trong cuốn Thi pháp Truyện Kiều của giáo sư Trần Đình Sửu – NXB GD – 2003 và cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn
Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc – NXB TN – 2001.
Đây là một số tiêu chí và phương pháp cơ bản khi tôi tiến hành thống kê khảosát tác phẩm
Trang 102 Khảo sát
2.1 Các phương diện cần khảo sát
- Nhịp điệu của một tác phẩm được thể hiện trên nhiều cấp độ
- Chúng tôi chia nhịp điệu Truyện Kiều gồm 4 cấp độ.
.“ Vội” xuất hiện 20 lần trong tác phẩm
.“Vội vàng” đứng ở đầu câu: 7/17
- “ Bỗng” xuất hiện 14 lần
- “ Thoắt” xuất hiện 17 lần
- “ Trót” xuất hiện 7 lần
- “ Kíp” và “ kịp”
Trang 11- “ Ai” xuất hiện 108 lần.
- “ Ấy” xuất hiện 45 lần
b3 Hệ thống các từ ngữ chỉ sự tan vỡ, trôi dạt
- “Trôi” xuất hiện 8 lần
- “ Rơi” xuất hiện 11 lần
- “ Rời” xuất hiện 4 lần
- “ Rụng” và “ rụng rời” xuất hiện 16 lần
- “Lìa” xuất hiện 6 lần
- “Tan”
Xuất hiện độc lập trong câu 13 lần
Xuất hiện trong các kết hợp từ 11 lần
Trang 12- “ Sầu” xuất hiện 24 lần.
- “ Não” xuất hiện 5 lần
Trang 13b1 Chia tay và chia li
- Chia tay: 6 lần các nhân vật gặp gỡ rồi chia tay
- Chia ly : Truyện Kiều có 3 cuộc chia ly và một chia tay mang tính chất của
một cuộc chia tay
b2 Nhớ nhà
b3 Nhân vật ngồi một mình
2.2.4 Cấp độ thể loại
a, Các câu thơ thất vận
“Tin nhà ngày một vắng tin
Mặn tình cát lũy nhạt tình tao khang”
b, Một số câu thơ có lối gieo vần đặc biệt
Vần lưng của câu bát lại rơi vào giữa một từ láy âm hoặc một từ ghép, tách nó
ra 2 vế, do đó nhịp thơ phá vỡ cấu trúc quen thuộc
Trang 14Ví dụ:
“Chày sương chưa viện cầu Lam
Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng?” Hoặc:
“Trót vì tay đã nhúng chàm Dại rồi còn biết khôn làm sao đây?”
Trang 15CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM NHỊP ĐIỆU TRUYỆN KIỀU
I Nhịp điệu là một phương diện phản ánh giọng điệu nghệ thuật của tác phẩm
1 Vấn đề giọng điệu và giọng điệu Kiều
1.1 Giọng điệu
Giọng điệu là một yếu tố vô cùng quan trọng và cần thiết, đặc biệt, giọng điệugắn với phong cách nhà văn, gắn với bản sắc, cái giọng trời phú của mỗi cây bút,
mà thuật ngữ quen dùng là “ tone” hay “ tông”
Phan Ngọc là người đầu tiên xác lập một thuật ngữ đậm “phong cách” trongvăn học trung đại
Nhà văn chỉ là người có phong cách, có bản lĩnh và bản sắc riêng khi họ cógan từ bỏ cái truyền thống mà mình đã tiếp thu hết sức đầy đủ, để trên cơ sở ấy,xây dựng một truyền thống mới
Giọng điệu luôn tồn tại song hành cùng với phong cách nhà văn Chính vì vậy,không còn một sự ràng buộc quyền uy nào đủ mạnh để kìm chân những trí thức ởtrong khuôn phép cũ nữa Họ tung hô tất cả, sống theo sở cầu, viết theo sở nguyện Văn học trung đại Việt Nam cuối thế kỉ XIX, trở thành một biểu tượng củakhát vọng giải thoát bản ngã, thốt lên tiếng nói đòi quyền sống, quyền tự do dânchủ cho con người
1.2 Giọng điệu nghệ thuật cảm thương trong Truyện Kiều
- Đầu tiên cần khẳng định rằng giọng điệu cảm thương là giọng điệu cơ bảncủa Nguyễn Du
- Bàn về giọng điệu Truyện Kiều giáo sư Trần Đình Sửu nhận định: “ Giọng điệu cơ bản của Truyện Kiều là giọng điệu cảm thương”.
Trang 16- Sự lặp lại của các môtíp, hình ảnh, từ ngữ cấu trúc câu đã tạo nên một nhịp
điệu đặc biệt rõ nét của Truyện Kiều trong khi biểu hiện giọng điệu cảm thương.
