Với mục đích giới thiệu, phân tích các nghệ thuật đặt tít trên báo Hoa học trò từ đó đánh giá vai trò và tác dụng của các biện pháp nghệ thuật này, chúng tôi chọn đề tài: “Tít trên báo H
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
TÍT TRÊN BÁO HOA HỌC TRÒ DƯỚI GÓC NHÌN
NGÔN NGỮ HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH BÁO CHÍ
Người hướng dẫn ThS HỒ TRẦN NGỌC OANH
Người thực hiện TRẦN MINH CHIẾN (Khóa 2015 – 2019)
Đà Nẵng,4/2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong khoa Ngữ Văn đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập, rèn luyện ở trường Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô thư viện trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã tạo mọi điều kiện để tôi có đủ tài liệu tham khảo trong quá trình hoàn thành khóa luận
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô Hồ Trần Ngọc Oanh
- người trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình, giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình làm đề tài này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để làm khóa luận một cách tốt nhất, tuy nhiên đây là lần đầu tôi làm quen với công tác nghiên cứu khoa học cũng như hạn chế
về kiến thức, kinh nghiệm nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô để khóa luận hoàn chỉnh hơn!
Đà Nẵng, tháng 04 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Trần Minh Chiến
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu kết quả nghiên cứu và các kết luận được trình bày trong văn bản hoàn toàn trung thực và chưa hề được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Tôi xin chịu toàn bộ trách nhiệm
về nghiên cứu của mình
Sinh viên thực hiện
Trần Minh Chiến
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Khảo sát cấu trúc tít trên báo Hoa học trò 25
Bảng 2.2: Khảo sát các yếu tố ngôn ngữ, ngữ liệu xuất hiện trên báo Hoa học trò 28
Biểu đồ 3.1 Thống kê độ tuổi bạn đọc 66
Biểu đồ 3.2: Thống kê công việc, ngành nghề của bạn đọc 66
Biểu đồ 3.3 Thống kê mức độ đọc báo Hoa học trò của bạn đọc 67
Biểu đồ 3.4 Mức độ đầu đề gây tò mò hấp dẫn cho bạn đọc của báo Hoa học trò 68
Biểu đồ 3.5 Tiêu đề báo Hoa học trò có hướng người đọc đến nội dung bài báo 69
Biểu đồ 3.6 Mức độ yêu thích của bạn đọc khi xem tiêu đề báo Hoa học trò 69
Trang 6MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Bố cục đề tài 5
B NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6
1.1 Khái quát về phong cách ngôn ngữ báo chí 6
1.1.1 Khái niệm 6
1.1.2 Đặc trưng của phong cách báo chí – công luận 7
1.1.2.1 Tính chính xác 8
1.1.2.2 Tính cụ thể 8
1.1.2.3 Tính đại chúng 8
1.1.2.4 Tính ngắn gọn 8
1.1.2.5 Tính định lượng 9
1.1.2.6 Tính bình giá 9
1.1.2.7 Tính biểu cảm 9
1.1.2.8 Tính khuôn mẫu 9
1.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ của phong cách báo chí – công luận 9
1.1.3.1 Từ ngữ của phong cách báo chí – công luận 9
1.1.3.2 Cú pháp của phong cách báo chí – công luận 11
1.1.3.3 Kết cấu của văn bản báo chí – công luận 12
1.2 Khái quát về tít báo 14
1.2.1 Đặc điểm của tít báo 14
1.2.2 Chức năng của tít báo 16
1.2.3 Tính chất của tít báo 17
Trang 71.2.4 Dạng tít báo 18
1.2.5 Một số thủ pháp đặt tít báo 19
1.3 Khái quát về báo Hoa học trò 21
1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển 21
1.3.2 Nội dung và đối tượng độc giả Báo Hoa học trò hướng đến 22
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA TÍT TRÊN BÁO HOA HỌC TRÒ 25
2.1 Đặc điểm cấu tạo của tít trên báo Hoa học trò 25
2.2 Đặc điểm các yếu tố ngôn ngữ của tít trên báo Hoa học trò 27
2.2.1 Ngữ liệu và kết quả khảo sát 27
2.2.2 Các biện pháp tu từ 28
2.2.2.1 Biện pháp ẩn dụ 29
2.2.2.2 Biện pháp so sánh 31
2.2.2.3 Dùng biện pháp nhân hóa 32
2.2.2.4 Biện pháp chơi chữ 34
2.2.3 Các yếu tố khẩu ngữ 36
2.2.3.1 Sử dụng đồng âm – biến âm 37
2.2.3.2 Sử dụng tiếng lóng 38
2.2.3.3 Dùng từ xưng hô 40
2.2.3.4 Dùng từ ngữ biểu cảm 41
2.2.4.1 Tiếng Anh nguyên dạng 43
2.2.4.2 Tiếng Anh phiên âm 45
2.2.5 Dùng dấu câu 46
2.2.5.1 Dùng dấu chấm lửng 46
2.2.5.2 Dùng dấu chấm hỏi 48
2.2.5.3 Dùng dấu ngoặc kép 50
2.2.5.4 Dùng ngoặc đơn 54
2.2.5.5 Những dấu câu ngoại lệ 55
2.3 Đặc điểm các ngữ liệu được sử dụng trong tít báo Hoa học trò 57
2.3.1 Tít dùng các bài ca dao tục ngữ, thành ngữ 57
2.3.1.1 Giữ nguyên dạng 57
2.3.1.2 Cải biên thành ngữ, tục ngữ 58
Trang 82.3.2 Tít dùng tên của một bộ phim, tác phẩm văn học 60
2.3.2.1 Dùng tên một bộ phim, một ca khúc, tác phẩm văn học 60
2.3.2.2 Nương theo ý thơ 64
CHƯƠNG 3 VAI TRÒ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP 66
NGHỆ THUẬT TRÊN TÍT BÁO HOA HỌC TRÒ 66
3.1 Đánh giá của bạn đọc về các tít trên báo Hoa học trò 66
3.2 Vai trò của các biện pháp nghệ thuật trên tít báo Hoa học trò 70
3.2.1 Vai trò của phép tu từ trên báo Hoa học trò 70
3.2.2 Vai trò của yếu tố khẩu ngữ trên báo Hoa học trò 73
3.2.3 Vai trò của từ ngữ vay mượn tiếng nước ngoài trên báo Hoa học trò 74
3.2.4 Vai trò của dấu câu 76
3.2.5 Vai trò của các bài ca dao, tục ngữ 77
3.2.6 Tít dùng tên của một bộ phim, tác phẩm văn học: 78
3.3 Tác động của ngôn ngữ báo Hoa học trò với độc giả 79
3.3.1 Tác động tích cực 79
3.3.2 Tác động tiêu cực 80
C KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 9A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay, tại đất nước ta, hệ thống báo chí đã đang lớn mạnh từng ngày và ngày càng đi sâu, thâm nhập, phản ánh mọi khía cạnh của cuộc sống Theo số liệu
từ Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam, tính đến năm 2015, cả nước Việt Nam
có 858 cơ quan báo chí Trong đó có 199 cơ quan báo in chiếm 24% (86 báo trung ương và các bộ, ngành, đoàn thể, 113 báo địa phương) và 659 tạp chí chiếm 76% (522 tạp chí trung ương, các bộ, ngành, trường đại học và viện nghiên cứu; 137 tạp chí địa phương), 105 cơ quan báo điện tử (trong đó có 83 báo, tạp chí điện tử của cơ quan báo chí in và 22 báo, tạp chí điện tử độc lập), với gần 18.000 nhà báo được cấp thẻ đang hoạt động trên khắp mọi vùng miền của Tổ quốc và ở nước ngoài [3] Với
số lượng cơ quan báo chí phát triển mạnh như vậy, trong một ngày lượng ấn phẩm phát hành trên thị trường rất nhiều, chưa kể trong thời đại công nghệ ngày nay việc cạnh tranh giữa những tờ báo truyền thông - báo in với báo mạng đang diễn ra cực
kì gay gắt; người đọc đang có xu hướng tìm đọc những bài báo chất lượng, gây ấn tượng mạnh Vì vậy khi đối diện với một loạt bài báo cùng lượng thông tin khổng
lồ, người đọc không thể tiếp nhận được hết mà phải có sự chọn lọc Một trong những yếu tố có tính chất khêu gợi, gây chú ý với người đọc và giúp cho người đọc
có sự lựa chọn thích hợp chính là tít báo
Tít báo hay còn gọi là tiêu đề báo giữ một vai trò quan trọng trong một tác phẩm báo chí Tít là cái tác động đầu tiên vào thị giác của độc giả Nó vừa là nội dung vừa là hình thức của tờ báo, do đó bài báo đó có được sự quan tâm chú ý hay không phụ thuộc rất nhiều vào tít Nói cách khác, tít có tính chất quyết định số phận bài báo Để tít có thể thu hút được độc giả, những nhà báo, người biên tập phải áp dụng các nghệ thuật ngôn từ khác nhau Có nhiều phương thức sử dụng nghệ thuật đặt tít báo, nhưng việc lựa chọn, áp dụng hình thức các yếu tố nghệ thuật trong ngôn ngữ lại lệ thuộc vào ngữ cảnh, ý đồ của người viết Song dù thế nào thì mỗi tít báo đều phải có hồn chứa đựng ý nghĩa và gợi trí tò mò cho độc giả
Báo Hoa học trò là tuần san của báo Sinh viên Việt Nam, xuất bản số đầu tiên vào ngày 15/10/1991 Toà soạn báo Sinh viên Việt Nam - Hoa học trò là đơn vị trực thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, là cơ quan ngôn luận của Hội Sinh viên Việt Nam, chịu sự quản lí và lãnh đạo của Ban Bí thư Trung
Trang 10ương Đoàn và định hướng về nội dung của Ban Thư kí Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam
Tờ báo có nội dung tuyên truyền các hoạt động Đoàn - Hội, ngành Giáo dục, phản ánh đời sống giới trẻ qua các mục tư vấn tâm lí, giới tính Hệ thống chuyên trang, chuyên mục của báo Hoa học trò khá phong phú và đa dạng, được bố trí hài hòa giữa những vấn đề học tập với giải trí, giữa những tuyến bài mang tính thời sự với những bài giải trí, thư giãn Ngoài nội dung phù hợp với giới trẻ, tờ báo luôn cập nhật công nghệ mới, đổi mới hình thức, mĩ thuật trình bày gây ấn tượng với độc giả trẻ
Đối tượng của báo Hoa học trò là lứa tuổi “teen”, do đó đội ngũ cộng tác viên thường là học sinh hay nhà báo trẻ Trong việc sử dụng ngôn ngữ, người viết thường tìm đến những cách diễn đạt độc đáo hấp dẫn phù hợp với ngôn ngữ giới trẻ chứ không cứng nhắc, khuôn mẫu như một số tờ báo khác Để tăng tính biểu đạt và tạo sức hút cho bài báo, các tác giả thường sử dụng nhiều nghệ thuật đặt tít khác nhau khi đặt tít cho bài báo
Từ trước đến nay, việc nghiên cứu các yếu tố nghệ thuật đặt tít báo dưới góc
độ ngôn ngữ học chưa nhiều, và đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu việc đặt tít trên báo Hoa học trò dưới góc độ ngôn ngữ Với mục đích giới thiệu, phân tích các nghệ thuật đặt tít trên báo Hoa học trò từ đó đánh giá vai trò và tác dụng của các
biện pháp nghệ thuật này, chúng tôi chọn đề tài: “Tít trên báo Hoa học trò dưới góc
nhìn ngôn ngữ học” để nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
