Triển khai dịch vụ IPTV dựa trên nền tảng IP Multimedia subsystem IMS Triển khai dịch vụ IPTV dựa trên nền tảng IP Multimedia subsystem IMS Triển khai dịch vụ IPTV dựa trên nền tảng IP Multimedia subsystem IMS luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1-
ĐẶNG HUY HOÀNG
TRIỂN KHAI DỊCH VỤ IPTV DỰA TRÊN NỀN TẢNG IP MULTIMEDIA SUBSYSTEM (IMS)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
CHUYÊN NGÀNH : KỸ THUẬT ĐIỆN TỬ VIỄN THÔNG
Trang 2-
NGUYỄN HOÀI NAM
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
TRONG KINH DOANH VIỄN THÔNG CỦA TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC MIỀN BẮC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ MAI ANH
-
ĐẶNG HUY HOÀNG
TRIỂN KHAI DỊCH VỤ IPTV DỰA TRÊN NỀN TẢNG IP MULTIMEDIA SUBSYSTEM (IMS)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
CHUYÊN NGÀNH KỸ THUẬT ĐIỆN TỬ VIỄN THÔNG
Người hướng dẫn: PGS TS NGUYỄN HỮU THANH
HÀ NỘI - 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI CAM ĐOAN 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 8
LỜI NÓI ĐẦU 10
1 CHƯƠNG I : MỞ ĐẦU 11
1.1 Tầm quan trọng của đề tài 11
1.2 Nội dung nghiên cứu 13
2 CHƯƠNG II : CÁC NGUYÊN LÝ CHUNG TRONG KIẾN TRÚC IMS 14
2.1 Các yêu cầu đối với IMS 14
2.1.1 Phiên đa phương tiện IP 14
2.1.2 Chất lượng dịch vụ QoS 14
2.1.3 Internetworking 15
2.1.4 Chuyển vùng (Roaming) 15
2.1.5 Điều khiển dịch vụ 16
2.1.6 Phát triển dịch vụ 16
2.1.7 Đa truy nhập 17
2.2 Tổng quan về các giao thức sử dụng trong IMS 17
2.2.1 Giao thức điều khiển phiên 17
2.2.2 Giao thức AAA 18
2.2.3 Các giao thức khác 19
2.3 Kiến trúc tổng quát IMS 19
2.3.1 Mạng truy nhập 20
2.3.2 Mạng lõi 21
2.3.3 Tầng dịch vụ 30
2.4 Định danh trong IMS 32
2.4.1 Định danh người dùng công cộng 32
2.4.2 Định danh người dùng riêng 34
2.4.3 Mối quan hệ giữa định danh công cộng và định danh riêng 34
2.4.4 Định danh dịch vụ công cộng 36
Trang 42.5 SIM, USIM và ISIM trong 3GPP 37
2.5.1 SIM 38
2.5.2 USIM 38
2.5.3 ISIM 38
2.6 Tiêu chuẩn lọc 39
2.7 Triển khai kiến trúc IMS 45
3 CHƯƠNG III : ĐIỀU KHIỂN PHIÊN TRONG IMS 47
3.1 Chức năng của SIP 47
3.1.1 Mô tả phiên và SDP 47
3.1.2 Mô hình Offer/Answer 49
3.1.3 SIP và SIPS URIs 50
3.1.4 Định vị người dùng 50
3.2 Cơ bản về SIP 52
3.2.1 SIP là gì 52
3.2.2 Bản tin SIP 54
3.2.3 Phiên giao dịch (Transaction) 54
3.2.4 Hội thoại (dialog) 56
3.2.5 Trường điều khiển Record-Route, Route và Contact 58
4 CHƯƠNG IV : MÁY CHỦ ỨNG DỤNG TRONG IMS 60
4.1 Tổng quan về máy chủ ứng dụng 60
4.2 Chức năng của máy chủ ứng dụng trong mô hình IMS 61
4.3 Các chế độ hoạt động của máy chủ ứng dụng 62
4.3.1 AS hoạt động như SIP User Agent 63
4.3.2 AS hoạt động như back-to-back user agent 63
4.3.3 AS đóng vai trò như là SIP Proxy Server 64
4.3.4 AS đóng vai trò như là SIP Redirect Server 65
4.4 Giao diện AS với các thành phần khác trong mạng 66
4.4.1 Giao diện với IMS Core – ISC 66
4.4.2 Giao diện với HSS – Sh 67
4.5 Quá trình cung cấp dịch vụ 72
4.5.1 Giới thiệu 72
4.5.2 Sự hình thành tiêu chuẩn lọc khởi tạo 72
4.5.3 Lựa chọn máy chủ ứng dụng 75
Trang 54.5.4 Hành vi của máy chủ ứng dụng 77
4.5.5 Máy chủ ứng dụng tương tác với HSS 77
4.5.6 Máy chủ ứng dụng gửi yêu cầu về S-CSCF 78
5 CHƯƠNG V : XÂY DỰNG DỊCH VỤ MÁY CHỦ IPTV 79
5.1 Giới thiệu dịch vụ IPTV 79
5.2 Các thủ tục xử lý cuộc gọi trong IPTV 79
5.2.1 Đăng ký 79
5.2.1 Các chức năng chính và các thủ tục xử lý trong dịch vụ IPTV 84
6 CHƯƠNG VI : TRIỂN KHAI DỊCH VỤ IPTV 92
6.1 Triển khai dịch vụ IPTV 92
6.2 Cài đặt và sử dụng dịch vụ 93
6.2.1 Cấu hình máy chủ ứng dụng IPTV 93
6.2.2 Cấu hình Media Server 95
6.2.3 Cấu hình HSS chuyển yêu cầu sử dụng đến AS 98
6.3 Thực thi ứng dụng 101
KẾT LUẬN 104
PHỤ LỤC 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Viện đào tạo sau đại học – Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Tên tôi là: Đặng Huy Hoàng
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
tắt
Tên đầy đủ
Mobile Subscriber Identifier
Trang 828 IP-CAN IP Connectivity Access Network
Services Identity Module
43 OSA-SCS Open Service Access–Service Capability Server
Trang 958 SDP Session Description Protocol
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2-1 : Tổng quan kiến trúc IMS 20
Hình 2-2 : Giao tiếp giữa PSTN/CS gateway và mạng CS 27
Hình 2-3 : P-CSCF đặt tại mạng khách 29
Hình 2-4 : P-CSCF đặt tại mạng chủ 30
Hình 2-5 : Quan hệ giữa định danh người dùng riêng và định danh người dùng công cộng theo 3GPP R5 35
Hình 2-6 : Quan hệ giữa định danh người dùng riêng và định danh người dùng công cộng theo 3GPP R6 36
Hình 2-7 : Cấu trúc của User Profile 41
Hình 2-8 : Cấu trúc tiêu chuẩn lọc khởi tạo 42
Hình 2-9 : Sơ đồ các khối chức năng trong kiến trúc IMS 45
Hình 3-1 : Một ví dụ về mô tả phiên SDP 47
Hình 3-2 : Các kiểu trong SDP 48
Hình 3-3 : Mô tả phiên SDP của Bob 49
Hình 3-4 : Alice đăng ký vị trí người dùng với tên miền domain.com registrar 51
Hình 3-5 : Các bước thiết lập một cuộc gọi 53
Hình 3-6 : Cấu trúc bản tin SIP 54
Hình 3-7 : Transaction 56
Hình 3-8 : Luồng cuộc gọi trong một hội thoại SIP 57
Hình 3-9 : Cách sử dụng Record-Route, Route và Contact 59
Hình 4-1 : Hướng tiếp cận dịch vụ trong kiến trúc IMS 61
Hình 4-2 : AS hoạt động như một SIP UA 63
Hình 4-3 : Kiến trúc logic của SIP B2BUA 64
Hình 4-4 : AS ứng dụng đóng vai trò SIP B2BUA 64
Hình 4-5 : AS đóng vai trò SIP Proxy AS 65
Hình 4-6 : AS đóng vai trò SIP Redirect Server 65
Hình 4-7 : Sh data uml diagram 70
Hình 4-8 : Thành phần của Service Point Trigger 73
Hình 4-9 : Ví dụ về User Profile 75
Hình 5-1 : Call flow đăng ký 80
Hình 5-2 : Call flow đăng ký (tiếp) 81
Hình 5-3 : Đăng ký với máy chủ ứng dụng 83
Hình 5-4 : Call flow khởi tạo dịch vụ IPTV 87
Hình 5-5 : Bản tin INVITE dịch vụ IPTV 88
