1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sản phẩm du lịch đêm ở hội an từ trường hợp công viên văn hóa ấn tượng hội an

108 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sản Phẩm Du Lịch Đêm Ở Hội An Từ Trường Hợp Công Viên Văn Hóa Ấn Tượng Hội An
Tác giả Vương Thị Ngọc Ti
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hoàng Thân
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Cử Nhân Văn Hóa Học
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2019
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 2,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong suốt thời gian 7 tháng em thực hiện đề tài nghiên cứu về sản phẩm du lịch đêm kiểu mới Công viên văn hóa Ấn tượng Hội An, em có cơ hội tiếp cận và tìm hiểu nhiều hơn về các di sản

Trang 1

Đà Nẵng - Năm 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN 4

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Một số khái niệm cơ bản 6

1.1.1 Du lịch 6

1.1.2 Sản phẩm du lịch và sản phẩm du lịch văn hóa 7

1.1.3 Công viên văn hóa 9

1.2 Tổng quan về du lịch thành phố Hội An 10

1.2.1 Tiềm năng và tốc độ phát triển du lịch 10

1.2.1.1 Các yếu tố tự nhiên và xã hội 10

1.2.1.2 Tốc độ phát triển du lịch 16

1.2.2 Thực trạng phát triển các sản phẩm du lịch từ tài nguyên du lịch 22

1.2.2.1 Sản phẩm du lịch từ tài nguyên du lịch tự nhiên 24

1.2.2.2 Sản phẩm du lịch từ tài nguyên du lịch nhân văn/ văn hóa 29

1.3 Quá trình hình thành và phát triển Công viên văn hóa Ấn tượng Hội An 37

CHƯƠNG 2: KHAI THÁC SẢN PHẨM DU LỊCH ĐÊM Ở HỘI AN TỪ TRƯỜNG HỢP CÔNG VIÊN VĂN HÓA ẤN TƯỢNG HỘI AN 40

2.1 Mô hình sản phẩm du lịch đêm Công viên văn hóa Ấn tượng Hội An 40

2.1.1 Loại hình nghệ thuật tạo cảnh 42

2.1.2 Hệ thống mô hình tái hiện các không gian văn hóa làng Nhật Bản và làng Trung Quốc 57

2.1.3 Nghệ thuật biểu diễn 61

2.1.4 Trò chơi giải trí 69

2.1.5 Dịch vụ ẩm thực 70

2.2 Tổ chức hoạt động 71

2.2.1 Quy mô khai thác 71

2.2.2 Cách thức tổ chức hoạt động 72

2.2.2.1 Tổ chức quảng bá truyền thông 72

2.2.2.2 Xây dựng chương trình hoạt động 73

CHƯƠNG 3: NÂNG CAO GIÁ TRỊ SẢN PHẨM DU LỊCH ĐÊM Ở HỘI

Trang 4

văn hóa du lịch địa phương 78

3.1.1 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội 78

3.1.2 Quảng bá văn hóa du lịch địa phương 79

3.1.3 Phản hồi của du khách và thái độ của người dân bản địa 81

3.2 Nhận xét, đánh giá tình hình phát triển và khả năng thu hút khách du lịch 85

3.3 Đề xuất giải pháp đối với các vấn đề tồn đọng 86

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC 94

Trang 5

Bảng 1.2.1.2 (1) Số lượng du khách đến Hội An (giai đoạn 1997-2012) 17

Hình 1.2.1.2 (2) GDP theo giá hiện hành của các ngành kinh tế chính ở Hội An (2014) 18

Hình 1.2.1.2 (3) Biểu đồ thể hiện doanh thu du lịch ở Hội An giai đoạn 1999-2012 19

Bảng1.2.1.2 (2) Doanh thu các loại hình dịch vụ - du lịch ở Hội An (2000-2012) 20

Bảng 1.2.1.2 (3) Loại hình khách sạn/nhà trọ và số lượng phòng (2011) 20

Bảng 1.2.2.1 (1) Số bậc và chỉ tiêu đánh giá từng bậc: 27

Bảng 1.2.2.2 (2) Thống kê các di tích chùa ở Hội An 32

Bảng 1.2.2.2.(3) Lễ hội ở Hội An (Phân loại theo loại hình di tích) 34 Hình 3.1.3 (1): Biểu đồ biểu hiện mức độ hài lòng của du khách Việt (không kể

người địa phương) về Mô hình Công viên Ấn tượng Hội An

Hình 3.1.3 (2): Biểu đồ biểu hiện mức độ hài lòng của du khách Việt (không kể người địa phương) về Chương trình biểu diễn nghệ thuật thực cảnh Kí ức Hội An

Trang 6

của văn hoá đối với sự phát triển toàn diện đất nước trong mọi mặt, đặc biệt trong

đó có du lịch, một ngành kinh tế đang trở thành mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong thế kỷ XXI Mặt khác, Đảng và Nhà nước ta đã xác định

rõ quan điểm văn hóa chính là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Quan điểm này thể hiện vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay

Là một người con sinh ra và lớn lên ở Hội An – vùng đất của di sản có bề dày lịch sử văn hóa truyền thống lâu đời, bản thân là sinh viên theo học chuyên ngành Văn hóa học, ước mơ ấp ủ được thực hiện một đề tài nghiên cứu về tài nguyên văn hóa du lịch của quê hương đã nung nấu ngay từ lúc em theo học ở trường Đại học Trong suốt thời gian 7 tháng em thực hiện đề tài nghiên cứu về sản phẩm du lịch đêm kiểu mới Công viên văn hóa Ấn tượng Hội An, em có cơ hội tiếp cận và tìm hiểu nhiều hơn về các di sản lịch sử văn hóa ở địa phương, được cọ xát với môi trường năng động của du lịch và dịch vụ Tất cả các trải nghiệm mang đến cho em rất nhiều kiến thức bổ ích và bồi đắp thêm tình yêu với ngành Văn hóa học

em đã chọn theo học Những điều quý giá em đã tiếp nhận được sẽ hành trang theo

em trong nghề nghiệp và cuộc sống sau này

Nhân dịp hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp, em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy cô của tổ bộ môn Văn hóa học, Khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng – Đại học Đà Nẵng Đặc biệt là Thầy hướng dẫn TS Nguyễn Hoàng Thân, cô giáo chủ nhiệm Th.s Phạm Thị Tú Trinh, cô chủ nhiệm nhiều bộ môn ngành Văn hóa học Th.s Hoàng Thị Mai Sa, tuy rất bận rộn với công việc giảng dạy, công tác và trong cuộc sống, nhưng các thầy cô đã dành cho em sự quan tâm sâu sắc, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian học tập, luôn động viên và giúp đỡ trong suốt quá trình em thực hiện đề tài báo cáo của mình Em xin chân thành cám ơn!

Mặc dù đã có nhiều cố gắng hoàn thiện đề tài bằng tất cả nhiệt tình và khả năng của mình, tuy nhiên, không thể tránh khỏi sai sót, em mong nhận được sự đóng góp quý báu của quý Thầy cô

Trang 7

1 Lí do chọn đề tài

Ngày nay, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa – xã hội và có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới

Trong bức tranh tổng thể của du lịch Việt Nam, Hội An nổi lên như một điểm sáng với các thế mạnh được thiên nhiên ban tặng mà ít nơi nào có được Với vị trí là vùng cửa sông - ven biển, nơi hợp lưu của các con sông lớn của xứ Quảng, hệ thống thủy văn dày đặc đã tạo cho Hội An nhiều cảnh quan thiên nhiên tươi sắc, hài hòa với nhiều thắng cảnh hấp dẫn Bên cạnh đó, Hội An có một bề dày văn hóa với những di tích lịch sử, công trình kiến trúc, làng nghề, lễ hội truyền thống, Với những tiềm năng đó, du lịch Hội An thời gian qua đã có những bước phát triển vượt bậc để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng du khách khi đặt chân đến đây

Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, vấn đề khai thác tiềm năng

du lịch ở Hội An vẫn còn những vấn đề nảy sinh trong yêu cầu của từng chặng đường phát triển, đặc biệt là thực trạng chúng ta đã khai thác gần như là tận dụng tuyệt đối các tiềm năng về cảnh quan tự nhiên, về di tích văn hóa - lịch sử, các làng nghề, lễ hội truyền thồng,… để thu hút du lịch Trước tình hình đó, bài toán đặt ra cho ngành du lịch Hội An nằm ở việc cần phải đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, tìm hướng đi mới trong phát triển du lịch bằng việc mở ra các loại hình, sản phẩm du lịch kiểu mới như một quá trình tất yếu để làm mới mình hơn nữa, thu hút nhiều đối tượng khách hơn nữa để đóng góp cho sự phát triển mạnh

mẽ hơn về kinh tế du lịch Hội An

Mặt khác, ở mảng văn hóa, với mong muốn tạo sự ấn tượng, quảng bá văn hóa địa phương đối với du khách trong nước cũng như bè bạn quốc tế bằng những phương pháp, hình thức mới mẻ hơn, nhanh chóng gây ấn tượng vẫn đang là vấn đề trăn trở của những người làm công tác văn hóa Với những yêu cầu đặt ra trong giai đoạn phát triển mới, các vấn đề trên đang là một bài toán thu hút nhiều sự quan tâm từ những người làm công tác nghiên cứu văn hóa cũng như kinh tế du lịch Với mong muốn góp phần vào việc phát triển văn hóa

du lịch ở Hội An, để địa phương có những bước phát triển hiệu quả và mạnh mẽ

hơn trong tương lai, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài: “SẢN PHẨM DU LỊCH ĐÊM Ở HỘI AN TỪ TRƯỜNG HỢP CÔNG VIÊN VĂN HÓA ẤN TƯỢNG HỘI AN”

Trang 8

Giới thiệu, phân tích, làm rõ tiềm năng cũng như hiện trạng phát triển của sản phẩm du lịch mới từ trường hợp Công viên văn hóa chủ đề Ấn tượng Hội

An Từ đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp, định hướng phát triển mô hình du lịch kiển mới này có hiệu quả, nhằm góp phần nâng cao giá trị sản phẩm du lịch

ở Hội An nói chung và sản phẩm du lịch đêm nói riêng thúc đẩy sự phát triển văn hóa, kinh tế - xã hội, đưa Hội An trở thành một trung tâm du lịch lớn của đất nước

Không những vậy, là một sinh viên chuyên ngành Văn hóa học, với mục tiêu được đào tạo để trở thành những cán bộ nghiên cứu văn hóa, đề tài này đã góp phần đánh dấu quá trình học tập, rèn luyện và nghiên cứu khoa học từ hoạt động thực tiễn của tôi Tôi được vận dụng những kiến thức được thầy cô đã trao truyền và kiến thức tự tổng hợp Bước đầu đưa ra sản phẩm khoa học riêng của bản thân, mặt khác đóng góp vào việc nghiên cứu cũng như làm nghề sau này Điều này là động lực cũng như khơi gợi trong tôi nhiều cảm hứng cũng như tâm huyết để thực hiện đề tài

3 Lịch sử vấn đề

Đây là một đề tài mới, chưa có công trình nghiên cứu mang tính khoa học chính thống nào được đưa ra Một phần do đây là một sản phẩm du lịch mới, chỉ mới vừa được đưa và khai thác hoạt động từ tháng 3 năm 2018 Khi công viên văn hóa chủ đề Ấn tượng Hội An mới đưa vào khai thác đặc biệt là hạng mục sân khấu ngoài trời đã gây xôn xao dư luận và nhận rất nhiều ý kiến cả cổ vũ cả trái chiều từ các nhà làm công tác nghiên cứu cũng như các đối tượng du khách, nhân dân địa phương Báo chí cũng có rất nhiều bài viết khai thác về vấn đề ra đời Công viên văn hóa chủ đề Ấn tượng Hội An với nhiều góc nhìn, hướng tiếp cận khác nhau Những thông tin phản ánh từ báo chí tuy chưa trực tiếp nghiên cứu chuyên sâu vấn đề, song nó giúp chúng tôi có nhiều góc nhìn trực quan, sinh động hơn về đối tượng chúng tôi muốn hướng đến nghiên cứu Mặt khác đó cũng là nguồn thông tin, tài liệu rất bổ ích để chúng tôi kế thừa, phục vụ cho việc đưa ra những vấn đề lý luận liên quan