Trong giai đoạn hiện nay báo chí đang chứng tỏ vị thế, sức tác động to lớn của mình đối với đời sống, xã hội Với tư cách là cơ quan nắm giữ quyền lực thứ tư thì tác phẩm báo chí nói chung và tít báo nói riêng đang ngày càng thu hút được nhiều sự quan tâm nghiên cứu cả trong lĩnh vực báo chí và lĩnh vực ngôn ngữ học
Đây là một đề tài khá rộng và nhiều năm trở lại đây, những công trình nghiên cứu khoa học, luận văn thạc sĩ, cử nhân nghiên cứu về vấn đề này ngày một nhiều Cụ
thể, có thể kể đến công trình: “Đặc điểm tiêu đề văn bản trong thể loại tin tức” của Trần Thị Thanh Thảo, “Nghiên cứu khảo sát các cách giật tít trên báo mạng chỉ ra ưu
điểm, hạn chế” của La Thị Hoàn, “Đặc điểm ngôn ngữ của các tít bài trên tạp chí khoa học” của Dương Thị Sinh, “Vận dụng phép tu từ trong tít báo thể thao” của Dương Văn
Trang 11Quang, “Về những khiếm khuyết của một số tít báo tiếng Việt theo cách nhìn ngôn ngữ
học” của Nguyễn Thu Hà, “Tính hấp dẫn của tít báo Việt Ngữ” của Nguyễn Đức
Thắng,…
Cùng lấy báo Hoa học trò là mảnh đất khai thác, trong luận văn thạc sĩ “Đặc
điểm ngôn ngữ trên báo Hoa học trò”, tác giả Huỳnh Văn Dũng đã nhận diện các
đặc trưng của ngôn ngữ làm nên phong cách riêng cho báo qua việc khảo sát, phân tích và đánh giá bao quát từ cách sử dụng ngôn ngữ của tờ báo cho đến hình thức trình bày như font chữ và hình ảnh minh họa Bên cạnh đó, tác giả còn chỉ ra tác động của ngôn ngữ báo Hoa học trò đối với dư luận xã hội cũng như vai trò của nó trong việc định hướng văn hóa, thẩm mĩ và nhận thức cho lứa tuổi thanh thiếu niên
Tác giả cho rằng “Ngôn ngữ báo chí là một loại hình ngôn ngữ đặc thù, vừa mang
tính quy tắc chuẩn mực lại vừa gần gũi với ngôn ngữ đời thường Ngoài chức năng cung cấp thông tin và định hướng dư luận xã hội, báo chí còn có trách nhiệm góp phần định hình ngôn ngữ, đặc biệt là những tờ báo được viết cho giới trẻ Yêu cầu đặt ra cho các tờ báo này là phải có hình thức và nội dung phù hợp, hấp dẫn với lứa tuổi, thể chất, tinh thần cũng như nhu cầu tiếp nhận của nhóm công chúng trẻ”
[4, tr.1]
Liên quan đến vấn đề tiêu đề, tác giả Trịnh Sâm trong công trình “Tiêu đề văn
bản Tiếng Việt” đã cung cấp đầy đủ và toàn diện thông tin về lĩnh vực tiêu đề văn bản,
trong đó tác giả khảo sát khá chi tiết tiêu đề của nhiều thể loại thuộc phong cách báo chí Mặt khác, tác giả chỉ ra khá cụ thể về cấu trúc cũng như chức năng của tiêu đề văn bản, trên cơ sở đó tác giả đã đề ra một số nguyên tắc chung về mặt ngôn ngữ để tiêu đề đạt tới yêu cầu đúng và hay cũng như nêu ra một số nguyên tắc riêng đối với từng thể loại văn bản cụ thể, đối với từng phong cách ngôn ngữ cụ thể Chẳng hạn, trong phong cách thông tấn với thể loại tin tức tác giả có đề cập các khía cạnh như tính tiêu biểu,
tính hấp dẫn, tính hàm súc ngắn gọn và cô đúc trong văn bản Tác giả nhận định “Cấu
trúc tiêu đề bao gồm cả cấu trúc tuyến tính lẫn phi tuyến tính không những lệ thuộc và
bị quy định bởi phong cách ngôn ngữ mà còn ở thể loại và đề tài của văn bản” [8,
tr.116]
Trong công trình “Ngôn ngữ báo chí”, tác giả Vũ Quang Hào đã có một phần
nghiên cứu tương đối đầy đủ về tít báo, cấu trúc và chức năng của tít báo, một số thủ pháp thường gặp, một số tít mắc lỗi Đây là những gợi mở rất quan trọng cho
Trang 12việc nghiên cứu tiêu đề báo chí Trong công trình này, tác giả còn đề cập đến chức năng, các yêu cầu cần có của một tít báo cũng như các biện pháp ngôn ngữ có thể dùng khi đặt tít báo Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định rằng để có được một tít báo hấp dẫn cho tác phẩm báo chí của mình là điều không dễ dàng vì còn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác [6]
Như vậy, hai tác giả trên đều cho rằng tít báo có chức năng bao hàm nội dung thông thông tin và tạo sự chú ý với người đọc Tùy vào hình thức thể loại của bài báo mà sẽ có các quy định, biện pháp nghệ thuật liên quan đến việc đặt tít và đương nhiên, tít của thể loại nào thì sẽ thể hiện đặc trưng, mục đích của thể loại báo
đó Mà phương tiện chính để truyền tải thông tin của các thể loại báo đến với công chúng chính là ngôn ngữ
3 Mục tiêu nghiên cứu
Khóa luận chủ yếu hướng vào những mục tiêu nghiên cứu sau: tìm và phân tích những đặc điểm ngôn ngữ của tít trên báo Hoa học trò từ đó đánh giá những ưu điểm, nhược điểm của tiêu đề bài báo; đồng thời chỉ ra phong cách riêng của báo Hoa học trò trong việc áp dụng các biện pháp nghệ thuật, những yếu tố ngôn ngữ trong việc đặt tít và tầm tác động của tít báo đến với độc giả báo Hoa học trò
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là tít trên báo Hoa học trò dưới góc nhìn ngôn ngữ học
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích tít trên báo Hoa học trò trong 3 tháng (từ tháng 7/2018 đến tháng 9/2018) phát hành của báo, từ số 1270 đến số
1279
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này sẽ áp dụng một số biện pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp thống kê
+ Phương pháp khảo sát
+ Phương pháp phân loại
+ Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Trang 136 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục, phần nội dung khoá luận gồm có 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài
Chương 2 Đặc điểm ngôn ngữ của tít trên báo Hoa học trò
Chương 3 Vai trò và ảnh hưởng của các biện pháp nghệ thuật trên tít báo Hoa học trò
Trang 14B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN THỰC TIỄN LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Khái quát về phong cách ngôn ngữ báo chí
1.1.1 Khái niệm
Phong cách ngôn ngữ nói chung là những khuôn mẫu trong hoạt động lời nói, là toàn bộ các biện pháp sử dụng ngôn ngữ Trong mỗi hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, ngôn ngữ đều thể hiện khả năng nào đó, và mỗi chức năng lại gắn liền với một
hệ thống các đặc điểm riêng về sử dụng ngôn từ Đây chính là cơ sở để người ta chia ra các hệ thống như vậy thành các phong cách chức năng
Phong cách chức năng là dạng ngôn ngữ được sử dụng trong những yêu cầu chức năng điển hình nào đó và khác các dạng khác về mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Nói cách khác, đó là toàn bộ hệ thống thu nhỏ của ngôn ngữ, bao gồm các dạng chính như: phong cách hành chính – công vụ, phong cách khoa học, phong cách báo chí – công luận, phong cách chính luận và phong cách ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày
Về khái niệm phong cách báo chí – công luận, nhà ngôn ngữ học Hữu Đạt đã
khái quát như sau: “Phong cách báo chí là một phong cách chức năng được sử
dụng hằng ngày trên các báo, tạp chí ấn hành từ Trung ương xuống địa phương Phong cách báo chí, hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả loại viết tay (báo tường) và truyền đơn được sử dụng trong trường hợp chưa có điều kiện in ấn Trong giai đoạn phát triển như hiện tại, người ta thường dùng khái niệm báo chí “truyền thông”, bao gồm báo viết, báo nói với khái niệm kênh viết, kênh nói và kênh hình Trong đó, kênh viết là kênh được dùng trong in ấn Kênh nói được dùng ở đài phát thanh và đài truyền hình Kênh hình chỉ được dùng trên đài truyền hình từ Trung ương xuống địa phương.” [5, tr.178-179]
Còn tác giả Đinh Trọng Lạc lại nhận định về khái niệm phong cách báo chí –
công luận như sau: “Các tác phẩm báo chí mang phong cách báo chí – công luận
nói riêng đều là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp văn bản, trong đó thể hiện vai trò của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực báo chí – công luận Nói cụ thể hơn, đó là vai của người đưa tin, nhà báo, người quảng cáo và bạn đọc… là tất cả những ai tham gia vào hoạt động thông tin của xã hội về tất cả các vấn đề thời sự
Trang 15có liên quan Đồng thời, phong cách ngôn ngữ báo chí – công luận dựa chủ yếu trên kiểu ngôn ngữ viết – phi nghệ thuật, nhưng có thể bao gồm rộng rãi những cấu trúc của các kiểu viết và miệng – nghệ thuật của lời nói Trong đó, yếu tố cá tính đóng vai trò quan trọng hơn cả” [7, tr.98-99]
Dựa theo quan điểm của nhà ngôn ngữ học Đinh Trọng Lạc Phong cách chức năng ngôn ngữ báo chí – công luận chính là khuôn mẫu ngôn ngữ của các hoạt động thông tin đại chúng như báo chí, cổ động, quảng cáo, thông báo…
Bên cạnh đó tuy không nói rõ ra nhưng trong phần định nghĩa về phong cách báo chí – công luận, Đinh Trọng Lạc đã nói tới vai trò người cổ động và người quảng cáo như là một cách quan niệm phong cách báo chí – công luận bao hàm cả ngôn ngữ cổ động lẫn ngôn ngữ quảng cáo Vì phạm vi giao tiếp của cổ động và quảng cáo đều hướng về đám đông với mục đích giao tiếp là tuyên truyền, cổ vũ, khuyến khích thông qua tác động thông tin Do đó, chúng có cùng phạm vi giao tiếp
và mục đích giao tiếp với báo chí
1.1.2 Đặc trưng của phong cách báo chí – công luận
Xung quanh vấn đề đặc trưng của phong cách báo chí – công luận có nhiều ý kiến khác nhau Nhà nghiên cứu Hữu Đạt khái quát 8 đặc điểm ngôn ngữ phong cách báo chí, đó là: chức năng thông báo, chức năng hướng dẫn dư luận, chức năng tập hợp
tổ chức quần chúng, tính chiến đấu mạnh mẽ, tính thẩm mỹ giáo dục, tính hấp dẫn thuyết phục, tính ngắn gọn biểu cảm, đặc điểm cách dùng từ ngữ [5, tr.181-194]… GS Đinh Trọng Lạc khái quát đặc trưng của phong cách báo chí gồm tính chiến đấu, tính thời sự, tính hấp dẫn [7, tr.100-101]