Hình 5-6 : Call flow ngừng dịch vụ IPTV 89
Hình 5-7 : Bản tin BYE dịch vụ IPTV 90
Hình 5-8 : Call flow không có kênh phục vụ trong IPTV 91
Hình 6-1 : Mô hình tổng quát IPTV trên nền IMS 92
Hình 6-2 : Giao diện web của DSS 96
Hình 6-3 : Playlist cho người sử dụng 97
Hình 6-4 : Tạo Application Server trong IMS 98
Trang 11Hình 6-5 : Tạo Trigger Point trong IMS 99
Hình 6-6 : Tạo iFC trong IMS 99
Hình 6-7 : Tạo Service Profile trong IMS 100
Hình 6-8 : Tạo Shared-IFC-Set trong IMS 100
Hình 6-9 : Cấu hình cho UCT IMS Client 101
Hình 6-10 : Alice đăng ký thành công 102
Hình 6-11 : Người dùng xem dịch vụ IPTV thành công 103
Trang 12LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua xu hướng hội tụ mạng Internet, mạng di động và mạng PSTN đang là xu hướng được quan tâm hàng đầu trong lĩnh vực thông tin liên lạc Nhiều kiến trúc mới đã ra đời trong quá trình phát triển hợp nhất các mạng với mục đích tạo ra một mạng toàn IP duy nhất Phân hệ IP Multimedia Subsystem (IMS) là một trong những kiến trúc đã ra đời trong xu thế phát triển đó Với IMS người dùng
có thể liên lạc khắp mọi nơi nhờ tính di động của mạng di động và đồng thời có thể
sử dụng những dịch vụ hấp dẫn từ mạng Internet IMS đã thực sự trở thành chìa khóa để hợp nhất mạng di động và mạng Internet IMS đồng thời cũng trở thành một phân hệ trong mô hình mạng thế hệ mới (NGN) của tất cả các hãng sản xuất các thiết bị viễn thông và các tổ chức chuẩn hóa trên thế giới
IMS được chuẩn hóa bởi 3GPP và 3GPP2 dựa trên giao thức báo hiệu SIP và các giao thức mở khác do IETF chuẩn hóa nên rất dễ dàng tích hợp với các dịch vụ mới IMS đồng thời cũng hỗ trợ nhiều loại hình truy cập khác nhau do đó nó hứa hẹn sẽ mang lại một số lượng lớn khách hàng sử dụng các dịch vụ xây dựng trên đó Trong thời gian thực tập học tập tại trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, để tìm hiểu về kiến trúc IMS và triển khai các dịch vụ mới trên IMS, được sự gợi ý của
PGS TS Nguyễn Hữu Thanh em đã lựa chọn đề tài “Triển khai dịch vụ IPTV dựa trên nền tảng IP Multimedia Subsystem (IMS)”
Em xin chân thành cám ơn PGS TS Nguyễn Hữu Thanh đã giúp đỡ tận tình cho em trong thời gian làm đồ án vừa qua Tôi cũng xin chân thành cám ơn gia đình
và bạn bè đã động viên và chia sẽ những kinh nghiệm quý báu
Em xin chân thành cám ơn
Hà Nội, ngày tháng 09 năm 2012
Sinh viên
Trang 131 CHƯƠNG I : MỞ ĐẦU
1.1 Tầm quan trọng của đề tài
Mục đích của mạng thế hệ thứ 3 là hợp nhất hai mô hình thông tin đang được triển khai rộng rãi nhất hiện nay là mạng tế bào và mạng internet IMS là nhân tố chính trong kiến trúc mạng 3G làm cho nó có khả năng cung cấp truy cập tới tất cả các dịch vụ mà internet có thể cung cấp cho mạng tế bào Người
sử dụng có thể truy cập vào một trang web yêu thích, đọc email, xem phim hoặc tham gia một buổi hội thảo qua truyền hình ở bất cứ đâu mà chỉ bằng một cách đơn giản là sử dụng một chiếc điện thoại hỗ trợ 3G
Cùng với sự phát triển của mạng thế hệ thứ ba trong những năm gần đây internet đã phát triển với một tốc độ chóng mặt Lý do chính cho việc phát triển mạnh mẽ này là khả năng cung cấp các dịch vụ tiện ích mà hàng trăm người sử dụng ưa thích Một trong những ví dụ điển hình là world wide web
và email Nhưng bên cạnh đó còn rất nhiều dịch vụ khác như instant message, presence, VoIP, VoD, hội thảo truyền hình,…
Với mong muốn kết hợp các dịch vụ internet và các dịch vụ di động truyền thống để đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của khách hàng, các nhà phát triển đã không ngừng sáng tạo và đưa ra những kiến trúc mạng mới, các công nghệ mới nhằm thực hiện mục đích này Sự ra đời của phân hệ IMS trong kiến trúc mạng 3G chính là bước phát triển quan trọng trong quá trình hợp nhất dịch vụ đó
Việc phát triển hệ thống này không chỉ đem lại những lợi ích về mặt kinh
tế cho nhà cung cấp dịch vụ mà còn đem lại nhiều tiện ích cho người sử dụng:
Về phía nhà cung cấp dịch vụ: cho phép đưa ra nhanh chóng các máy chủ ứng dụng với các dịch vụ mới vào trong mạng của nhà khai thác mạng di động Thông qua giao diện ISC (IMS Service Control interface), máy chủ ứng dụng SIP (ví dụ máy chủ ứng dụng push-to-
Trang 14talk), SIP Enabling Services Server (ví dụ máy chủ ứng dụng presence) hay gateway có thể được kết nối vào IMS, hỗ trợ nhiều loại truy nhập khác nhau…
Về phía người sử dụng: cho phép người sử dụng có thể truy nhập dễ dàng và an toàn vào mạng đa phương tiện, chất lượng dịch vụ được nâng cao, có cơ hội sử dụng nhiều các dịch vụ tiện ích mới…
Một điểm nữa khá quan trọng là khi khoa học và công nghệ ngày càng phát triển, sự hội nhập giữa các nước ngày càng cao, các dịch vụ hoàn toàn sẵn có đối với người dùng thì nhà cung cấp dịch vụ nào thỏa mãn được người dùng về sự đa dạng trong dịch vụ cung cấp, sự tiện dụng cũng như chi phí thấp nhất sẽ chiếm được lợi thế trong cạnh tranh thị trường và do đó sẽ kiếm được nhiều lợi nhuận Khả năng cung cấp các dịch vụ với những tính năng như thế
là hoàn toàn có thể đối với IMS
IPTV là một trong những dịch vụ mà IMS có thể cung cấp tới người dùng Ý tưởng của dịch vụ này cũng không ngoài mục đích đem lại sự tiện lợi cho người dùng: Với IPTV, mọi người có thể xem nội dung yêu thích (như phim, chương trình giải trí, thời sự,…) ở bất kỳ thời điểm nào, không bị lệ thuộc vào giờ phát sóng của Đài truyền hình, xem phim theo yêu cầu với chất lượng cao Khi xem phim IPTV có tính năng như: tạm dừng, xem đi xem lại nhiều lần Trên tivi, khách hàng còn sử dụng được các dịch vụ: nhắn tin, gọi điện thoại, games, mua hàng, giao dịch chứng khoán, giao dịch ngân hàng, giao lưu trực tuyến
Trong đề tài này, em tập trung nghiên cứu “triển khai dịch vụ IPTV dựa trên nền tảng IP Multimedia Subsystem (IMS)” Dịch vụ này mặc dù