Cụ thể Báo Người lao động đã có bài đăng “Ngắm công viên Ấn tượng

Hội An”vàongày02/08/2018 Bài viết truyền tải chi tiết các thông tin liên quan đến Công viên văn hóa Ấn tượng Hội An với nhiều chuỗi hoạt động, sự kiện sôi động diễn ra trong mô hình từ những ngày đầu ra mắt công chúng Bài viết nhận được sự quan tâm đông đảo của độc giả, bước đầu cung cấp cho người đọc thông tin cơ bản về địa điểm du lịch mới hấp dẫn này Ngoài ra các trang

Baomoi.vn, Nông nghiệp Việt Nam cũng có nhiều bài đăng đề cập đến những

Trang 9

chuyên gia về mô hình sản phẩm du lịch đêm này Bên cạnh đó, các chương

trình truyền hình như Cà phê sáng VTV3 (27/4/2018) đã cập nhật bản tin “Kí ức Hội An – Chương trình thuật chở đầy văn hóa” với những bình luận sinh động

về mô hình này Đặc biệt chương trình thời sự lúc 19h trên kênh VTV1 – Đài

truyền hình Việt Nam (24/3/2019) đã phát sóng bản tin “Hãng Reuters đưa tin:

"Ký ức Hội An" đang trở thành hiện tượng toàn cầu” thu hút rất lớn sự quan

tâm của khán giả xem chương trình

Nhận thấy đây thực sự là vấn đề mới, được sự quan tâm của các nhà làm công tác lãnh đạo, báo chí truyền thông, người làm công tác văn hóa cũng như đông đảo dư luận nhân dân địa phương Chúng tôi quyết định đi sâu khảo sát, nghiên cứu để có những hiểu biết chuyên sâu hơn về sản phẩm du lịch văn hóa giải trí mang tính mới này Từ đó đưa ra cái nhìn tổng quan, khoa học và đề xuất các giải pháp cho các giai đoạn, chặng đường phát triển xa hơn về sau của sản phẩm

Đối tượng nghiên cứu: Loại hình sản phẩm du lịch đêm Công viên văn hóa chủ đề Ấn tượng Hội An

Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Đề tài trực tiếp khảo sát, nghiên cứu hiện trạng và tiềm năng phát triển của sản phẩm du lịch văn hóa giải trí Công viên văn hóa chủ đề Ấn tượng Hội An tại địa điểm phường Cẩm Nam, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

Về thời gian: Đề tài chủ yếu dựa trên cơ sở nghiên cứu khảo sát, điền dã về các sản phẩm du lịch ở Hội An và trực tiếp nhất là sản phẩm du lịch văn hóa kiểu mới Công viên văn hóa chủ đề Ấn tượng Hội An trong khoảng thời gian từ khởi phát nghiên cứu đề tài từ tháng 9/2018 đến năm tháng 4/ 2019 Bên cạnh

đó, đề tài còn tham khảo sử dụng những tư liệu đã viết về đối tượng nghiên cứu này trong lịch sử tiếp cận từ báo chí, truyền thông ở thời gian trước khởi phát nghiên cứu

Về nội dung: Giới thiệu những nét đặc sắc, tiêu biểu, phân tích và làm rõ tiềm năng cũng như hiện trạng phát triển của sản phẩm du lịch đêm kiểu mới từ trường hợp Công viên văn hóa chủ đề Ấn tượng Hội An Từ đó khai thác những giá trị độc đáo này như là một tài nguyên du lịch văn hóa mới để làm phong phú

và đặc sắc thêm cho các sản phẩm du lịch nói riêng cũng như ngành du lịch thành phố Hội An nói chung

Trang 10

điền dã Công viên văn hóa chủ đề Ấn tượng Hội An và các vấn đề sản phẩm du lịch đêm nói chung ở Hội An Đồng thời chúng tôi thực hiện thống kê số liệu liên quan đến du lịch, điều tra và phỏng vấn du khách Từ đó có những thông số đánh giá tiềm năng thu hút và thỏa mãn nhu cầu khách du lịch khi đến với sản phẩm du lịch đêm Công viên văn hóa chủ đề Ấn tượng Hội An Qua đó làm nổi bật được tầm quan trọng của việc đầu tư, hoạch định đưa ra các sản phẩm mới

mẻ hơn trong vấn đề phát triển văn hóa du lịch địa phương trong tương lai

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Bản thân người thực hiện luận văn chúng tôi nhận thấy đây là một đề tài rất thú vị và hữu ích Đề tài có ý nghĩa sâu sắc cả về mặt lý luận cũng như khá gần gũi với thực tiễn Về mặt lý luận, luận văn góp phần nhận diện, tiếp cận nghiên cứu và làm rõ thêm tiềm năng về du lịch văn hóa giải trí ở Hội An trực tiếp từ sản phẩm du lịch đêm kiểu mới Công viên văn hóa chủ đề Ấn tượng Hội An Về mặt thực tiễn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong việc xây dựng, tìm ra các hướng

đi mới trong kinh doanh du lịch và quảng bá văn hóa dân tộc cũng như ở cấp độ địa phương Tiếp cận nghiên cứu từ thực tiễn từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao giá trị sản phẩm du lịch đêm ở Hội An góp phần đưa ngành du lịch Hội An

có nhiều bước tiến vượt bậc hơn nữa trong tương lai

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Với nội dung chủ yếu đề cập trực tiếp nghiên cứu sản phẩm du lịch đêm kiểu

mới Công viên văn hóa chủ đề Ấn tượng Hội An, đề tài “SẢN PHẨM DU LỊCH ĐÊM Ở HỘI AN TỪ TRƯỜNG HỢP CÔNG VIÊN VĂN HÓA ẤN TƯỢNG HỘI AN” được chúng tôi thực hiện trên cơ sở hệ thống các lý luận về

du lịch văn hóa và đánh giá nhu cầu du lịch văn hóa, du lịch giải trí trên địa bàn thành phố Hội An Bên cạnh đó khảo sát tài nguyên và các hoạt động du lịch văn hóa tiêu biểu trên địa bàn thành phố Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã vận dụng bốn phương pháp nghiên cứu chính:

Thứ nhất là phương pháp khảo sát thực địa Đề tài nghiên cứu nào cũng vậy,

muốn có tính ứng dụng vào thực tiễn cao thì việc đi điền dã khảo sát là một trong những công việc không thể thiếu của người nghiên cứu Vì vậy, chúng tôi

đã đến tận nơi khảo sát, nghiên cứu về Công viên văn hóa Ấn tượng Hội An Thông qua đó, chúng tôi tiếp cận gần gũi hơn nhằm nắm bắt được hiện trạng hoạt động tại các điểm du lịch địa phương, giúp công việc đánh giá tiềm năng, hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tại địa điểm khảo sát cũng như trên địa bàn thành phố Hội An được chính xác và khách quan hơn

Trang 11

tin tư liệu từ nhiều lĩnh vực, nhiều nguồn khác nhau có liên quan tới du lịch văn hóa ở Hội An, chúng tôi đã xử lý, chọn lọc để có những kết luận cần thiết, nhằm đưa ra một cái nhìn tổng quan nhất về sản phẩm du lịch mới này

Thứ ba là phương pháp thống kê, phân loại, so sánh Trong khuôn khổ đề tài

này, những thống kê về số liệu có liên quan đến các hoạt động du lịch văn hóa ở thành phố Hội An, đặc biệt trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2018 sẽ được thu thập, thống kê trong theo quy chuẩn chung của ngành Du lịch làm cơ sở cho việc xử lý, phân tích, đánh giá nhằm thực hiện những mục tiêu đã đề ra

Cuối cùng là phương pháp điều tra xã hội học Muốn có tính ứng dụng vào

thực tiễn cao thì việc đi điều tra xã hội học, khảo sát nhu cầu thực tế của đối tượng du khách là vô cùng cần thiết Mặt khác, các số liệu còn đóng vai trò như những con số biết nói góp phần đánh giá tính khoa học thực tiễn của đề tài Thông qua đó, chúng tôi tiếp cận gần gũi hơn nhằm nắm bắt được hiện trạng hoạt động tại điểm du lịch, giúp công việc đánh giá tiềm năng phát triển của sản phẩm du lịch văn hóa giải trí trên địa bàn thành phố Hội An được khách quan, khoa học hơn

7 Cấu trúc đề tài

Đề tài gồm 90 trang, ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Tài liệu tham khảo và

Phụ lục; Nội dung chính của đề tài được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lí luận của đề tài

Chương 2: Khai thác sản phẩm du lịch đêm ở Hội An từ trường hợp Công

viên văn hóa Ấn tượng Hội An

Chương 3: Nâng cao giá trị sản phẩm du lịch đêm ở Hội An từ trường hợp

Công viên văn hóa Ấn tượng Hội An

Trang 12

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Du lịch

Hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của loài người Từ lúc xa xưa, con người đã luôn có tính tò mò, muốn tìm hiểu thế giới xung quanh, bên ngoài nơi sinh sống của họ Con người luôn muốn khám phá, tìm hiểu những nơi khác trên thế giới sẽ có cảnh quan ra sao, muốn biết về các tộc người, các nền văn hóa, hệ động - thực vật ở những vùng miền hay quốc gia khác

Mặc dù hoạt động du lịch đã có nguồn gốc hình thành từ rất lâu và phát triển với tốc độ rất nhanh, đã trở thành một trong những hình thức sinh hoạt khá phổ biến của con người trong thời đại ngày nay Song cho đến nay khái niệm

“Du lịch” được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia từ nhiều góc độ tiếp cận, cả giữa những người nghiên cứu và những người hoạt động trong lĩnh vực này Nhà

nghiên cứu Berneker cho rằng: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”

Theo tổ chức WTO (World Trade Organization) - tổ chức thương mại thế

giới (hoặc tổ chức mậu dịch thế giới) định nghĩa: “Du lịch là tất cả những hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ không quá 12 tháng với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, công vụ và nhiều mục đích khác”

Tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp tại Rome – Italia (21/8 –

5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ

Theo Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization): Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền

Theo Tổng cục du lịch (Pháp lệnh du lịch): “Du lịch là hoạt động của con người đi đến ngoài nơi ở thường xuyên của mình nhằm thoả mãn các nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định Du lịch có

Trang 13

kinh tế bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của một du khách nhằm thoả mãn các nhu cầu khác nhau với mục đích hoà bình hữu nghị”

Trong nghiên cứu, thực sự có những khó khăn nhất định trong việc đưa ra định nghĩa về du lịch vì những lí do cơ bản:

Thứ nhất do tồn tại các cách tiếp cận và dưới các góc độ khác nhau mà các

tác giả có các định nghĩa khác nhau

Thứ hai do sự khác nhau về ngôn ngữ và cách hiểu về du lịch ở các nước

Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng nhằm phục

vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời, và các nhu cầu khác của cá nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ; Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đó đều đồng thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hoà bình.[1]

1.1.2 Sản phẩm du lịch và sản phẩm du lịch văn hóa

Có nhiều khái niệm về sản phẩm du lịch, một trong những khái niệm đó

là: “Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên

cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng” (Từ điển du

lịch – Tiếng Đức NXB Berlin 1984)

Sản phẩm du lịch gồm các dịch vụ du lịch, hàng hóa và tiện nghi cung cấp cho người du lịch, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên xã hội với việc sử dụng các nguồn lực từ cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó

Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hóa) và

vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho khách hay nó bao gồm hàng hóa, các dịch vụ

và tiện nghi phục vụ khách du lịch

Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + Các dịch vụ và hàng hóa du lịch

Trang 14

Dịch vụ vận chuyển: là một phần cơ bản của sản phẩm du lịch Bao gồm các phương tiện đưa đón khách đến và thăm quan các địa điểm du lịch bằng các phương tiện giao thông hiện nay như: ô tô, xe máy, xe đạp, máy bay, tàu hỏa, thuyền…

Dịch vụ lưu trú và ăn uống: Đây là thành phần chính cấu thành sản phẩm

du lịch Nó bao gồm các dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu của người du lịch như: khách sạn, lều trại, nhà hàng …; Dịch vụ tham quan giải trí: điểm tham quan, công viên, di tích hội chợ, cảnh quan…; Hàng hóa tiêu dùng và các đồ lưu niệm; Các dịch vụ khác hỗ trợ khách du lịch: thủ tục hộ chiếu, visa…

Sự phát triển các sản phẩm du lịch có thể nhận biết thông qua các tiêu chí như: tính đa dạng của sản phẩm, giá cả sản phẩm

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao với sự tham gia của nhiều thành phần xã hội Sự phát triển của du lịch và sản phẩm du lịch phụ thuộc nhiều và các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội… của đất nước cũng như của khu vực và thế giới Chính vì vậy, để có thể đánh giá kết quả phát triển sản phẩm du lịch một cách chính xác phải dựa vào các tiêu chí cơ bản sau:

* Tiêu chí về kinh tế

Tăng trưởng kinh tế cho địa phương: Doanh thu trực tiếp và gián tiếp từ

du lịch; Tỉ lệ giữa doanh thu khách nội địa và doanh thu khách quốc tế

Kinh doanh du lịch:

+ Lượng du khách đến với địa phương hàng năm

+ Quốc tịch của du khách và thời gian lưu trú tại địa phương

+ Đánh giá của du khách về chất lượng, dịch vụ sản phẩm du lịch và giá cả/giá trị: bao gồm giá cả và mức độ hấp dẫn của sản phẩm du lịch

Giải quyết việc làm: Số lượng việc làm trực tiếp và gián tiếp do du lịch tạo ra; Tỷ lệ người địa phương so với người ngoài địa phương tham gia vào sản phẩm du lịch

* Tiêu chí về văn hóa – xã hội:

Bảo tồn các nét văn hóa vật thể và phi vật thể:

+ Các nét văn hóa mới tốt và xấu du nhập vào cộng đồng theo thời gian + Số lượng tổ chức các hoạt động sản phẩm văn hóa địa phương trong năm

+ Công tác bảo tồn di tích, nét văn hóa truyền thống

Trang 15

Thay đổi về tỷ lệ che phủ rừng của địa phương trước và sau khi áp dụng sản phẩm du lịch; Ngân sách đầu tư vào bảo tồn và tôn tạo các dự án về cải thiện môi trường; Thay đổi về lượng rác thải sinh ra; Nhận thức của du khách về vấn

đề rác thải; Chi phí xử lý rác thải của địa phương và các doanh nghiệp

Sản phẩm du lịch là tất cả hàng hóa dịch vụ mà khách du lịch tiêu dùng trong chuyến đi của họ Sản phẩm du lịch văn hóa thực chất là các sản phẩm du

lịch nhưng được nhấn mạnh hơn bởi đặc tính văn hóa của nó “Sản phẩm văn hóa

là những sản phẩm trong lĩnh vực tinh thần do con người sáng tạo ra trong tiến trình phát triển của lịch sử để phục vụ cuộc sống, thỏa mãn những mục đích và nhu cầu khác nhau của các cá nhân, cộng đồng người”.[1;tr14]

1.1.3 Công viên văn hóa

Công viên là khu vực được bảo vệ các nguồn thiên nhiên tự có hay trồng, một nơi vui chơi, giải trí đại chúng, các hoạt động văn hóa, hưởng thụ

Có thể phân ra thành các loại hình công viên như công viên giải trí hoặc công viên vui chơi, công viên chủ đề (tiếng Anh: Amusement park hoặc theme park) là một địa điểm công cộng - nơi quy tụ nhiều hình thức vui chơi giải trí và các sự kiện nhằm thu hút số lượng lớn du khách và người chơi cho cả mục đích kinh doanh thương mại và văn hóa cộng đồng.[39] Cũng có thể nói công viên giải trí là một trong các loại hình công trình được tạo ra nhằm mục đích giải trí

và tiêu khiển Công viên giải trí thường có quy mô và cấu trúc phức tạp hơn công viên thông thường, phục vụ cho nhiều lớp người với độ tuổi khác nhau

Khái niệm công viên theo chủ đề (theme park) được biết đến như các công viên giải trí thường gặp Điểm khác biệt ở đây là các trò vui chơi giải trí được xây dựng và thiết kế dựa trên một chủ đề chính, ví dụ như tôn giáo, văn hóa hay khoa học, nghệ thuật…

Chúng tôi tiếp cận thuật ngữ “Theme park” tức công viên chủ đề, cũng

được định nghĩa là công viên giải trí nhưng với các trò chơi, loại hình giải trí có nội dung, khái niệm được chọn lọc hơn để có thể dựa trên hoặc tuân theo một ý tưởng hoặc phong cách nhất định

“Ở Nhật, Theme park (công viên chủ đề), ngoài các trò chơi, còn cho xây dựng thế giới quan độc đáo với bối cảnh là phim ảnh, lịch sử, văn hóa của khu vực hoặc các nước khác”.[40] Du khách khi đặt chân vào Theme Park, sẽ bỏ lại

thế giới thực tại ở sau lưng và hòa mình vào các bối cảnh sinh động nơi đây (“Theme park a large permanent area for public entertainment, with entertaining activities and big machines to ride on or play games on, restaurants, etc., sometimes all connected with a single subject”)

Trang 16

hóa” là một khu vực cố định rộng lớn để giải trí công cộng, với các hoạt động

giải trí, tổ chức các trò chơi có cả nhà hàng, khu nghỉ dưỡng,… Tất cả các yếu tố

đó được kết nối với một chủ đề duy nhất liên quan đến lĩnh vực văn hóa đã được nhà đầu tư thiết kế, lên ý tưởng xây dựng dự án

1.2 Tổng quan về du lịch thành phố Hội An

1.2.1 Tiềm năng và tốc độ phát triển du lịch

1.2.1.1 Các yếu tố tự nhiên và xã hội

 Vị trí địa lý và lãnh thổ

Thành phố Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam, có tổng diện tích tự nhiên là 61,71 km², nằm bên bờ Bắc hạ lưu sông Thu Bồn, cách quốc lộ 1A khoảng 9 km về phía Đông, cách thành phố Đà Nẵng 25 km về phía Đông Nam, cách thành phố Tam Kỳ khoảng 50 km về phía Đông Bắc

Phần đất liền của thành phố có diện tích 46,22 km² (chiếm 74,9% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố), có hình thể gần giống như một hình thang cân, đáy

là phía Nam giáp huyện Duy Xuyên với ranh giới chung là sông Thu Bồn, phía Tây và phía Bắc giáp huyện Điện Bàn, phía Đông giáp biển với biển Đông với

bờ biển dài 7 km Hạt nhân trung tâm đô thị Hội An là khu phố cổ rộng chừng 5 km² đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới (ngày 04/12/1999)

Cách đất liền 18 km là cụm đảo Cù Lao Chàm với diện tích 15,49 km² (chiếm 25,1% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố) Cù Lao Chàm bao gồm nhiều hòn đảo lớn nhỏ: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Ông, Hòn Tai, Hòn Lá, Hòn Khô (Khô Mẹ, Khô Con), Hòn Nồm Các hòn đảo này quần tụ thành hình cánh cung hướng mặt ra Biển Đông, như bức bình phong che chắn cho đất liền Cù Lao Chàm đã được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới (ngày 26/5/2009)

Hành chính: Hội An hiện tại phân chia thành 9 phường: Cẩm An, Cẩm Châu, Cẩm Nam, Cẩm Phô, Cửa Đại, Minh An, Sơn Phong, Tân An, Thanh

Hà và 4 xã: Cẩm Hà, Cẩm Kim, Cẩm Thanh, Tân Hiệp (xã đảo nằm trên Cù lao Chàm)

Điều kiện tự nhiên

Về địa hình, Hội An nhìn chung thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam,

độ dốc thoải trung bình 0,015°, phân thành 2 dạng địa hình sau: địa hình vùng đồng bằng và địa hình hải đảo

Địa hình các vùng đồng bằng của Hội An chia thành ba vùng:

Thứ nhất, vùng cồn cát tập trung ở phía Tây Bắc, trải dài từ dốc Lai Nghi

phường Thanh Hà, sang xã Cẩm Hà, qua phường Cẩm An, chạy dọc biển xuống

Trang 17

Điện Nam, Điện Dương)

Thứ hai, vùng thấp trũng gồm các phường Cẩm Phô, Minh An, Sơn

Phong, Cẩm Nam, Cẩm Châu và xã Cẩm Kim ở bờ Nam sông Thu Bồn

Thứ ba, vùng mặt nước/sông ngòi gồm phần lớn diện tích xã Cẩm Thanh

và các cồn nổi dọc hạ lưu sông Thu Bồn

Địa hình hải đảo Cù Lao Chàm chủ yếu là đồi núi thấp, hầu hết các đảo nhỏ có hình chóp cụt, độ cao lớn nhất so với mặt biển dao động từ 70 – 517m Đảo lớn nhất là Hòn Lao có một dãy núi xếp theo hình cánh cung từ Tây Bắc xuống Đông Nam, chia Hòn Lao thành hai sườn có địa thế khác nhau: sườn Đông

có độ dốc lớn, đá tảng bao quanh chân núi rất hiểm trở; sườn Tây dốc thoải, ít đá tảng, nhiều bãi bồi ven biển

Về khí hậu, do phía Bắc được ngăn bởi dải Bạch Mã, phía Tây được che bởi

khối núi Bắc tỉnh Kon Tum nên cũng như các địa phương khác của Quảng Nam

và các tỉnh, thành phố lân cận, Hội An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa vùng Nam Hải Vân, mang tính chất khí hậu ven biển Miền Trung, nóng ẩm, mưa nhiều và mưa theo mùa, có nền nhiệt độ cao, nắng nhiều, ít chịu ảnh hưởng của gió mùa đông

Theo số liệu của Đài khí tượng thuỷ văn Quảng Nam, đặc điểm các yếu tố thời tiết thành phố Hội An như sau:

Nhiệt độ: Hội An không có mùa đông lạnh Mùa khô từ khoảng tháng 2 đến tháng 8, mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng Giêng năm sau Nhiệt độ không khí ở Hội An lệ thuộc nhiều vào khí hậu nhiệt đới gió mùa (gió mùa Đông Bắc, gió mùa Tây Nam, gió mùa Đông – Đông Nam) và chế độ mưa Nhiệt độ trung bình năm là 25,6℃; nhiệt độ cao nhất: 39,8℃; nhiệt độ thấp nhất: 22,8℃

Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình năm: 83%, mùa khô 75%, mùa mưa 85% Khí hậu Hội An có đặc điểm nóng ẩm, có hai mùa rõ rệt: mùa mưa bão và mùa nắng nóng kết hợp thêm tính chất khí hậu duyên hải Miền Trung

Lượng mưa, bão: Tổng lượng mưa bình quân 2.504,57 mm/năm, lượng mưa cao nhất vào tháng 10, 11 (550 - 1000 mm/tháng), thấp nhất vào các tháng 1, 2,

3, 4 (23 - 40 mm/tháng) Bão ở Hội An thường xuất hiện vào các tháng 9, 10, 11 hằng năm; các cơn bão thường kéo theo những trận mưa lớn gây lũ lụt toàn khu vực

Về thủy văn, Hội An là vùng cửa sông - ven biển, nơi hội tụ của các con sông

lớn của xứ Quảng:

Nguồn Thu Bồn - Vu Gia được hình thành bởi hai dòng sông Thu Bồn và

Vu Gia hợp lại Hệ thống này gồm 78 con sông có chiều dài từ 10 km trở lên

Trang 18

hùng vĩ), sông Khang (cũng gọi là Chang, gồm hai nhánh chính là sông Tiên và sông Trạm), sông Trường (bắt nguồn từ dãy núi Glê Lang) Phía ngọn Vu Gia có các nhánh sông Bung, sông Cái, sông Con (hoặc sông Côn),… Toàn bộ hệ thống Thu Bồn – Vu Gia có chiều dài từ nguồn ra đến biển khoảng 200 km với lưu vực khoảng 8.850 km2 Theo trục chủ đạo là sông Thu Bồn, từ ngã ba Giao Thủy – nơi hợp lưu của hai dòng sông chính là Thu Bồn và Vu Gia – sông tiếp tục chảy

về hướng Đông 3 km đến làng Vân Ly (thuộc xã Điện Quang – huyện Điện Bàn) thì tách làm đôi; một nhánh chảy về phía Nam, đổ xuống ngã Chiêm Sơn, Trà Kiệu (huyện Duy Xuyên), một nhánh chảy về phía Đông qua Bắc Kỳ Lam Hai dòng chảy chính của sông Thu Bồn lại hợp lưu tại Bến Giá, tạo thành khu Gò Nổi trù phú Dòng chính của sông Thu Bồn đi về xuôi khoảng 14 km thì một chi lưu chảy ra phía Bắc, làm thành đường thủy quan trọng nối sông Thu Bồn với sông Hàn (Đà Nẵng) Phần hạ lưu của sông Thu Bồn bắt đầu từ Bến Giá chảy qua cầu Câu Lâu tới Cửa Đại dài 16 km Ngày xưa, đoạn sông này có tên là sông Chợ Củi, tên chữ là “Sài Thị Giang” Trước khi đổ ra biển qua Cửa Đại, đoạn cuối của sông Thu Bồn do sự tác động của thủy triều và phù sa bồi lấp, đã phân thành nhiều nhánh phụ, tách ra rồi nhập lại Đoạn sông Thu Bồn chảy qua Hội