Tuy nhiên, dưới góc nhìn của PGS.TS Hoàng Anh và các quan niệm của Đinh Trọng Lạc cũng như Hữu Đạt cho thấy, khi khảo sát các đặc điểm của ngôn ngữ báo chí, họ đều xuất phát từ góc độ chức năng của nó Đây là hướng đi hợp lí,
vì chính chức năng chứ không phải bất cứ một yếu tố nào khác quy định các phương thức biểu đạt có tính đặc thù của từng loại hình sáng tạo
Mà chức năng cơ bản có vai trò quan trọng hàng đầu của báo chí là thông tin Báo chí phản ánh hiện thực thông qua việc đề cập đến các sự kiện và nếu không có
sự kiện thì không có tin tức báo chí Do vậy, nét đặc trưng bao trùm của ngôn ngữ báo chí là tính sự kiện
Trang 16Tác giả Hoàng Anh đã tổng hợp những ý kiến của các nhà ngôn ngữ và chỉ ra nét đặc trưng, điểm chung của phong cách báo chí – công luận đó là tính sự kiện
“Chính tính sự kiện đã tạo nên cho ngôn ngữ báo chí một loạt các tính chất cụ thể như:
1.1.2.1 Tính chính xác
Ngôn ngữ báo chí phải đảm bảo tính chính xác Tính chất này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì báo chí có chức năng định hướng dư luận xã hội Chỉ cần một sơ suất dù nhỏ nhất về ngôn từ cũng có thể làm cho độc giả khó hiểu hoặc hiểu sai thông tin, có thể gây ra những gây hậu quả xã hội nghiêm trọng
1.1.2.2 Tính cụ thể
Tính cụ thể của ngôn ngữ báo chí trước hết thể hiện ở chỗ nhà báo tường thuật phải cụ thể, phải cặn kẽ tới từng chi tiết nhỏ Có như vậy, người đọc, người nghe mới có cảm giác mình là người trong cuộc, đang trực tiếp được chứng kiến những gì nhà báo nói tới trong tác phẩm của mình
Bên cạnh đó, tính cụ thể của ngôn ngữ báo chí còn nằm ở việc tạo ra sự xác định cho đối tượng được phản ánh Mỗi sự kiện được đề cập trong tác phẩm báo chí đều phải gắn liền với một không gian, thời gian, với những con người rõ ràng Vì nhờ những yếu tố đó người đọc có thể kiểm chứng thông tin một cách dễ dàng Do
đó, trong ngôn ngữ báo chí nên hạn chế tối đa việc dùng các từ ngữ, cấu trúc không xác định hay có ý nghĩa mơ hồ kiểu như “một người nào đó”, “ở một nơi nào đó”,
“vào khoảng”
1.1.2.3 Tính đại chúng
Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng Tất cả mọi người trong xã hội đều là đối tượng phục vụ của báo chí: đây vừa là nơi họ tiếp nhận thông tin, vừa là nơi họ có thể bày tỏ ý kiến của mình Chính vì thế, ngôn ngữ báo chí phải là thứ ngôn ngữ dành cho tất cả và của tất cả, tức là có tính phổ cập rộng rãi
1.1.2.4 Tính ngắn gọn
Ngôn ngữ báo chí cần ngắn gọn, súc tích Sự dài dòng có thể làm loãng thông tin, ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp nhận của người đọc Nó còn làm tốn thời gian vô ích cho cả hai bên: cho người viết, vì anh ta sẽ không đáp ứng được yêu cầu truyền tin nhanh chóng cho người đọc Đấy là còn chưa kể đến việc viết dài dễ mắc nhiều dạng lỗi khác nhau, nhất là các lỗi về sử dụng ngôn từ
Trang 171.1.2.7 Tính biểu cảm
Tính biểu cảm trong ngôn ngữ báo chí gắn liền với việc sử dụng các từ ngữ, lối nói mới lạ, giàu hình ảnh, in đậm dấu ấn cá nhân, và do đó tạo sự sinh động hấp dẫn hay ít nhất cũng gây được ấn tượng đối với độc giả
1.1.2.8 Tính khuôn mẫu
Khuôn mẫu là những công thức ngôn từ có sẵn, được sử dụng lặp đi lặp lại nhằm tự động hoá quy trình thông tin, làm cho nó trở nên nhanh chóng, thuận tiện hơn Giao tiếp báo chí không thể thiếu khuôn mẫu vì nó tiết kiệm thời gian và công sức cho chủ thể sáng tạo, thích ứng với việc đưa tin cập nhật, tức thời
Trên đây là một số tính chất cơ bản của ngôn ngữ báo chí Với những tính chất đặc thù như vậy, ngôn ngữ báo chí hoàn toàn có đủ tư cách để được xem là một phong cách chức năng trong ngôn ngữ” [1, tr.8-14]
1.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ của phong cách báo chí – công luận
1.1.3.1 Từ ngữ của phong cách báo chí – công luận
a) Lối nói báo chí – công luận thường sử dụng lớp từ ngữ được cấu tạo đặc biệt có màu sắc biểu cảm – cảm xúc rõ rệt và màu sắc tu từ thường có chức năng
nổi bật, ví dụ như: chiến tranh không tiếng súng, giải pháp số không, ảnh hưởng bị
xói mòn, hòa bình trong tầm tay, trừng phạt kinh tế, leo thang chiến tranh, gây lò lửa căng thẳng, cái chết trắng…
Trong phong cách ngôn ngữ báo chí – công luận, cách mở rộng ý nghĩa của
từ thường đem lại tính chất bình giá rõ rệt và mang màu sắc báo chí đậm nét Xu hướng luôn đi tìm cái mới trong ý nghĩa của từ trở thành một nguyên tắc dùng từ
Trang 18của phong cách này Ví dụ: bật đèn xanh cho bọn xâm lược, phát triển với tốc độ
chóng mặt, đứng mũi chịu sào nơi đầu sóng ngọn gió, lôi kéo vào một quỹ đạo thù địch,…
b) Đặc điểm nổi bật của từ ngữ trong phong cách báo chí – công luận là mối tương quan giữa những từ ngữ diễn cảm (có màu sắc tu từ) và những từ ngữ dùng theo khuôn mẫu (đã mất đi màu sắc tu từ) có tính năng động và linh hoạt: “Sau khi xuất hiện trong một hoàn cảnh, lời nói nhất định, những từ ngữ diễn cảm được lặp lại nhiều lần trong những hoàn cảnh khác nhau, sẽ mất dần mất đi tính sắc sảo và chuyển sang những từ ngữ khuôn mẫu” Chẳng hạn, từ “kiện tướng” được dùng
trước hết trong thể dục thể thao: kiện tướng bơi lội, kiện tướng dance sport, kiện
tướng chơi cờ, Một thời nó đã xuất hiện rất nhiều trong những sự kết hợp như: kiện tướng thủy lợi, kiện tướng đào đất rồi đến kiện tướng cải tiến kĩ thuật, kiện tướng sáng chế phát minh Rõ ràng ý nghĩa của từ “kiện tướng” ngày càng mở
rộng và càng mất dần tính sắc sảo, biểu cảm lúc đầu của nó Bây giờ báo chí ít dùng
“kiện tướng” trong thể dục thể thao (vì dùng trong một thời gian dài bị hòa mòn),
mà thay vào đó là: vận động viên ưu tú, vua bóng đá, siêu sao
Những năm gần đây, báo chí hay dùng từ “thế kỉ” trong nhiều kết hợp như:
công trình thế kỉ, căn bệnh thế kỉ, nhan sắc thế kỉ và nhiều cách dùng từ rất mới, như: phát triển với tốc độ chóng mặt, kế hoạch cả gói, biện pháp tháo gỡ, vấn đề nổi cộm, đường lối mở cửa, chính sách cởi mở, cơn sốt vàng, ám ảnh kinh hoàng
và rất nhiều những cách nói bóng bẩy, có sức hấp dẫn ví như: liệu ông ta có vượt
qua được thách thức to lớn này không, số phận đã mỉm cười với các cầu thủ bóng
đá, nhiều xí nghiệp đứng trên bờ vực của sự phá sản, đã có lối chơi huyền thoại, mốt tóc siêu ngắn, Dựng “lồng chim” trên cầu Trần Phú Nha Trang, du khách bị che hết tầm nhìn (Báo Thanh niên ngày 15/3/2019) hay Hải quân Mỹ xây dựng
“hạm đội tàu ma” (Báo Tiền phong ngày 16/3/2019),…
c) Phong cách báo chí – công luận dùng nhiều từ có màu sắc trang trọng như: thiết lập quan hệ hợp tác toàn diện, thiện chí hòa bình, xu thế đối thoại, tăng cường
đoàn kết Nhiều từ ngữ có thái độ bình giá phủ định, như: dính líu, trả đũa, át chủ bài,
ngóc đầu, ve vãn, bán rao, tiếp tay, câu kết, quảng cáo rùm beng…
Phong cách báo chí – công luận sử dụng loại từ ngữ thuộc nghề báo, như:
thông tín viên, đặc phái viên, hãng thông tấn, đưa tin, tiết lộ… Lớp từ ngữ quốc tế,
Trang 19như: Vê-nê-xu-ê-la, apácthai, ôlimpíc… nhiều kiểu từ viết tắt làm cho việc viết thông tin và tiếp thu thông tin được nhanh gọn, như: PV (Phóng viên , CLB (Câu lạc
bộ ), Ban Kinh tế T.W ( Trung ương), UBKH Nhà nước (ủy ban kế hoạch ), THPT (Trung học phổ thông),
Phong cách ngôn ngữ báo chí không hạn chế sử dụng các biện pháp tu từ, từ vựng và cú pháp Trong báo chí ta thấy không ít hình ảnh ví von, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, đảo ngữ song song kết hợp câu ngắn với câu dài Những biện pháp tu từ này nhằm vào việc diễn đạt chính xác, có hình ảnh và nhạc điệu phù hợp với từng nội dung và thể loại Các phương tiện diễn đạt nói trên thể hiện đặc điểm ngôn ngữ báo chí rõ nét và góp phần tạo nên một phong cách ngôn ngữ độc lập, phong cách ngôn ngữ báo chí
1.1.3.2 Cú pháp của phong cách báo chí – công luận
Phong cách báo chí – công luận dùng những khuôn mẫu cú pháp, như:
a) Câu khuyết chủ ngữ nêu sự kiện, thường chỉ được dùng ở những phạm vi nhất định như ở đầu các bản thông báo, bản tin Ví dụ:
- Hôm qua tại khai mạc
- Đối với các thành phố sẽ đào tạo một đội ngũ
- Qua đó không chỉ phát huy vai trò mà còn…
b) Câu có đề ngữ làm nổi bật thông tin, thường dùng trong các đầu đề tin tức, như:
- Hà Tĩnh: 15 nghìn tấn phân đạm phục vụ sản xuất vụ chiêm xuân
- Đắk Nông: 60% địa bàn dân cư miền núi được phủ sóng phát thanh, truyền hình
c) Câu có nhiều thành phần tách biệt được in thành dòng riêng, bằng những con chữ khác nhau, để nhấn mạnh các nội dung thông tin, thường dùng trong các
đầu đề tin tức Ví dụ: Bí mật chết chóc ở Sellafield: Tàn dư nhức nhối của kỷ
nguyên hạt nhân thời Chiến tranh Lạnh (Báo điện tử Vietnam.net 18/03/2019)
Phong cách báo chí – công luận cũng đồng thời sử dụng:
d) Những yếu tố diễn cảm của cú pháp, những cách diễn đạt làm nổi bật trung tâm thông tin Ví dụ:
- Điều làm cho khách hàng nhớ tới Bình Tiên là chất lượng sản phẩm và mẫu
mã đẹp (Báo Nông thôn ngày nay, 14/06/2015)
Trang 20- Biện pháp cụ thể của Mù Cang Chải là thâm canh lúa màu trên diện tích cấy lúa nước, một vụ và hai vụ (Báo Nông thôn ngày nay, 26/06/2015)
e) Những câu đơn phát triển kết hợp lời nói trực tiếp với lời nói gián tiếp để
cô đúc thông tin và tăng sức thuyết phục của thông tin Ví dụ: Dưới đầu đề “Việt