chỉ là một phần rất nhỏ trong các dịch vụ hấp dẫn mà IMS mang lại, tuy nhiên
nó cũng là một minh chứng rất điển hình cho tiện ích về phát triển dịch vụ tương lai mà IMS có thể đem lại
Trang 151.2 Nội dung nghiên cứu
Với mực đích nghiên cứu và phát triển ứng dụng theo kiến trúc IMS nên trong đề tài này em sẽ tập trung tìm hiểu tổng quan về IMS, máy chủ ứng dụng và về dịch vụ IPTV:
năng của từng thành phần, kiến trúc triển khai và một số các khái niệm quan trọng sử dụng trong IMS
dụng trong kiến trúc IMS, chức năng và các chế độ hoạt động, giao diện từ máy chủ ứng dụng SIP tới các thành phần khác trong mạng lõi IMS
thực hiện dịch vụ, điều khiển lỗi, thủ tục kiểm tra trạng thái người dùng
cuối
Trang 16
2 CHƯƠNG II : CÁC NGUYÊN LÝ CHUNG
TRONG KIẾN TRÚC IMS
2.1 Các yêu cầu đối với IMS
IMS hướng đến:
Kết hợp các xu thế mới nhất trong công nghệ
Tạo ra mô hình di động Internet
Tạo ra nền tảng phổ biến để phát triển các dịch vụ đa phương tiện khác nhau
Tạo ra cơ chế nâng cao lợi nhuận vì cách sử dụng của mạng chuyển mạch gói di động
2.1.1 Phiên đa phương tiện IP
IMS có thể đưa ra một dải rộng các dịch vụ Mặc dù vậy, có một dịch
vụ đặc biệt quan trọng với người dùng: đó là thông tin liên lạc audio và video Yêu cầu này nhấn mạnh đến sự cần thiết hỗ trợ dịch vụ chính được tạo
ra bởi IMS: các phiên multimedia qua mạng chuyển mạch gói Multimedia
có liên quan đến sự tồn tại đồng thời của một vài loại media, trong trường hợp này là audio và video
Giao tiếp multimedia được chuẩn hóa trong tài liệu 3GPP trước đây, nhưng những giao tiếp multimedia này diễn ra trên mạng chuyển mạch kênh hơn là trên mạng chuyển mạch gói
2.1.2 Chất lượng dịch vụ QoS
Chất lượng dịch vụ (QoS – Quality of Service) là yêu cầu chủ yếu trong IMS QoS cho một phiên liên quan được xác định bởi một số nhân tố, như băng thông cực đại có thể cấp cho người dùng dựa trên thuê bao của người
Trang 17dùng hoặc trạng thái hiện tại của mạng IMS cho phép nhà khai thác mạng điều khiển QoS mà người dùng đưa ra, do đó các nhà khai thác mạng có thể phân biệt các nhóm khách hàng khác nhau
2.1.3 Internetworking
Hỗ trợ cho tương tác với Internet là một yêu cầu rõ ràng với IMS, Internet đưa ra hàng triệu đích đến tiềm năng cho các phiên multimedia được khởi tạo trong IMS Khi tương tác với Internet, số lượng đích đến tiềm năng cho các phiên đa phương tiện được mở rộng một cách đột ngột
IMS cũng được yêu cầu có thể làm việc được với mạng chuyển mạch kênh, như mạng PSTN (Public Switched Telephone Network), hay các mạng
tế bào đang tồn tại Đầu cuối IMS có thể kết nối được đến cả mạng chuyện mạch kênh và mạng chuyển mạch gói Vì thế, khi người dùng muốn gọi đến điện thoại trong mạng PSTN hay mạng tế bào, đầu cuối IMS sẽ chọn sử dụng vùng chuyển mạch kênh
Vì vậy, mặc dù tương tác với mạng chuyển mạch kênh không được yêu cầu một cách nghiêm ngặt, thì hầu hết các đầu cuối IMS sẽ hỗ trợ vùng chuyển mạch kênh Yêu cầu hỗ trợ tương tác với mạng chuyển mạch kênh có thể được coi như là một yêu cầu dài hạn Yêu cầu này sẽ được triển khai khi
ta xây dựng đầu cuối IMS chỉ hỗ trợ chuyển mạch gói
2.1.4 Chuyển vùng (Roaming)
Chuyển vùng (roaming) là yêu cầu chung kể từ khi phát minh ra mạng
tế bào thứ hai Người dùng có thể chuyển vùng sang các mạng khác, ví dụ như khi chuyển sang một quốc gia khác Hiển nhiên là IMS sẽ kế thừa yêu cầu này, do đó nó có thể cho phép người dùng chuyển vùng sang các quốc gia khác nhau
Trang 182.1.5 Điều khiển dịch vụ
Các nhà khai thác mạng muốn áp dụng những chính sách trong việc phân phát dịch vụ đến người dùng Chúng ta có thể chia những chính sách đó làm hai loại
Các chính sách chung có thể áp dụng được cho tất cả người dùng trong mạng
Các chính sách cá nhân có thể áp dụng cho một người dùng nhất định Loại chính sách đầu tiên bao gồm một tập hợp các giới hạn được áp dụng cho tất cả người dùng trong mạng Ví dụ, nhà vận hành mạng có thể muốn giới hạn việc sử dụng audio codec băng rộng, như G.711 (ITU-T Recommendation G.711), trong mạng của họ Thay vì như thế, họ có thể đưa
ra các codec băng thông thấp hơn như AMR (Adaptive Multi Rate)
Loại chính sách thứ hai bao gồm một tập các chính sách được đáp ứng cho mỗi người dùng Ví dụ, một người dùng có thể có vài thuê bao để sử dụng các dịch vụ IMS không bao gồm video Đầu cuối IMS sẽ hầu hết là có khả năng hỗ trợ video, nhưng trong trường hợp nỗ lực khởi tạo một phiên multimedia mà có cả video, thì nhà vận hành mạng sẽ ngăn không cho phiên
đó được khởi tạo
2.1.6 Phát triển dịch vụ
Yêu cầu về tạo ra dịch vụ có ảnh hưởng mạnh trong thiết kế kiến trúc IMS Yêu cầu này nói rõ các dịch vụ IMS không cần thiết phải được chuẩn hóa Yêu cầu này biểu diễn một dấu mốc trong thiết kế cellualar bởi vì trong quá khứ, mọi dịch vụ đơn đều được chuẩn hóa hoặc là có sự triển khai phù hợp Thậm chí các dịch vụ được chuẩn hóa thì không có gì đảm bảo rằng các dịch vụ sẽ làm việc khi chuyển sang một mạng khác
Trang 19IMS hướng đến làm giảm thời gian cần thiết khi đưa ra một dịch vụ mới Trong quá khứ, việc chuẩn hóa dịch vụ và kiểm tra vận hành gây ra sự chậm trễ lớn, và IMS ra đời sẽ làm giảm việc chậm trễ đó
2.2 Tổng quan về các giao thức sử dụng trong IMS
2.2.1 Giao thức điều khiển phiên
Các giao thức điều khiển cuộc gọi đóng vai trò quan trọng trong bất kỳ một hệ thống điện thoại nào Trong mạng chuyển mạch kênh, các giao thức điều khiển cuộc gọi nói chung là TUP (Telephony User Part), ISUP (ISDN User Part) và BICC (Bearer Independent Call Control) Các giao thức được xem xét để sử dụng làm giao thức điều khiển phiên cho IMS hiển nhiên là dựa trên IP Các giao thức có thể được sử dụng là:
Bearer Independent Call Control (BICC) : BICC là một cải tiến của