An được gọi là sông Cái hoặc sông Hội An, với chiều dài qua địa phận thành phố

là 8,5 km, chiều rộng từ 120m – 240m, diện tích lưu vực 3.510km2 Một nhánh nhỏ của sông Hội An tách dòng lượn sát vào Phố Hội thường gọi là sông Hoài

Về sinh vật, tổng diện tích đất lâm nghiệp của Hội An là 739,53 ha gồm rừng

đặc dụng và rừng phòng hộ Rừng ở Hội An rất đặc thù, với hệ động vật - thực vật phong phú, được xếp vào chủng loại có giá trị đa dạng sinh học và giá trị dự trữ sinh quyển cao:

Rừng đặc dụng có 453,9 ha, tập trung ở cụm đảo Cù Lao Chàm, là rừng hỗn giao, mang đặc điểm của rừng nhiệt đới với các loại cây ưu trế là mật, gụ, lim, chò đen, xoan, huỷnh và hàng trăm loài cây thuộc các họ thực vật bậc cao được xác định trong danh mục cây dược liệu

Rừng phòng hộ tập trung ở các khu vực: Cẩm Thanh (84,69 ha), Cửa Đại (38,02 ha), Cẩm Kim (37,29 ha), Thanh Hà (17.57 ha), Cẩm An (17, 43 ha), Cẩm Nam (9,62 ha); phân bố chủ yếu ở các vùng dọc sông, ven biển, vừa có giá trị cảnh quan, vừa có tác dụng chắn sóng, chắn cát và chống sạt lở

Lịch sử hình thành và phát triển

Do có đặc điểm địa lý thuận lợi nên từ 3.000 năm trước, trên vùng đất Hội

An ngày nay đã xuất hiện những lớp cư dân đầu tiên Các di chỉ ở Hội An đã phát hiện được hai loại tiền đồng Ngũ Thù, Vương Mãng thời Hán, gốm và những

Trang 19

Bắc), những hiện vật mang dấu ấn đặc trưng của văn hóa Óc Eo (phía Nam), hoặc đồ trang sức với công nghệ chế tác tinh luyện có nguồn gốc Ấn Độ, Trung Quốc… cho phép khẳng định chiều dài tồn tại và phát triển nền văn hóa Sa Huỳnh muộn, đỉnh cao của thời kỳ tiền - sơ sử (từ thế kỷ thứ II trở về trước) Điều này cũng cho phép khẳng định đầu công nguyên đã có nền ngoại thương manh nha hình thành ở Hội An

Dưới thời vương quốc Champa (thế kỷ thứ II đến thế kỷ XIV) vùng đất Hội An lúc bấy giờ có tên gọi là Lâm Ấp phố Đại Chiêm Hải Khẩu (Cửa Đại) và Chiêm Bất Lao (Cù Lao Chàm) trở thành điểm dừng chân quan trọng trên con đường hàng hải quốc tế Lâm Ấp phố là một thương cảng phát triển, thu hút nhiều thuyền buôn Ả rập, Ba Tư, Trung Quốc đến buôn bán, trao đổi Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu lúc bấy giờ là tơ tằm, ngọc trai, đồi mồi, vàng, trầm hương, nước ngọt Một thời kỳ khá dài, Chiêm cảng Lâm Ấp phố đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong việc tạo nên sự hưng thịnh của kinh thành Trà Kiệu và trung tâm tôn giáo - tín ngưỡng Mỹ Sơn

Khởi phát từ năm 1558, khi Nguyễn Hoàng quyết tâm rời bỏ vùng đất bản

hộ của họ Nguyễn ở Thanh Hóa để tiến về phương Nam, một bộ phận cư dân Việt phát tích từ các vùng Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh đã dừng bước lưu dân, an cư lạc nghiệp, dựng làng lập phố bên dòng sông Thu Bồn thơ mộng

Từ giữa thế kỷ XVI, sau một thời kỳ suy thoái, các “Chiêm cảng” ở miền Trung vốn có truyền thống từ thời đại Champa được tái sinh Do có vị trí địa lý thuận lợi, tiềm năng của một xứ Quảng giàu tài nguyên, dồi dào đặc sản, nguồn nhân lực tràn đầy sinh khí, chính sách ngoại kiều và ngoại thương khôn khéo, thoáng mở… nên cảng thị Hội An đã tạo nên một hấp lực lớn, thu hút nhiều thuyền buôn của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, Pháp, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Xiêm… tấp nập đến giao thương Từ một “Chiêm cảng” bị suy tàn, Hội An mau chóng phục hưng và trở thành trung tâm thương mại quốc tế phát triển thịnh đạt bậc nhất của cả nước và khu vực Đông Nam Á Hội An giữ vai trò trung tâm điều phối cho các thương cảng miền Trung như Thanh Hà (Huế), Thị Nại (Bình Định) và cùng với các cảng Đồng Nai, Sài Gòn, Hà Tiên…trở thành những thương cảng trọng yếu ở Đàng Trong

Từ cuối thế kỷ XIX, những thay đổi về mặt chính trị đã diễn ra một cách mạnh mẽ, đặc biệt là khi các chúa Nguyễn áp dụng chính sách “bế quan toả cảng” đã ảnh hưởng đến vai trò của Hội An như là một cảng chính của triều Nguyễn “Cảng thị thuyền buồm” Hội An dần dần mất vai trò và nhường chỗ cho

sự nổi lên của những cảng khác dọc bờ biển Việt Nam Tuy nhiên, cũng nhờ có

Trang 20

hoá có thể gây hại đến diện mạo và những giá trị văn hoá quý báu của nó, đồng thời, có khả năng được bảo tồn nguyên vẹn như chúng ta thấy ngày nay

Sau ngày đất nước thống nhất, Hội An là thị xã thuộc tỉnh Quảng Nam -

Đà Nẵng Ngày 6/11/1996, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa IX, kỳ họp thứ 10, phê chuẩn việc tách Quảng Nam – Đà Nẵng thành 2 đơn

vị hành chính trực thuộc Trung ương là tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1997 Hội An là thị xã trực thuộc tỉnh Quảng Nam

Ngày 03/4/2006, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã ký quyết định số BXD công nhận Hội An là Đô thị loại III Ngày 29/01/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 10/NĐ-CP thành lập Thành phố Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam trên

602/QĐ-cơ sở toàn bộ diện tích, dân số và các đơn vị hành chính thuộc thị xã Hội An

Ngày 28/3/2008, Hội An chính thức được công nhận là thành phố cấp ba trực thuộc tỉnh Quảng Nam, bao gồm 9 phường: Minh An, Sơn Phong, Cẩm Phô, Tân An, Cửa Đại, Cẩm An, Cẩm Châu, Cẩm Nam và 3 xã: Tân Hiệp, Cẩm Thanh, Cẩm Kim.[21]

Đặc điểm về kinh tế

Năm 2017, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố đã nỗ lực hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà thành phố đã đề ra: giá trị sản xuất theo giá so sánh năm 2010 ước đạt 8.653,951 tỷ đồng, tăng 16,56%; trong

đó, nhóm ngành du lịch – dịch vụ - thương mại tăng 17,19%; ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và xây dựng tăng 19,97%; ngành nông – lâm – ngư nghiệp tăng 2,07% Thu nhập bình quân đầu người đạt 40,97 triệu đồng, tăng 4,19 triệu đồng so với năm 2016.[23]

Kết quả này là khá toàn diện và được thể hiện cụ thể trên từng lĩnh vực:

du lịch tiếp tục được quan tâm đầu tư Thành phố đã huy động nguồn lực xã hội hóa

Trang 21

triển khai dự án của thành phố.[23]

Ngành thương mại phát triển ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của nhân dân Cùng với việc đầu tư nâng cấp các chợ, công tác sắp xếp trật tự kinh doanh tại chợ Hội An và các chợ địa phương được quan tâm hơn

Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng tăng trưởng ổn định, trong đó lĩnh vực chế biến - chế tạo vẫn giữ vai trò chủ đạo, chiếm tỷ trọng 86.98% giá trị toàn ngành

Lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp tuy gặp nhiều khó khăn song vẫn cơ bản giữ được ổn định

Công tác quy hoạch, chỉnh trang, mở rộng đô thị được tiếp tục đẩy mạnh Thành phố đã chọn được đơn vị tư vấn nước ngoài điều chỉnh quy hoạch chung của thành phố Công tác quản lý tài nguyên đất, khoáng sản trên địa bàn được tăng cường Đặc biệt, Thành phố đã tổ chức khởi công dự án cải thiện chất lượng nước tại khu vực chùa Cầu, xây dựng hệ thống đấu nối thu gom nước thải, khắc phục sự

cố và đưa vào vận hành lò đốt rác thải thành phố Các hoạt động quản lý, bảo tồn Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm được tiếp tục triển khai, vừa tập trung quản lý tốt vùng lõi, vừa mở rộng quản lý ra khu vực vùng đệm

Về văn hóa – xã hội

Lĩnh vực văn hóa, thông tin và thể thao tiếp tục có nhiều khởi sắc Cùng với việc tổ chức thường xuyên các lễ hội truyền thống và các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm, thành phố cũng đã tập trung chỉ đạo tổ chức nhiều sự kiện văn hóa có tầm ảnh hưởng lớn, đặc biệt là tổ chức thành công các hoạt động trong khuôn khổ Tuần lễ cấp cao APEC tại Hội An

Lĩnh vực giáo dục - đào tạo tiếp tục đạt nhiều kết quả tốt Tỷ lệ huy động học sinh đến lớp đạt 100%, chất lượng giáo dục chuyển biến tích cực, cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị dạy, học được quan tâm đầu tư

Các chính sách đối với người có công và an sinh xã hội được quan tâm thực hiện chu đáo, kịp thời Công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội đạt hiệu quả thiết thực, kết quả điều tra năm 2017, thành phố không còn hộ nghèo thuộc diện thoát nghèo, còn 61 hộ nghèo (tỷ lệ 0,28%) thuộc diện bảo trợ xã hội, không thể xóa nghèo Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, bình đẳng giới, phòng chống tệ nạn xã hội được thực hiện tốt

Công tác đối ngoại, nhất là ngoại giao văn hóa tiếp tục được đẩy mạnh; các hoạt động giao lưu, kết nghĩa từng bước đi vào chiều sâu Đã tổ chức làm việc, đón tiếp chu đáo các đoàn khách quốc tế đến Hội An; tổ chức và quản lý các đoàn, cá nhân đi công tác nước ngoài đảm bảo quy định; triển khai có hiệu quả các thỏa thuận đã ký kết

Trang 22

Dân cư và lao động

Theo kết quả cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1/4/2009, dân số toàn thành phố có 88.933 người, trong đó nữ có 45.269 người, chiếm tỉ lệ 50,90%, bình quân nhân khẩu gần 4 người/hộ Địa bàn thành thị có 68.639 người (77,2%), nông thôn có 20.294 người (22,8%) Bên cạnh người Kinh chiếm đa số còn có cộng đồng người Hoa định cư làm ăn sinh sống từ bao đời nay, gắn với lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Hội An

Theo hiện trạng dân số năm 2015 thì mật độ dân số Hội An tập trung cao tại các phường trung tâm, chiếm trên 30% tổng dân số thành phố Phường Minh An có 9.980 người, Sơn Phong 6.130 người, Cẩm Phô 8.836 người/km2, trong khi đó, mật độ dân số bình quân cả nước là 243 người/km2, thành phố HCM 3.400 người,

Hà Nội 2.000 người, Đà Nẵng 70 người/km2 Điều này gây áp lực lớn lên cơ sở hạ tầng cận khu phố cổ và tình trạng ô nhiễm môi trường, nguồn nước

Ngoài dân số tăng tự nhiên tại chỗ, hằng năm ở Hội An tốc độ gia tăng dân số cơ học khá cao Mặt khác, hàng ngày có một lượng du khách khá lớn đến tham quan du lịch, nhiều lao động từ các địa phương khác trong và ngoài tỉnh đến buôn bán làm

ăn và không ít các nhà khoa học, cán bộ, công chức, viên chức, nghệ sĩ đến nghiên cứu, công tác

có được một nền văn hóa nhiều tầng, nhiều lớp và đa dạng, thể hiện ở tất cả các hình thái văn hóa phi vật thể như phong tục tập quán, văn học dân gian, ẩm thực, lễ hội Một đặc điểm nổi bật khác của văn hóa Hội An là tính bình dân Khác với Huế, kinh thành cũ, nơi nhiều di sản văn hóa mang tính chất cung đình, hệ thống di tích của Hội An là những thiết chế văn hóa cổ truyền của cuộc sống đời thường Ở Hội An, văn hóa phi vật thể vẫn đang sống và tương thích với hình thái văn hóa vật thể