Nam có thể trở thành con hổ thứ 5 ở châu Á”, tạp chí Forbes viết với tựa đề “Việt Nam đang theo công thức tiền tệ của các “con hổ” châu Á để tăng trưởng kinh tế nhanh”; tác giả Salvatore Babones – một giáo sư xã hội học thuộc Đại học Sydney
– nhấn mạnh kể từ khi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng nhậm chức tháng 4/2016, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã tăng từ mức 40 tỉ USD lên mức gần
55 tỉ USD vào cuối tuần trước (Trang báo điện tử vov.vn 16/1/2019)
Đặc điểm nổi bật của cú pháp trong phong cách báo chí – công luận là sử dụng kết hợp những yếu tố khuôn mẫu và những yếu tố diễn cảm Đặc điểm này tất nhiên là được thể hiện không như nhau trong các thể loại báo chí – công luận khác nhau
1.1.3.3 Kết cấu của văn bản báo chí – công luận
Đặc điểm nổi bật của phong cách báo chí – công luận là những tiêu đề kép (có những tiêu đề phụ đi kèm) được diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng, hấp dẫn, đập vào mắt người đọc, có khả năng thâu tóm được toàn bộ nội dung của cả bài (chỉ khi nào
có sự quan tâm đặc biệt, người đọc mới cần đọc cả bài)
Tuy nhiên, những mẩu tin ngắn “khô khan” vẫn có thể trở nên sinh động, hấp dẫn bạn đọc bằng những đầu đề biểu cảm, gợi tò mò Ví dụ:
- Các nạn nhân vụ tai nạn trên đèo Hải Vân đang hồi phục (Báo Sinh viên Việt Nam 01/09/2019)
- Công an Hà Nội phá 7 băng nhóm trộm hơn 600 xe máy (Zing News 28/11/2017)
Các phương tiện tu từ, biện pháp tu từ được sử dụng nhiều, chẳng hạn: tin về một trại tăng gia ở Quảng Ninh do quản lí lỏng lẻo không làm ra của cải vật chất để
tự cung, tự cấp có một đầu đề kiểu chơi chữ: Tăng nhưng không gia (Báo Tuổi trẻ
online 08/09/2017)
Đặc biệt những chuyện lạ đó đây có những đầu đề lí thú, những câu hỏi vì
sao sẽ luôn thu hút độc giả, ví dụ: Thực hư “thủy quái” lạ màu óng ánh có râu dài
3m vừa bắt ở Hà Tĩnh (Thực chất là cá Hố Rồng, Báo Người đưa tin 04/06/2016);
Trang 21Bí ẩn chuyện phòng the của vua Minh Mạng (Nhờ 1 phương thuốc có tên là Minh
Mạng thang, Báo Doanh nghiệp Việt Nam 05/02/2018)
Những bài báo thuộc kiểu nêu công luận thường để trong các mục riêng để người đọc dễ tìm (Chuyện gần xa, Nói mà nghe, Mũi tên nhọn, Chuyện thời sự, Mỗi ngày một câu chuyện, Nhỏ to tâm sự ) và có những tít báo có nhiều màu sắc biểu cảm - cảm xúc, như:
- Dân khổ vì bèo lục bình (Báo Quảng Ngãi 21/01/2015)
- Khổ vì đoạn đường chằng chịt ổ voi, ổ gà (Baomoi.com 08/08/2018)
Ngoài việc sử dụng đầu đề kép, báo chí còn dùng kiểu chữ in, các cỡ chữ to nhỏ, độ dài của các hàng tít (có khi chạy ngang cả trang báo), các màu sắc của đầu đề Tất cả đều là những phương tiện kỹ thuật cần thiết làm cho tờ báo sinh động hấp dẫn Các văn bản thuộc kiểu cung cấp tin tức thường được kết cấu theo những khuôn mẫu nhất định, để việc truyền đạt và tiếp thu thông tin được dễ dàng, nhanh chóng
a) Phóng sự điều tra - Loại này cũng nhằm mục đích đưa tin, nhưng không phải là tin tổng hợp mà thường là miêu tả trần thuật chi tiết, cụ thể, sự việc xảy ra Phần lớn những bài phóng sự đều do phóng viên đến tận nơi ghi chép lấy số liệu, có nhân chứng, vật chứng, cũng có thể lấy tài liệu từ báo chí hoặc cơ quan cung cấp
Là bản tin chi tiết đầy đủ, có tính thời sự cao, loại phóng sự - điều tra cùng hướng đến một ngôn ngữ sinh động, hóm hỉnh, tế nhị để hấp dẫn người đọc, để rồi từ đó bộc lộ thái độ, lập trường của mình Cái “tôi” tác giả xuất hiện trong các đoạn văn như là một phương tiện tăng cường tính chân thực, khách quan của những điều “mắt thấy tai nghe”
b) Tiểu phẩm báo - Được viết dựa vào các tài liệu báo chí và tài liệu thực tế Tiểu phẩm báo nhằm mục đích châm biếm kẻ thù hoặc giáo dục một cách nhẹ nhàng nhưng sâu sắc những đối tượng mắc những thói hư, tật xấu trong xã hội Nó dùng hình thức viết ngắn gọn, những biện pháp châm biếm, trào phúng rất đa dạng
c) Thông tin - Nội dung thông báo chủ yếu được viết thâu tóm trong câu đơn phát triển Nội dung cần thông báo rất cụ thể, chi tiết, chính xác về ngày giờ, địa điểm Từ ngữ màu sắc trang trọng, nghiêm túc
d) Rao vặt - Ngôn ngữ của rao vặt ngắn gọn, rõ ràng, sở dĩ ngắn gọn là vì chỉ cần nêu những chi tiết quan trọng nhất cho người đọc đủ xác định được đúng cái mình đang cần
Trang 22f) Quảng cáo - Quảng cáo là thể loại nhằm truyền đạt thông tin, đề cao những phẩm chất tốt đẹp của hàng hóa (vật chất và tinh thần) làm ra, tác động vào nhu cầu thị hiếu cùa mọi người để nhiều người mua, tham gia, hương ứng Ngôn ngữ trong quảng cáo dùng những nghi thức giao tiếp lễ phép, tôn kính đối với khách hàng và dùng nhiều biện pháp tu từ để nhấn mạnh và hấp dẫn sự chú ý Vì quảng cáo cũng là một phần trong báo chí, đây là mối quan hệ cộng sinh cùng có lợi Các công ty sẽ liên hệ trực tiếp đến tòa soạn, hoặc thông qua bộ phận marketing, họ sẽ chi một khoản tiền để thông tin quảng cáo về một sản phẩm, dịch vụ nào đó… xuất hiện trên trang báo Và đồng thời quảng cáo trên báo chí không giống trên quảng cáo phát thanh hay truyền hình, bạn có thể đọc quảng cáo một cách chậm rãi và quảng cáo trên báo thường đính kèm hình ảnh hay market được trình bày đẹp mắt nên dễ thu hút người đọc, đôi khi nhiều người mua báo chỉ để đọc những thông tin quảng cáo… Vì vậy báo chí là kênh thông tin hữu hiệu cho quảng cáo phát triển
Ngôn ngữ của quáng cáo phải đạt được tính chất nổi bật, hấp dẫn, nghĩa là phải “đập vào mắt” người ta Sự nổi bật và hấp dẫn của quảng cáo còn ở chỗ nó thường sử dụng ngôn ngữ xã giao kiểu cách để biểu lộ thái độ lễ phép, cung kính
đối với khách hàng Ví dụ: xin kính báo quý khách, mời các bạn đón đọc trong số
tiếp theo, hãy cùng chờ đợi những thông tin khuyến mãi vào tuần sau
1.2 Khái quát về tít báo
1.2.1 Đặc điểm của tít báo
Trước hết, xét về mặt thuật ngữ, mặc dù tít còn được gọi là đầu đề, tiêu đề, nhan đề… Nhưng thuật ngữ tít được sử dụng và lựa chọn hơn cả (vốn mượn từ tiếng Pháp-Titre và tiếng Anh-Title) Bởi lẽ đây vừa là một thuật ngữ báo chí, lại vừa là một từ ngữ nghề nghiệp, nó được dùng phổ biến và quen thuộc trong làng báo Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX Thậm chí, trong chừng mực nào đó, nó còn có tính quốc tế Hai là, thuật ngữ này có khả năng phái sinh cao, nói cách khác nó lợi cho việc gọi tên các khái niệm phái sinh từ khái niệm gốc (ví dụ: tít chính, tít phụ, tít đầu trang…) và tiện lợi cho việc gọi tên các thao tác xử lí tít (ví dụ: rút tít, đặt tít, chạy tít…)
Nếu nhìn tít từ góc độ ma-két báo, có nhiều cách gọi như sau: tít đầu trang, tít đầu trang cố định, tít đầu trang biến động, tít chính, tít phụ, tít phụ trên, tít phụ dưới, tít lớn, tít nhỏ, tít dẫn…
Trang 23Nếu xét từ phương diện thể loại của bài báo, có: tít tin, tít phóng sự, tít tiểu phẩm, tít ký, tít bài xã luận, tít bài bình luận…
Mỗi loại tít như thế có đặc điểm, tính chất và đặc trưng riêng Chính cái riêng
ấy có tác dụng hai mặt: một mặt nó giúp độc giả nhận diện nay được nội dung, chủ
đề và thể loại mà bài báo thể hiện: mặt khác, nó chế định và đòi hỏi sự trình bày theo những con chữ, kiểu chữ và tông màu nhất định cho từng tờ báo
Trong cuốn “Ngôn ngữ báo chí”, phần ngôn ngữ tít báo của tác giả Vũ
Quang Hào, tác giả đã trích dẫn một số nhận định của các nhà ngôn ngữ học về
chức năng, đặc điểm chung của tít báo như: “Quan niệm của Malcolin F.Mallette
trong cuốn Sổ tay dành cho các nhà báo Đông và Trung Âu thì đối với báo chí tiếng Anh, tít báo có bốn chức năng: Tổng kết thông tin - Phân định mức độ quan trọng của câu chuyện - Chúng là những yếu tố rất dễ nhận thấy trong việc trình bày của một trang báo - Chúng gây cảm tình đối với người xem (giúp họ quyết định trở thành độc giả)” [ 6, tr.140-141]
Ngoài ra tác giả cũng giới thiệu các biện pháp ngôn ngữ học với tít báo Tuy nhiên tác giả cũng khẳng định: “Có lẽ hầu hết các nhà báo đều cùng cách hiểu với
Lô-íc Éc-vu-ê rằng “số phận bài báo thùy thuộc rất nhiều vào đầu đề” và “đầu đề
hấp dẫn làm cho ngay cả các độc giả lười nhất cũng cảm thấy không cưỡng lại nổi”, nhưng cũng có lẽ nhiều nhà báo đều phải thừa nhận để có được tít hấp dẫn cho tác phẩm báo chí của mình là điều không mấy dễ” Bởi lẽ, việc đặt tít tùy thuộc
vào rất nhiều yếu tố mà trong đó không thể không kể đến:
- Tôn chỉ, nhiệm vụ và mục đích của tờ báo
- Chủ đề, nội dung của bài báo
- Phong cách bút pháp và sở trường ngôn ngữ của tác giả bài báo
- Trình bày báo [6, tr.146]
Có thể nói, so với tiêu đề sách hay tiêu đề của tác phẩm âm nhạc (ca khúc, bản nhạc…) thì tiêu đề báo có mấy đặc điểm nổi bật sau đây:
Số lượng tiêu đề báo là rất lớn Mỗi trang báo có thể có đến hàng chục tiêu
đề và một số báo vài chục trang với mỗi ngày một số… thì con số đó là hoàn toàn dễ hiểu Trong khi đó chẳng hạn, ở nước ta hiện nay có hơn 55 nhà xuất bản, trong đó
có 43 Nhà xuất bản Trung ương và 12 Nhà xuất bản địa phương, mỗi năm xuất bản khoảng một vài nghìn tiêu đề sách
Trang 24Chính vì số lượng tiêu đề báo lớn như vậy nên ngoại trừ những tiêu đề rất đặc biệt, rất hấp dẫn, khó có độc giả lưu nhớ và nhắc lại bài báo đó Khi đã không nhớ tiêu đề, họ cũng rất khó có thể nhớ được nội dung bài Trong khi đó, nếu không nhớ tên sách, độc giả có thể vẫn nhớ cốt truyện, nhân vật, hoặc khi quên tên ca khúc
họ vẫn có thể nhắc được toàn bộ hoặc một phần ca từ hay giai điệu Ngoại trừ một
số công chúng mến mộ một nhà báo nào đó và theo dõi bài viết của họ thường xuyên sẽ dần hình thành trong công chúng sự lựa chọn, ghi nhớ về nội dung lẫn phong cách đặt tít của nhà báo đó (Ví dụ: Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng - Báo Lao động với những bài viết về phóng sự điều tra, hay nhà báo Đỗ Tuấn - Báo Bóng đá với những bài nhận định, bình giá thể thao sâu sắc )
Phải nói rằng, đời sống của tiêu đề báo rất ngắn ngủi, xét về mặt nào đó, nó chỉ “sống” trong khoảng thời gian giữa hai kì ra báo (một ngày, một tuần, một tháng, hoặc ba tháng) Trong khi đó, tiêu đề sách và tác phẩm âm nhạc lại tồn tại lâu dài hơn, nhất là những tên sách, tên ca khúc đã chiếm được cảm tình của đại bộ phận độc giả, thính giả theo năm tháng
Tít báo đòi hỏi một sự hấp dẫn cao hơn, có khả năng níu mắt người đọc nhất đối với tác phẩm báo chí đó Trong khi tính hấp dẫn không phải là yêu cầu đối với việc đặt tên sách hay tên tác phẩm âm nhạc
1.2.2 Chức năng của tít báo
Nói đến chức năng của tít báo, Lô-íc Éc-vu-ê khẳng định ngay rằng: “Chức
năng đầu tiên của đầu đề là bắt mắt (thu hút mắt) độc giả khi họ lướt xem tờ báo lần đầu tiên” [6, tr.140] Có những người xem lướt qua tờ báo ấy trước khi quyết
định mua Dù họ có phải mua báo hay nhận được báo miễn phí, thì việc đầu tiên bao giờ cũng là nhìn lướt qua xem có gì đáng đọc hay không Một đầu đề hấp dẫn ngay lập tức sẽ thu hút được sự chú ý của độc giả
Chức năng thứ hai của tiêu đề báo, theo tác giả là nó có khả năng “phân biệt
bài nào quan trọng hơn bài nào Nó thể hiện sự lựa chọn của ban biên tập” Do
vậy, “đọc toàn bộ các đầu đề trong một tờ báo, độc giả sẽ biết ngay hôm nay có gì
mới và thông tin nào quan trọng hơn” Tiếp theo, vai trò chính của đầu đề là “giúp
độc giả lựa chọn”, nghĩa là có khi độc giả chỉ đọc đầu đề, có thể họ sẽ xem luôn bài, nhưng cũng có khi họ đọc đầu đề rồi tự nhủ lát nữa sẽ quay lại bài này Chính vì
thế, yêu cầu mỗi tác giả “Đầu đề phải nêu bật được chủ đề, nếu có thể được thì nêu
Trang 25cả góc độ của bài báo nữa Đầu đề phải nhấn mạnh có gì mới, có gì hay đáng đọc”
để độc giả có thể lựa chọn ngay khi xem lướt qua tờ báo
Ngay cả tác giả Vũ Quang Hào cũng đánh giá rằng “tít báo là một bộ phận hữu cơ của tác phẩm báo chí, cho nên nó cũng có những chức năng chung của báo chí Nhưng do chỗ tít là phần tồn tại tương đối độc lập với bài nên có những chức năng riêng, đặc thù - chức năng định danh thông tin Do vậy, để thực hiện được chức năng này, tít phải thỏa mãn ít nhất hai yêu cầu:
Một là, tít phải khái quát được nội dung của cả bài báo trong một cấu trúc ngôn ngữ định danh xác định, chuẩn mực, ngắn gọn và có thể có sức biểu cảm (đối với một vài loại tít)
Hai là tít phải được trình bày hấp dẫn (về ma-két)
“Hai yêu cầu này cũng là điều kiện cần và đủ để một tít níu mắt người đọc” [6, tr.143]
1.2.3 Tính chất của tít báo
Theo Lô-íc Éc-vu-ê “Một đầu đề hay và hiệu quả đòi hỏi nhiều tính chất, và
không thể thỏa mãn mọi tính chất đó trong một đầu đề” Theo tác giả, đó là những
tính chất sau:
Đầu đề phải rõ ràng và dễ hiểu, nghĩa là làm thế nào để độc giả có thể hiểu ngay lập tức Tác giả cũng giải đáp ngay là tránh các từ trừu tượng, từ viết tắt, từ chuyên môn (thuật ngữ), từ gây hiểu lầm… ở trong tiêu đề
Đầu đề phải ngắn và năng động, nghĩa là phải viết trực tiếp, loại bỏ các yếu
tố thừa (như tính từ hoặc các trạng từ), các yếu tố lặp
Đầu đề phải chính xác và chứa thông tin, nghĩa là không đặt đầu đề quá mơ
hồ, chung chung theo kiểu: “Thể thao cũng là một cách giải trí”, cũng không nên đặt đầu đề nửa vời, sáo rỗng theo kiểu: “Một dân tộc không bị mắc bệnh ung thư” (ở đây là dân tộc nào?) Và đặc biệt là phải dựa vào nội dung để đặt đầu đề, tránh các kiểu đầu đề dùng cho bài báo nào cũng được
Đầu đề phải thích đáng, nghĩa là nó phải nêu được thông tin độc đáo ở chỗ nào và nhất thiết phải phù hợp với nội dung bài báo Để biết một đầu đề có thực sự thích đáng không, tự đặt cho mình câu hỏi: Dùng đầu đề này cho một bài báo khác
có được không? Trong những tháng tới dùng đầu đề này có được không? Nếu cả hai câu trả lời đều là “có” thì rõ ràng là đầu đề đó không thích đáng Đặc biệt phải chú ý
Trang 26đến tỉ lệ cân xứng của đầu đề với độ dài của bài báo Một đầu đề đẹp không nên dài quá 15 từ, đầu đề phải giàu sức gợi cảm và gói gọn nội dung bài báo [6, tr142-143]
1.2.4 Dạng tít báo
Về dạng tiêu đề, Lô-íc Éc-vu-ê cho rằng có ba dạng sau:
Đầu đề thông báo: “Tham vọng duy nhất của loại tiêu đề này là cung cấp
thông tin chính cho độc giả… Đầu đề này phải tóm tắt được toàn bộ bài báo, trả lời một cách đơn giản một trong số các câu hỏi cơ bản (Ai? Cái gì? Ở đâu? Khi nào? Như thế nào? Tại sao?) Nhiều báo phải lựa chọn cẩn thận thông tin nào sẽ đưa lên làm đầu đề bài báo ”
Đầu đề kích thích: Loại tiêu đề này “chỉ chứa một vài yếu tố liên quan đến
chủ đề của bài báo, mục đích chính là làm cho độc giả tò mò, muốn đọc ngay lập tức… Nó phản ánh cái thần của bài báo, hơn là nội dung bài báo” Tuy nhiên, tác
giả cũng cảnh báo rằng “chú ý không để cho xu hướng rẻ tiền lấn át”
Đầu đề hỗn hợp: Theo Lô-íc, đây là loại “thường được dùng nhất” Đó là sự
hòa hợp của cả hai loại trên, tức là vừa cung cấp thông tin, lại vừa gợi trí tò mò [6, tr.143]
Từ những luận điểm trên có thể nói tít (đầu đề) là tên gọi một tác phẩm, là cơ
sở để phân biệt bài báo này với bài báo khác, giúp người đọc dễ dàng xác định mức
độ quan trọng của thông tin và chọn lọc Tít là câu quan trọng nhất trong một bài viết trên báo, dù là một tít ngắn hay một phóng sự Tít cho độc giả biết chuyện gì đã xảy ra và vì sao độc giả phải quan tâm đến nó Tít là phần mà độc giả hướng tới trước tiên Nếu tít hay độc giả sẽ tiếp tục đọc báo, còn nếu tít hỏng, toàn bộ bài báo công phu rất có thể sẽ bị bỏ qua
Qua đó các loại tít phổ biến thường hiển thị trên hệ thống báo chí, có thể kể
ra như:
- Tít chính: trình bày chữ to, chứa đựng những từ khóa và được đưa lên đầu
đề có khả năng gói gọn thông tin bài báo
- Tít phụ: thường đóng vai trò định vị sự việc, chỉ rõ thời gian và địa điểm hoặc đưa ra miền thông tin Đôi khi chỉ rút lại thành một từ
- Tít nhỏ: bổ sung thông tin cho tít chính, phụ (thường trả lời các câu hỏi như thế nào?, tại sao?)
Trang 27- Tóm tắt: liệt kê những nội dung quan trọng được xử lý trong bài báo hoặc trong chùm bài
+ Về các dạng tít: Có hai dạng tít cơ bản:
a) Tít có tính thông tin:
- Trả lời phần nào cho các câu hỏi đặt ra (chủ yếu là ai, cái gì)
- Loại bỏ những câu rườm rà, những từ không cần thiết và những thông tin
bổ sung
- Dựa vào những tít khác, nhất là tít lớn
- Có hai cách: chủ ngữ - động từ - bổ ngữ hoặc câu không động từ Mỗi một cách đều có cái hay riêng Kiểu đầu chỉ rõ hành động Kiểu thứ hai cô đọng, nhấn mạnh từ khóa
b) Tít gợi:
Tít gợi không đưa ra thông tin chính của bài báo, nhưng nêu ý nghĩa chung của nó bằng cách kích thích người ta đọc bài báo Chúng ta thường thấy kiểu tít này xuất hiện nhiều trong các tạp chí Khi thông điệp chính đã được xác định, nhà báo
sẽ tìm một hình thức khơi gợi, một câu ngắn gọn Có rất nhiều cách để viết tin gợi: dùng từ gây sốc, từ đa nghĩa, câu gợi trí tò mò, một điều khó tin, một chuyện buồn cười, một mẫu nhân cách hóa, lối chơi chữ, một câu nói quen thuộc được sửa đi, một công thức, một câu ngạn ngữ
Tuy nhiên nếu dùng hỗn hợp hai loại tít sẽ càng hiệu quả vì: vừa dùng tít lớn
có tính thông tin, vừa dùng tít có tính gợi
Đi vào phần đặc điểm cấu tạo của tít trên báo Hoa học trò về đặc điểm cấu tạo chung của tít báo có thể được cấu tạo theo ba loại sau:
Tít báo được cấu tạo bởi một từ: danh từ, động từ, tính từ
Tít báo được cấu tạo bởi một cụm từ: cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ Tít báo được cấu tạo bởi một câu (phân loại theo mục đích nói): câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán
1.2.5 Một số thủ pháp đặt tít báo
Có thể kể đến một số thủ pháp sau đây:
a) Dùng biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, chơi chữ…):
+ So sánh: 7 cô gái xinh như hoa đang gây sốt ở Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam,
Chim công làng múa Linh Nga: Cuộc sống hào nhoáng, tình duyên lận đận, Bắt
Trang 28dạy, thêm học thêm như bắt trộm, Phố Đà Nẵng ngập như sông, giới trẻ bơi thuyền kayak tranh tài,…
+ Ẩn dụ: Đừng sống quỳ teen nhé, Cặp đôi đũa lệch, Những cái bướu, Nuốt
pin và nuốt thuốc sung,…
+ Chơi chữ: Nước mắm Á Hương- Mùi hương Châu Á, Chuyện người Tây ở
xứ Ta, Sầu riêng với nỗi buồn chung, Phá rừng bằng luật rừng, Nói ngược, nói xuôi đừng cố quá mà thành quá cố,…
b) Dùng từ tiếng Anh:
Ví dụ như các tít sau: “Follow” từ Facebook đến Instagram, bạn có nhận ra
thói quen chụp ảnh “so deep” này của Jun Vũ?; Đến trường cùng Hot girl, Có nên soi Rating để chọn phim?, Cẩm nang ứng phó Drama queen, Chiếc bánh sinh nhật có "1- 0-2" dành riêng cho “team niềng răng” gây sốt cộng đồng mạng,…
Đặt ra những câu hỏi nghi vấn: Danh dự, nhân phẩm chỉ đáng giá 200.000
đồng?; Công chứng: Khổ chung! Tại sao?; Chất xám chảy về đâu?; Ăn xin: Cho? Không cho?; Valentin’s day: Tặng gì? Đi đâu?; Chưa thể khẳng định trẻ mầm non Bắc Ninh nhiễm sán lợn do “thịt bẩn, gà thối”?; Công khai thu phí BOT giao thông: Đòi hỏi chính đáng, sao Bộ chần chừ?