ISUP Không như ISUP, BICC tách biệt mặt phẳng báo hiệu ra khỏi mặt phảng media, do đó báo hiệ có thể truyền qua một tập các nút riêng biệt chứ không đi qua mặt phẳng media Thêm nữa, BICC hỗ trợ và có thể chạy trên
Trang 20các công nghệ khác nhau như IP, SS7 (Sinaling System No 7) hay ATM (Asynchoronous Transfer Mode)
H.323 : tương tự như BICC, H.323 là giao thức do ITU-T phát triển
H.323 định nghĩa một giao thức mới để thiết lập phiên multimedia Không như BICC, H.323 được thiết kế từ những ngày đầu tiên nhằm hỗ trợ công nghệ IP Trong H.323, báo hiệu và media không cần truyền qua cùng một tập các host
SIP (Session Initiation Protocol) : được đặc tả bởi IETF như là một
giao thức để thiết lập và quản lý các phiên multimedia qua mạng IP SIP tuân theo mô hình client-server nổi tiếng, mô hình được sử dụng bởi nhiều giao thức được phát triển bởi IETF Các nhà thiết kế SIP đã mượn nguyên lý thiết
kế từ SMTP (Simple Mail Transfer Protocol) và đặc biệt là HTTP (Hypertext Transfer Protocol) SIP kế thừa hầu hết các đặc điểm của nó từ hai giao thức trên Đó là một điểm mạnh của SIP bởi vì HTTP và SMTP là những giao thức thành công nhất trên Internet SIP không giống như BICC và H.323, SIP
là giao thức dựa trên text Điều đó có nghĩa là nó dễ dàng để mở rộng, sửa lỗi
và sử dụng để xây dựng các dịch vụ
SIP được chọn làm giao thức điều khiển phiên trong IMS Thực tế SIP làm cho việc tạo ra các dịch vụ mới trở nên dễ dàng và vì SIP dựa trên HTTP nên các nhà phát triển dịch vụ SIP có thể sử dụng tất cả các cơ chế được phát triển cho HTTP như CGI (Common Gateway Interface) và Java Servlet
2.2.2 Giao thức AAA
Ngoài giao thức điều khiển phiên thì còn có một số giao thức khác đóng vai trò quan trọng trong IMS Diameter (là giao thức được định nghĩa trong RFC 3588) được chọn làm giao thức AAA (Authentication, Authorization, and Accounting) trong IMS
Trang 21Diameter là một cải tiến của RADIUS (được định nghĩa trong RFC 2865), đó là một giao thức được sử dụng rộng rãi trong Internet để thực hiện AAA Ví dụ, khi người dùng quay số đến nhà cung cấp dịch vụ Internet thì server truy nhập mạng sử dụng RADIUS để chứng thực (authenticate) và cấp quyền (authorize) cho người dùng truy cập mạng Diameter bao gồm một giao thức cơ bản được bổ sung với ứng dụng Diameter Các ứng dụng Diameter là sự lựa chọn hoặc mở rộng Diameter để phù hợp với một ứng dụng cụ thể trong một môi trường IMS sử dụng Diameter trong một số giao diện, mặc dù không phải tất cả các giao diện sử dụng cùng một ứng dụng Diameter Ví dụ, IMS định nghĩa ứng dụng Diameter để tương tác với SIP trong quá trình phiên được thiết lập và một ứng dụng khác để thực hiện điều khiển tài khoản
2.2.3 Các giao thức khác
Cùng với SIP và Diameter là các giao thức khác được sử dụng trong IMS Giao thức COPS (Common Open Policy Service) được sử dụng để truyền các chính sách giữa các PDP (Policy Decision Points) và PEP (Policy Enforcement Points) H.248 và các gói của nó được sử dụng bởi các nút tín hiệu điều khiển trong mặt phẳng media H.248 được phát triển bởi ITU-T và IETF cũng được đề cập đến như là giao thức MEGACO (Media Gateway Control) RTP (Real-time Transport Protocol) và RTCP (RTP Control Protocol) được sử dụng để truyền dữ liệu thời gian thực như video và audio
2.3 Kiến trúc tổng quát IMS
Trước khi tìm hiểu kiến trúc tổng quát IMS, chúng ta nên nhớ rằng 3GPP không chuẩn hóa theo nút mà theo chức năng Điều đó có nghĩa là kiến trúc IMS là một tập hợp các chức năng được kết nối với nhau bởi các giao diện đã được chuẩn hóa Các nhà triển khai có thể kết hợp hai chức năng vào một nút Tương tự, các nhà triển khai có thể tách một chức năng thành hai hay nhiều nút
Trang 22Nhìn chung thì hầu hết những dịch vụ cung cấp đều tuân theo kiến trúc IMS một cách chặt chẽ và triển khai mỗi chức năng trong một nút riêng Tuy nhiên, việc tìm kiếm các nút triển khai nhiều hơn một chức năng và các chức năng được phân phối qua nhiều hơn một nút là hoàn toàn có thể
Hình 2-1 : Tổng quan kiến trúc IMS
Trong hình 2-1 minh họa một cái nhìn tổng quan về kiến trúc IMS như chuẩn hóa của 3GPP Trong hình chỉ ra hầu hết các giao diện báo hiệu trong
hệ thống IMS, nó thường được đề cập đến bởi hai hay ba ký tự mã hóa Chúng
ta không thể vẽ tất cả các giao diện được định nghĩa trong IMS mà chỉ có thể liệt kê hầu hết những nút giao diện có liên quan Trong IMS được phân chia thành 3 phần: mạng truy nhập, mạng lõi và tầng dịch vụ
2.3.1 Mạng truy nhập
Ở phía bên trái hình 2-1, chúng ta có thể nhìn thấy các đầu cuối IMS di động thường được nhắc đến như là các thiết bị người dùng (UE) Đầu cuối
Trang 23IMS được nối vào mạng chuyển mạch gói như là GPRS thông qua đường truyền vô tuyến
Chú ý rằng, mặc dù hình trên chỉ chỉ ra một thiết bị đầu cuối IMS nối vào mạng sử dụng đường truyền vô tuyến nhưng IMS cũng hỗ trợ các loại thiết bị và các cách truy nhập khác Thiết bị hỗ trợ cá nhân PDAs và máy tính là các ví dụ về các thiết bị có thể kết nối tới IMS Một ví dụ khác về phương pháp truy cập là WLAN và ADSL
2.3.2 Mạng lõi
Phần còn lại của hình chỉ ra các nút bao gồm trong mạng lõi IMS Các nút này là:
Một hay vài cơ sở dữ liệu người dùng, còn gọi là HSS và SLF
Một hay vài máy chủ ứng SIP như là CSCF (Call Session Control Function)
Một hay vài BGCF (Breakout Gateway Control Functions)
Một hoặc vài PSTN gateways, được chia nhỏ hơn thành SGW và MGCF
2.3.2.1 Cơ sở dữ liệu HSS và SLF
HSS (Home Subscriber Server) là trung tâm lưu trữ dữ liệu các thông tin liên quan đến người dùng Về kỹ thuật thì HSS là sự phát triển của HLR (Home Location Register), HLR là một nút trong mạng GSM HSS bao gồm các thông tin thuê bao liên quan đến người dùng được yêu cầu để điều khiển các phiên đa phương tiện Những dữ liệu này bao gồm, thông tin vị trí, thông tin bảo mật (bao gồm các thông tin nhận thực và phân quyền), các thông tin về tiểu sử người dùng (bao gồm các dịch vụ mà người dùng đăng ký thuê bao), và S-CSCF cấp phát tới người dùng