1.2.1.2 Tốc độ phát triển du lịch

Đô thị cổ Hội An trở thành Di sản văn hóa thế giới (1999) là dấu mốc thay đổi mọi mặt đời sống của người dân ở đây Một năm sau khi trở thành Di

Trang 23

1997 1999 2001 2003 2005 2007 2009 2011 2012

Khách quốc tế Khách nội địa

khách, thu nhập du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật và các dịch vụ du lịch.[2;tr77]

Bảng 1.2.1.2 (1) Số lượng du khách đến Hội An (giai đoạn 1997-2012)

Năm Khách nội địa

(Lượt khách)

Trang 24

Lượng du khách đến Hội An ngày càng tăng Trong năm 2007, Hội An đã chào đón vị khách thứ 1 triệu, đánh dấu một bước ngoặt mới trong quá trình phát triển của du lịch ở một thị trấn nhỏ, nhưng nổi tiếng và ngày càng trở nên nổi tiếng trên thế giới Đối với các du khách quốc tế, phố cổ Hội An là một điểm không thể không đến ở Việt Nam Đối với khách nội địa, Hội An là một điểm được du khách Việt Nam yêu thích, với các phân đoạn thị trường chính là du khách đến từ Tp Hồ Chí Minh chiếm 30%, đến từ Hà Nội chiếm 52% và các nơi khác là 18% [24] Trong năm 2013, Hội An đón 1.610.000 lượt khách, trong đó có 1.170.000 lượt khách tham quan Trong năm 2014, Hội An đón tiếp khoảng hơn 1,7 triệu khách, tăng gần 8% so với năm 2013 [ 1 3 ]

Ngành Du lịch Hội An trong năm 2010 đã tạo việc làm cho khoảng 7.200 người lao động trực tiếp [19], tăng 2,11 lần so năm 2006 (3.411) người [11, tr 54]

Nông, ngư nghiệp 8.53 %

Công nghiệp - Xây dựng 26.85%

Trang 25

và nội địa Trong năm 2007, Hội An có 180 cửa hàng bán quần áo và may đồ thời trang, 202 cửa hàng bán đồ thủ công, mỹ nghệ và lưu niệm, 91 cửa hàng bán giày dép, túi xách và lồng đèn, 207 cửa hàng tạp hóa khác [11] Theo khảo sát cá nhân vào tháng 6/2013, chỉ riêng đường Nguyễn Thái Học có tới 56 cửa hàng bán vải, quần áo bán sẵn và may đo, 8 cửa hàng bán giày dép, 12 cửa hàng bán tranh, 1 cửa hàng bán túi, 8 cửa hàng bán đồ thủ công mỹ nghệ và 27 cửa hàng bán đồ lưu niệm,

4 cửa hàng bán đồ trang sức Con số này đến nay đã tăng lên rất nhiều bởi lượng du khách đến Hội An tăng mạnh Vì thế các dịch vụ bán lẻ hàng hóa, đặc biệt hàng thủ công mỹ nghệ cho du lịch cũng nhờ đó mà tăng lên nhằm thoả mãn mọi nhu cầu du khách Các cửa hàng bán lẻ này tập trung nhiều ở các phố chính của phố cổ như Lê Lợi, Trần Phú, Nguyễn Thái Học, Tô Hiệu và một phần của khu An Hội - là khu mới được khai thác trong mấy năm gần đây, nằm đối diện với đường Bạch Đằng, ngăn cách bởi đoạn sông Hội An

Trang 26

Bảng1.2.1.2 (2) Doanh thu các loại hình dịch vụ - du lịch ở Hội An

Doanh thu tham

quan

5.910 8.717 10.128 18.293 27.043 26.026 35.050

Doanh thu

bán hàng ăn uống 6.892 30.035 39.663 91.592 143.570 147.266 194.520 Doanh thu lữ hành 673 2.162 3.060 5.005 7.301 5.773 20.415 Doanh thu dịch vụ

Tỷ trọng buồng (%)

Trang 27

Cuối năm năm 2011, Hội An có 2 khách sạn 5 sao, 10 khách sạn 4 sao và 12 khách sạn 3 sao, với số phòng của tổng các khách sạn từ 3-5 sao chiếm tới trên 61% tổng số phòng hiện có của thành phố Hội An Đến hết năm 2012, tổng số cơ sở lưu trú du lịch ở Hội An là 101 cơ sở

Những năm gần đây, Hội An còn có loại hình nghỉ trọ tại nhà dân (homestay), du khách ở và sinh hoạt tại nhà dân Loại hình nghỉ trọ mới này cho phép du khách có thể trực tiếp tham gia và tìm hiểu về đời sống văn hóa thường ngày của người dân bản xứ, đồng thời tạo điều kiện cho các hộ gia đình tại địa phương có thêm thu nhập mà không cần phải đầu tư nhiều vào việc xây mới nhà nghỉ Số lượng nhà hàng, quán bar, quán cà phê cũng tăng lên nhanh chóng hàng năm

Những số liệu phần nào cũng chỉ ra rằng Hội An đang hướng tới một nền du lịch chất lượng cao hơn là du lịch đại chúng như ở các điểm du lịch khác ở Việt Nam Cùng với tiện nghi buồng lưu trú, những dịch vụ du lịch khác cũng đang dần từng bước được cải thiện như là dịch vụ vận chuyển (bến đỗ xe, thuyền,…), dịch vụ thông tin (bản đồ hoặc bảng hướng dẫn, các tờ bướm, quầy thông tin,…), nhà hàng

và quán bar, nhà biểu diễn nghệ thuật truyền thống, quầy hàng lưu niệm và đồ thủ công mỹ nghệ, cửa hàng quần áo, giầy dép Tính đến thời điểm tháng 7/2013, Hội

An có 1 khu ẩm thực đồng thời là chợ đêm nằm ở khu An Hội, 3 bãi đỗ xe, 7 quầy bán vé tham quan, các điểm truy cập thông tin bằng máy tính và nhiều quầy thông tin du lịch dành cho du khách, 6 toilet công cộng trong khu vực phố cổ

Những năm gần đây, Đô thị cổ Hội An đã trở thành một điểm đến văn hóa nổi tiếng trên thế giới Hội An liên tục được bình chọn là điểm đến có sức hấp dẫn lớn trong khu vực và trên thế giới về nhiều yếu tố: trải nghiệm tốt, có cơ sở hạ tầng tốt, cảnh quan (đảo, bãi biển, kênh, phố cổ, ) tốt, sản phẩm tốt (du lịch di sản, du lịch văn hóa, ẩm thực, đêm rằm, đèn lồng, trải nghiệm du lịch về đêm, ), Năm

2013, Hội An được nhiều tổ chức và tạp chí du lịch quốc tế bình chọn là Thành phố được yêu thích nhất thế giới, Thành phố cảnh quan năm 2013, Thành phố du lịch hấp dẫn đứng thứ hai Châu Á, là 1 trong 7 địa danh đặc sắc nhất Việt Nam Năm

2014, trang web du lịch lớn nhất thế giới TripAdvisor hoạt động tại 30 quốc gia trên toàn thế giới đã bình chọn Phố cổ Hội An vào danh sách 25 điểm đến châu Á được

Trang 28

du khách yêu thích nhất Sang đến 2015, Giải thưởng du lịch thế giới Wanderlust

do độc giả của tạp chí này bình chọn đã bầu Hội An đứng vị trí thứ 5 trong 10 thành phố được du khách yêu thích nhất

Để có thể đạt được những công nhận và vinh danh rộng rãi ở tầm quốc tế này trong nhiều năm vừa qua, ngành du lịch Hội An cũng đã nỗ lực liên tục đa dạng hóa các sản phẩm và loại hình dịch vụ du lịch Song song với việc nâng cấp cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng phục vụ, việc hỗ trợ cơ chế cho các doanh nghiệp, cá nhân tham gia vào hoạt động kinh tế du lịch tại địa phương cũng rất được quan tâm

Sự đa dạng, có chất lượng quốc tế của các loại hình sản phẩm và dịch vụ du lịch có

lẽ là yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy doanh thu ngành du lịch tăng mạnh trong nhiều năm qua với lượng du khách trong và ngoài nước đến Hội An ngày càng đông và lưu trú lâu hơn, hoặc quay trở lại nhiều lần hơn

1.2.2 Thực trạng phát triển các sản phẩm du lịch từ tài nguyên du lịch

Theo báo cáo của Uỷ ban Nhân dân TP.Hội An cho biết, 6 tháng đầu năm

2018 tổng lượng khách tham quan, lưu trú trên địa bàn ước đạt 2,68 triệu lượt, tăng 69% so với cùng kỳ (khách quốc tế khoảng 2 triệu lượt, tăng hơn 23%; khách nội địa đạt 680 nghìn lượt, đạt hơn 95% so với cùng kỳ) Trong đó, tổng lượt khách mua vé tham quan khu di sản ước hơn 1,197 triệu lượt, tăng 22% so với cùng kỳ; tổng lượt khách mua vé tham quan Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm đạt 185 nghìn lượt, bằng 99% so với cùng kỳ Tổng lượt khách lưu trú đạt

885 nghìn lượt, tăng 25,73% so với cùng kỳ, bình quân ngày khách lưu trú 2,08 ngày; Công suất sử dụng phòng 51% Tổng doanh thu toàn ngành thương mại, du lịch ước đạt 2.385 tỷ đồng, tăng 17,8% so với cùng kỳ, riêng doanh thu du lịch đạt khoảng 2.010 tỷ đồng Thị trường khách tham quan Hội An phần lớn khách quốc tế, chiếm tỷ trọng hơn 70% (Pháp, Anh, Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy

Sĩ, Thụy Điển, Ý) Vài năm trở lại đây thị trường khu vực châu Á, chủ yếu là Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) bắt đầu chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu khách; thị trường khách nội địa chủ yếu đến từ Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh.[20]

Dù đạt được những kết quả nổi bật nhưng du lịch Hội An cũng tồn tại nhiều hạn chế cần khắc phục như tình trạng bán hàng rong, chèo kéo khách, bán phá giá; các điểm trông giữ xe và xích lô du lịch trong phố tự thu giá cao; an

Trang 29

toàn, an ninh diễn biến phức tạp, tình trạng cướp giật, xô xát với khách tại các quán bar diễn ra ngày càng nhiều…

Chiều ngày 12/12/2018, tại khách sạn Vinpearl Hội An, Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam đã tổ chức Hội nghị Doanh nghiệp Du lịch năm 2018 Ông Trần Văn Tân - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Ông Nguyễn Thanh Hồng - Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đồng chủ trì Hội nghị

Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành đoàn thể của tỉnh và hơn 120 doanh nghiệp du lịch trong tỉnh Tại Hội nghị đại diện lãnh đạo

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch báo cáo khái quát hoạt động du lịch năm 2018, nhiệm vụ trọng tâm năm 2019 và tổng hợp các kiến nghị của doanh nghiệp; nghe các ý kiến đại biểu thảo luận sôi nổi, đầy trách nhiệm của lãnh đạo các doanh nghiệp du lịch, trao đổi xác thực tiễn các vấn đề: Công tác quản lý nhà nước; Tháo gỡ khó khăn vướng mắc của doanh nghiệp; Công tác quy hoạch, đầu tư và xây dựng sản phẩm du lịch; Môi trường du lịch; Quảng bá, xúc tiến du lịch; Liên kết hợp tác phát triển du lịch; đào tạo bồi dưỡng lao động du lịch; công tác thanh tra kiểm tra; Cơ chế chính sách thúc đẩy phát triển du lịch ; Đây là những vấn

đề lớn, có ý nghĩa quan trọng góp phần cho phát triển du lịch của tỉnh Quảng Nam

Năm 2018 ngành du lịch Quảng Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, tổng lượt khách đến Quảng Nam ước đạt 6,5 triệu lượt khách, tăng 24,29%

so với 2017 (trong đó khách quốc tế 3,8 triệu lượt khách tăng 36,5%), thu nhập

xã hội từ du lịch ước đạt 11.100 tỷ đồng, tăng 24% so với 2017.[20] Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch được tăng cường đầu tư (Đường cao tốc Đà Nẵng - Dung Quốc, đường nối thị xã Điện Bàn – thành phố Hội An, đường nối