c) Dùng dấu ngoặc kép đánh dấu những từ có cách dùng đặc biệt: Khi “Ex”
của ba tái xuất, Để trở thành “BFF” của “gà bông”, Những lo lắng của “Teen 2k” trước mùa thi, Vi vu xe điện, teen phải đội “mubahi”
d) Dùng con số để nhấn mạnh, gây ấn tượng: Thuê xe tải chở 23.000 gói thuốc lá lậu, Ba triệu dân Singapore sẽ không còn một xu, Nước có số dân mười con số 1, 9 triệu người điên, 7000 tấn thuốc độc, 7 quốc gia 1 biên giới, Nhập nhằng lô xe trên 10 tỉ chỉ bán hơn 2 tỉ đồng,…
e) Dựa theo tên các tác phẩm văn học, điện ảnh, tên ca khúc nổi tiếng… hoặc
nương theo ý thơ, danh ngôn: Kĩ nghệ lấy chồng Tàu (Kỹ nghệ lấy Tây – Vũ Trọng
Phụng), Nghìn lẻ một chuyện… sinh viên thuê trọ (Nghìn lẻ một đêm), Em ơi ! Hà Nội … váy (Em ơi ! Hà nội… phố) Nhan sắc tựa Thúy Vân – Thúy Kiều của hai chị em Á hậu Trà My – Thanh Tú (Truyện Kiều),…
f) Dùng các đơn vị ngôn ngữ dân gian như thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca… Ít nhất có ba cách dùng đơn vị ngôn ngữ dân gian để đặt tiêu đề Đó là:
Trang 29+ Sử dụng nguyên dạng như nó vốn có trong dân gian: Hậu sinh khả úy,
Buôn có bạn, bán có phường, Thả con săn sắt, bắt con cá rô, Đục nước béo cò, Thuốc đắng giã tật, Ngư ông đắc lợi…
+ Chỉ sử dụng một vế của câu tục ngữ hoặc của câu ca dao: Sai một ly…,
Cháy nhà ra…, Bầu ơi thương lấy bí cùng…, Muốn con hay chữ…, Trông người lại ngẫm đến ta…
+ Dùng đơn vị ngôn ngữ dân gian đồng thời thêm, bớt, thay đổi thành tố của nó… cho phù hợp với nội dung của bài báo Đây là thủ pháp được sử dụng khá phổ
biến: Gậy ông đập lưng… bà, Vải thưa có che được mắt thánh? Xôi hỏng bỏng mất,
Không thầy mà vẫn làm nên, Đi đêm có tránh được ma, Đồng tiền đi liền đồng ruộng, Tình ngay cái lý gian, Trăm dâu đổ đầu… doanh nghiệp,…
1.3 Khái quát về báo Hoa học trò
1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Báo Hoa học trò là tuần san (báo ra mỗi tuần một kì, một số) của báo Sinh viên Việt Nam, tờ báo mang các nội dung về giải trí, tâm lý hay những câu chuyện dành cho thiếu niên Số đầu tiên của Hoa Học Trò bắt đầu phát hành từ ngày 15
tháng 10 năm 1991 Toà soạn báo Sinh viên Việt Nam – Hoa học trò là đơn vị trực
thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, cơ quan ngôn luận của Hội Sinh viên Việt Nam, chịu sự quản lí và lãnh đạo của Ban Bí thư Trung Ương Đoàn và định hướng về nội dung của Ban Thư kí Trung Ương Hội SVVN Lúc đầu
ra mắt, phần thiết kế của báo vẫn còn khá đơn giản Có một vài mục được độc giả thiếu niên yêu thích như Thơ, Truyện cười, Anh Chánh văn Cho đến số thứ 100, Hoa Học Trò đã được cải tiến với nhiều mục báo phong phú hơn, đặc biệt là về các tin tức giải trí trong nước và nước ngoài Trở thành một trong những tờ báo được thanh niên, đặc biệt là lứa tuổi “teen” đón đọc và yêu thích nhất Từ năm 2006 đến nay, Hoa Học Trò đã chú trọng về việc thiết kế trang báo, hình ảnh, tin tức tạo sức hút cho độc giả trẻ Báo phát hành thứ 2 hàng tuần trên toàn quốc với giá thành: 10.000 đồng/cuốn
a) Trị sự và phát hành Báo Sinh Viên Việt Nam - Hoa Học Trò
- Trụ sở chính tại Ô D29 Khu đô thị mới Phạm Văn Bạch, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Trang 30- Văn phòng Đại diện khu vực miền Nam tại 502 Lê Văn Sỹ, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
- Văn phòng Đại diện khu vực miền Trung - Tây Nguyên tại 339 Lê Thanh Nghị, Hòa Cường Nam, Hải Châu, TP Đà Nẵng
- Phát hành tại: Công ty Phát hành báo chí Trung ương, 17 Đinh Lễ, Hà Nội; tòa soạn báo Sinh viên Việt Nam – Hoa học trò, số 5 Hòa Mã, Hà Nội và 502 Lê Văn Sỹ, Quận 3, TP HCM
- In tại Công ty in Tạp chí Cộng Sản, 38 Bà Triệu, Hà Nội
- Trang mạng xã hội của báo: https://www.facebook.com/hoahoctro.vn/
- Trang báo Online: http://hoahoctro.vn/
b) Cơ cấu tổ chức, bộ máy của tòa soạn
Tổng biên tập: Nhà báo Nguyễn Huy Lộc Ngày 1/12/2008, nhà báo Nguyễn Huy Lộc, Phó tổng biên tập báo Thiếu niên Tiền Phong được Ban bí thư Trung ương Đoàn bổ nhiệm giữ chức Tổng biên tập báo Sinh viên Việt Nam - Hoa học trò
Phó tổng biên tập bao gồm các nhà báo như: Lê Thanh Hà, Nguyễn Quốc Triển, Phạm Công Luận (phụ trách phía Nam)
Thư ký tòa soạn - Trưởng Ban Sinh Viên: Nguyễn Tuấn Anh
Phụ trách hình ảnh và sự kiện: Nguyễn Thị Quỳnh Hoa
Phụ trách ấn phẩm: Trần Hướng Nam
1.3.2 Nội dung và đối tượng độc giả Báo Hoa học trò hướng đến
Báo Hoa học trò có nội dung tuyên truyền các hoạt động Đoàn - Hội, ngành Giáo dục, thông tin đến người đọc các tin tức, vấn đề xã hội có liên quan đến giới trẻ đồng thời phản ánh, giải đáp đời sống giới trẻ qua các mục tư vấn tâm lý, giới tính Qua một hệ thống chuyên trang, chuyên mục rất phong phú và đa dạng, được
bố trí hài hòa giữa những vấn đề học tập với giải trí, giữa những tuyến bài mang tính thời sự với những bài giải trí, thư giãn Ngoài nội dung phù hợp với giới trẻ, tờ báo luôn cập nhật công nghệ mới, đổi mới hình thức, mỹ thuật trình bày Đặc biệt trong những năm gần đây người đọc ngoài được xem Hoa học trò còn nhận những
ấn phẩm phụ đi kèm như poster các diễn viên, ca sĩ, thần tượng nổi tiếng hay truyện ngắn, sách… Điều này đã lôi cuốn rất nhiều bạn trẻ
Ngoài nội dung thì yếu tố thẩm mỹ cũng góp phần làm nên thương hiệu báo Hoa học trò Những hình ảnh bắt mắt, lối market độc đáo đầy màu sắc cũng đủ để
Trang 31hút mắt độc giả Thêm vào đó không thể không kể đến những cây bút “gạo cội” những người góp phần làm nên tên tuổi cho báo như anh Chánh Văn, chị Trang Hạ, anh Dương Bình Nguyên và hàng trăm phóng viên, cộng tác viên năng nổ, nhiệt tình theo sát tình xã hội và nắm bắt tâm lý của độc giả trẻ để phản ánh, cung cấp những thông tin thiết thực, hấp dẫn Bên cạnh các bài viết của đội ngũ phóng viên, biên tập viên, Hoa học trò còn sử dụng bài cộng tác của các bạn học sinh, vì chính các bạn là đối tượng mà báo hướng đến, các bạn biết và hiểu được mình cần gì, muốn gì và đâu là điều mà lứa tuổi các bạn quan tâm nhất, điều này còn được các bạn nhìn nhận cuộc sống dưới nhiều góc độ, nhiều chiều trong con mắt giới trẻ, đem lại hiệu quả nhất định cho đối tượng tiếp nhận và tác động đến toàn xã hội Hơn nữa đây là cơ hội để các “nhà báo” đang ngồi trên ghế nhà trường có cơ hội mài giũa kinh nghiệm viết lách và là nguồn đề tài dồi dào để báo phát triển
Đối tượng chính mà báo hướng đến là lứa tuổi teen (trong tiếng Anh, có một
tổ hợp được sử dụng rộng rãi là teen-age dùng để chỉ các thanh thiếu niên có độ tuổi
từ 13 - 19 Đây là từ chỉ lớp tuổi mới lớn (dậy thì) và đang độ trưởng thành) Tuổi Teen được coi là thế hệ đặc biệt, có nhiều điều hay và cũng ẩn tàng nhiều sự bắt chước, phá cách Nhận thấy đây là thành tố quan trọng trong bản đồ dân số Việt Nam, chiếm số lượng cao nên báo Sinh viên Việt Nam, tiền thân của báo Hoa học trò lựa chọn đây là độ tuổi, đối tượng mà báo phục vụ và khai thác
Trải qua hơn 20 năm phát triển và hoàn thiện, không ngừng đổi mới về cả mặt nội dung và hình thức, cho đến nay, báo Hoa học trò đã trở thành “người bạn tinh thần” không thể thiếu của thế hệ những bạn trẻ năng động Trong quá trình phát triển, tuần san Hoa học trò đã trở thành ấn phẩm chủ chốt trong hệ thống ấn phẩm của Sinh viên Việt Nam, số lượng phát hành và doanh thu không ngừng tăng lên, chiếm tỉ trọng cao Thông qua những trang viết sâu sắc và nhân văn, Hoa học trò đã động viên, cổ vũ trực tiếp ở các em lòng yêu nước, hiếu thảo, ham học, kính thầy, yêu bạn, sống tích cực, chủ động hội nhập và tích cực tham gia hoạt động của đoàn thể và cộng đồng để phát triển nhân cách, kỹ năng sống của bản thân Bên cạnh việc
tổ chức nhiều hình thức tuyên truyền, giáo dục sinh động và có hiệu quả trên mặt báo, Hoa học trò còn phát huy trách nhiệm ngoài đời sống xã hội, tổ chức nhiều hoạt động có sức cổ vũ, động viên rất lớn đối với tuổi trẻ Đồng thời, chủ động đề xuất, thiết kế, tổ chức thực hiện các giải thưởng để động viên, khích lệ các em học
Trang 32sinh, sinh viên, học tập rèn luyện thể chất, hoạt động xã hội, phát triển bản thân
Từ năm 2006 đến nay, báo Hoa học trò còn chú trọng tổ chức nhiều cuộc thi mang tính giáo dục và nhân văn sâu sắc nhằm bồi dưỡng lý tưởng, giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên như các cuộc thi viết: “Tôi yêu Tổ quốc tôi, Tôi yêu đồng bào tôi”, “Tôi sành điệu, Tôi sống xanh” nhằm hưởng ứng có kết quả cuộc vận động “Học tập và làm theo Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và cuộc vận động
“Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác” do Đảng và Đoàn phát động
Trang 33CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA TÍT TRÊN BÁO HOA HỌC TRÒ
2.1 Đặc điểm cấu tạo của tít trên báo Hoa học trò
Với đặc điểm là tờ báo dành cho đối tượng đặc thù là độ tuổi mới lớn nên ngôn từ trên tít báo Hoa học trò rất đa dạng và phong phú, chứ không quá đơn điệu
và rập khuôn Để tìm hiểu về đặc điểm sử dụng các kiểu các cấu trúc câu tiếng Việt, chúng tôi tiến hành khảo sát 10 số báo từ số 1270 đến 1279, kết quả thu được như sau:
Bảng 2.1: Khảo sát cấu trúc tít trên báo Hoa học trò
Cấu trúc tít Số lượng
(tít báo)
Tỷ lệ (%)
Bảng khảo sát này dựa trên tít chính của báo Hoa học trò, trong đó cấu trúc tít là cụm từ có số lượng nhiều nhất với 84 tít báo (chiếm 51,2%) Ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến các cụm từ chính phụ, đây là loại cụm từ mang nhiều đặc trưng cú pháp của tiếng Việt và rất dễ bắt gặp trong báo Hoa học trò Cụm chính phụ được chia thành: cụm danh từ, cụm động từ, và cụm tính từ
Trong đó, cụm danh từ là loại cụm từ mà thành tố trung tâm là danh từ còn các thành tố phụ là những từ có chức năng bổ sung ý nghĩa cho danh từ trung tâm
đó Trong số ba kiểu cụm từ nói trên, kiểu cụm danh từ được sử dụng nhiều hơn cả đối với cấu trúc tít báo chiếm tỉ lệ 43,0 %
Dẫn chứng về cụm danh từ: Thời gian tươi đẹp của Đặng Luân (HHT, số
1270), Những “tâm thư” mùa tuyển sinh (HHT, số 1271), Đồ dưỡng da organic (HHT, số 1271), Ma thuật mùa hè của Red Velvet (HHT, số 1272), Những trạm dừng chân thiên đường của Fan (HHT, số 1273), Hấp lực của thế hệ nhạc sĩ (HHT,
số 1273), Hành trình dính “bùa yêu” của seventeen (HHT, số 1273) Người kế nhiệm của “đế chế Johnny” (HHT, số 1278), Bảng màu dịu dàng của Hua Hin (HHT, số 1279)…
Trang 34Với kết quả này hoàn toàn dễ hiểu, bởi lẽ mặc dù tít nhằm thông tin về nội dung bài báo nhưng nó là tên bài báo, do vậy cấu trúc của nó phải là cấu trúc định danh, một loại cấu trúc rất khác so với cấu trúc thông báo
Thứ đến, đó là cụm động từ (còn gọi là động ngữ) là loại cụm chính phụ, trong đó, thành tố trung tâm là động từ còn các thành tố phụ có chức năng bổ sung ý nghĩa về cách thức, mức độ, thời gian, địa điểm… cho động từ trung tâm đó Cấu trúc tít báo là một cụm động từ chiếm tỉ lệ 23,4%
Dẫn chứng về cụm động từ: Vẫn còn rất nhiều cơ hội cho những sĩ tử “Lỡ
chuyến đò” (HHT, số 1270), Mở mắt thấy bầu trời Canada (HHT, số 1270), Tập gym “chuẩn” (HHT, số 1270), Giải mã sự hoàn hảo của các huấn luyện viên cá nhân (HHT, số 1271), Bắt sóng Yamazaki Keto (HHT, số 1272), Nở rộ phim chuyển thể từ webtoon (HHT, số 1272), Trở về tuổi thơ trong công viên giải trí (HHT, số 1275), “Cung đấu” trong giờ kiểm tra (HHT, số 1275), Giải mã chiếc máy rửa mặt hot nhất hiện nay, Đi tìm “gót chân Achilles” của gã khổng lồ Streaming (HHT, số 1279),…
Bên cạnh tít có cấu tạo là cụm từ, chúng tôi khảo sát được các tít có cấu tạo
là một cấu trúc của câu và thường gồm đủ hai thành phần nòng cốt bao gồm chủ ngữ - vị ngữ Số lượng tít có cấu trúc một câu qua 74 tít báo chiếm tỷ lệ 46,8%
Tít có cấu tạo là câu đơn chiếm tỷ lệ 33,6%, ví dụ như: Teen 2k1 như cánh
buồm chuẩn bị ra khơi thì gặp bão (HHT, số 1270), Dương Dương trở lại để thành công (HHT, số 1271), Sài Gòn dễ thương chi lạ (HHT, số 1274) Ngụy Anh Lạc – đóa hoa hồng có gai (HHT, số 1273), Đến lượt phim thanh xuân học đường kiểu Mỹ chinh phục giới trẻ (HHT, số 1276), Ai cũng cần trở thành hoa hậu của đời mình (HHT, số 1278)…
Cấu trúc một câu không phải là cấu trúc đắc dụng cho tít, thậm chí nó có tác dụng ngược lại Dựa theo bảng thống kê trên thì một tỉ lệ như thế vẫn là cao, và mặc
dù chưa có tài liệu nào đưa ra những tiêu chí xác định một tít có cấu trúc như thế nào là lý tưởng, nhưng xét từ góc độ ngôn ngữ học thì rõ ràng tít là một câu (nghĩa
là cấu trúc thông báo) khả năng định danh của nó khá kém, nói theo cách nói nghề nghiệp thì đó là loại tít “chân phương”
Chúng tôi nhận thấy, tít thường dùng kiểu câu hoặc cụm từ có đề ngữ làm nổi
bật thông tin, thường dùng trong các đầu đề tin tức, như: MV triệu view chuyện chưa kể
Trang 35(HHT, số 1271), Vẽ minh họa công việc của người tạo dựng giấc mơ (HHT, số 1272),
360 độ Insta tốn sức làm gì khi mọi thứ về “cậu ấy” đều tập trung trên story (HHT, số 1272), “Kính lúp” Asiad 18: Nhật ký 16 ngày cùng những chàng trai Olympic Việt Nam (HHT, số 1275), Pat Mcgrath – Đối thủ “đáng gờm” của Kylie Jenner trên đường đua “Tỉ phú tự thân” (HHT, số 1270), “Rơi tự do” Đôi khi có phải là cảm giác của bạn trong chuyện tình cảm (HHT, số 1270), Phạm Hương – “Ong chúa” chọn nép mình trong tổ? (HHT, số 1271), Whanganui: “thành phố của các hoàng tử” (HHT, số 1276), SNSD vs Sunmi: khi các “chị đại” trở lại (HHT, số 1276)… Việc sử dụng cấu
trúc tít có cấu tạo đề ngữ có tác dụng nhấn mạnh, làm nổi bật thông tin và thu hút sự chú ý của người đọc vào đối tượng mà tác giả muốn nhấn mạnh
Ngoài ra, tít là câu có nhiều thành phần tách biệt được in thành dòng riêng, bằng những con chữ khác nhau, để nhấn mạnh các nội dung thông tin, thường dùng trong các đầu đề tin tức cũng được sử dụng rất nhiều Chẳng hạn như: Máy điểm
danh bằng vân tay: Tuyệt chiêu chuyên trị team cúp học? (HHT, số 1275), “Kính
lúp” Asiad 18: Nhật ký 16 ngày cùng những chàng trai Olympic Việt Nam (HHT, số 1275), Từ cuộc tranh luận “đánh vần lạ”: Thay đổi đáng giá bao nhiêu? (HHT, số 1276), Chuyên tình online: Bao nhiêu phần trăm chắc chắn? (HHT, số 1277),…
Xét dưới góc độ phân loại câu theo mục đích giao tiếp, những tít có cấu trúc
là một câu, chủ yếu là câu tường thuật (câu kể) khá đơn điệu, ví dụ: 99 center không
gian “xanh” mới toanh giữa lòng phố cũ (HHT, số 1274), BTS lan tỏa yêu thương ngày trở lại (HHT, số 1275),… có thể là câu hỏi nghi vấn ví dụ như: Bạn có muốn
mơ lớn cùng điện ảnh Việt? (HHT, số 1272), Trong sổ tay của “Lý tổng quản có gì”? (HHT, số 1273)…
Có thể thấy, các dạng cấu trúc của tít trên báo Hoa học trò khá đa dạng Mỗi loại tít có những công dụng và vai trò nhất định trong việc tạo sức hấp dẫn, thu hút cho bài viết Từ những cơ sở cấu trúc câu đó là nền tảng, chúng tôi tiến hành phân
tích và chỉ rõ đặc điểm ngôn ngữ trên báo Hoa học trò
2.2 Đặc điểm các yếu tố ngôn ngữ của tít trên báo Hoa học trò
2.2.1 Ngữ liệu và kết quả khảo sát
Trước khi đi sâu, chỉ rõ các yếu tố ngôn ngữ, ngữ liệu xuất hiện trên báo Hoa học trò, chúng tôi sẽ cung cấp các số liệu cơ sở từ đó thống kê số lượng các tít trên báo với các thủ pháp và tỉ lệ tít hiển thị Từ đó đưa ra cái nhìn đa chiều, cũng như
Trang 36chỉ rõ các phương pháp, mục đích của các biện pháp nghệ thuật đặt tít Chúng tôi tiến hành khảo sát hơn 3 tháng báo từ số 1270 đến 1279 với số liệu như sau:
Bảng 2.2: Khảo sát các yếu tố ngôn ngữ, ngữ liệu xuất hiện trên báo Hoa học trò
STT Tên thủ pháp Số lượng Chiếm tỷ lệ
Qua việc khảo sát trên 10 số báo Hoa học trò (từ số 1270 đến 1279), chúng tôi nhận thấy có 6 thủ pháp thường được sử dụng để đặt tiêu đề đó là: dùng biện pháp tu từ, dùng biện pháp khẩu ngữ, dùng từ vay mượn tiếng nước ngoài, dùng dấu câu, dùng các bài ca dao, tục ngữ, dùng tên của một bộ phim, tác phẩm văn học Trong đó, thủ pháp dùng dấu câu chiếm tỉ lệ nhiều hơn cả với 309 tiêu đề (chiếm 38,7 %)
Mỗi một thủ pháp lại có những đặc điểm và tác dụng riêng Theo chúng tôi, việc tìm hiểu các thủ pháp đặt tiêu đề trên báo Hoa học trò là việc cần thiết, bởi vì
từ đây giúp cho độc giả có cái nhìn khái quát về đặc điểm của từng thủ pháp cũng như tác dụng của chúng đối với các văn bản báo chí nói chung và báo Hoa học trò nói riêng
2.2.2 Các biện pháp tu từ
Theo số liệu thống kê thì dùng các biện pháp tu từ là thủ pháp được sử dụng tương đối nhiều trên báo Hoa học trò, với 129 tiêu đề (chiếm 16,1%)
Trang 37Có thể hiểu biện pháp tu từ là cách sử dụng ngôn ngữ theo một cách đặc biệt
ở một đơn vị ngôn ngữ (về từ, câu, văn bản) trong một ngữ cảnh nhất định nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt và tạo ấn tượng với người người đọc về một hình ảnh, một cảm xúc, một câu chuyện trong tác phẩm So với việc sử dụng ngôn ngữ thông thường, sử dụng biện pháp tu từ giúp tạo nên những giá trị đặc biệt trong biểu đạt và biểu cảm
Qua đó việc dùng các biện pháp tu từ là việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ nhằm đạt tới hiệu quả diễn đạt hay, đẹp, biểu cảm, hấp dẫn Tùy theo các phương tiện ngôn ngữ được kết hợp mà biện pháp tu từ được chia ra thành: Biện pháp tu từ ngữ âm, biện pháp tu từ từ vựng – ngữ nghĩa, biện pháp tu từ cú pháp, biện pháp tu từ văn bản Trong khóa luận này, chúng tôi chỉ đề cập đến một số biện pháp tu từ ngữ nghĩa đơn giản và tiêu biểu hay bắt gặp trong việc đặt tít như: ẩn dụ, chơi chữ, nhân hóa, so sánh
2.2.2.1 Biện pháp ẩn dụ
Trong các biện pháp tu từ: ẩn dụ, chơi chữ, nhân hóa, so sánh thì biện pháp
ẩn dụ được sử dụng nhiều hơn cả, với 102 tiêu đề Đúng như tác giả Nguyễn Thái
Hòa đã ghi nhận “Ẩn dụ không chỉ có giá trị hình tượng, phương tiện xây dựng hình
tượng mà còn hàm chứa sức mạnh biểu cảm Bởi vì ẩn dụ thể hiện những hàm ý mà người đọc phải suy ra mới hiểu được” [ 5, tr.196]
Vì vậy ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa tu từ, lấy tên gọi đối tượng này để chỉ cho đối tượng khác, trên cơ sở hai đối tượng có nét tương đồng nào đó, nhằm làm cho đối tượng hiện lên một cách biểu cảm và có hình ảnh
VD1: Sức mạnh của “những chiếc ốc vít” (Hoa học trò, số 1274)
Bài báo đề cập đến việc chính từ những thay đổi nhỏ, sẽ tạo nên sức mạnh, thành công lớn, cũng giống như những thiết bị điện tử nếu không có những chiếc ốc vít, những linh kiện nhỏ bé thì khó có thể tạo ra một sản phẩm hoàn thiện tốt Nếu nhìn những người hay để ý các chi tiết nhỏ, ta thường thấy tính cách của họ gắn liền với sự chu đáo tỉ mẩn Ngành nghề nào trong cuộc sống cũng cần tính cách như vậy Người làm đại sự càng chú ý đến tiểu tiết sẽ càng dễ thành công
Trong tiêu đề trên, tác giả dùng hình ảnh “những chiếc ốc vít” để chỉ những chi tiết, những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống của con người, trên cơ sở hai đối tượng này có sự giống nhau về phẩm chất: đều là những thứ bé nhỏ, nhưng lại là cái
Trang 38cấu thành nên những điều lớn lao Việc sử dụng biện pháp ẩn dụ này không chỉ có tác dụng thông báo chủ đề của bài báo: những điều nhỏ nhặt, những chi tiết nhỏ luôn là “gia vị” cần thiết trong cuộc sống Mà bài viết còn thể hiện thái độ sẻ chia
và những bài học rút ra từ những điều nhỏ nhặt ấy
VD2: Bay cùng rồng thép (Hoa học trò, số 1276)
Một số teen ưa thích cảm giác mạnh thường tìm đến với trò chơi lượn tàu siêu tốc trên đường ray sắt Trung bình đường ray của các “rồng thép” nằm trên độ cao khoảng từ 70 – 100m và có chiều dài từ 100 – 140m, chạy với vận tốc từ 150 – 200km/h, với mức độ ngoằn ngoèo khác nhau Cảm giác ngồi trên con “rồng thép” bay với vận tốc 193 km/h từ độ cao 130m xuống vuông góc với mặt đất thật là kinh khủng Nhưng khi dừng lại, ai nấy cũng đều rất vui vì đã trải qua một thử thách mạo hiểm
Trong tiêu đề trên, tác giả sử dụng hình ảnh “rồng thép” để chỉ chiếc tàu lượn siêu tốc trên đường ray sắt, trên cơ sở giữa hai đối tượng này có sự giống nhau về hình dáng: dài, ngoằn ngoèo, uốn lượn ở trên cao Việc sử dụng biện pháp ẩn dụ giúp cho người đọc hình dung ra sự đồ sộ của tàu siêu tốc cũng như mức độ hấp dẫn, mạo hiểm của nó vì sự liên tưởng: chiếc tàu siêu tốc giống như con rồng thép đang bay lượn trên cao
VD3: “Mách nước” về việc “thả neo” ở Canada (Hoa học trò, số 1276)
Cannada đang trở thành điểm đến định cư hàng đầu của thế giới Chính vì làn sóng ồ ạt này, các bạn du học sinh muốn “thả neo” tại Canada phải cần nắm một vài điều kiện để có thể định cư lâu dài tại đây Như để “thả neo” tại bang Québec phải
có bằng tiếng Pháp Hay bang Manitoba được xem là bang khuyến khích định cư dành cho du học sinh sau khi ra trường nhưng chưa có việc làm bên cạnh đó còn hoàn trả 60% học phí cho sinh viên sau khi tốt nghiệp và làm việc tại bang Chỉ cần bạn từ 21-55 tuổi, IELTS từ 6.0 đã có thể sống tại đây Không chỉ học, nếu bạn là người ấp ủ dự định kinh doanh hay khởi nghiệp vẫn có thể xin được một tấm vé thường trú ở Cannada
Trong tiêu đề trên, tác giả sử dụng hành động “thả neo” để chỉ cho việc định
cư, nhập cư trên cơ sở giữa hai đối tượng này có sự giống nhau về cách thức hoạt động: neo là một vật nặng dùng để cố định tàu thuyền, giúp tàu thuyền bám trụ tránh trôi dạt ra xa Hành động thả neo được ví như là việc định cư, trụ lại một vị trí, nơi nào đó Việc sử dụng biện pháp ẩn dụ này giúp cho tiêu đề vừa hấp dẫn người
Trang 39đọc giàu tính hình ảnh, vừa tránh được sự cứng nhắc nếu sử dụng ngôn từ bình thường, ví dụ như “Mách nước việc định cư ở Canada” thì tít báo sẽ trở nên kém hấp dẫn hơn
VD4: Bạn có bao nhiêu “ngôi nhà online”? (Hoa học trò, số 1273)
Trong kỉ nguyên công nghệ 4.0, để kết nối với thế giới không ít teen chọn sử dụng nhiều mạng xã hội cùng lúc Từ Facebook – một nồi “lẩu thập cẩm” với rất nhiều tính năng khác nhau thì bên cạnh đó là hàng loạt các trang mạng xã hội khác như Tumblr, Instagram, hay Quora Mỗi một quốc gia đều có một trang mạng xã hội riêng, nên các bạn teen muốn cập nhật tin tức, tình hình xã hội, giới trẻ quốc tế, hay các ngôi sao quốc tế hoặc mở rộng mạng lưới quan hệ bạn bè của mình thì phải
có ít nhất một vài ứng dụng mạng xã hội Đây chính là ngôi nhà mà các bạn trẻ thường truy cập ghé thăm thường xuyên
Trong tiêu đề trên, tác giả sử dụng hình ảnh “ngôi nhà online” để chỉ những ứng dụng mạng xã hội, trên cơ sở giữa hai đối tượng này có sự giống nhau về tính chất: đều là nơi để các bạn trẻ quay trở về sau một ngày học tập vất vả, là thế giới riêng của các bạn nơi các bạn có thể làm bất cứ điều gì mình thích mà ít bị ai đó xâm phạm, là nơi các bạn dành phần lớn thời gian để tiếp xúc với các hoạt động vui chơi, giải trí… Việc sử dụng biện pháp ẩn dụ hình thức này giúp cho người đọc hình dung ra sự thân thuộc, riêng tư của mạng xã hội cũng như mức độ hấp dẫn của
nó vì sự liên tưởng: Mạng xã hội như một ngôi nhà online, ngôi nhà ảo thân thuộc của các bạn đồng thời thể hiện sự hài hước, dí dỏm đậm chất học trò
2.2.2.2 Biện pháp so sánh
So với các biện pháp tu từ khác, biện pháp so sánh được sử dụng khá nhiều trên báo Hoa học trò, với 19 tiêu đề
So sánh là biện pháp tu từ đem đối chiếu một sự vật, hiện tượng này với một
sự vật hiện tượng khác, trên cơ sở giữa hai đối tượng có nét tương đồng nào đó, nhằm diễn tả một cách có hình ảnh, biểu cảm về đối tượng
VD1: Vào nghề y dễ như ăn kẹo, tại sao không? (Hoa học trò, số 1270)
Theo quan niệm trước nay là ngành Y thì phải học giỏi mới có “cửa” làm việc Nhưng thực ra bệnh viện còn rất nhiều vị trí khác, đơn cử như nghề Thư ký y khoa Thư ký y khoa là người tiếp nhận và tạo hồ sơ bệnh án, ghi chép toa thuốc, lên lịch khám chữa bệnh, hỗ trợ bác sĩ thăm bệnh nhân Bài báo giới thiệu những
Trang 40chuyên ngành “dễ thở” hơn dành cho các bạn trẻ đam mê nghề y với hàng loạt trường đào tạo
Trong tiêu đề trên, tác giả so sánh việc vào học chuyên ngành nào đó của y học, dễ dàng như ăn kẹo nhằm nhấn mạnh sự đơn giản, dễ thực hiện đến mức giống như bạn bóc vỏ kẹo và ăn Đây là hình thức so sánh ngang bằng, lấy sự vật này để
so sánh với sự vật khác Đồng thời bài báo còn giới thiệu thông tin đến các bạn trẻ nhằm giảm nhẹ áp lực việc phải vào ngành Y, vì còn có rất nhiều con đường để đi đến đích
VD2: Ngụy Anh Lạc – đóa hoa hồng có gai (Hoa học trò, số 1272)
Với những nét tính cách trái ngược đầy thu hút, nữ chính Ngụy Anh Lạc (Phỏng tác theo nhân vật có thật trong lịch sử là Lệnh phi, một sủng phi của vua Càn Long) do nữ diễn viên Ngô Cẩn Ngôn thể hiện trong phim Diên Hi Công Lược khiến khán giả thích thú Nhân vật Ngụy Anh Lạc không chỉ là một cô gái xinh đẹp
mà còn là người con gái hiện thân cho sức mạnh nữ quyền
Trong tiêu đề trên, tác giả so sánh nhân vật Ngụy Anh Lạc như một đóa hồng đầy gai nhằm nhấn mạnh nhân vật ấy không chỉ xinh đẹp, quyến rũ mà còn đầy mạnh mẽ, không cần người khác bảo vệ vì chính cô ấy đã bảo vệ mình, nét tính cách gai góc, mạnh mẽ dám đáp trả quyết liệt đã giúp cho Ngụy Anh Lạc thành một
nhân vật có cá tính độc đáo Trong tiêu đề trên tác giả sử dụng hình thức so sánh
ngang bằng, dùng con người để so sánh với sự vật và đặc biệt là tác giả đã không sử dụng những giới từ mặc định để nhận biết đó là biện pháp so sánh (các từ như, là, giống, chính là…) Với cách so sánh đầy độc đáo tít báo đã thu hút bạn đọc muốn tìm hiểu nội dung bài viết, và đặt ra những câu hỏi như: Tại sao Ngụy Anh Lạc lại
là đóa hoa hồng có gai?
2.2.2.3 Dùng biện pháp nhân hóa
Bên cạnh biện pháp ẩn dụ và so sánh được sử dụng nhiều thì biện pháp nhân hóa được sử dụng ít hơn trên báo Hoa học trò, với 9 tít báo Nhân hóa là biện pháp
tu từ dùng từ để chỉ hành vi, động tác, cách cảm, cách nghĩ của con người cho đối tượng không phải là người, nhằm diễn đạt một cách sinh động, có hồn, biểu cảm về đối tượng Qua khảo sát, chúng tôi thấy dùng biện pháp nhân hóa để đặt tiêu đề có thể theo một số dạng sau:
a) Dùng từ chỉ hành vi, động tác của con người cho đối tượng không phải là người