2 Nhịp điệu là một phương diện phản ánh giọng điệu cảm thương trong
Truyện Kiều
Nhịp điệu không đơn giản là sự lặp lại, nhưng sự lặp đi lặp lại một vài yếu tố nghệ thuật lại góp phần tạo nên nhịp điệu tác phẩm
2.1 Môtíp nước mắt và nỗi buồn
Truyện Kiều là một trong những truyện Nôm mà nhân vật khóc nhiều nhất
Hầu như mọi nhân vật trong truyện đều tuôn những dòng lệ cay đắng, quằn quại Nhân vật khóc nhiều nhất của tác phẩm là Thúy Kiều Tiếng khóc của nàng làtiếng khóc đau đớn nhất, dai dẳng nhất, như một nỗi oán hận, một niềm thươngcảm lớn của Nguyễn Du dành cho những kiếp người khổ đau
Hầu như chưa có một biến cố nào mà Kiều lại không khóc, và lần nào khóccũng là một tâm sự lớn, một nỗi đau lớn, quằn quại, dày xéo thành những vếtthương lòng
Dường như với những tiếng khóc và những giọt nước mắt, Nguyễn Du đã tạo
ra nhịp điệu của lòng cảm thương trong Truyện Kiều Mộng Liên đường chủ nhân:
“Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy,khiến ai đọc cũng phải thấm thía, đau đớn như đứt ruột” Ngay ở đầu truyện,chẳng phải nỗi đau đó đã được nhắc đến sao?
“ Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
Không chỉ là một tiếng khóc lớn, Truyện Kiều còn là một nỗi buồn lớn, một nỗi sầu dài Nhưng nỗi buồn sầu trong Truyện Kiều có một ý vị rất đậm đà, nó làm cho
Trang 17người ta dễ bị cảm, bị lây, rồi trở thành kẻ “đồng bệnh” – như có một thứ dây tơràng buộc.
Nguyễn Du 11 lần tả nỗi buồn Lần nào cũng mang màu sắc riêng, đây là cáibuồn lưu luyến trong veo của buổi đầu gặp gỡ:
“Bóng tà như giục cơn buồnKhách đà lên ngựa người còn nghé theo”
Cảnh vật càng lúc càng rộng ra bát ngát, xa thêm nghìn trùng, nổi nênh phiêudạt trăm chiều, dữ dội hãi hùng, ảo mờ đến tuyệt vọng Con người như chìm ngậptrong mình và trong cảnh
Như vậy, có thể thấy Nguyễn Du nhìn sự vật bằng một ý niệm buồn thương sầutủi, tư duy về sự vật cũng bằng chính nỗi buồn thương sầu tủi ấy
2.2 Hệ thống từ ngữ cảm thân hay những tiếng kêu thương
Giọng điệu trữ tình cảm thương nổi bật của Truyện Kiều được tạo nên bởi một
hệ thống khá dày với những lời than thân, tiếc thân, xót duyên, tủi phận
Có thể chia những câu thơ Kiều này thành hai loại: Loại “ kêu” và loại
“thương”
Nếu như tiếng kêu là sự phản ứng lại hiện thực đen bạc, nỗi căm phẫn lớn lao
ẩn chứa, bật lên thành tiếng kêu, tiếng chì chiết đay đả như muốn hỏi tội, muốn lậttung cái chế độ xã hội bẩn thỉu ấy, cái xã hội ghê tởm ấy, cái số mệnh nghiệt ngã
ấy thì tiếng thương là nhịp điệu của nỗi đau – một nỗi đau dài cả thể xác và tinhthần của con người bị vùi dập
Còn tiếng thương tạo ra một âm điệu xót xa của ca dao than thân, ca dao phảnánh, thể hiện một con mắt, một bàn tay trân trọng con người, xót thương conngười, một trái tim nhân hậu của con người nghệ sĩ Nguyễn Du
Trang 18Truyện Kiều là một tiếng kêu thương đứt ruột của thời đại mà trong đó những
tiếng kêu thương than thở báo hiệu những số phận người cực kì đau khổ Chủ đề
Truyện Kiều là hướng tới vấn đề con người phổ quá, vượt lên giới tính, tài năng,
bẩm phú
Tiếng kêu thương còn bật ra từ con tim độc giả khi đứng trước những sự thựcthương tâm, trước những thân phận bọt bèo chìm nổi, bị đày đọa và vùi dập trămđường
Chính tính chất uyển chuyển của lục bát đã đem lại khả năng này cho Truyện Kiều, và cùng với bút pháp “ trốn chủ từ”, Nguyễn Du đã làm cho Truyện Kiều
thấm đẫm giọng điệu cá nhân, thẫm đẫm xúc cảm của một trái tim nhân hậu
2.3 Hệ thống từ ngữ chỉ sự tan nát, rơi rụng
Truyện Kiều có một độ lớn những từ ngữ chỉ sự tan nát, rơi rụng, chia lìa.
Chúng góp phần tạo ra giọng điệu cảm thương của tác phẩm
“ Tan” xuất hiện 24 lần trong khi “hợp” chỉ là 6 lần, cho thấy một sự chênhlệch quá lớn, một sự chênh lệch không phải ngẫu nhiên mà xuất phát từ cảm thức
về sự tan nát, chia lìa của Nguyễn Du
Kiều lúc là “hoa”, lúc là “cánh bèo”, lúc là “cành hồng”, lúc lại là “mây” Kiều không phải là phù du nhưng cũng đã hòa vào làm một với cỏ cây sự vật
Kết luận: Có thể nói Truyện Kiều có giọng điệu cảm thương rõ nét và bằng
nhịp điệu của từ ngữ, đặc biệt là các điệp từ, giọng điệu cảm thương đã được hình
dung tương đối đầy đủ và chính xác Đó là lí do vì sao nói: nhịp điệu Truyện Kiều
là một phương diện biểu hiện giọng điệu tác phẩm
Trang 19II Nhịp điệu là phương thức biểu hiện thời gian nghệ thuật
1 Là phương thức tồn tại của thế giới vật chất, thời gian cũng như không gian, đi vào nghệ thuật cùng với cuộc sống được phản ánh như là một yếu tố của nó.
Nhịp điệu Truyện Kiều là phương thức biểu hiện thời gian nghệ thuật của tác
phẩm
2 Nhịp điệu biểu hiện thời gian nghệ thuật trong tác phẩm
2.1 Các điệp từ biểu thị thời gian
a, “Vội” và “vội vàng”
Với mật độ xuất hiện tương đối lớn (37 lần) “ vội” và “vội vàng” tạo ra mộtnhịp điệu thời gian hết sức khẩn trương và gấp gáp như đang thôi thúc người đọc
Có cái vội của sự trễ tràng, của sự chuẩn bị không chu đáo:
“Buộc yên quảy gánh vội vàng”
“ Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng”
“ Vội vàng sắm sửa chọn ngày”
Với nhân vật chính diện, Nguyễn Du đặc biệt ưu ái những chữ “vội” của sựđam mê cho tình yêu của Kim – Kiều Tất cả không phải là cái vội vàng qua loathiếu chu đáo, mà là tất cả những sôi nổi bồng bột của tình yêu hoa niên Có cảmgiác sau mỗi chữ “vội” thoát thai dưới ngòi bút Nguyễn Du, là bao nâng niu, cẩntrọng giữ gìn dành cho nhân vật Nguyễn Du bỗng trở thành một nhà văn chủnghĩa, một tiểu hóa công
Với nhân vật phản diện, chữ “vội” có một sắc thái khác hẳn “Vội” chuyểnthành sự vội vàng, sự chuẩn bị thiếu chu đáo, một hành động mờ ám, một sự cuốngquýt “Vội” không chỉ là một từ đơn thuần “Vội” còn là phương thức tư duy, là
Trang 20cách sử dụng của Nguyễn Du Nhiều khi nhân vật không cần vội, không đáng vội,nhưng vẫn được Nguyễn Du hạ một chữ “vội” hay “vội vàng” Rõ ràng, con người
dù có bạo dạn sôi nổi sống cho tình yêu đến đâu cũng không thể ra ngoài mấy chữtam cương ngũ thường
Nguyễn Du là đứa con trung thành của nguyên tắc đạo đức truyền thống, nhưngcũng là con đẻ của thời đại ông Luồng gió tự do dân chủ, khát vọng sống đã kếttinh nên Kim – Kiều “Vội” có thể nói là phát hiện mang bản quyền của NguyễnDu
b, “Bỗng” và “đâu”
b1 Trong Truyện Kiều, “bỗng” xuất hiện ít hơn “ vội” và “vội vàng”, chỉ có 14 lần,
nhưng lại là một từ giàu giá trị tạo thành nhịp điệu, và rất đắc dụng cho Nguyễn Dutạo nên những đường zíc zắc nhịp điệu, những đường gấp khúc thời gian biến ảo
“Bỗng” chỉ xuất hiện 14 lần nhưng đều ở những điểm nút, những bước chuyểnquan trọng của cốt truyện, từ đó, thay đổi hẳn tính chất của nhịp điệu tác phẩm, tạonên một nhịp điệu mới, một ấn tượng mới
Nguyễn Du đã tích cực nâng cao thay đổi nhịp điệu đời sống, nhằm đi gần hơnvới hiện thực khách quan, tạo ra những bước ngoặt, những đường zíc zắc nhịp điệuđời phóng túng
b2 “Đâu” là một điệp từ xuất hiện với tần số lớn trong Truyện Kiều Nó diễn tả
một cái gì vô lí, một cái gì ở ngoài tầm dự đoán và kiểm soát hiện thực của conngười
“ Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi”
“Bỗng đâu lại thấy một người”
“Đâu” thể hiện nhịp điệu hư vô định mệnh của thời gian, một thứ nhịp điệu