129 vào sân bay Chu Lai, đường Điện Biên Phủ thành phố Tam Kỳ, bài đỗ xe và nhà đón tiếp các khu, điểm du lịch…) Nhiều sản phẩm du lịch, khu vui chơi giải trí có quy mô ra đời và nâng cấp, đưa vào phục vụ khách du lịch (Chương trình biểu diễn thực cảnh Ký ức Hội An, Khai trương Công viên văn hóa Chủ đề Ấn tượng Hội An, Khu nghỉ dưỡng và vui chơi Nam Hội An, Trung tâm biểu diễn Lune Hội An…); các doanh nghiệp du lịch phát huy tốt vai trò chủ động trong việc xây dựng và tổ chức các sản phẩm du lịch mới để thu hút khách du lịch Hoạt động hỗ trợ du khách phát huy tốt hiệu quả Thương hiệu du lịch Hội An và một số doanh nghiệp được ghi nhận từ nhiều tạp chí uy tín về du lịch trong nước

và quốc tế bình chọn Có thể thấy, đây những kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội của tỉnh

Trang 30

1.2.2.1 Sản phẩm du lịch từ tài nguyên du lịch tự nhiên

Tiềm năng phát triển du lịch đường sông:

Nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, Hội An là một vùng cửa sông ven biển Với vị trí địa lý như vậy, trong giai đoạn hiện nay, hệ thống đường sông tại Hội An (với

hệ thống luồng lạch gồm 43 km luồng chính, 11 km luồng phụ) đang trở thành một tiềm năng du lịch chiến lược của địa phương

Trong quá khứ, nhờ có hệ thống đường sông mở, giao nối với cửa biển, Hội

An đã từng là một cảng thị trên bên dưới thuyền sôi động của xứ Đàng Trong, là một địa chỉ đỏ của con đường tơ lụa trên biển, với sự xuất hiện của những thương nhân nhiều nước trong khu vực châu Á đến buôn bán, làm ăn, sinh sống Ngày nay, trong bối cảnh kinh tế thị trường, cùng với các điều kiện tự nhiên, văn hóa, nhân văn khác, hệ thống đường sông ở Hội An lại một lần nữa khẳng định vị trí vai trò của mình, làm cho vùng đất này trở thành nơi có giá trị kinh tế đặc biệt, nhờ vào việc khai thác và phát huy tiềm năng du lịch sông nước, gắn với hệ thống cồn bãi, cảnh quan tự nhiên

Trên thực tế, hiếm có một đô thị nào hội đủ một hệ sinh thái đa dạng và đặc sắc như Hội An Từ hệ sinh thái cửa sông đến vùng sông nước cùng với hệ thống cồn bãi, rừng ngập mặn dừa nước, tất cả được tổng hòa trong mối quan hệ mật thiết Một điều đặc biệt chỉ có ở Hội An là hệ sinh thái trong vùng gắn liền với một chuỗi vệ tinh hết sức giá trị, chính là hệ thống di tích lịch sử, văn hóa, tâm linh phong phú, đa dạng, trong đó, nổi bật và tiêu biểu nhất là Khu phố cổ Hội

An với hơn một ngàn di tích, được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới

Đứng trước lợi thế như vậy, những năm qua, chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân thành phố đã khai thác những tiềm năng về du lịch đường sông Một điển hình về du lịch đường sông ở Hội An khác phải kể đến là tuyến đường thủy sông Hoài, gắn liền với khu phố cổ Năm 2014, Hội An được bầu chọn là một trong mười thành phố đẹp, có kênh đào nổi tiếng thế giới Viết

về Hội An, trang Touropia mô tả, “Nơi đây là một thương cảng quốc tế sầm uất

từ thế kỷ XVI, là nơi giao thương của những thuyền buôn trong nước lẫn nước ngoài Đôi khi, Hội An còn được ví như là “Venice của Việt Nam” bởi đặc trưng dòng kênh nhỏ chia đôi khu phố cổ” Với lợi thế như vậy, tuyến đường sông này

trở thành một tuyến huyết mạch, tâm điểm trong hoạt động du lịch sông nước tại Hội An Để khai thác tiềm năng này, Hội An cũng đã chọn cách làm phù hợp, tạo

ra những sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng, làm nên nét riêng có, khác biệt với các loại hình du lịch sông nước ở nhiều địa phương Không chỉ được biết đến là

Trang 31

cảnh quan tự nhiên như tiềm năng du lịch sông nước của các khu vực, vùng miền khác, dòng Sông Hoài còn được tạo thêm những giá trị độc đáo, bằng những sản phẩm du lịch văn hóa, nhân văn, thu hút du khách đến khám phá, tìm hiểu Từ hoạt động của các ghe thuyền trên sông Hoài đến các sản phẩm du lịch như thả hoa đăng, cất rớ, ghe bầu phố Hội cùng cảnh sắc lung linh của phố, tất cả đã làm cho tuyến du lịch này hữu tình hơn, không trùng lặp với bất kỳ một “dòng sông

du lịch” nào trên thế giới

Một tiềm năng du lịch mang tính trung gian, kết nối giữa hai Di sản Văn hóa thế giới và Khu sinh quyển Cù Lao Chàm phải kể đến là hệ thống hạ lưu sông Thu Bồn, chảy quanh địa bàn thành phố Hội An, cùng với đó là hệ thống cồn bãi, các di tích vùng ven, các làng nghề nổi tiếng, những cù lao xanh nằm rãi rác ven sông nước Theo tuyến này, du thuyền chở khách từ phố cổ Hội An, đi thăm các làng nghề Gốm Thanh Hà, Mộc Kim Bồng, ghé về bãi bồi trồng bắp Cẩm Nam, xuôi dòng xuống khu vực rừng dừa Bảy Mẫu Cẩm Thanh, về cảng Cửa Đại để khởi hành ra Cù Lao Chàm Trên tuyến du lịch kết nối, liên thông liên vùng đường sông này, các làng nghề truyền thống và rừng dừa Bảy Mẫu, cùng hệ thống di tích lịch sử văn hóa vùng ven đã trở thành những địa chỉ đỏ, thu hút hàng ngàn lượt khách đến tham quan tìm hiểu Nhiều tour tuyến của các doanh nghiệp đã được mở ra, mang đến sinh kế cho cộng đồng cư dân các xã phường ven sông, ven biển

Du lịch đường sông trên sông Hoài

Du thuyền trên sông Hoài là một trong những hoạt động giải trí đặc trưng thu hút du khách khi du lịch Hội An Bởi giữa bộn bề cuộc sống, khoảnh khắc được thả hồn trên sông Hoài, hít khí trời trong lành, ngắm phố cổ bình yên mỗi sớm hay lung linh huyền ảo mỗi đêm như quên hết những muộn phiền âu lo, tái tạo nguồn năng lượng tràn đầy, một tinh thần tươi mới là điều vô cùng quý giá

mà không phải điểm đến du lịch nào cũng làm được

Chẳng biết từ bao giờ, hoạt động đi thuyền trên sông Hoài trở thành một nét văn hóa đặc trưng nơi phố cổ mà bất cứ ai khi du lịch Hội An Đà Nẵng cũng đều muốn trải nghiệm một lần

Dịch vụ đi thuyền trên sông Hoài phục vụ du khách từ lúc sáng sớm cho đến tối khuya Mỗi thời điểm đi thuyền sẽ có những điều thú vị riêng Nếu lúc sớm tinh mơ, bạn được ngắm bình minh lên, hít trọn không khí mát lành và sở hữu cho mình nhức bức ảnh phong cảnh thiên nhiên trong lành giữa nguồn ánh sáng tự nhiên tràn đầy sức sống thì khi đêm xuống, bạn sẽ thấy xao lòng trước vẻ

Trang 32

đẹp lung linh của thứ ánh sáng đa tầng đủ sắc chiếu từ trên phố xuống lòng sông,

vô cùng lãng mạn và an yên

Hành trình cho chuyến đi thuyền trên sông Hoài sẽ có sự khác nhau giữa ban ngày và đêm Nếu như ban đêm ban chỉ được dạo quanh khu phố cổ và thả đèn hoa đăng trên sông thì khi đi thuyền vào ban ngày, bạn sẽ được đưa xuôi dọc dòng sông qua khu phố cổ, qua các làng nghề truyền thống đến rừng dừa Bảy Mẫu, những cánh đồng lúa bạt ngàn và kết thúc chiều đi ở cửa biển Cửa Đại

Người dân Phố cổ ngoài việc mưu sinh bằng nghề thủ công, bằng các gánh hàng rong thì chèo thuyền đưa khách thăm quan khi du lịch Hội An Đà Nẵng cũng chiếm một phần không nhỏ Hội An đẹp nhất là khi về đêm – đó là điều không ai có thể phủ nhận khi đã từng du lịch Hội An về đêm

Đặc biệt vào những ngày rằm, khi ánh đèn điện tắt đi, phố chỉ còn ánh sáng của trăng trên trời cao, của tầng tầng lớp lớp đèn lồng trên phố và hàng trăm chiếc đèn hoa đăng chập chờn dưới sông Hoài Tất cả hòa điệu vào nhau tạo nên một vẻ đẹp lung linh đầy sắc màu làm bất cứ ai cũng phải xao lòng

Du lịch sinh thái – nghỉ dưỡng

Rừng dừa Bảy Mẫu (Cẩm Thanh, Hội An) là điểm du lịch sinh thái hấp dẫn, được ví như “Nam Bộ trong lòng phố Hội” với không gian xanh mát của bạt ngàn dừa nước, trải rộng tới tận Cửa Đại Đây cũng là nơi hội tụ của 3 dòng sông lớn là Thu Bồn, Trường Giang và Đế Võng, tạo nên khung cảnh sông nước hữu tình giữa bao la mây trời

Ngày nay, rừng dừa Bảy Mẫu đã sinh sôi nảy nở hơn 100 mẫu, những hố bom sâu hoắm trong chiến tranh nay đã được lấp đầy bởi màu xanh của thảm dừa đang vươn lên mạnh mẽ Một bức tranh nông thôn mới của làng quê yên bình đầy sức quyến rũ Cùng với đó, những mô hình du lịch cộng đồng đưa khách trải nghiệm cuộc sống vùng rừng dừa Hội An cũng đang góp phần tạo công ăn việc làm cho nhiều người dân

Rừng dừa Bảy Mẫu có hệ sinh thái ngập mặn gần biển trù phú, là nơi cư trú, sinh sống của nhiều loài động vật có giá trị, nhất là tôm, cua, cá và các loài động vật thân mềm, cùng một số loài chim Nơi đây còn đóng vai trò như một máy lọc sinh học, giúp làm trong sạch nguồn nước Đến với khu du lịch sinh thái rừng dừa Bảy Mẫu sẽ là dịp để bạn hòa mình vào không gian trong lành và tham gia nhiều hoạt động trải nghiệm thú vị như:

Tour du lịch rừng dừa Bảy Mẫu bằng thuyền thúng, tự tay hái trái dừa nước, xem ngư dân trình diễn lắc thúng, múa hát bả trạo; Thử trổ tài câu cua, quăng chài bủa lưới bắt cá như một ngư dân thực thụ

Trang 33

Theo kinh nghiệm du lịch rừng dừa Bảy Mẫu, bạn có thể ghé vào các tiểu khu sinh thái ở đây như Tuấn Liên (Hội An Eco Discovery), Khoa Trần (JackTran’s Eco-tours) chơi các trò chơi dân gian kéo co, đi cầu khỉ, nhảy bao

bố, bịt mắt đập niêu vui nhộn; Trượt cáp, chèo xuồng, kéo ró, thư giãn câu cá trên những căn chòi lợp lá mát rượi; Đạp xe, hay ngồi lắc lư trên xe trâu dạo quanh làng quê yên bình

Giá vé rừng dừa Bảy Mẫu: hiện chưa thu phí tham quan Du khách chi trả theo các loại tour rừng dừa Bảy Mẫu

Thời gian khai thác Rất dài (>250 ngày/năm)

Thu nhập hấp dẫn từ các dịch vụ kinh doanh du lịch khiến rừng dừa đang bị triệt

hạ ở mức báo động Chính là sự quản lý lỏng lẻo trong việc xây dựng, cơi nới, lấn

chiếm rừng dừa, dẫn tới hệ lụy phá vỡ không gian xanh Diện tích rừng dừa đang ngày càng bị thu hẹp Nằm trong vùng đệm và đang được đưa vào vùng lõi của Khu

dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm, rừng dừa Bảy Mẫu có nguy cơ xóa

sổ Trước đây, cả rừng dừa chỉ có 3 con lạch, bây giờ thì quá nhiều lạch, tất cả đều

mở tự phát để dẫn đón khách du lịch Rừng dừa không chỉ bị lấn chiếm, cơi nới…,

mà điều đáng nói là các cơ quan chức năng của TP.Hội An đã cấp phép tùy tiện cho việc xây dựng những khu biệt thự, công trình cao tầng - như những gã khổng lồ xuất hiện giữa rừng, làm ngơ đánh giá tác động về môi trường