Trang 24Một mạng có thể chứa một hoặc một vài HSS, trong trường hợp số lượng thuê bao quá nhiều so với sự quản lý của một HSS Trong tất cả trường hợp, tất cả các dữ liệu liên quan đến một người dùng cụ thể được chứa trong một HSS Các mạng với một HSS sẽ không cần SLF (Subscriber Location Function) Mặt khác, mạng với nhiều hơn một HSS yêu cầu có SLF
SLF là một cơ sở dữ liệu đơn giản ánh xạ địa chỉ người dùng tới HSS quản lý tương ứng Một nút yêu cầu truy vấn SLF, với một địa chỉ người dùng là đầu vào, sẽ thu được ở đầu ra là HSS có chứa thông tin liên quan đến người dùng đó
Cả HSS và SLF đều thực thi giao thức Diameter với các đặc trưng ứng dụng diameter cho IMS
2.3.2.2 Chức năng điều khiển cuộc gọi phiên
Điều khiển cuộc gọi phiên (CSCF) là một máy chủ SIP, là một nút cần thiết trong IMS Các CSCF xử lý các bản tin báo hiệu SIP trong IMS
Có ba loại CSCF phụ thuộc vào các chức năng mà chúng cung cấp:
Proxy-CSCF (P-CSCF) : là một máy chủ SIP, là điểm đầu tiên liên
lạc giữa đầu cuối IMS và mạng IMS Nó có thể được đặt ở mạng khách (trong toàn bộ mạng IMS) hoặc mạng chủ Một vài mạng có thể sử dụng thiết bị kiểm soát biên phiên SBC (Session Border Controller) để thực hiện chức năng này Để kết nối với hệ thống IMS, người dùng trước tiên phải đăng ký với P-CSCF trong mạng
mà nó đang kết nối Địa chỉ của P-CSCF được truy cập thông qua giao thức DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol) hoặc sẽ được cung cấp khi người dùng tiến hành thiết lập kết nối PDP (Packet Data Protocol) trong mạng thông tin di động tế bào Chức
năng của P-CSCF bao gồm:
Trang 25o P-CSCF có nhiệm vụ đảm bảo chuyển tải các yêu cầu từ UE đến máy chủ SIP (ở đây là S-CSCF) cũng như bản tin phản
hồi từ máy chủ SIP về UE
o P-CSCF được gán cho đầu cuối IMS trong suốt quá trình
đăng ký, và không thay đổi trong suốt quá trình đăng ký
o P-CSCF nằm trên đường đi của tất cả các bản tin báo hiệu và
có thể được gán vào mỗi bản tin
o P-CSCF xác thực người dùng và thiết lập kết nối bảo mật IPSec với thiết bị đầu cuối IMS của người dùng P-CSCF còn
có vai trò ngăn cản các tấn công như spoofing, replay để đảm
bảo sự bảo mật và an toàn cho người dùng
o P-CSCF có thể nén và giải nén các bản tin SIP dùng sigcomp,
để giảm thiểu khối lượng thông tin báo hiệu truyền trên những đường truyền tốc độ thấp (hay giảm độ trễ khi truyền
trên các kênh có băng thông hẹp)
o P-CSCF có thể tích hợp chức năng quyết định chính sách PDF (Policy Decision Function) nhằm quản lý và đảm bảo
QoS cho các dịch vụ đa phương tiện
o P-CSCF cũng tham gia vào quá trình tính cước dịch vụ
Interrogating-CSCF (I-CSCF) : là một chức năng SIP khác được
đặt ở biên của miền quản trị Địa chỉ IP của I-CSCF được công bố trong DNS (Domain Name System) của miền, vì thế các máy chủ ứng dụng ở xa có thể tìm thấy I-CSCF và sử dụng I-CSCF như một điểm chuyển tiếp cho các gói tin SIP tới miền này Các chức năng
của I-CSCF bao gồm:
o Định tuyến bản tin yêu cầu SIP nhận được từ một mạng khác đến S-CSCF tương ứng Để làm được điều này, I-CSCF sẽ
Trang 26truy vấn HSS thông qua giao diện Diameter Cx để cập nhật địa chỉ S-CSCF tương ứng của người dùng (giao diện Dx được dùng để từ I-CSCF tới SLF để định vị HSS cần thiết) Nếu như chưa có S-CSCF nào được gán cho UE, I-CSCF sẽ tiến hành gán một I-CSCF cho người dùng để nó xử lý yêu
Serving-CSCF (S-CSCF) : là một nút trung tâm của hệ thống báo
hiệu IMS S-CSCF vận hành giống như một máy chủ SIP nhưng nó cũng bao hàm cả chức năng quản lý phiên dịch vụ Thêm vào việc thực hiện chức năng là một máy chủ SIP thì nó cũng đóng vai trò như một trung tâm đăng ký SIP (SIP registrar) Điều này có nghĩa là
nó duy trì mối liên hệ giữa vị trí của người dùng (nói cách khác là địa chỉ IP của thiết bị đầu cuối mà người dùng đăng nhập) với địa chỉ SIP của người dùng đó (cũng được biết đến như là định danh
chung của người dùng – Public User Identity)
Cũng giống như I-CSCF, S-CSCF cũng thực thi một giao diện diameter với HSS Lý do chính của việc sử dụng giao diện với HSS là:
o Để tải các vector nhận thực của người dùng đang cố gắng truy cập mạng từ HSS S-CSCF sử dụng vector này để nhận thực người dùng
Trang 27o Để tải hồ sơ người dùng từ HSS Hồ sơ người dùng bao gồm các triggers có thể làm cho bản tin SIP được định tuyến qua một hoặc vài máy chủ ứng dụng
o Để khai báo với HSS về S-CSCF được cấp cho người dùng trong suốt quá trình đăng ký
Tất cả các bản tin báo hiệu SIP mà đầu cuối IMS gửi và nhận đều đi quá S-CSCF S-CSCF sẽ kiểm tra mỗi bản tin SIP và quyết định xem liệu bản tin báo hiệu này nên đi qua một hay nhiều máy chủ ứng dụng trên đường đi tới đích cuối cùng của nó Các máy chủ ứng dụng này sẽ cung cấp các khả năng về một dịch vụ tới người dùng Một chức năng chính của S-CSCF là cung cấp dịch vụ định tuyến bản tin SIP Nếu người dùng quay số điện thoại thay vì sử dụng SIP URI (Uniform Resource Identifier) thì S-CSCF cung cấp một dịch
vụ chuyển đổi, thường dựa trên chuẩn DNS E.164 Number Translation (DNS/ENUM) (được mô tả trong RFC-2916 [100]) S-CSCF cũng tác động vào chính sách mạng của nhà cung cấp Ví
dụ, một người dùng có thể không có quyền thiết lập một phiên cụ thể nào cả S-CSCF tránh cho người dùng thực hiện các chức năng không được cho phép
Một mạng thường bao gồm một số các S-CSCF cho mục đích mở rộng và dự phòng Mỗi S-CSCF phục vụ một số lượng đầu cuối tùy thuộc vào dung lượng của nó
S-CSCF luôn luôn được đặt tại mạng chủ
2.3.2.3 Máy chủ xử lý media
Máy chủ xử lý media (MRF) cung cấp tài nguyên media trong mạng chủ MRF (Media Resource Function) cung cấp cho mạng chủ khả năng đưa ra các thông báo trong luồng media (ví dụ trong cầu hội thảo tập trung),
Trang 28chuyển đổi giữa các loại mã hóa, thu nhận số liệu thống kê và thực hiện bất
cứ loại phân tích media nào
MRF còn được chia thành một nút nhỏ hơn trong miền báo hiệu gọi là MRFC (Media Resource Function Controller) và một nút trong miền media
là MRFP (Media Resource Function Processor) MRFC hoạt động như là một SIP User Agent và chứa các giao diện SIP với S-SCSF MRFC điều khiển tài nguyên trong MRFP thông qua giao diện H.248
MRFP triển khai tất cả các hàm liên quan đến media như là chơi và trộn media
MRF luôn đặt ở mạng chủ
2.3.2.4 Chức năng điều khiển cổng chuyển mạng
Chức năng điều khiển cổng chuyển mạng (BGCF) thực hiện chủ yếu
là chức năng của máy chủ SIP bao gồm chức năng định tuyến dựa trên số điện thoại BGCF (Breakout Gateway Control Function) chỉ dùng trong các phiên được khởi tạo bởi đầu cuối IMS và hướng tới một người dùng trong mạng chuyển mạch kênh như là PSTN hay PLMN Chức năng chính của BGCF là:
Lựa chọn mạng thích hợp nơi mà tương tác với miền chuyển mạch kênh xảy ra
Hoặc lựa chọn cổng PSTN/CS phù hợp, nếu tương tác xảy ra trong cùng một mạng mà BGCF được đặt
2.3.2.5 PSTN/CS Gateway
PSTN gateway cung cấp một giao diện hướng tới một mạng chuyển mạch kênh, cho phép các thiết bị đầu cuối IMS gọi và nhận cuộc gọi tới PSTN và từ PSTN
Trang 29Hình 2-2 : Giao tiếp giữa PSTN/CS gateway và mạng CS
Hình 2-2 mô tả một BGCF và một PSTN gateway riêng biệt có giao tiếp mạng với PSTN PSTN gateway được phân tích thành các chức năng sau:
SGW (Signalling Gateway) : Signalling gateway giao tiếp với mặt phẳng báo hiệu của mạng chuyển mạch kênh SGW thực hiện biến đổi giao thức ở lớp thấp hơn Ví dụ: SGW có nhiệm vụ thay thế các giao thức MTP (ITU-T khuyến nghị Q.701 [133]) ở mức thấp hơn vận chuyển cùng với SCTP (Stream Control Transmission Protocol, được định nghĩa tại RFC 2960 [230]) trên địa chỉ IP Vì thế, SGW chuyển đổi ISUP (ITU-T khuyến nghị Q.761 [139]) hoặc BICC [ITU-T khuyến nghị tại Q.1901 [140]) trên MTP thành ISUP hoặc BICC trên SCTP/IP
MGCF (Media Gateway Control Function) : MGCF là nút trung tâm của PSTN/CS gateway MGCF triển khai một cơ chế thực hiện
Trang 30chuyển đổi giao thức và ánh xạ SIP sang hoặc là ISUP trên IP hoặc
là BICC trên IP (cả BICC và ISUP đều là các giao thức điều khiển cuộc gọi trong mạng chuyển mạch kênh) Hơn nữa, để biến đổi giao thức điều khiển cuộc gọi thì MGCF điều khiển nguồn tài nguyên trong MGW (Media Gateway) Giao thức được sử dụng giữa MGCF
và MGW là H.248 (ITU-T khuyến nghị H.248 [143])
media của mạng PSTN hoặc mạng CS Một mặt MGW có thể gửi hoặc nhận media của IMS thông qua giao thức RTP (RFC 3550 [225]) Mặt khác, MGW sử dụng một hoặc nhiều khe thời gian PCM (Pulse Code Modulation) để kết nối tới mạng CS Thêm vào đó, MGW thực hiện chuyển đổi mã khi đầu cuối IMS không hỗ trợ codec được sử dụng bởi mạng chuyển mạch kênh Một tình huống phổ biến thường xảy là khi thiết bị đầu cuối IMS sử dụng bộ giải mã AMR trong khi đó thiết bị đầu cuối của mạng PSTN lại sử dụng bộ giải mã G.711 (ITU-T khuyến nghị G.711 [131])
2.3.2.6 Mạng chủ và mạng khách
IMS mượn một vài khái niệm từ GSM và GPRS như mạng chủ và mạng khách Trong mô hình tế bào, khi chúng ta sử dụng điện thoại di động trong khu vực nơi chúng ta cư trú, khi đó là chúng ta đang sử dụng cơ
sở hạ tầng do các nhà điều hành mạng cung cấp Cở sở hạ tầng này hình thành mạng chủ (home network) Mặt khác, khi chúng ta chuyển ra ngoài khu vực che phủ của mạng chủ, chúng ta sử dụng cơ sở hạ tầng được cung cấp bởi một nhà điều hành mạng khác Cơ sở hạ tầng này được gọi là mạng khách (visited network)
Để sử dụng mạng khách thì các nhà điều hành mạng khách và mạng chủ phải có một thỏa thuận với nhau Các thỏa thuận này có thể là giá
Trang 31cuowics cuộc gọi, chất lượng dịch vụ hoặc là phương thức quy đổi bảng tính cước
Hầu hết các nút IMS được đặt tại mạng chủ nhưng có nút cũng được đặt trong mạng khách hoặc mạng chủ, nút đó là P-CSCF Kiến trúc IMS cho phép hai cấu hình khác nhau cho P-CSCF, tùy thuộc vào vị trí của P-CSCF ở mạng khách hay mạng chủ
Thêm vào đó, khi IP-CAN (IP Connectivity Access Network) là GPRS thì vị trí của P-CSCF phụ thuộc vào vị trí của GGSN Trong tình huống chuyển vùng, GPRS cho phép vị trí của GGSN hoặc ở trong mạng chủ hoặc ở trong mạng khách (bình thường SGSN luôn được đặt ở mạng khách)
Trong IMS cả GGSN và P-CSCF phải nằm trong cùng một mạng Điều này cho phép P-CSCF điều khiển GGSN qua giao diện Go Vì cả P-CSCF và GGSN đều nằm trong cùng một mạng nên giao diện Go luôn luôn
là giao diện hoạt động bên trong và làm cho việc hoạt động của mạng đơn giản hơn
Hình 2-3, cho chúng ta thấy cấu hình P-CSCF (và GGSN) đặt tại mạng khách Cấu hình này thể hiện tầm nhìn lâu dài về IMS vì nó yêu cầu IMS hỗ trợ thực hiện từ mạng khách
Hình 2-3 : P-CSCF đặt tại mạng khách
Trang 32Không thể mong đợi tất cả các mạng trên thế giới đều triển khai IMS đồng thời Do đó cũng không thể mong chờ tất cả các mạng thành phần sẽ cập nhật các GGSN theo cùng một chuẩn tại cùng một thời điểm và cùng bắt đầu cung cấp dịch vụ IMS Vì vậy chúng ta chỉ có thể mong chờ việc sớm có sự triển khai IMS mà P-CSCF ở trong mạng chủ như hình 2-4 dưới đây
Hình 2-4 : P-CSCF đặt tại mạng chủ
Hình 2-4 chỉ ra cấu hình hiện tại khi cả P-CSCF và GGSN đều đặt tại mạng chủ Cấu hình này không yêu cầu sự hỗ trợ IMS từ mạng khách Mạng khách không cần phải có GGSN tuân theo phiên bản 3GPP Release
5 Mạng khách chỉ cần cung cấp liên lạc vô tuyến và SGSN Vì thế, cấu hình này được triển khai từ những ngày đầu của IMS Như một hệ quả, người ta mong muốn rằng nó sẽ là cấu hình phổ biến trong những năm đầu triển khai IMS
2.3.3 Tầng dịch vụ
Phần này bao gồm các máy chủ ứng dụng có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ tới người dùng cuối Các máy chủ ứng dụng là các thực thể SIP thực hiện dịch vụ và giao tiếp với S-CSCF sử dụng SIP Phụ thuộc vào các dịch
vụ thực tế mà máy chủ ứng dụng có thể hoạt động ở các chế độ: SIP proxy,
Trang 33chế độ SIP UA (User Agent) hay chế độ SIP B2BUA (Back-to-Back User Agent) Máy chủ ứng dụng có thể nằm trong mạng chủ hoặc trong một mạng thứ ba bên ngoài Nếu nằm trong mạng chủ, nó có thể truy vấn HSS qua giao diện diameter Sh (cho máy chủ ứng dụng), hay giao diện MAP (Mobile Application Part) cho loại máy chủ IM-SSF (IP Multimedia Service Switching Function)
Như đã nói ở trên, ưu điểm lớn nhất của IMS là khả năng phát triển các dịch vụ mới một cách dễ dàng Kiến trúc IMS được thiết kế để cho phép các nhà điều hành cung cấp dải rộng các dịch vụ dựa trên chuyển mạch gói và thời gian thực IMS cũng cho phép lưu lại các thông tin của dịch vụ để có thể tính cước dựa theo thời gian cũng như dựa trên dịch vụ và băng thông Từ đặc điểm thiết kế của mình, IMS kế thừa tất cả các dịch vụ ưu việt nhất của mạng viễn thông và mạng internet đặc biệt là các dịch vụ đa phương tiện bao gồm các dịch vụ gọi thông thường và các dịch vụ nâng cao như:
Nhấn tin đa phương tiện
Hội thảo đa phương tiện
Trang 342.4 Định danh trong IMS
Trong bất kỳ một mạng nào cũng đều phải dịnh danh được người dùng một cách duy nhất Đây là thuộc tính cho phép một điện thoại nhất định đổ chuông mà không phải là một điện thoại khác khi chúng ta quay số trong mạng PSTN
Vấn đề trung tâm của bất kỳ một mạng nào là khả năng của nhà cung cấp định danh người dùng để cho cuộc gọi có thể đến được đúng người dùng Trong mạng điện thoại công cộng, người dùng được định danh bởi số điện thoại (là một tập hợp các chữ số theo thứ tự định danh thuê bao điện thoại) Số điện thoại xác định chủ thuê bao có thể được biểu diễn dưới nhiều dạng khác nhau: dạng số nội hạt, số ngoại hạt hay số dạng quốc tế Thực chất chúng chỉ
là các cách biểu diễn khác nhau của cùng một thuê bao Độ dài của chuỗi số phụ thuộc vào đích đến của cuộc gọi (ví dụ như cùng một khu vực, khác vùng hay quốc gia khác)
Thêm vào đó, khi một dịch vụ được cung cấp, đôi khi nó cũng yêu cầu định danh dịch vụ Trong mạng PSTN, dịch vụ được định danh bởi những số đặc biệt, thường có phần tiếp đầu đặc biệt, ví dụ như 800 IMS cũng cung cấp
cơ chế để định danh dịch vụ
2.4.1 Định danh người dùng công cộng
Trong IMS cungc có một cách tiền định để xác định người dùng Một người dùng IMS cũng được cấp phát một hay nhiều định danh người dùng công cộng Nhà cung cấp dịch vụ nội hạt có trách nhiệm cấp phát các định danh này cho mỗi thuê bao IMS Một danh người dùng công cộng có thể là một SIP URI (như định nghĩa trong RFC 3261 [215]) hay một TEL URI (như định nghĩa trong RFC 3966 [220]) Định danh người dùng công cộng được
sử dụng như thông tin liên lạc trong thẻ thương mại Trong IMS, định danh người dùng công cộng được sử dụng để định tuyến các bản tin báo hiệu SIP
Trang 35Nếu chúng ta so sánh giữa IMS và GSM, một dịnh danh người dùng công cộng đối với IMS cũng giống như một định danh MSISDN (Mobile Subscriber ISDN Number) trong mạng GSM
Khi định danh người dùng công cộng chứa SIP URI, nó thường có dạng
là sip:first.last@operator.com, mặc dù nhà cung cấp IMS có thể chuyển đổi
dạng thức này và thỏa mãn theo nhu cầu của họ Thêm vào đó, cũng có khả năng bao hàm số điện thoại trong SIP URI sử dụng định dạng sau:
sip:+1-212-555-0293@operator.com;user=phone
Định dạng này là cần thiết bởi SIP yêu cầu URI được đăng ký dưới là SIP URI Do đó, nó không thể đăng ký TEL URI trong SIP, mặc dù hoàn toàn có thể đăng ký một SIP URI có chứa một số điện thoại
TEL URI là một dạng khác mà định danh người dùng công cộng có thể
sử dụng được Dưới đây là một TEL URI được trình bày dưới dạng số điện thoại quốc tế:
tel:+1-212-555-0293
TEL URI là cần thiết để thực hiện một cuộc gọi từ đầu cuối IMS sang mạng điện thoại công cộng PSTN, bởi vì số điện thoại PSTN được biểu diễn dưới dạng số Mặt khác, TEL URI cũng cần thiết nếu một thuê bao PSTN muốn thực hiện một cuộc gọi đến một người dùng IMS, bởi vì người dùng PSTN chỉ có thể quay số
Chúng ta hình dung các nhà cung cấp dịch vụ sẽ cấp ít nhất một SIP URI và một TEL URI cho mỗi một người dùng Có rất nhiều lý do cho việc cấp nhiều hơn một định danh người dùng công cộng cho một người dùng, như là khả năng phân biệt các định danh cá nhân mà bạn bè và người thân đã biết với định danh công cộng dùng trong công việc kinh doanh được biết đến bởi các đồng nghiệp, hoặc là để kích hoạt một nhóm các dịch vụ
Trang 36IMS mang đến một khái niệm thú vị: một tập hợp định danh người dùng công cộng được đăng ký Trong hoạt động thông thường của SIP, mỗi định danh cần đăng ký yêu cầu một bản tin SIP REGISTER Trong IMS, ta
có thể đăng ký một vài định danh người dùng công cộng trong một bản tin, điều này nhằm tiết kiệm thời gian và băng thông
2.4.2 Định danh người dùng riêng
Mỗi thuê bao IMS được cấp một định danh người dùng riêng Không giống như định danh người dùng công cộng, định danh người dùng riêng không phải là một SIP URI hay TEL URI, mà thay vào đó chúng thường có định dạng của định danh người dùng truy nhập NAI (Network Access Identifier, theo quy ước của RFC 2486 [451]) Định dạng của NAI là:
username@operator.com
Không như định danh người dùng công cộng, định danh người dùng riêng không được sử dụng để định tuyến bản tin yêu cầu SIP, thay vào đó chúng được dành riêng cho việc định danh thuê bao và cho mục đích nhận thực Một định danh người dùng riêng thực hiện chức năng trong IMS tương
tự như IMSI (International Mobile Subscriber Identifier) trong mạng GSM Định danh người dùng riêng không cần người dùng biết đến, bởi vì nó có thể được lưu trong một thẻ thông minh cũng giống như IMSI được lưu trong SIM (Subscriber Identity Module)
2.4.3 Mối quan hệ giữa định danh công cộng và định danh riêng
Nhà cung cấp dịch vụ cấp một hoặc nhiều định danh người dùng công cộng cho mỗi một người dùng Trong trường hợp GSM/UMTS (Universal Mobile Telecommunication System), thẻ thông minh lưu định danh người dùng riêng và có ít nhất một định danh người dùng công cộng HSS là một
cơ sở dữ liệu chung cho mọi dữ liệu liên quan đến thuê bao, chứa định danh người dùng riêng và một tập hợp các định danh người dùng công cộng được
Trang 37gán cho người dùng HSS và S-CSCF cũng có tương quan với định danh người dùng cộng và định danh người dùng riêng Mối quan hệ giữa một thuê bao, định danh người dùng riêng và một số định danh người dùng công cộng được thể hiện như trong hình 2-5 Đây là trường hợp của IMS như chuẩn hóa trong 3GPP Release 5
Hình 2-5 : Quan hệ giữa định danh người dùng riêng và định danh
người dùng công cộng theo 3GPP R5
3GPP Release 6 mở rộng mối quan hệ giữa định danh người dùng riêng
và định danh người dùng chung như ở hình 2-6 dưới đây Một thuê bao IMS được cấp không chỉ một mà là một số định danh người dùng riêng Trong trường hợp UMTS, chỉ một định danh người dùng riêng được lưu trữ trong thẻ thông minh, nhưng người dùng có thể có nhiều thẻ thông minh khác nhau
mà họ có thể cho vào đầu cuối IMS Có thể các định danh người dùng công cộng này được sử dụng kết hợp với nhiều hơn một dịnh danh người dùng riêng Đó là trường hợp của định danh người dùng công cộng số 2 trong hình 2-6, bởi vì nó được gán cho cả định danh người dùng riêng số 1 và số 2 Điều này cho phép định danh người dùng công cộng số 2 có thể sử dụng đồng thời
từ hai đầu cuối IMS, mỗi một thiết bị được gán một định danh người dùng riêng khác nhau (ví dụ như các thẻ thông minh khác nhau được gắn vào các đầu cuối khác nhau)
Trang 38Hình 2-6 : Quan hệ giữa định danh người dùng riêng và định danh
người dùng công cộng theo 3GPP R6
2.4.4 Định danh dịch vụ công cộng
2.4.4.1 Định nghĩa PSI
Khái niệm của định danh dịch vụ công cộng (PSI – Public Service Identities) được giới thiệu trong 3GPP Release 6 Không giống như định danh người dùng công cộng, một PSI là một định danh được cấp phát cho dịch vụ trên máy chủ ứng dụng (AS – Application Server) Ví dụ, một máy chủ ứng dụng phục vụ một chatroom được định danh bởi PSI Giống như định danh người dùng công cộng, PSI có thể có dạng SIP URI hoặc TEL URI
Không giống định danh người dùng công cộng, PSI không liên quan đến định danh người dùng riêng Sở dĩ như vậy là do định danh người dùng riêng chỉ sử dụng dành cho mục đích nhận thực PSI không được áp dụng cho người dùng
Trang 392.4.4.2 Phân loại PSI
PSI được chứa trong HSS dưới dạng hoặc là PSI đặc trưng hoặc là Wildcarded PSI Một PSI đặc trưng (Distinct PSI) có chứa PSI được sử dụng trong quá trình định tuyến Trong khi Wildcarded PSI là một tập hợp các PSI Wildcarded PSI cho phép người dùng tối ưu hoạt động và duy trì các nút Một Wildcarded PSI có chứa hơn hai dấu chấm than sẽ được xem như một cặp dấu ngăn cách
Khi được chứa trong HSS, Wildcarded PSI sẽ bao gồm các ký tự ngăn cách để xác định phần mở rộng của PSI
“sip:chatlist!.*!@example.com”
Ví dụ các PSI sau giao tiếp trên giao diện bản tin với HSS sẽ được đổi thành “sip:chatlist!.*!@example.com” Khi chứa trong HSS:
sip:chatlist1@example.com sip:chatlist2@example.com sip:chatlist42@example.com sip:chatlistabc@example.com sip:chatlist!1@example.com
2.5 SIM, USIM và ISIM trong 3GPP
UICC (Universal Integrated Circuit Card) là trung tâm trong thiết kế thiết bị đầu cuối 3GPP UICC là một thẻ thông minh có thể tháo lắp và mang theo người một cách rất đơn giản, UICC lưu trữ một số dữ liệu như thông tin đăng ký thuê bao, mã nhận thực, sổ địa chỉ và các tin nhắn Nếu không có UICC thì thiết bị đầu cuối chỉ có thể gọi các số khẩn cấp
Trang 40UICC cho phép người dùng di chuyển dễ dàng thông tin thuê bao của họ sang thiết bị mới bằng cách lắp thẻ thông minh sang thiết bị đó UICC là một khái niệm chung định nghĩa các đặc tính của thẻ thông minh
UICC có thể bao gồm một vài ứng dụng logic như SIM (Subscriber Identity Module), USIM (Universal Subscriber Identity Module) và ISIM (IP multimedia Services Identity Module) Thêm vào đó, UICC còn có thể chứa các ứng dụng khác như danh bạ điện thoại
2.5.1 SIM
SIM lưu trữ một tập hợp các tham số như thông tin đăng ký người dùng, mã nhận thực và các tin nhắn SIM là thành phần cơ bản nhất trong các thiết bị đầu cuối để người dùng có thể hòa mạng Mặc dù khái niệm UICC và SIM là có thể thay đổi cho nhau, UICC được xem như một thẻ vật lý, trong khi đó SIM được xem như một ứng dụng đơn lẻ nằm trong UICC SIM được
sử dụng rộng rãi trong các mạng di động thế hệ thứ hai, như mạng GSM
2.5.2 USIM
USIM là một ứng dụng khác nằm trong UICC USIM cung cấp một tập hợp các tham số bao gồm thông tin đăng ký thuê bao, thông tin nhận thực, phương pháp thanh toán và lưu trữ tin nhắn USIM được sử dụng để truy nhập mạng UMTS
Các thiết bị đầu cuối trong mạng chuyển mạch gói và chuyển mạch kênh cần phải có USIM để hoạt động được trong mạng di động thế hệ thứ ba
Rõ ràng, cả SIM và USIM có thể cùng tồn tại đồng thời trong UICC để thiết
bị đầu cuối có thể sử dụng đồng thời mạng GSM và UMTS
2.5.3 ISIM
Một ứng dụng thứ ba có thể hiện diện trong UICC là ISIM ISIM có vai trò đặc biệt quan trọng trong IMS, bởi vì ISIM có chứa một tập hợp các