Việc xâm hại rừng dừa nước để xây dựng nhà hàng, resort, các khu vui chơi… chỉ là bề nổi Bởi trên thực tế, sau nhiều lần đi kiểm tra, các cơ quan liên quan phát hiện rằng, chính cách làm du lịch tự phát ở đây đã làm suy giảm nghiêm trọng toàn hệ sinh thái

Việc biểu diễn lắc thúng đã gây tác động xấu đến việc sinh sản của cá trong rừng dừa nước Hiện tại, điểm biểu diễn lắc thúng nằm ở khu vực có nhiều rong - là môi trường rất thuận lợi để cá vào sinh sản Vào khoảng tháng 7, khi cây rong phát triển thì thu hút cá vào đây sinh sản Nhưng việc lắc thúng đã phá vỡ không gian

Trang 34

yên tĩnh, gây tác động xấu đến sự phát triển của cây rong cũng như khiến cá sợ và

bỏ đi nơi khác Ngoài ra, khi biểu diễn lắc thúng thường đi kèm với việc mở nhạc to cũng như tiếng reo hò quá mức khiến chim cò sợ và bỏ đi Hiện tại, quanh khu vực này hầu như không thấy bóng dáng chim cò nào - một hình ảnh hoàn toàn trái ngược so với cách đây vài năm

Trước thực trạng đó, cần phải nghiên cứu lại để di dời điểm lắc thúng biểu diễn đi nơi khác nhằm bảo tồn các bãi rong để thu hút cá về đẻ trứng trở lại; cũng như có những giải pháp khác nhằm hạn chế tiếng ồn để đàn chim cò quay về, nhằm thiết lập lại sự đa dạng về hệ sinh thái như trước đây

Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch chưa đồng bộ, chưa đầy đủ tiện nghi, chủ yếu chỉ có vài khu du lịch sinh thái, còn đa phần là tự phát, xây dựng trái phép, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái

Thời gian khai thác: Rất dài (>250 ngày/năm) do khí hậu nắng quanh năm, chỉ

có 3 tháng mùa mưa lũ 9, 10, 11 là không hoạt động được

Tiềm năng du lịch biển đảo

Cù lao Chàm

Cù Lao Chàm thuộc vùng biển Hội An, cách Cửa Đại khoảng 21 km Đây là một nhóm gồm 7 đảo lớn nhỏ: Hòn Lao, Hòn Tai, Hòn Dài, Hòn Mô, Hòn Khô mẹ, Hòn Khô con Tổng diện tích trên 15km², trong đó rừng chiếm khoảng 90%, Hòn lớn nhất là Hòn Lao, nhỏ nhất là Hòn Khô con

Dưới thời Vương quốc Chăm pa, nơi đây còn là hoang đảo, là nơi lưu đày những người bị trọng tội, có tên là Chiêm Bất Lao Đến khoảng thế kỷ XVII, một số ngư dân đã đến cư trú trên những bãi cát rộng trên Hòn Lao và lập nên làng Tân Hiệp, 6 hòn đảo còn lại không có người ở vì môi trường không thuận lợi cho con người Trên Hòn Lao có 8 bãi cát phân bố dọc theo sườn phía Tây: bãi Bắc, bãi Ông, bãi Làng, bãi Xếp, bãi Chồng, bãi Bìm, bãi Hương và bãi Nần, dân cư chỉ sinh sống ở bãi Hương và bãi Làng Ngọn núi cao nhất là Hòn Biền (517m) nằm trên Hòn Lao

Khí hậu vùng Cù Lao Chàm khá dễ chịu, mùa đông nhiệt độ từ 21 -22ᴼC, mùa hè khoảng 28-29ᴼC, lượng mưa điều hòa, tuy nhiên đây là khu vực phải chịu ảnh hưởng nặng của áp thấp nhiệt đới và bão trong vùng biển Đông

Thực vật trên Cù Lao Chàm khá phong phú, những loại gỗ quí như gõ, kiền kiền, chè, xoan, các loại dây mây, song, các loại cây ăn quả như dừa, sim, khế, ổi Động vật hoang dã chủ yếu là khỉ, thỏ, trăn, một số loài chim,… Đặc biệt là chim yến trụ ở các hang (hang Khô, hang Cả, hang Tò Vò, hang Chân Rêu ), người dân làng Thanh Châu đã khai thác nó thành yến sào quý hiếm từ thế kỷ XVII Vùng

Trang 35

biển quanh đảo có nhiều loại cá, tôm, cua, mực, ốc là ngư trường khai thác rất lý tưởng

Cù lao Chàm còn có một số đình, chùa, miếu có giá trị về lịch sử - văn hóa như chùa Hải Tạng ở bãi Làng, miếu thờ Tổ nghề Yến ở bãi Hương, có những cảnh đẹp như suối Tình, suối Ông, ao Thuyền những bãi tắm tốt như hãi Ông, bãi Bìm, bãi Chồng Trong những ngày trời trong xanh, ngồi trên thuyền có thể nhìn thấy những đàn cá đủ màu sắc bơi lội quanh đám san hô trắng tinh hoặc phơn phớt hồng

ở độ sâu 7- 10m

1.2.2.2 Sản phẩm du lịch từ tài nguyên du lịch nhân văn/ văn hóa

Phố cổ Hội An không chỉ nổi tiếng do là một cảng biển xưa được bảo tồn nguyên vẹn hay một tập hợp các công trình kiến trúc cổ được gìn giữ tốt mà còn do đây là một tổng thể bao gồm rất nhiều loại hình di sản cùng tồn tại trong khuôn khổ không gian của một đô thị cổ, có thể nói đến hiện tại các giá trị vẫn còn được lưu giữ gần như khá toàn vẹn Điểm đặc biệt của địa điểm này là sự hòa trộn đan xen của các di sản như công trình kiến trúc, công trình tôn giáo và công trình sinh hoạt

cổ với các giá trị văn hóa phi vật thể sống động đang được chủ thể sở hữu những di sản này (cộng đồng) trực tiếp bảo lưu và phát triển song song với sự tồn tại của các công trình vật thể đó

Di tích lịch sử - văn hóa:

Trong thực tiễn quản lý di sản, Hội An còn đưa ra một số cách phân loại hệ thống di sản văn hóa của mình đáp ứng yêu cầu của từng mảng hoạt động Trong công tác bảo tồn và tu bổ di tích, các công trình kiến trúc cổ được phân loại theo giá trị bảo tồn và tùy từng loại, địa phương có các biện pháp tương ứng với giá trị bảo tồn đó

Bảng 1.2.2.2 (1) Phân loại công trình kiến trúc ở Hội An theo giá trị bảo tồn (2008)

Trang 36

Cách phân loại này được dựa vào các tiêu chí:

Loại đặc biệt: Bảo tồn được các yếu tố gốc của tất cả các hạng mục

công trình, có nhiều chi tiết kiến trúc, mỹ thuật độc đáo Các yếu tố này có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, khoa học

Loại 1: Bảo tồn được các yếu tố gốc của tất cả các hạng mục công

trình Các yếu tố này có giá trị cao về lịch sử, văn hóa, khoa học

Loại 2: Bảo tồn được cơ bản các yếu tố gốc của các hạng mục công

trình nếp nhà trước Các yếu tố này có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học

Loại 3: Bảo tồn được mái ngói truyền thống và một số yếu tố gốc của

các hạng mục công trình Các yếu tố này có một số giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học

Loại 4: Những công trình được xây, đúc bê tông theo kiểu hiện đại,

không sử dụng vật liệu truyền thống Có mái bằng bê tông hoặc lợp các loại

vật liệu khác không phải là ngói âm dương.[15]

Về Nhà Cổ, theo tài liệu thống kê, đến nay Hội An có 1.068 nhà cổ nhưng

trong quá trình thăm quan du khách thường chọn một trong ba nhà cổ nối tiếng

và đặc trưng nhất của Hội An đó là: Nhà cổ Tân Ký, địa chỉ 101 Nguyễn Thái Học; Nhà cổ Quân Thắng, số 77 Trần Phú; Nhà cổ Phùng Hưng, số 4 đường Nguyễn Thị Minh Khai,… Những công trình này đã tạo nên diện mạo của phố cổ

từ trong quá khứ cho tới hiện nay Hầu hết các ngôi nhà ở Hội An có kiến trúc từ những thế kỷ XIX, XX và được xây dựng chủ yếu bằng gỗ Kiến trúc của những công trình này rất đặc trưng do có sự trao đổi văn hóa khi xây dựng các ngôi nhà Các ngôi nhà cổ thể hiện sự kết hợp giữa kiểu kiến trúc và kỹ thuật xây dựng Việt Nam truyền thống với các yếu tố kiến trúc ngoại lai đến từ Trung Quốc, Pháp và Nhật Sự trao đổi văn hóa này xảy ra khi có nhiều thương nhân từ Nhật Bản và phần nhiều là từ Trung Quốc đến Hội An buôn bán và định cư, xây dựng nhà và cửa hiệu của mình

Cùng với các di tích kiến trúc khác, nhà cổ đã góp phần làm cho Hội An trở thành di sản văn hoá thế giới – “một di tích sống” Những ngôi nhà cổ Hội An

là linh hồn, phong vị đặc biệt cho du khách khi đến đây

Trang 37

Di tích Chùa, Ở vùng Hội An có hai dạng chùa đó là chùa làng gắn liền

với khu dân cư và sự hình thành phát triển của làng; một dạng chùa khác nằm tách biệt ngoài khu dân cư, thuần túy là nơi tu hành của các tu sĩ Hầu hết các chùa ở Hội An theo dòng Phật giáo Lâm tế của Tịnh Độ Tông, từ Trung Quốc truyền sang vào thế kỷ XVII Chùa làng như Chùa Kim Bửu, Cẩm Hà (Thanh Hà), chùa Phật Minh Hương, Viên Giác, được đặt trong lòng các ngôi làng, gắn chặt với các sinh hoạt văn hóa, tinh thần của người dân trong làng Các ngôi chùa

có tính chất tu tập như Chúc Thánh, Vạn Đức, Phước Lâm, Long Tuyền, Viên Giác, lại thường tách khỏi khu vực dân cư tập trung để thuận tiện cho công việc

tu hành của các thầy tu

Trong quá trình Nam tiến dưới thời các chúa Nguyễn, tuy không lấy Phật giáo làm quốc giáo như thời Lý - Trần, nhưng các chúa Nguyễn lại lấy Phật giáo làm chỗ dựa cho chính sách an dân trị quốc Đi đến đâu người Việt cũng được chúa Nguyễn cho xây dựng chùa để thờ Phật Đây là một vấn đề tất yếu, bởi lẽ tinh thần Phật giáo đã thấm sâu vào trong tư tưởng tình cảm của mỗi người dân Đại Việt Vì thế, kể từ khi Thừa tuyên đạo Quảng Nam thành lập, chúng ta đã thấy

có bóng dáng của những ngôi chùa cũng như các vị thiền sư đến đây tu đạo Tại nơi đây, các dòng thiền bắt đầu được truyền bá và phát triển mạnh mẽ, nhưng để lại dấu ấn đặc biệt và tồn tại phát triển phải kể đến Thiền phái Lâm Tế với vai trò của Thiền sư Nguyên Thiều (1648 - 1728) và Thiền phái Tào Động với vai trò của Thiền sư Thích Đại Sán - Thạch Liêm (1633 - 1704)

Vào thế kỷ XVII – XIX, Hội An là một trung tâm Phật giáo khá quan trọng của miền Trung Việt Nam Điều này giải thích tại sao trong khuôn khổ của một đô thị nhỏ như Hội An lại có đến 19 ngôi chùa thờ Phật (chủ yếu là dòng Lâm Tế của Tịnh Độ Tông từ Trung Quốc truyền sang từ thế kỷ XVII) Hầu hết các ngôi chùa đều có kiến trúc của thế kỷ XIX, do đây là giai đoạn các ngôi chùa được đồng loạt

tu bổ hay tái xây dựng trên toàn bộ vùng này Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể thấy một vài yếu tố thuộc về kiến trúc của thế kỷ XVII và XVIII ở những trang trí, mô típ hoặc phong cách nghệ thuật

Nhiều thế kỷ trôi qua, Phật giáo đã để lại dấu ấn khá sâu đậm trong lòng người Hội An Trong tâm tưởng họ, hình tượng mà họ ngưỡng mộ nhất là Phật Thích ca, Phật A Di Đà và Quan Thế Âm Bồ Tát Vì vậy, họ luôn quan tâm đến ngày vía A Di Đà (15/1 âm lịch); Ngày lễ Phật Đản (15/4 âm lịch); Ngày lễ Vu Lan (15/7 âm lịch) Những ngày này họ đến chùa dâng hương, quỳ dưới chân Phật đài, chiêm bái, kính lễ, cầu mong gia đạo bình an, cầu nguyện giải thoát cho vong linh tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những người quá cố,…

Trang 38

Nhìn chung, Phật giáo ở Hội An hình thành và phát triển khá sớm trong lịch sử Nhiều ngôi chùa vẫn giữ được những nét kiến trúc cổ kính truyền thống, lưu giữ nhiều tư liệu, hiện vật có giá trị lịch sử - văn hóa như bia ký, chuông, tượng, kinh Phật, mộc bản in kinh Phật và trở thành địa điểm sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng của nhân dân Trong đó một số chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia như chùa Chúc Thánh, chùa Phước Lâm, chùa Vạn Đức, chùa Viên Giác, chùa Hải Tạng Hệ thống chùa, tịnh xá góp phần làm phong phú thêm loại hình di tích tôn giáo tín ngưỡng ở Hội An

Bảng 1.2.2.2 (2) Thống kê các di tích chùa ở Hội An (bao gồm các chùa là di tích cấp quốc gia, di tích cấp tỉnh, di tích được Ủy ban Nhân dân tỉnh,Ủy ban Nhân dân thành phố bảo vệ, số liệu tính đến ngày

31/12/2014)

01 Minh Hương Phật tự (Chùa Quan Âm) Số 13 đường Nguyễn Huệ -

Minh An

02 Chùa Viên Giác (Cẩm Lý tự) Số 52 đường Hùng Vương –

Cẩm Phô

04 Chùa Bảo Thắng (Chùa sư nữ) Số 217 – đường Nguyễn Duy

Hiệu – Sơn Phong

05 Chùa Minh Giác (Chùa Phật Cẩm Hà

16 Tịnh xá Ngọc Hương Thôn Bãi Hương – Tân Hiệp

17 Chùa Quang Nam (Quang Nam tự) Khối Sơn Phô I – Cẩm Châu

Nguồn tin: Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An

Trang 39

Về Hội quán, đây là công trình kiến trúc tôn giáo của cộng đồng người

Hoa ở Việt Nam Người Hoa sống ở Hội An đã nhiều thế kỷ, là chủ sở hữu tập

thể của những công trình kiến trúc này Người Hoa đã có mặt tại Hội An rất sớm,

từ thế kỷ XVII họ đã đến đây buôn bán, lập phố phường để giao thương với người bản địa, cư dân các vùng thượng nguồn sông Thu Bồn và thương nhân của nhiều nước đến buôn bán tại Hội An Trong nhiều thế kỷ sinh sống tại đây, họ đã tạo dựng nhiều công trình kiến trúc rất có giá trị như nhà ở, nhà thờ tộc, đền miếu, hội quán Trong số đó, Hội quán được xem là những công trình tiêu biểu nhất về cả kiến trúc lẫn công năng sử dụng Hội quán được xây dựng với mục đích chính là để làm nơi sinh hoạt của đồng hương, đồng thời là nơi thờ cúng các

vị thần bảo trợ và những bậc tiền hiền của từng bang

Hiện nay, trong khu phố cổ Hội An còn 5 hội quán của người Hoa đó là: Trung Hoa Hội Quán (1741) hay còn gọi là Dương Thương Hội quán là hội quán chung cho cả 5 nhóm cư dân này ; Phước Kiến Hội Quán (1697) còn gọi là Kim Sơn Tự, chùa Phúc Kiến; Triều Châu Hội Quán (1845) hay còn gọi là chùa Triều Châu, chùa Âm Bổn, chùa Ông Bổn; Hải Nam Hội Quán (1875) còn gọi là hội quán Quỳnh Phủ, chùa Hải Nam; Hội quán Quảng Triệu (1885) còn gọi là Hội quán Quảng Đông hay chùa Quảng Triệu

Hàng năm, vào dịp rằm tháng giêng, hội quán tổ chức lễ hội Nguyên tiêu, cúng giỗ tiền hiền Lễ hội này diễn ra sôi nổi với các nghi thức tế lễ truyền thống, đãi tiệc mừng hội ngộ đồng hương và cầu chúc đầu năm gặp vận may, phát tài, phát lộc

Các hội quán người Hoa là những công trình kiến trúc tiêu biểu, độc đáo Các lễ hội, phong tục tập quán của người Hoa cũng góp phần làm đa dạng phong phú loại hình văn hoá ở di sản văn hoá Hội An Ngoài ra trong các di tích còn lưu giữ khá nhiều hiện vật, tài liệu quý giá giúp cho những người nghiên cứu có điều kiện nghiên cứu về quá trình di nhập cư, sinh hoạt thương mại của người Hoa ở nhều thế kỷ trước

Di tích Miếu – Lăng, Hội An hiện có 16 ngôi miếu và lăng Các di tích

này có kiến trúc và quy mô khá khác nhau: những miếu lớn như miếu Quan Công trên đường Trần Phú, Văn Chỉ Cẩm Phô, Văn Thánh miếu Minh Hương, có kết cấu hình chữ Quốc với chủ thần là các bậc thánh hiền, Nho học hoặc tổ nghề Một

số những miếu vừa và nhỏ khác như miếu Ngũ Hành, Thái Giám, Nam Diêu thường nằm ở ngoài làng, hoặc giữa các cánh đồng lúa Nói chung, một ngôi miếu thường có ba gian, gian giữa có bàn thờ và là nơi thờ cúng các vị tiền nhân, người

Trang 40

hình thành nên cộng đồng người Minh Hương ở Việt Nam, tổ nghề (bắt tổ yến, nghề gốm, mộc,…), có vị trí xây dựng nằm ngay trong khu dân cư hoặc ở đầu làng (xóm)

Di tích giếng Chăm, có 10 cái giếng Chăm vẫn đang được sử dụng hiện

nay ở Hội An (hai cái ở làng Thanh Chiếm, hai cái ở làng An Bàng, một ở Trà Quế, một ở Cù Lao Chàm và năm hoặc sáu cái ở gần hồ Trung Phương) [28; tr.118] Những giếng này mang đặc trưng của người Chăm: tròn ở miệng và vuông hoặc hình chữ nhật ở dưới, phần đáy thường được lát bằng gỗ Đặc biệt là nước giếng Chăm rất trong, sạch, mát và hiếm khi cạn vào mùa khô Điều này cho thấy

kỹ thuật của người Chăm trong việc đào giếng là rất cao Người ta cho rằng những giếng này có nguồn nước trong mát nối tiếng mà người Chăm xưa kia cung cấp cho các thương nhân người Ả Rập và Ba Tư khi họ cập bến cảng thị này vào những thế kỷ thứ IX và X Cho đến nay các giếng Chăm vẫn đang được sử dụng

và được bảo vệ tốt

 Lễ hội

Lễ hội là một trong những loại hình sinh hoạt văn hóa truyền thống tiêu biểu nhất của người Việt Theo số liệu từ một nghiên cứu điều tra tổng thể của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam vào năm 2004, Hội An có tổng số là 60 lễ hội với quy mô và đặc điểm khác nhau trên toàn bộ 12 phường xã của thị xã vào thời điểm đó.[6]

Bảng 1.2.2.2.(3) Lễ hội ở Hội An (Phân loại theo loại hình di tích)

Ngày đăng: 29/04/2021, 16:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Mai An (2014), “Nghiên cứu sản phẩm du lịch Đà Nẵng từ tài nguyên văn hóa”, Báo cáo tổng kết đề tài Khóa học và Công nghệ cấp Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sản phẩm du lịch Đà Nẵng từ tài nguyên văn hóa
Tác giả: Trần Thị Mai An
Nhà XB: Báo cáo tổng kết đề tài Khóa học và Công nghệ cấp Đại học Đà Nẵng
Năm: 2014
2. Nguyễn Thị Thu Hà (2014), Quản lí Di sản Văn hóa và phát triển du lịch ở đô thi cổ Hội An – Tỉnh Quảng Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí Di sản Văn hóa và phát triển du lịch ở đô thi cổ Hội An – Tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Năm: 2014
3. Nguyễn Chí Bền (2010), Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
4. Nguyễn Phước Tương (2004), Hội An - Di sản thế giới, Nxb Văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội An - Di sản thế giới
Tác giả: Nguyễn Phước Tương
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 2004
5. Thích Đại Sán (Dịch: Ủy ban Phiên dịch Sử liệu Việt Nam, theo bản dịch 1963), Hải Ngoại Kỷ Sự, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải Ngoại Kỷ Sự
Tác giả: Thích Đại Sán
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1963
6. Đinh Trung Kiên (2004), Một số vấn đề về du lịch Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về du lịch Việt Nam
Tác giả: Đinh Trung Kiên
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2004
7. Phạm Thị Tú Trinh (2018): Bài giảng học phần Văn hóa du lịch – Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng học phần Văn hóa du lịch
Tác giả: Phạm Thị Tú Trinh
Năm: 2018
8. Thích Phước Sơn (Dịch và chú thích) (1996), Tam Tổ Thực Lục, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tam Tổ Thực Lục
Tác giả: Thích Phước Sơn
Nhà XB: Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam
Năm: 1996
9. Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long (2013), Chùa Việt Nam, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Việt Nam
Tác giả: Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2013
10. Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di tích Hội An (2008), Lễ lệ - lễ hội Hội An, Hội An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ lệ - lễ hội Hội An
Tác giả: Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di tích Hội An
Năm: 2008
13. Phòng Thống kê Thành phố Hội An (1998-2013), Niên giám thống kê (1998- 2013), Tài liệu lưu trữ của Phòng thống kê Thành phố Hội An, Hội An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê (1998- 2013)
15. UBND Thị xã Hội An (2006), Quy định Quản lý, bảo tồn, sử dụng di tích ở Di sản thế giới Hội An, Tài liệu lưu trữ của Trung tâm Quản lý bảo tồn di sản văn hóa Hội An, Hội An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định Quản lý, bảo tồn, sử dụng di tích ở Di sản thế giới Hội An
Tác giả: UBND Thị xã Hội An
Nhà XB: Tài liệu lưu trữ của Trung tâm Quản lý bảo tồn di sản văn hóa Hội An
Năm: 2006
16. UBND Thị xã Hội An (2000), Danh mục di tích Hội An, Hội An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục di tích Hội An
Tác giả: UBND Thị xã Hội An
Nhà XB: Hội An
Năm: 2000
17. Trung tâm Quản lý bảo tồn di tích Hội An (2008), Nghề thủ công truyền thống ở Hội An. Hội An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề thủ công truyền thống ở Hội An
Tác giả: Trung tâm Quản lý bảo tồn di tích Hội An
Năm: 2008
18. UBND tỉnh Quảng Nam và Văn phòng UNESCO Hà Nội (2011), Du lịch Hội An và Quảng Nam. Báo cáo kết quả điều tra, Hội An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch Hội An và Quảng Nam
Tác giả: UBND tỉnh Quảng Nam, Văn phòng UNESCO Hà Nội
Nhà XB: Báo cáo kết quả điều tra
Năm: 2011
19. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam và Văn phòng UNESCO Hà Nội (2011), Du lịch Hội An và Quảng Nam, Báo cáo kết quả điều tra, Hội An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch Hội An và Quảng Nam
Tác giả: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam, Văn phòng UNESCO Hà Nội
Nhà XB: Báo cáo kết quả điều tra
Năm: 2011
20. UBND tỉnh Quảng Nam (2018), Theo báo cáo Hội nghị Doanh nghiệp Du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo báo cáo Hội nghị Doanh nghiệp Du lịch
Tác giả: UBND tỉnh Quảng Nam
Năm: 2018
21. Phòng Văn hóa – Thông tin Hội An (2014), Lịch sử hình thành và phát triển thành phố Hội An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử hình thành và phát triển thành phố Hội An
Tác giả: Phòng Văn hóa – Thông tin Hội An
Năm: 2014
22. Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2014), Người Nhật ở Hội An thế kỉ XVI-XVII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Nhật ở Hội An thế kỉ XVI-XVII
Tác giả: Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Năm: 2014
30. Báo Người lao động (06/04/2018) https://nld.com.vn/van-nghe/y-kien-trai-chieu-ve-ky-uc-hoi-an-2018040521152903.htm Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm