1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp kích thích hứng thú của trẻ 24 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật tại trường mầm non

114 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện pháp kích thích hứng thú của trẻ 24 - 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật tại trường mầm non
Tác giả Hoàng Thị Phương Thảo
Người hướng dẫn TS. Bùi Việt Phú
Trường học Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Chuyên ngành Giáo Dục Mầm Non
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2019
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Được sự đồng ý của Khoa giáo dục Mầm non, trường Đại học Sư phạm và giảng viên hướng dẫn T.S Bùi Việt Phú tôi đã thực hiện đề tài : “Biện pháp kích thích hứng thú của trẻ 24-

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

Giảng viên hướng dẫn : TS BÙI VIỆT PHÚ

Đà Nẵng, 1/2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài “Biện pháp kích thích hứng thú của trẻ 24- 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật tại trường mầm non” là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự hướng

dẫn của giảng viên T.S Bùi Việt Phú

Các số liệu và kết luận nghiên cứu trình bày trong đề tài là trung thực, chính xác và chưa từng được trình bày trong nghiên cứu nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Đà Nẵng, ngày 17 tháng 01 năm 2019

Sinh viên

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý của Khoa giáo dục Mầm non, trường Đại học Sư phạm và

giảng viên hướng dẫn T.S Bùi Việt Phú tôi đã thực hiện đề tài : “Biện pháp kích

thích hứng thú của trẻ 24- 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật tại trường

mầm non”

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, tôi xin chân thành cảm ơn

Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa giáo dục Mầm non – trường Đại

học Sư phạm Đà Nẵng đã quan tâm, tạo điều kiện giúp chúng tôi hoàn thành đề tài

nghiên cứu khoa học

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các cô giáo ở trường mầm non

Hoa Ban, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã giúp đỡ tôi trong quá trình khảo

sát, thu thập số liệu tại trường

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới giảng viên T.S Bùi Việt Phú đã tận

tình hướng dẫn, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài này

Tôi xin cảm ơn gia đình đã luôn động viên, tạo điều kiên học tập tốt nhất cho

tôi, tôi cũng xin cảm ơn các bạn đã giúp đỡ, trao đổi thông tin về đề tài trong quá

trình thực hiện đề tài

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất

Song vẫn còn nhiều thiếu sót vì một số khó khăn Tôi rất mong sự góp ý của thầy cô

để đề tài nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày 17 tháng 01 năm 2019

Sinh viên

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

3.1 Khách thể nghiên cứu 2

3.2 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Phạm vi nghiên cứu 3

5.1 Phạm vi về không gian 3

5.2 Phạm vi về thời gian 3

5.3 Phạm vi về độ tuổi 3

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 3

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3

7.3 Phương pháp thống kê toán học 4

8 Cấu trúc đề tài 4

PHẦN NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỨNG THÚ CỦA TRẺ 24-36 THÁNG TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG VỚI ĐỒ VẬT Ở TRƯỜNG MẦM NON 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 6

1.2 Các khái niệm chính của đề tài 8

1.2.1 Khái niệm hứng thú 8

1.2.2 Kích thích 11

1.2.3 Hoạt động với đồ vật 11

1.2.4 Kích thích hứng thú của trẻ trong hoạt động với đồ vật 11

Trang 5

1.3 Lý luận về hứng thú của trẻ mầm non 12

1.3.1 Ý nghĩa của hứng thú đối với con người 12

1.3.2 Cấu trúc của hứng thú 13

1.3.3 Phân loại hứng thú 14

1.3.4 Đặc điểm hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi 14

1.4 Lý luận về hoạt động với đồ vật của trẻ 24 – 36 tháng tuổi 18

1.4.1.Ý nghĩa của hoạt động với đồ vật đối với sự phát triển của trẻ 18

1.4.2 Quá trình trẻ hoạt động với đồ vật 19

1.4.5 Tiến trình tổ chức hướng dẫn hoạt động với đồ vật cho trẻ ở trường mầm non 22

1.5 Hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật 24

1.5.1 Vai trò của hứng thú đối với hoạt động với đồ vật của trẻ 24- 36 tháng tuổi 24 1.5.2 Đặc điểm hứng thú của trẻ 24- 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật 25

1.5.3 Biểu hiện hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật 27

1.5.4 Quá trình hình thành hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật 28

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP KÍCH THÍCH HỨNG THÚ CỦA TRẺ 24 – 36 THÁNG TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG VỚI ĐỒ VẬT Ở TRƯỜNG MẦM NON HOA BAN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 32

2.1 Vài nét về đối tượng khảo sát 32

2.2 Khái quát về quá trình điều tra, khảo sát 32

2.2.1 Mục đích khảo sát 32

2.2.2 Đối tượng và thời gian khảo sát 33

2.2.3 Nội dung khảo sát 33

2.2.4 Phương pháp khảo sát 33

2.3 Thực trạng hứng thú của trẻ 24-36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật ở trường mầm non Hoa Ban 33

2.3.1 Thực trạng quá trình hình thành hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật ở trường mầm non Hoa Ban 33

Trang 6

2.3.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về vai trò của hứng thú của trẻ

24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật ở trường mầm non 34

2.3.3 Thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú cũng như những khó khăn gặp phải khi tổ chức hoạt động với đồ vật cho trẻ 24 -36 tháng tuổi 35

2.3.4 Thực trạng hình thức và phương pháp kích thích hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật 37

2.3.5 Thực trạng mức độ biểu hiện hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động tự do với đồ vật ở trường mầm non 41

2.4 Đánh giá chung thực trạng 44

2.4.1 Ưu điểm 44

2.4.2 Hạn chế 44

2.4.3 Nguyên nhân 44

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 46

CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP KÍCH THÍCH HỨNG THÚ CỦA TRẺ 24 – 36 THÁNG TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG VỚI ĐỒ VẬT Ở TRƯỜNG MẦM NON 47

3.1 Cơ sở xây dựng biện pháp 47

3.2 Nguyên tắc chung đề xuất biện pháp 47

3.2.1 Đảm bảo nguyên tắc “Lấy trẻ làm trung tâm” 47

3.2.2 Đảm bảo tính toàn diện của mục tiêu giáo dục mầm non 48

3.2.3 Đảm bảo nguyên tắc cá biệt hoá đối tượng 48

3.2.4 Đảm bảo tính đồng bộ, phù hợp với trẻ mầm non 48

3.2.5 Đảm bảo tính thực tiễn, khả thi 48

3.2.6 Căn cứ vào thực trạng 49

3.3 Biện pháp kích thích hứng thú của trẻ 3-4 tuổi trong hoạt động với đồ vật ở trường mầm non 49

3.3.1 Biện pháp 1: Tạo nhiều khu vực chơi an toàn, hấp dẫn và phù hợp với trẻ 49

3.3.2 Biện pháp 2: Tăng cường sử dụng một số vật liệu chơi cho trẻ hoạt động như bóng, bột, cát, vải, giấy, truyện… 51

Trang 7

3.3.3 Biện pháp 3: Gợi ý, động viên, khích lệ trẻ tích cực trong hoạt động với đồ

vật 53

3.3.4 Biện pháp 4: Sử dụng âm nhạc, thơ, đồng dao hay các trò chơi 55

3.3.5 Biện pháp 5:Tạo tình huống hấp dẫn và cuốn hút trẻ vào tình huống chơi 57

3.4 Thực nghiệm các biện pháp được đề xuất 59

3.4.1 Mục đích thực nghiệm 59

3.4.2 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 59

3.4.3 Nội dung thực nghiệm 60

3.4.4 Tiêu chí và thang đánh giá 60

3.4.5 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm 60

3.4.6 Kết quả điều tra, đánh giá 61

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 69

Trang 9

Bảng 2.5 Các phương pháp giáo viên lựa chọn để kích thích hứng thú của trẻ 24 –

36 tháng tuổi trong hoạt động tự do với đồ vật

Bảng 2.6 Mức độ hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động tự do với đồ vật theo đánh giá của giáo viên

Bảng 2.7 Mức độ hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động tự do với đồ vật ở trường mầm non

Bảng3.1 Mức độ hứng thú của trẻ trước thực nghiệm

Bảng3.2 Mức độ hứng thú của trẻ sau thực nghiệm

Bảng3.3 So sánh hiệu quả thực nghiệm nhóm ĐC và TN về điểm số trung

bình(trước và sau TN)

Bảng3.4 Kiểm định hiệu quả thực nghiệm nhóm ĐC và TN (trước và sau TN)

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Mức độ hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động tự do với

đồ vật theo đánh giá của giáo viên

Biểu đồ 2.2 Mức độ hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động tự do với

đồ vật

Biểu đồ 3.1 So sánh mức độ hứng thú của trẻ trước thực nghiệm

Biểu đồ 3.2 Biểu đồ phân bố tần số mức độ hứng thú của trẻ trước thực nghiệm Biểu đồ 3.3 So sánh mức độ hứng thú của trẻ sau thực nghiệm

Biểu đồ 3.4 Biểu đồ phân bố tần số mức độ hứng thú của trẻ nhóm TN và ĐC (sau TN)

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Như chúng ta cũng đã biết, trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước, là những mầm non cần được chăm sóc và nuôi dưỡng Đất nước đang ngày càng phát triển và đi lên, con người dần có những mức sống cao hơn, hiện đại hơn Chính vì vậy họ đã nhận thức được tầm quan trọng của trẻ và ngày càng có sự quan tâm thích đáng hơn Độ tuổi mầm non là độ tuổi quan trọng nhất trong cuộc đời mỗi con người, thế nên chỉ cần một sai lầm nhỏ trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng cũng sẽ để lại một hậu quả vô cùng to lớn cho sự phát triển của trẻ sau này Vậy nên những người trực tiếp chăm sóc trẻ, đặc biệt là giáo viên mầm non cần phải chú trọng quan tâm đến vấn đề này

Ở mỗi lứa tuổi có một hoạt động chủ đạo nhất định, tạo nên những biến đổi chủ yếu nhất trong các quá trình tâm lý Bước sang tuổi ấu nhi, dưới ảnh hưởng của hoạt động với đồ vật, ở trẻ đã xuất hiện những biến đổi về chất quan trọng, gây nên những nét tâm lý mới quyết định đến sự hình thành và phát triển tâm lý nhân cách của trẻ ấu nhi, đồng thời tạo tiền đề cho hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo

Trẻ mầm non nói chung và trẻ giai đoạn từ 24 – 36 tháng tuổi nói riêng được coi là giai đoạn quyết định cho cả đời người Thông qua hoạt động với đồ vật, ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh cùng với những dạng hành động tri giác và những dạng hoạt động tư duy mới đang được hình thành Trẻ bắt đầu ý thức mình là một con người riêng biệt, khác với mọi người xung quanh Đây là bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển nhân cách của trẻ Nếu được giáo dục đúng đắn, kịp thời sẽ tạo động lực cho sự phát triển tâm lý ở giai đoạn tiếp theo

Trong hoạt động, hứng thú chính là cơ sở, điều kiện để chủ thể nỗ lực khám phá, tích cực tìm tòi, bộc lộ và phát triển những năng lực vốn có của mình Hứng thú giúp chủ thể có được khát vọng hoạt động, làm nảy sinh những xúc cảm tích cực, tăng khả năng chú ý và sức làm việc Dù có gặp phải những khó khăn song nếu có hứng thú, con người vẫn kiên trì và đạt hiệu quả cao

Trang 12

Vì thế, việc hình thành và phát triển hứng thú cho trẻ trong hoạt động với đồ vật là một nhiệm vụ vô cùng cần thiết Bởi trong suốt thời kỳ này, đứa trẻ luôn hướng vào thế giới đồ vật, luôn luôn tìm hiểu, khám phá khi gặp bất kỳ đồ vật nào xung quanh Đó là những hành vi tích cực giúp cho sự phát triển tâm lý của trẻ

Tuy nhiên, do khả năng chú ý của trẻ còn kém, hay bị xao lãng, mất tập trung bởi các tác động bên ngoài nên hứng thú của trẻ thường không kéo dài Hiện nay, ở trường mầm non các giáo viên đã hiểu được tầm quan trọng của việc tạo hứng thú cho trẻ Thế nhưng thực tế nó vẫn chưa đạt được hiệu quả nhất định Họ đã biết cách để tạo được hứng thú cho trẻ nhưng họ chưa biết cách nghĩ ra những tình huống mới, hấp dẫn trẻ mà thường đi theo hướng khác

Cho đến nay, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng vẫn chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề này

Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Biện pháp kích thích hứng thú của trẻ 24- 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật tại trường mầm non” làm

đề tài nghiên cứu của mình

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp kích thích hứng thú cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật

4 Giả thuyết khoa học

Đề tài đã đề xuất được 1 số biện pháp Nếu trong quá trình tổ chức hoạt động với đồ vật mà giáo viên biết vận dụng những biện pháp này thì sẽ nâng cao được hứng thú của trẻ trong hoạt động này ở trường mầm non Hoa Ban nói riêng cũng như các trường mầm non nói chung

Trang 13

với đồ vật ở trường mầm non Hoa Ban thuộc quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở lý luận của biện pháp kích thích nâng cao hứng thú cho trẻ

24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật ở trường mầm non

- Điều tra thực trạng biện pháp kích thích nâng cao hứng thú cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật ở trường mầm non Hoa Ban thuộc quận Hải

Châu thành phố Đà Nẵng

- Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp kích thích nâng cao hứng thú cho

trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật ở trường mầm non

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập nghiên cứu phân tích, tổng hợp, khái quát những tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu Cụ thể hóa lý thuyết nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát

Sử dụng phương pháp quan sát kết hợp theo dõi, ghi chép, chụp ảnh, quay băng hình những biểu hiện hứng thú của trẻ cũng như biện pháp tổ chức hoạt động với đồ vật của giáo viên ở trường mầm non Hoa Ban Cụ thể:

Trang 14

- Tiến hành dự giờ tổ chức hoạt động tự do với đồ vật của giáo viên ở một số lớp nhà trẻ tại trường

- Ghi chép, chụp ảnh và quay băng hình các biểu hiện hứng thú của trẻ và các biện pháp mà giáo viên đã sử dụng

- Xử lý các thông tin thu được

7.2.2 Phương pháp điều tra viết

Sử dụng phiếu điều tra đối với giáo viên mầm non nhằm thu thập các thông tin cần thiết liên quan đến đề tài nghiên cứu

Mẫu phiếu điều tra được trình bày trong phụ lục

7.2.3 Phương pháp đàm thoại

Trao đổi với trẻ, với phụ huynh và giáo viên mầm non để tìm hiểu, làm sáng

tỏ các thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu

7.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Sử dụng phương pháp thực nghiệm nhằm kiểm chứng hiệu quả của các biện pháp đề xuất và đối chiếu với giả thuyết khoa học đề xuất

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phần mềm MS Excel để xử lý các số liệu đã thu thập được

Chương 2: Thực trạng hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động

với đồ vật ở trường mầm non Hoa Ban quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Biện pháp kích thích hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong

hoạt động với đồ vật ở trường mầm non

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỨNG THÚ CỦA TRẺ 24-36 THÁNG TUỔI TRONG

HOẠT ĐỘNG VỚI ĐỒ VẬT Ở TRƯỜNG MẦM NON

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

L.X.Vưgôtxky từng nói “Đối với việc nghiên cứu, hầu như không có vấn đề nào rắc rối hơn vấn đề tìm hiểu hứng thú thực sự của một con người” Những công trình nghiên cứu về hứng thú ở trên thế giới xuất hiện tương đối sớm và ngày được phát triển

Năm 1944 tác giả A.F.Bêliep tiến hành thành công luận án tiến sĩ “Tâm lý học hứng thú” nội dung cơ bản của luận án là những vấn đề lý luận tổng quát về hứng thú trong tâm lý học

Ovide Decroly (1871 – 1932) - bác sĩ và nhà tâm lý người Bỉ khi nghiên cứu

về khả năng tập đọc và tập làm tính của trẻ đã xây dựng học thuyết về những trung tâm hứng thú và về lao động tích cực

Năm 1955, A.P.Ackhadop có công trình nghiên cứu về sự phụ thuộc của tri thức học viên với hứng thú học tập Kết quả cho thấy tri thức của học viên có mối quan hệ khăng khít với hứng thú học tập Trong đó sự hiểu biết nhất định về môn học được xem là một tiền đề cho sự hình thành hứng thú đối với môn học

Năm 1979, nhà tâm lý học Pháp J.B.Dupont có tác phẩm “Tâm lý học hứng

thú” Trong đó, tác giả thể hiện hướng nghiên cứu hứng thú như một khuynh hướng, một nguyện vọng, một xu hướng

Năm 1970, Lukin và Lêvitôp đã nghiên cứu “Hứng thú trong quan hệ với

năng lực” Tác giả G.Isukina với “Nghiên cứu hứng thú trẻ em ở các lứa tuổi” D.P.Xalônhisư nghiên cứu sự phát triển hứng thú nhận thức của trẻ mẫu giáo V.G Ivanôp đã phân tích sự phát triển và giáo dục hứng thú của học sinh lớn trong trường trung học Những công trình nghiên cứu này đã phân tích đặc điểm hứng thú

Trang 16

của từng lứa tuổi, những điều kiện và khả năng giáo dục hứng thú trong các giai

đoạn phát triển lứa tuổi của trẻ

I.K Strong đã nghiên cứu “Sự thay đổi hứng thú cùng với lứa tuổi” Từ

những năm 1931, ông đã đưa ra quan điểm và phương pháp nghiên cứu hứng thú

bằng bảng câu hỏi

Năm 1966, N.I.Ganbiô bảo vệ luận án tiến sĩ về đề tài “Vận dụng tính hứng

thú trong giảng dạy tiếng Nga” Tác giả cho rằng, hứng thú học tập của học sinh là

một phương tiện để nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Nga trong nhà trường

Trong khi đó, V.N.Lepkhin nghiên cứu “ Sự hình thành hứng thú nhận thức cho học

sinh trong công tác nghiên cứu địa phương”

Trong công trình nghiên cứu của mình, L.I.Bôzôvitch đã nêu lên quan hệ

giữa hứng thú tính tích cực học tập của học sinh I.G.Sukina trong công trình “Vấn

đề hứng thú trong khoa học giáo dục” (1972) đã đưa ra khái niệm về hứng thú nhận

thức cùng với biểu hiện của nó, đồng thời bà còn nêu lên nguồn gốc cơ bản của

hứng thú nhận thức là nội dung tài liệu và hoạt động học của học sinh

J.Piaget (1896 – 1996) - nhà tâm lý học nổi tiếng người Thụy Sĩ có rất nhiều

công trình nghiên cứu về trí tuệ trẻ em và giáo dục Ông rất chú trọng đến hứng thú

của học sinh Ông viết: “Nhà trường kiểu mới đòi hỏi phải hoạt động thực sự, phải

làm việc một cách chủ động dựa trên nhu cầu và hứng thú cá nhân” Ông nhấn

mạnh, cũng giống như người lớn, trẻ em là một thực thể mà hoạt động cũng bị chi

phối bởi quy luật hứng thú hoặc của nhu cầu Nó sẽ không đem lại hiệu suất đầy đủ

nếu người ta không khêu gợi những động cơ nội tại của hoạt động đó Ông cho rằng

mọi việc làm của trí thông minh đều dựa trên một hứng thú, hứng thú chẳng qua chỉ

là một trạng thái chức năng động của sự đồng hóa

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú cụ thể như sau:

Năm 1972, tác giả Nguyễn Hải Khoát có công trình nghiên cứu “Hứng thú

học tập các bộ môn của học sinh” Năm năm sau, Phạm Huy Thụ trong Luận văn

“Hiện trạng hứng thú học tập các môn học của học sinh cấp 2 một số trường tiên

Trang 17

tiến” đã điều tra hứng thú học tập các môn của 3 trường tiên tiến và đề xuất các biện

pháp giáo dục nhằm nâng cao hứng thú học tập cho học sinh

Năm 1994, tác giả Hoàng Hồng Liên đã chỉ ra biện pháp tốt nhất để tác động đến

hứng thú của học sinh chính là dạy học trực quan trong nghiên cứu “Bước đầu nghiên cứu những con đường nâng cao hứng thú cho học sinh phổ thông” Cũng nghiên cứu về hứng thú tác giả Lê Bá Chương đưa ra 2 biện pháp tác động đến hứng thú trong Luận văn

“Bước đầu tìm hiểu về dạy học Tâm lý học để xây dựng hứng thú học tập bộ môn” bao gồm trang bị tri thức mới, cách nhìn mới về Tâm lý học và tiến hành dạy học nêu vấn đề

Với đề tài nghiên cứu “Hứng thú học tập của học sinh cấp 2 đối với các môn học cụ thể”, tổ Nhân cách, khoa Tâm lý – Giáo dục, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã chỉ ra sự không đồng đều trong hứng thú học tập các môn của học sinh

Phạm Thị Ngạn với đề tài “Nghiên cứu hứng thú học tập môn Tâm lý học của sinh viên Cao đẳng Sư phạm Cần Thơ” đã kết luận biện pháp hữu hiệu để nâng cao hứng thú học tập cho sinh viên là cải tiến và sử dụng hợp lý bài tập thực hành Tâm lý học vào chương trình giảng dạy

Năm 1981, tác giả Phùng Minh Nguyệt với đề tài “Bước đầu tìm hiểu hứng thú

với nghề sư phạm của giáo sinh Cao đẳng Sư phạm Nghĩa Bình”

Năm 1988, Hoài Thị Kim Thu có đề tài “Việc hình thành hứng thú nghề

nghiệp cho học sinh qua giảng dạy môn Vật lý”

Ngoài những công trình nghiên cứu về hứng thú của học sinh hay hứng thú

của người lớn trong công việc thì còn có những công trình nghiên cứu về hứng thú của trẻ em như :

Có khá nhiều luận văn thạc sĩ nghiên cứu về hứng thú của trẻ mầm non Cụ

thể: năm 1998, Đặng Thị Sáu với đề tài “Một số biện pháp gây hứng thú đối với trò

chơi dân gian cho trẻ mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi” Luận văn đã chỉ ra một trong những yếu tố giữ vai trò đặc biệt quan trọng có tác dụng lôi cuốn trẻ tham gia vào trò chơi

đó là phương pháp tổ chức, hướng dẫn trẻ chơi

Tác giả Đỗ Thị Mỹ Đình đã từng nghiên cứu “Một số thủ thuật kích thích hứng thú học tập của trẻ đối với loại tiết học làm quen với thực vật ở lớp mẫu giáo

Trang 18

lớn” Hoàng Thị Hoài với nghiên cứu “Tìm hiểu một vài thủ thuật nhằm kích thích hứng thú học tập của trẻ 5 – 6 tuổi trong tiết học làm quen với môi trường xung quanh”

Năm 2004, TS Hoàng Thị Oanh đã khảo sát mức độ hứng thú của trẻ đối với

từng loại trò chơi (vận động, học tập, …) trong đề tài “Tìm hiểu thực trạng hứng thú với hoạt động chơi của trẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn” Tạ Thị Huyền với đề tài “Một số biện pháp nâng cao hứng thú cho trẻ mẫu giáo nhỡ 4 – 5 tuổi trong hoạt động tạo hình”

Năm 2007, Trần Thị Hồng Minh với đề tài “Nghiên cứu hứng thú của trẻ 5 –

6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh” Tác giả đã chỉ ra môi trường hoạt động, phương pháp tổ chức, bản thân trẻ và nội dung hoạt động có ảnh hưởng lớn đến hứng thú

Như vậy, trên thế giới và ở Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú Tuy vậy, hầu hết các công trình tập trung nghiên cứu vấn đề hứng thú nói chung, còn hứng thú đối với trẻ lứa tuổi mầm non nói riêng chưa thực sự được khai thác nhiều Các biện pháp nâng cao hứng thú cho trẻ mầm non trong các hoạt động khác nhau cũng đã được đề xuất, tập trung khai thác các tác động đến môi trường hoạt động, đặc điểm của trẻ và nội dung hoạt động Nhưng chưa có một nghiên cứu

cụ thể nào về hứng thú của trẻ 24-36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật

Với mong muốn góp phần làm rõ hơn và cụ thể hơn thực trạng tổ chức hoạt động với đồ vật ở trường mầm non Hoa Ban và nâng cao hứng thú cho trẻ tại các lớp nhà trẻ tại trường, trong đề tài nghiên cứu khoa học này, chúng tôi tập trung phân tích cũng như khảo sát và từ đó đề xuất một số biện pháp cụ thể

1.2 Các khái niệm chính của đề tài

1.2.1 Khái niệm hứng thú

Có rất nhiều cách định nghĩa hứng thú theo các khuynh hướng khác nhau Cho đến nay khó có thể có một khái niệm duy nhất, chung về hứng thú

Theo quan điểm của các nhà sinh lý học, đại diện là I.P.Pavlop, coi hứng thú

là “cái làm tăng trương lực, kích thích trạng thái hoạt động của vỏ não”[24]

Nguyễn Khắc Viện lại định nghĩa hứng thú như một biểu hiện của nhu cầu, tạo ra

Trang 19

khoái cảm, là một mục tiêu, huy động sinh lực (thể chất và tâm lý) để cố gắng thực hiện một công việc nào đó

Các nhà tâm lý học Xô Viết cũng có rất nhiều cách giải thích khác nhau về hứng thú Có ý kiến cho rằng, hứng thú biểu hiện ra như là khuynh hướng lựa chọn của con người, của chú ý con người (T.Ribô, N.Ph.Đô-brư-nhin), của tư tưởng, ý định của con người (X.L.Rubinstein)

Hứng thú còn được xem là biểu hiện của tính tích cực hoạt động trí óc và tình cảm (E.K.Strong; X.L.Rubinstein)

Hứng thú được giải thích như là động lực của những cảm xúc khác nhau (Đ.Phrêi-et) và tính nhạy cảm đặc biệt của trẻ em (S.Biu-le) L.A.Gô-đon thì cho rằng, hứng thú là sự kết hợp độc đáo các quá trình tình cảm – ý chí và trí lực, tính tích cực nhận thức và hoạt động của con người được nâng cao

A.G.Kovaliep lại định nghĩa: “Đó là thái độ riêng của cá nhân đối với đối tượng, ý thức được ý nghĩa của cuộc sống và sự hấp dẫn về tình cảm gây ra” [15]

Như vậy, điểm chung của các tác giả này trong quan niệm về hứng thú là coi hứng thú là thái độ của cá nhân, được thúc đẩy bằng động cơ, gắn với nhu cầu của con người và nó có phương thức biểu hiện riêng

Các nhà tâm lý học tư sản phương Tây lại xem xét hứng thú “là một thuộc tính bẩm sinh, vốn có của con người” (I.PH Shecbac)[31] Cùng quan điểm này,

S.Klaparet kết luận rằng, hứng thú là dấu hiệu của nhu cầu bản năng khát vọng đòi hỏi cần được thoả mãn của cá nhân E.K.Strong, W James, Beaumgasten…lại coi

hứng thú là trường hợp riêng của thiên hướng Hứng thú biểu hiện trong xu thế hoạt

động của con người như là một nét tính cách riêng E.K Strong nhấn mạnh, hứng thú được biểu hiện trong xu thế con người muốn được học một số đối tượng nhất định, yêu thích một vài loại hoạt động và định hướng tích cực vào những hoạt động

đó

Theo từ điển Tâm lý, hứng thú thể hiện nhu cầu nhận thức nhằm đảm bảo cho nhân cách ý thức được mục đích hoạt động và tạo điều kiện cho việc định hướng, làm quen với những sự việc mới, cho việc phản ánh hiện thực một cách đầy

đủ và sâu sắc hơn

Trang 20

PGS.TS Trần Trọng Thuỷ cũng từng khẳng định: “Hứng thú là sự thể hiện xúc cảm của những nhu cầu nhận thức của con người” Cùng với Phạm Minh Hạc,

Lê Khanh, các tác giả này cho rằng, khi ta có hứng thú về một cái gì đó thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức, hiểu ý nghĩa của nó đối với ta; mặt khác ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt với nó, hứng thú sẽ lôi cuốn, hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó tạo ra tâm lý khát khao tiếp cận đi sâu vào nó

Các tác giả trong cuốn Đề cương bài giảng Tâm lý học trẻ em và Tâm lý học

sư phạm đã nêu ra định nghĩa về hứng thú như sau: “Hứng thú là sự định hướng có

lựa chọn của cá nhân vào những sự vật hiện tượng của thực tế xung quanh”[27] Sự định hướng đó được đặc trưng bởi sự vươn lên thường trực tới nhận thức, tới những kiến thức mới ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn

Qua tìm hiểu và dựa trên một số quan niệm trên về hứng thú, tôi sử dụng định nghĩa của nhóm tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Luỹ, Đinh Văn

Vang về hứng thú như sau: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động” Khái niệm này vừa nêu được bản

chất của hứng thú vừa gắn hứng thú với hoạt động của cá nhân Nội hàm của nó nhấn mạnh mặt thái độ của cá nhân đối với đối tượng Trước hết, hứng thú là thái

độ đặc biệt của cá nhân với đối tượng Thái độ này trước hết thể hiện ở sự tò mò, chú ý tới đối tượng, sau đó là sự khao khát đi sâu vào nhận thức đối tượng, sự thích thú khi được thoả mãn, được hoạt động với đối tượng Xúc cảm chính là yếu tố đầu tiên thôi thúc con người tích cực nhận thức để chiếm lĩnh tri thức, tìm ra chân lý

Từ khi mới sinh ra trẻ đã có nhu cầu tìm hiểu, khám phá về thế giới xung quanh và khi trẻ càng lớn thì nhu cầu đó ngày càng lớn hơn nhưng vì trẻ nhỏ chưa

có vốn sống, vốn kinh nghiệm, trẻ chưa thể tự khám phá được về thế giới xung quanh nên người lớn phải giúp đỡ trẻ, phải tổ chức, hướng dẫn trẻ tham gia vào các hoạt động nhằm cho trẻ làm quen, khám phá về môi trường xung quanh Khi trẻ được làm quen với thế giới xung quanh sẽ giúp trẻ tích luỹ được vốn sống, vốn kinh nghiệm, trẻ tích luỹ được những kiến thức, kỹ năng về tự nhiên và xã hội, giúp trẻ được phát triển toàn diện về các mặt: Đức - Trí – Thể - Mỹ - Lao.[2]

Trang 21

Như vậy, với cách định nghĩa này, ta có thể nhận thấy, muốn hình thành và phát triển hứng thú thì phải tạo cơ hội cho trẻ tự mình hoạt động, nâng cao nhận thức về đối tượng và thoả mãn các nhu cầu của cá nhân; tổ chức các hoạt động phù hợp với cá nhân; kích thích xúc cảm tích cực ở trẻ trong hoạt động

1.2.2 Kích thích

Theo từ điển bách khoa toàn thư, kích thích là sự nâng cao mức năng lượng

so với một trạng thái năng lượng cơ bản tùy ý Trong vật lý có một định nghĩa kỹ thuật cụ thể cho mức năng lượng mà thường được gắn với một nguyên tử được nâng lên trạng thái kích thích Hiểu một cách khoa học, kích thích là tác động vào giác quan hoặc hệ thần kinh có tác dụng thúc đẩy, làm cho hoạt động mạnh hơn

1.2.3 Hoạt động với đồ vật

Hoạt động với đồ vật là hoạt động của trẻ với thế giới đồ vật xung quanh nhằm tìm hiểu, khám phá những đặc tính của đồ vật và các chức năng cũng như công dụng của chúng đồng thời cùng một lúc trẻ nắm được phương thức sử dụng đồ vật theo kiểu Người

Như vậy, thông qua hoạt động với đồ vật, trẻ chiếm lĩnh được cái (tên gọi, đặc điểm, tính chất, công dụng của đồ vật) và cách (phương thức sử dụng theo kiểu Người) Thế giới đồ vật chứa đựng những kinh nghiệm lịch sử văn hoá – xã hội Ẩn chứa trong mỗi đồ vật, đồ chơi là sự đi lên của xã hội loài người, là sản phẩm của sự tiến bộ khoa học kỹ thuật Trẻ tiếp xúc với thế giới đồ vật ở từng giai đoạn phát triển của lịch sử sẽ chiếm lĩnh được những kinh nghiệm mà con người gửi gắm trong đó

1.2.4 Kích thích hứng thú của trẻ trong hoạt động với đồ vật

Dựa vào các khái niệm trên, ta có thể rút ra rằng kích thích hứng thú của trẻ trong hoạt động với đồ vật là tác động vào giác quan hoặc hệ thần kinh để thúc đẩy, làm cho quá trình hoạt động với đồ vật của trẻ diễn ra hiệu quả hơn Trẻ khi tham gia tìm hiểu, khám phá những đặc tính của đồ vật và các chức năng cũng như công dụng của chúng trở nên hứng thú hơn Mức độ tò mò, chú ý tới đối tượng, sau đó là sự khao khát đi sâu vào nhận thức đối tượng, sự thích thú khi được thoả mãn, được hoạt động với đối tượng được nâng cao hơn mức bình thường Hay nói cách khác, kích

Trang 22

thích hứng thú cho trẻ trong hoạt động với đồ vật là tác động cụ thể vào bản thân trẻ giúp trẻ tích cực hơn trong hoạt động Chẳng hạn, ban đầu đối tượng chưa thực sự hấp dẫn trẻ nhưng nếu có sự động viên, khuyến khích của giáo viên thì trẻ sẽ bắt đầu tham gia vào hoạt động, dần dần khám phá bao điều thú vị của đối tượng đó

1.3 Lý luận về hứng thú của trẻ mầm non

1.3.1 Ý nghĩa của hứng thú đối với con người

Usinxki đã nói: “Một sự học tập nào mà chẳng có hứng thú gì cả và chỉ tiến hành bằng sức mạnh cưỡng bức thì sẽ giết chết lòng ham muốn học tập của người học Nó sẽ làm cho óc sáng tạo của người học thêm mai một, nó sẽ làm cho người ta thờ ơ với hoạt động này” [4, 100]

Hứng thú có ý nghĩa quan trọng đối với con người nói chung và đối với trẻ

em nói riêng Nó làm nảy sinh khát vọng được hoạt động Đồng thời, nó là động lực thúc đẩy con người say mê hoạt động, hoạt động một cách sáng tạo, làm tăng sức lực làm việc và hiệu quả của hoạt động

Thực tế cho thấy, nếu không có hứng thú chúng ta sẽ không muốn làm bất cứ việc gì,nếu có làm thì cũng trong một tâm thế uể oải, gò bó như thế hiệu quả công việc sẽ không cao Ngược lại nếu có hứng thú nó sẽ mang lại cho chủ thể hoạt động

sự thoải mái, dễ chịu, nỗ lực tìm kiếm các phương thức để đạt được hiệu quả cho công việc dù là đơn giản hay phức tạp Hay nói cách khác, hứng thú giúp phát huy tính tích cực của con người trong hoạt động

Hứng thú có vai trò thúc đẩy, nâng cao quá trình nhận thức của con người A.P.Uxôva đã nhấn mạnh vai trò của hứng thú trong quá trình dạy học như sau: trẻ chỉ có thể nhận thức được một cách có hệ thống các kiến thức, kỹ năng khi mà giờ học làm cho các em hứng thú và gây ra xúc cảm tích cực

Như vậy, hứng thú là động lực thúc đẩy mạnh mẽ con người tự giác hành động, học tập và làm việc một cách hiệu quả Cũng nhờ đó mà tri thức có được một cách dễ dàng, dễ nhớ và dễ tái hiện; chất lượng công việc được đảm bảo; mang lại niềm vui, sự thoải mái tinh thần cần thiết cho cuộc sống con người Không những thế nó còn mang lại những sáng tạo khi mà chủ thể đó tích cực tìm tòi, khám phá để tìm ra bản chất, quy luật hay các mối quan hệ giữa các đối tượng

Trang 23

Đối với trẻ mầm non, hứng thú giúp các em tham gia hoạt động cách tự giác, tích cực và thoải mái hơn Nhờ có hứng thú các em còn phát huy được tính sáng tạo của mình trong quá trình tìm hiểu khám phá, tham gia các hoạt động

Ngoài ra, hứng thú còn giúp cho việc tự giáo dục trở nên dễ dàng và đạt hiệu quả hơn Đặc biệt đối với trẻ mầm non, thông qua việc hình thành và phát triển hứng thú cho trẻ, trẻ sẽ được tự mình trải nghiệm, thực hành, khám phá thế giới đồ vật xung quanh Qua đó, nhân cách trẻ dần dần được hình thành, làm nền tảng cho

sự phát triển toàn diện của trẻ

1.3.2 Cấu trúc của hứng thú

Theo M.G.Marozova, có 3 yếu tố đặc trưng cho hứng thú, cụ thể là:

Thứ nhất : Chủ thể có xúc cảm đúng đắn với đối tượng hoạt động

Thứ hai: Có khía cạnh nhận thức của xúc cảm này (được gọi là niềm vui tìm hiểu và nhận thức)

Thứ 3: Có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động Nghĩa là bản thân hoạt động tự nó lôi cuốn và kích thích hứng thú Những động cơ khác không trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động, chỉ có tác dụng hỗ trợ cho sự nảy sinh và duy trì hứng thú chứ không xác định bản chất của hứng thú [8]

Tuy nhiên, cách phân tích này nhấn mạnh yếu tố xúc cảm với đối tượng và thái độ xúc cảm của nhận thức chứ chưa chú trọng đến nội dung nhận thức đối tượng trong hứng thú

Dựa vào khái niệm về hứng thú nêu trên, tôi cho rằng, hứng thú là sự kết hợp của ba thành tố: xúc cảm, nhận thức và hoạt động Trước hết, hứng thú là thái độ, tình cảm đặc biệt của chủ thể dành cho đối tượng Cũng giống như M.G.Marozova tôi cho rằng, xúc cảm với đối tượng là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất trong cấu trúc của hứng thú Đó là sự thích thú với đối tượng và làm nảy sinh ham muốn được hoạt động chiếm lĩnh đối tượng Đó là thái độ, cái nhìn đầu tiên của chủ thể với đối tượng Tuy nhiên, những cảm xúc đó phải là “cảm xúc tích cực, bền vững của cá nhân với đối tượng mới có thể trở thành một dấu hiệu không thể thiếu được, một

mặt của hứng thú” [1,227]

Trang 24

Bất kỳ hứng thú nào cũng đều bao hàm khía cạnh nhận thức Không có nhận thức thì không có hứng thú Khi bản thân trẻ thích thú với một đối tượng, chúng sẽ

mong muốn được tìm hiểu,khám phá và tìm cách để được hoạt động với đối tượng

đó Càng nhận thức sâu sắc, tỉ mỉ về đối tượng và được trực tiếp trải nghiệm bao nhiêu thì hứng thú càng bền vững bấy nhiêu

1.3.3 Phân loại hứng thú

Có rất nhiều cách phân loại hứng thú theo các chiều hướng khác nhau:

Từ điển tâm lý phân chia hứng thú thành 2 loại là hứng thú trực tiếp – hứng thú do tính chất lôi cuốn của đối tượng tạo nên và hứng thú gián tiếp đối với đối tượng

và công cụ để đạt được mục đích hoạt động

Chúng ta cũng có thể phân loại theo các mức độ của hứng thú:

Nếu xét theo bề rộng chúng ta có thẻ chia làm hai loại: hứng thú rộng –

là hứng thú đối với nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng không sâu; hứng thú hẹp – là hứng thú đi sâu vào một hoặc một vài lĩnh vực nhất định

Xét độ sâu của hứng thú, cũng có 2 loại: hứng thú sâu – là hứng thú đối với bản chất, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng và được biểu hiện ở sự chủ động, tích cực trong hoạt động; hứng thú nông – là hứng thú không đi sâu vào cái bản chất của các đối tượng, biểu hiện ở sự không tích cực, không sáng tạo, hoạt

động mang tính chất đơn điệu

Ngoài ra chúng ta còn có thể phân loại hứng thú theo độ bền vững thành 2 loại là hứng thú bền vững – là loại hứng thú tồn tại trong thời gian dài và không bị phụ thuộc vào các điều kiện khách quan và loại hứng thú không bền vững – là loại hứng thú tồn tại trong thời gian ngắn và chịu sự chi phối của các tác động bên

ngoài Hay theo mức độ hiệu lực, là hứng thú tích cực – là hứng thú gây ra một

phản ứng tích cực nào đó dẫn đến hành động chiếm lĩnh đối tượng và hứng thú thụ động – là hứng thú có tính chiêm ngưỡng, dừng lại ở hứng thú ngắm nhìn (thể thao,

âm nhạc…)

1.3.4 Đặc điểm hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi

Ngay từ những tháng đầu tiên sau khi sinh, đứa trẻ đã thể hiện bản năng được khám phá, được thoả mãn nhu cầu, được hoà nhập trong môi trường mới – xã hội loài

Trang 25

người Với sự vận động và phát triển không ngừng cả về thể chất lẫn tâm lý, đứa trẻ dần thích nghi và làm chủ cuộc sống của mình Chúng sẽ chiếm lĩnh được các kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người để tồn tại và phát triển

Để quá trình chiếm lĩnh đó được diễn ra thuận lợi, người lớn cần tạo ra hứng thú cho trẻ, hướng trẻ tìm tòi, khám phá thế giới xung quanh một cách tự nhiên PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết đã chỉ ra: “Thường thì sự hứng thú với một đối tượng nào đó xuất hiện nhanh chóng ở trẻ cũng lại biến mất và liền được thay thế bằng một hứng thú khác” Hứng thú thật sự bắt đầu có ở tuổi mẫu giáo Tuy nhiên, ngay trong giai đoạn ấu nhi, hứng thú của trẻ cũng đã bắt đầu được nảy sinh và hình thành

Các nghiên cứu đã cho thấy, hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi có một số những đặc điểm sau:

Thứ nhất, hứng thú của trẻ mầm non nói chung và của trẻ ấu nhi nói riêng xuất hiện nhanh chóng và cũng không kéo dài lâu Đặc điểm này xuất phát từ những đặc điểm đặc thù của trẻ trong giai đoạn này Cụ thể, ở độ tuổi này, thời gian tập trung chú ý ngắn và không bền vững Trẻ dễ bị phân tán, dao động, sự di chuyển chú ý từ đối tượng này sang đối tượng khác không rõ nguyên nhân Trẻ chưa điều khiển được chú ý của mình Tính không chủ định cao nếu đồ vật thiếu hấp dẫn và các kích thích tác động không đủ mới lạ và đủ mạnh Trẻ chưa có khả năng di chuyển chú ý theo ý muốn và chưa làm chủ được chú ý của mình

Khối lượng chú ý của trẻ còn hạn chế Trẻ chưa thể cùng một lúc phân phối chú ý vào hai đối tượng Trẻ biết tập trung chú ý vào lời nói của người lớn nếu có

đồ vật đi kèm với lời nói đó Ở cuối độ tuổi này, lời nói đã thực hiện được chức năng hướng dẫn, ngăn cấm hay kích thích trẻ hoạt động

Do đó, hứng thú của trẻ trong độ tuổi này thường không kéo dài, trẻ dễ bị

phân tán và mất tập trung nếu xuất hiện các kích thích phản diện – các kích thích gây mất hứng thú ở trẻ trong hoạt động

Xúc cảm và tình cảm của trẻ ở trẻ 24 – 36 tháng tuổi được nảy sinh dựa trên nền tảng của hai yếu tố là trẻ có thể đi lại, chạy nhảy bằng đôi chân của chính mình

và hành động tích cực với đồ vật

Trang 26

Trẻ biết bộc lộ những tình cảm vui, buồn rõ rệt khi đạt được một kết quả nào

đó trong hoạt động và giao tiếp với mọi người Đây là nền tảng của tình cảm nhận thức Xúc cảm, tình cảm của trẻ còn được xuất hiện với các kích thích ngôn ngữ, với sự thay đổi theo giọng điệu âm thanh và nội dung câu chuyện; các lời đánh giá, động viên, khuyến khích hay ngăn cấm trẻ Phản ứng cảm xúc của trẻ rất rõ đối với

âm nhạc (buồn, vui…), tranh ảnh xấu, đẹp

Ở độ tuổi này, các sắc thái tình cảm thường chiếm lĩnh trẻ, chi phối hoạt động của trẻ Vì thế, muốn khơi dậy và nâng cao hứng thú cho trẻ cần phải lưu tâm đến đặc điểm này

Thứ hai, tính hấp dẫn bên ngoài của đối tượng (màu sắc, hình dáng, chất liệu,

âm thanh, chuyển động…) là yếu tố gây nên hứng thú ban đầu cho trẻ

Trẻ ấu nhi thường hứng thú bởi quá trình hoạt động với đồ vật A.V.Daparozet đã khẳng định: “ Những hứng thú nông cạn nhanh chóng mất đi do

sự hấp dẫn bên ngoài của đối tượng gây nên và được thay thế bằng những hứng thú sâu sắc hơn và bền vững hơn, liên quan đến những điểm chủ yếu, quan trọng của những đối tượng đó Bởi vậy, trẻ nhỏ thường được hấp dẫn bởi quá trình chơi, còn trẻ lớn hứng thú không chỉ bởi quá trình chơi mà cả kết quả của sản phẩm”

Trẻ thường hứng thú với một đối tượng nào đó khi đối tượng đó gây kích thích mạnh, gây sự ngạc nhiên

Hứng thú của trẻ ấu nhi còn phụ thuộc vào đặc điểm khí chất của từng trẻ Khí chất là cách thức đặc trưng mà trẻ nhận thức thế giới xung quanh và tồn tại trong thế giới đó Nó có cơ sở sinh lý là các kiểu hình thần kinh, quy định nhịp độ, tốc độ của các hoạt động tâm lý Khí chất chính là nguyên nhân gây ra sự khác biệt

rõ rệt trong những đặc điểm bên ngoài của hành vi con người Có 9 yếu tố cơ bản đặc trưng cho đặc điểm khí chất của con người, đó là: mức độ hoạt động, cường độ của phản ứng, tính nhịp độ, tính nhạy cảm, dạn dĩ/dè dặt, tính thích nghi, tính kiên trì, khí sắc (hay mức độ thay đổi tâm trạng), khả năng chú ý Từ 9 yếu tố này, người

ta phân định một cách tương đối trẻ thành 3 nhóm:

 Nhóm 1: Dễ Nhóm này bao gồm các đặc điểm sau: mức độ hoạt động, tính nhịp độ, tính thích nghi, dạn dĩ và khí sắc cao

Trang 27

 Nhóm 2: Khởi động chậm Nhóm này bao gồm các đặc điểm sau: mức độ hoạt động trung bình, có tính ỳ khi khởi động, kiên trì ở mức cao

 Nhóm 3: Khó Nhóm này bao gồm các đặc điểm sau: mức độ hoạt động, tính nhịp độ, tính thích nghi, dạn dĩ và khí sắc thấp, ngược lại với nhóm 1.[65]

Mỗi đứa trẻ thuộc kiểu khí chất khác nhau sẽ có các biểu hiện hứng thú không giống nhau Chẳng hạn, một đứa trẻ thuộc nhóm 1 sẽ dễ dàng có hứng thú khi có tác động và mức độ hoạt động lớn Trẻ có thể chơi với các đối tượng khác nhau, trong thời gian tương đối dài và thể hiện những xúc cảm mạnh mẽ Với trẻ nhóm 2, trẻ khó

có hứng thú ngay nhưng một khi hứng thú đã được hình thành thì bền vững, thời gian hoạt động có thể kéo dài hơn trẻ nhóm 1 Ngược lại, với trẻ thuộc nhóm Khó, trẻ khó hứng thú khi có kích thích, biểu hiện ở thái độ thờ ơ trước mọi tác động; tâm trạng hay thay đổi thất thường, phản ứng với bất cứ điều gì chúng không mong đợi Hiểu được đặc điểm khí chất của trẻ không chỉ giúp cho người lớn có cách nhìn nhận, đánh giá thích hợp trước các hành vi của trẻ mà còn có thể đưa ra các biện pháp nâng cao hứng thú phù hợp, giúp đạt hiệu quả của hoạt động với đồ vật

Hứng thú của trẻ nhỏ còn phụ thuộc vào thái độ, cách hướng dẫn, gợi ý của người lớn Lúc này, người lớn đóng vai trò là người tổ chức mối quan hệ giữa trẻ với thế giới đồ vật như đưa đồ chơi đến cho trẻ, chỉ cho trẻ những điểm thú vị mà

đồ vật đó mang lại, hướng dẫn trẻ cách chơi…

Có những trẻ đã tỏ ra hứng thú với một số loại đồ chơi nhất định và say sưa hoạt động với chúng trong thời gian tương đối dài và liên tục

Đầu tuổi ấu nhi, trẻ vẫn chỉ hoạt động chủ yếu một mình và cạnh bạn Sang giai đoạn 30 – 36 tháng, trẻ đã bắt đầu có xu hướng chơi cùng nhau Vì thế, hứng thú của trẻ còn hình thành bởi mối quan hệ cùng chơi với bạn bè Tất nhiên, nguyên nhân đó còn rất hạn chế và không phải có được ở tất cả mọi trẻ Ngoài ra, trong thời

kỳ này, trẻ cũng có chú ý tới sản phẩm của mình Trẻ thích được khen, được nịnh

khi kết quả của mình được tuyên dương, được vỗ tay khích lệ

Hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau Có cả những yếu tố khách quan như tiếng động mạnh, có sự xuất hiện của người lạ, không gian lạ hay sự xuất hiện của đối tượng khác hấp dẫn hơn Có những

Trang 28

yếu tố chủ quan như thiếu sự động viên của người lớn, thái độ của những người xung quanh…

Như vậy khi tổ chức hoạt động cho trẻ chơi tự do với đồ vật thì cần chú ý đến đặc điểm hứng thú của trẻ Qua đó,có những biện pháp phù hợp để gây hứng thú cũng như làm cho hứng thú đó được duy trì và ngày càng được nâng cao mang lại nhiều hiệu quả cho hoạt động [4]

1.4 Lý luận về hoạt động với đồ vật của trẻ 24 – 36 tháng tuổi

1.4.1.Ý nghĩa của hoạt động với đồ vật đối với sự phát triển của trẻ

Hoạt động với đồ vật đóng vai trò là hoạt động chủ đạo của trẻ ấu nhi Ý nghĩa đó thể hiện trước hết ở đối tượng của hoạt động là thế giới đồ vật là đối tượng mới mẻ

Ở thời kỳ hài nhi, trẻ thường thực hiện những hành động phức tạp đối với các đồ vật, nhưng những hành động đó chỉ là những hành động vu vơ (manipulation) chứ chưa nhằm vào việc khám phá chức năng và phương thức sử dụng các đồ vật đó “Do đó, trẻ chơi nghịch với cái thìa cũng chẳng khác với cái bút, cái que” [18]

Nhưng khi bước sang tuổi ấu nhi, mối quan hệ giữa trẻ với thế giới đồ vật được thay đổi đáng kể Đối với trẻ đồ vật không còn là đối tượng để chơi nghịch nữa mà còn chứa đựng một chức năng nhất định và có một phương thức sử dụng tương ứng

Hoạt động với đồ vật chi phối toàn bộ đời sống của trẻ, gây ra những biến đổi về chất, tạo nên những nét tâm lý mới có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành và phát triển tâm lý nhân cách của trẻ ấu nhi Ta có thể dễ dàng nhận thấy những đứa trẻ đang say sưa, hí hoáy nghịch một đồ vật nào đó và lặp lại các hành động với đồ vật đó hằng ngày Toàn bộ quỹ thời gian một ngày của trẻ chủ yếu để dành cho thế giới đồ vật mà trẻ tiếp xúc Trẻ nắm được Cái và Cách chính là đã chiếm lĩnh được kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người chứa đựng trong mỗi đồ vật

Ý nghĩa chủ đạo còn thể hiện bởi hoạt động với đồ vật là tiền đề cho trò chơi đóng vai của trẻ mẫu giáo Chẳng hạn, trẻ có kỹ năng thao tác với các đồ vật (búp

Trang 29

bê, các hình khối…), biết bắt chước các hành động của người lớn (cho búp bê ăn, xếp chồng, xếp cạnh các khối…) Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho thể hiện đúng vai chơi trong trò chơi đóng vai

Hoạt động với đồ vật còn được sử dụng là phương tiện giáo dục và phát triển trẻ lứa tuổi ấu nhi Trước hết, hoạt động với đồ vật là phương tiện phát triển thể chất cho trẻ Cụ thể, hoạt động giúp rèn luyện và phát triển các giác quan (như thị giác, thính giác, xúc giác…); rèn luyện và phát triển vận động thô (hoạt động với các dụng cụ thể thao…), vận động tinh (cầm, nắm, xếp hột, hạt, lôtô,…)

Hoạt động với đồ vật giúp phát triển nhận thức cho trẻ ấu nhi Sang tuổi ấu nhi, việc nắm vững hoạt động với đồ vật tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ trí tuệ của trẻ với các biểu hiện rõ nét: phát triển tri giác và tư duy của trẻ Ban đầu trẻ mới chỉ nhận biết được một dấu hiệu nào đó của đồ vật Dần dần, thông qua hoạt động với đồ vật, tri giác của trẻ được tinh vi và đầy đủ hơn Trẻ nắm được hình dạng, kích thước, màu sắc, mối tương quan giữa các đồ vật Chẳng hạn, trẻ lên 3 có thể tiếp nhận được 5 hình (tròn, bầu dục, vuông, chữ nhật, tam giác); 8 màu (đỏ, da cam, vàng, lục, lam, tím, trắng và đen) Đồng thời, dưới sự giúp đỡ của người lớn, trẻ học được những hành động xác lập mối quan hệ giữa các đồ vật để giải quyết một nhiệm vụ thực tiễn nào đó (lấy que kều quả bóng, lấy dây để xâu hạt…) Nhờ

đó mà tư duy trực quan – hành động được hình thành, tạo tiền đề cho tư duy trực quan – hình tượng ở lứa tuổi mẫu giáo

Hoạt động với đồ vật còn là phương tiện phát triển ngôn ngữ cho trẻ Thông qua hoạt động này, ngôn ngữ của trẻ phát triển rất nhanh theo 2 hướng: nghe hiểu lời nói và hình thành ngôn ngữ (nói) tích cực của trẻ Ngoài ra, hoạt động với đồ vật còn giúp trẻ biết cách bảo quản, giữ gìn các đồ vật, nắm được các quy tắc ứng xử với đồ vật trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày

1.4.2 Quá trình trẻ hoạt động với đồ vật

Hành động với đồ vật của trẻ vẫn theo nguyên tắc “Thử và sai”, lặp đi lặp lại

nhiều lần Nhờ đó mà trẻ nhận thức, tìm hiểu được những tính chất mới lạ của đồ vật

Theo nhà tâm lý học nổi tiếng Đ.B.Elcônhin, hoạt động với đồ vật của trẻ trải qua các giai đoạn sau:

Trang 30

Giai đoạn thứ nhất: Trẻ thực hiện hoạt động với đồ vật cùng người lớn Ví

dụ: người lớn đặt cái thìa vào tay trẻ, cùng trẻ xúc cơm và cùng trẻ đưa thìa cơm lên miệng trẻ Tất nhiên người lớn cần phải cùng trẻ hành động từng thao tác một, cho tới khi hành động của trẻ trở nên thuần thục hơn, chính xác và nhịp nhàng hơn, tới khi trẻ có thể tự thực hiện những hành động đó mà không gặp khó khăn trở ngại nào

Khi đó, chúng ta có thể cùng trẻ hành động hay cùng trẻ thực hiện một công đoạn nào đó riêng lẻ của hành động Điều đó có nghĩa là người lớn cùng trẻ hành động ở giai đoạn đầu, sau đó trẻ tự thực hiện những công đoạn còn lại của hành

động và kết thúc hành động Đó là giai đoạn thứ hai, khi trẻ đã nắm được kỹ năng

hành động với đồ vật

Giai đoạn thứ ba, trẻ tự thực hiện hành động theo sự hướng dẫn của người

lớn Lúc này trẻ tự ngồi vào bàn ăn, người lớn làm mẫu các thao tác hành động, còn trẻ tự thực hiện các thao tác hành động theo mẫu

Giai đoạn thứ tư, khi trẻ tự thực hiện toàn bộ các thao tác hành động một

mình, người lớn chỉ dẫn cho trẻ từng bước của hành động, ví dụ: cầm thìa đúng tay, xúc cơm ít một, từ từ đưa lên miệng để không bị rơi…

1.4.3 Nội dung hoạt động với đồ vật cho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non

Đối với trẻ ấu nhi, nội dung hoạt động với đồ vật được tiến hành theo các chủ đề gần gũi như chủ đề bản thân, gia đình, thế giới thực vật, thế giới động vật, nghề nghiệp… Một số nội dung hoạt động với đồ vật chủ yếu của trẻ ấu nhi bao gồm:

+ Trò chơi thao tác với đồ vật, đồ chơi bao gồm một số nội dung như:

 Xếp hình:

- Xếp chồng các khối gỗ lên nhau, theo chủ đề: cái bàn, cái nhà…

- Xếp các khối gỗ cạnh nhau, theo chủ đề: đường đi, tàu hỏa, cái ghế, cái giường…

- Xếp các khối gỗ cách nhau theo chủ đề: hàng rào, cái cầu,cái cổng,

Trang 31

 Nhận biết, phân biệt: Hình dạng: tròn, vuông; màu sắc: xanh, đỏ, vàng; kích thước: to, nhỏ

 Xâu hạt: xâu hạt thành chuỗi; xâu hạt thành chuỗi theo mẫu

 Nặn: làm quen với đất nặn và các thao tác lăn tròn, ấn dẹt

* Các trò chơi vận động có chủ đề như bịt mắt bắt dê, mèo và chim sẻ, trời nắng trời mưa; trò chơi vận động không có chủ đề; trò chơi với các dụng cụ thể thao

* Trò chơi sinh hoạt (trò chơi mô phỏng, bắt chước): tập kỹ năng sử dụng đồ

dùng, đồ chơi thông qua các trò chơi như sau: ru em ngủ; cho em ăn; nấu ăn; bán hàng; khám bệnh…

Mỗi loại trò chơi đều có nét đặc thù riêng của nó và mức độ phát triển của từng loại trò chơi ở độ tuổi cũng khác nhau

1.4.4 Hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động với đồ vật cho trẻ

24-36 tháng tuổi ở trường mầm non

Hoạt động với đồ vật cho trẻ ấu nhi ở trường mầm non được tổ chức dưới hai hình thức: hoạt động với đồ vật có sự hướng dẫn chủ đích của giáo viên; hoạt động

tự do với đồ vật (hoạt động tự do ở các góc chơi)

Cả hai hình thức trên đều đóng vai trò là hoạt động chủ đạo của trẻ ấu nhi và đều được coi là phương tiện giáo dục và phát triển toàn diện nhân cách trẻ Hoạt động với đồ vật có sự hướng dẫn chủ đích của giáo viên chủ yếu nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng mới của hoạt động với đồ vật; thường được tổ chức theo nhóm nhỏ (8 – 12 trẻ) trong thời gian khoảng 10 – 15 phút; nội dung được định hướng sẵn theo chương trình đã quy định

Hoạt động tự do với đồ vật (hoạt động tự chọn, tự do ở các góc hoạt động) chủ yếu nhằm củng cố, ôn luyện kiến thức, kỹ năng về hoạt động với đồ vật đã biết Ngoài ra, hoạt động vẫn cần cung cấp cái mới về hoạt động với đồ vật cho trẻ Trẻ được tự do lựa chọn các khu vực chơi mà trẻ thích, có thể được thay đổi các nhóm chơi khác nhau Trẻ hoạt động theo nhóm nhỏ trong thời gian khoảng 20 – 30 phút

Khi tổ chức cho trẻ hoạt động với đồ vật ở trường mầm non, người ta thường

sử dụng kết hợp các phương pháp sau:

Trang 32

- Phương pháp trực quan: Đây là phương pháp không thể thiếu khi tổ chức bất kỳ một hoạt động nào cho trẻ Trẻ học thông qua con đường bắt chước Vì thế, cần làm mẫu cho trẻ quan sát và thực hiện theo

- Phương pháp thực hành, luyện tập: Trong hoạt động tự do với đồ vật, phương pháp này vô cùng quan trọng Chỉ khi được trực tiếp trải nghiệm thì trẻ mới

có thể chiếm lĩnh được cả cái và cách ẩn chứa trong thế giới đồ vật phong phú và

- Phương pháp động viên, khuyến khích trẻ: Trẻ nhỏ thích khen và ưa nịnh Phương pháp này giúp trẻ tự tin, thêm hưng phấn để cố gắng hoàn thành nhiệm vụ đặt ra

- Phương pháp đánh giá sản phẩm của trẻ: Giáo viên cần tôn trọng sản phẩm của trẻ, đưa ra những lời nhận xét, đánh giá các sản phẩm đó nhằm tạo nên niềm vui cho trẻ và kích thích trẻ mong muốn tạo ra được nhiều sản phẩm hơn nữa

1.4.5 Tiến trình tổ chức hướng dẫn hoạt động với đồ vật cho trẻ ở trường mầm non

Quá trình hướng dẫn hoạt động với đồ vật cho trẻ gồm ba giai đoạn: Chuẩn

bị cho trẻ đến hoạt động với đồ vật; Tiến hành thực hiện hoạt động với đồ vật cho trẻ; Đánh giá kết quả hoạt động với đồ vật của trẻ

 Giai đoạn 1: Chuẩn bị cho trẻ đến hoạt động với đồ vật

- Lập kế hoạch tổ chức hoạt động với đồ vật cho trẻ

Việc lập kế hoạch tổ chức hoạt động với đồ vật cho trẻ ấu nhi giúp giáo viên chủ động trong công việc, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ ấu nhi ở trường mầm non

Có nhiều loại kế hoạch tổ chức hoạt động với đồ vật cho tẻ ấu nhi ở trường mầm non (kế hoạch trong ngày, kế hoạch tuần, kế hoạch theo cả chủ đề lớn)

Trang 33

Sau đây là mẫu kế hoạch tổ chức hoạt động tự do với đồ vật và kế hoạch hoạt động có chủ định dành cho trẻ 34- 36 tháng tuổi tại trường mầm non:

Kế hoạch tổ chức hoạt động tự do với đồ vật

- Không gian: tạo các khu vực cho trẻ hoạt động

- Chuẩn bị mà sắp xếp đồ vật, đồ chơi, vật liệu chơi ở các góc: góc xâu hạt, góc bế em, góc xem tranh…

- Phương tiện kỹ thuật (nếu có)

- Chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào các góc hoạt động

III Tiến hành hoạt động

1 Hoạt động mở đầu: Giới thiệu góc chơi

2 Hoạt động trọng tâm: Quá trình trẻ chơi

 Hoạt động 1 Trải nghiệm

 Hoạt động 2 Cô làm mẫu

 Hoạt động 3 Trẻ luyện tập

Trang 34

* Hoạt động kết thúc

- Chuẩn bị môi trường hoạt động với đồ vật cho trẻ

Môi trường hoạt động với đồ vật cho trẻ ấu nhi ở trường mầm non bao gồm:

+ Tạo các không gian cho trẻ hoạt động: các khu vực hoạt động cho trẻ + Chuẩn bị, sắp xếp, bố trí đồ vật, đồ chơi tại các khu vực hoạt động

+ Tạo dựng mối quan hệ thân tình giữa giáo viên với trẻ, giữa trẻ với trẻ

 Giai đoạn 2: Tiến hành thực hiện hoạt động với đồ vật cho trẻ

Hoạt động với đồ vật được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau (hoạt động theo nhóm nhỏ, nhóm vừa, cả lớp; hoạt động trong phòng học, ngoài hiên, ngoài sân…) Sử dụng kết hợp các phương pháp, biện pháp đề ra nhằm giúp trẻ tích cực trong hoạt động, chiếm lĩnh đối tượng nhằm đạt hiệu quả hoạt động với đồ vật cho trẻ

 Giai đoạn 3: Đánh giá kết quả hoạt động với đồ vật của trẻ

Đánh giá kết quả hoạt động với đồ vật cần đánh giá về mặt nhận thức, kỹ năng, thái độ của trẻ trong quá trình hoạt động với đồ vật ở trường mầm non Sử dụng các phương pháp như quan sát, đàm thoại, phân tích sản phẩm… để thu thập thông tin trong quá trình đánh giá

Đánh giá kết quả hoạt động với đồ vật của trẻ một cách thường xuyên, liên tục trong từng ngày, từng giai đoạn Đối chiếu kết quả đánh giá với mục tiêu đã đề

ra để đưa ra kế hoạch phù hợp cho trẻ nhằm nâng cao chất lượng hoạt động với đồ vật của trẻ ấu nhi ở giai đoạn tiếp theo

1.5 Hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật

1.5.1 Vai trò của hứng thú đối với hoạt động với đồ vật của trẻ 24- 36 tháng tuổi

Hứng thú không chỉ là yếu tố thúc đẩy con người đi đến hoạt động mà còn trở thành động lực thúc đẩy tính tích cực, sự say mê của con người trong hoạt động Hoạt động có hiệu quả, có đạt kết quả cao chính là nhờ yếu tố hứng thú Ngay cả đối với người lớn, mặc dù có thể dùng đến ý chí để hoàn thành công việc, song nếu

có hứng thú đồng hành thì chắc chắn sẽ mang lại kết quả mong đợi

Trang 35

Muốn đạt được mục đích đặt ra trong hoạt động với đồ vật của trẻ ấu nhi cần thiết phải có hứng thú Có thể khẳng địng rằng, hứng thú càng cao thì hoạt động với đồ vật với tư cách là hoạt động chủ đạo mới có thể phát huy hết ý nghĩa của mình Qua đó, giúp trẻ phát triển toàn diện, đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách con người Bản thân hoạt động với đồ vật đã tạo nên hứng thú đối với trẻ Ngay từ khi sinh ra, đứa trẻ đã nhanh chóng bị hấp dẫn bởi thế giới đồ vật xung quanh chúng với nhiều màu sắc, hình dạng, âm thanh, chất liệu, kích thước hay sự chuyển động… Dần dần, cuối một tuổi, các thao tác với đồ vật bắt đầu xuất hiện nhiều hơn Trẻ có thể say sưa một hồi với việc đóng nắp chai, nghịch ổ chìa khoá…

và lặp đi lặp lại hành động đó nhiều lần hằng ngày Cũng có trẻ đã tỏ ra xu hướng thích một số loại đồ vật nhất định như búp bê, bóng bay

Khi trẻ hứng thú với đồ vật thì trẻ mới có thể được trải nghiệm nhiều hơn Qua đó, bản thân trẻ chiếm lĩnh được các kinh nghiệm lịch sử - xã hội, phát triển khả năng nhận thức, ngôn ngữ cũng như thiết lập các mối quan hệ của trẻ Không những thế, hứng thú cho trẻ sẽ giúp trẻ cảm thấy vui vẻ, hào hứng hơn khi tham gia hoạt động Trẻ được hoạt động với nhiều đối tượng khác nhau, chăm chú hơn và tích cực hoàn thành sản phẩm của mình Qua đó, bản thân trẻ chiếm lĩnh được các kinh nghiệm lịch sử - xã hội, phát triển khả năng nhận thức, ngôn ngữ cũng như thiết lập các mối quan hệ của trẻ

Đặc biệt, vào cuối tuổi ấu nhi, trẻ chuẩn bị chuyển sang hoạt động chủ đạo mới – hoạt động vui chơi Do đó, ảnh hưởng của hứng thú trong hoạt động với đồ vật

là vô cùng quan trọng Chất lượng hoạt động với đồ vật của trẻ phụ thuộc vào mức độ hứng thú Hay nói cách khác, mục đích cuối cùng của hoạt động với đồ vật của trẻ ấu nhi là trẻ nắm được Cái và Cách Nhờ đó, khi chuyển sang hoạt động vui chơi ở lứa tuổi mẫu giáo, trẻ sẽ dựa trên những kinh nghiệm mà trẻ có được khi tương tác với đồ vật để thiết lập những mối quan hệ mới trong quá trình chơi của mình

1.5.2 Đặc điểm hứng thú của trẻ 24- 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật

Bước vào giai đoạn tuổi ấu nhi, thế giới đồ vật mở rộng ra trước mắt trẻ với bao điều bí mật chưa được khám phá Chúng khiến trẻ đi từ ngạc nhiên này đến

Trang 36

ngạc nhiên khác Ta có thể dễ dàng nhận thấy những ánh mắt vui vẻ, thích thú, những cái nhìn chăm chú, say mê khi trẻ đứng trước những đồ chơi màu sắc, có âm thanh và chuyển động được Trẻ tiếp xúc với thế giới đồ vật phong phú, phát hiện ra những thuộc tính bên ngoài cũng như cả những thuộc tính bên trong Qua đó mà đứa trẻ chiếm lĩnh được phương thức sử dụng công cụ theo kiểu Người Chính đối tượng là thế giới xung quanh trẻ đã tạo ra hứng thú cho trẻ Đồng thời với sự hướng dẫn, khích lệ, động viên của người lớn, hứng thú ngày được duy trì và nâng cao dần cùng với sự phát triển của trẻ

Các nghiên cứu đã cho thấy, hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật có một số những đặc điểm sau:

Thứ nhất, khi hoạt động với đồ vật trẻ rất nhanh tìm được hứng thú nhưng hứng thú đó không được kéo dài Đối với trẻ giai đoạn này, chỉ cần nhìn thấy đồ vật, trẻ đã rất thích thú Trẻ cảm thấy vui mừng khi được cầm nắm chúng và nhanh chóng muốn khám phá, chơi với chúng Trẻ muốn tìm hiểu xem phải hành động với

đồ vật ấy như thế nào Thế nhưng sự hứng thú đó lại nhanh chóng mất đi Khi trẻ đã được thỏa mãn sự tò mò, khao khát khám phá của mình thì lúc đó đồ vật cũng trở nên nhàm chán đối với trẻ Và lập tức muốn tìm đến một đối tượng khác Người ta gọi đó là tính không chủ định của trẻ trong hoạt động với đồ vật Tính không chủ định cao nếu đồ vật thiếu hấp dẫn và các kích thích tác động không đủ mới lạ và đủ mạnh

Thứ hai, trẻ luôn hứng thú với vẻ bề ngoài của đồ vật Đối với những đồ vật càng sặc sỡ màu sắc, có nhiều chi tiết bắt mắt, hay hình dáng độc đáo thì càng hấp dẫn trẻ A.V.Daparozet đã khẳng định: “ Những hứng thú nông cạn nhanh chóng mất đi do sự hấp dẫn bên ngoài của đối tượng gây nên và được thay thế bằng những hứng thú sâu sắc hơn và bền vững hơn, liên quan đến những điểm chủ yếu, quan trọng của những đối tượng đó Bởi vậy, trẻ nhỏ thường được hấp dẫn bởi quá trình chơi, còn trẻ lớn hứng thú không chỉ bởi quá trình chơi mà cả kết quả của sản phẩm” Trẻ luôn bị thu hút bởi những đồ vật mới lạ, độc đáo và nhất là những đồ vật có thể chuyển động đối với những đồ vật như thế trẻ càng tò mò muốn tìm hiểu

để tìm ra nguyên lí hoạt động, và chức năng của đồ vật đó

Trang 37

1.5.3 Biểu hiện hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật

Ngay từ những tháng đầu tiên, khi còn nằm trong nôi trẻ đã biết với tay lên để lấy những đồ vật mà ba mẹ treo phía trên nôi Trong những tháng tiếp theo cùng với

sự phát triển củ hệ vận động trẻ đã biết sờ mó, cầm nắm các đồ vật các đồ vật xung quanh rồi hành động với chúng như ném xuống, gõ các vật xuống sàn hay dùng hai vật gõ vào nhau Nhiều trẻ tỏ ra thích thú và vui vẻ khi được tiếp xúc với thế giới đồ vật nhiều màu sắc, âm thanh Chúng lặp đi lặp lại một động tác nào đó như ném quả bóng, đập xắc xô, thậm chí còn làm lại động tác đó với một đồ vật khác Nhiều trẻ còn ném tất cả những đồ vật người lớn đưa cho chúng và xem đó là niềm thích thú và

tỏ ra khoái chí Đó chính là những dấu hiệu sơ khai của hứng thúvà những hành động

đó là những tiếp xúc ban đầu với thế giới xung quanh trẻ, làm tiền đề cho việc hoạt động với đồ vật sau này của trẻ

Hoạt động với đồ vật là hoạt động chủ đạo của trẻ ấu nhi Dựa vào cấu trúc cũng như đặc điểm hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi, tôi nhận thấy hứng thú của trẻ trong hoạt động tự do với đồ vật của trẻ được biểu hiện ở các mặt sau:

- Thái độ xúc cảm của trẻ:

+ Thái độ của trẻ trước khi hoạt động: Trẻ háo hức chờ đợi được tham gia hoạt động với đồ vật, không tỏ thái độ thờ ơ khi bắt đầu hoạt động

+ Thái độ của trẻ trong quá trình hoạt động: Trẻ tỏ ra hào hứng, phấn chấn

trong suốt quá trình hoạt động

+ Sau khi thông báo kết thúc hoạt động: Trẻ tỏ ra luyến tiếc, chưa muốn kết thúc hoạt động ngay khi có yêu cầu của giáo viên

- Sự chủ động của trẻ: Ban đầu, trẻ tham gia hoạt động khi có sự gợi ý của

giáo viên Dần dần trẻ chủ động tham gia trong các góc chơi quen thuộc và biểu hiện hứng thú cao hơn là trẻ có thể chơi ở các góc chơi khác nhau

- Độ bền vững của hứng thú: Trẻ có thể tập trung, chú ý hoạt động trong thời

gian khá dài, khoảng trên 2/3 thời gian mà không cần có sự động viên, khuyến khích của giáo viên Ở mức độ thấp hơn, hứng thú của trẻ có thể bị ngắt quãng,

không liên tục trong thời gian hoạt động tự do với đồ vật

Trang 38

- Tần suất hoạt động của trẻ: Trẻ tích cực hoạt động với các đối tượng khác

nhau mà không cần có sự gợi ý của giáo viên Hứng thú hoạt động với đồ vật càng tăng càng kích thích trẻ hướng tới người lớn, mở rộng giao tiếp với mọi người để có

thể chiếm lĩnh được cách thức sử dụng đồ vật xung quanh

- Kết quả hoạt động của trẻ: Mặc dù hứng thú của trẻ ấu nhi chủ yếu xuất

hiện trong quá trình chơi chứ không phải là kết quả chơi, song thành quả đó của trẻ nếu được giáo viên tận dụng có thể khích lệ trẻ hứng thú hơn trong các hoạt động

tiếp theo Khi đã có hứng thú, trẻ có thể hoàn thành trên 70% kết quả hoạt động

Các biểu hiện này cũng chính là cơ sở để chúng tôi đưa ra các tiêu chí đánh giá hứng thú của trẻ trong hoạt động tự do với đồ vật của trẻ ấu nhi ở trường mầm non

1.5.4 Quá trình hình thành hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật

Đối với trẻ ấu nhi, bản thân thế giới đồ vật với sự đa dạng, phong phú về màu sắc, kích thước, hình dạng… đã kích thích trí tò mò và nâng cao hứng thú cho trẻ Chúng tôi cho rằng, quá trình hình thành hứng thú cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi trải qua các giai đoạn sau:

 Giai đoạn 1: Hình thành những xúc cảm ban đầu

Những xúc cảm ban đầu này có thể là sự ngạc nhiên, háo hức trước thế giới đồ vật bày ra trước mắt trẻ Ở trẻ lên hai, các kỹ năng vận động phát triển Trẻ biết bò, biết

đi, biết chạy nhảy, kéo theo việc mở rộng thế giới đồ vật đối với trẻ Trẻ sẽ không ngần ngại bày tỏ thái độ thích thú của mình trước một món đồ vật mà người lớn mang lại

cho trẻ hoặc tự chúng bất chợt tìm thấy

 Giai đoạn 2: Hành động tích cực với đồ vật

Sự ngạc nhiên, háo hức ban đầu đó thúc đẩy trẻ tìm kiếm, khám phá đồ vật Trẻ hoạt động không ngơi nghỉ, chúng xông vào mọi ngóc ngách, đụng chạm tới mọi đồ vật xung quanh bằng tất cả khả năng vận động của mình Mọi thứ ở xung quanh mà trẻ có dịp tiếp xúc đều có thể trở thành đồ chơi cho trẻ Trẻ thích trèo lên, tụt xuống cầu trượt, thích chui gầm bàn, gầm ghế, thích nhảy nhót trên giường thích bật công tắc tivi, đóng mở nắp hộp Những trải nghiệm tích cực mà trẻ có

Trang 39

được khi chơi không chỉ đem đến cho trẻ sự thoả mãn nhu cầu được chơi mà qua đó trẻ còn nắm được những đặc điểm, tính chất, công dụng cũng như cách thức sử dụng đồ vật Và cũng chính nhờ các đặc điểm dần dần được bộc lộ ra đó, trẻ lại càng say mê, càng hoạt động tích cực với đồ vật hơn

 Giai đoạn 3: Duy trì và phát triển hứng thú

Đây là mức độ phát triển cao của hứng thú mà không nhiều trẻ ấu nhi có thể đạt được ngay từ khi lên 2 tuổi Nó thể hiện không chỉ ở thời gian hoạt động kéo dài

mà còn bởi sự kiên trì hoạt động theo con đường thử - sai Hứng thú cao cũng

không nhất thiết thể hiện ở việc trẻ chỉ say mê hoạt động với một đối tượng nhất định mà trẻ có thể hoạt động tích cực với nhiều đồ vật khác nhau (tất nhiên điều này khác với hành động phá phách của những đứa trẻ nghịch ngợm).[45,46]

1.5.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật

Hứng thú của trẻ 24 – 36 tháng tuổi chịu sự tác động của nhiều yếu tố mà

trước hết phải kể đến ảnh hưởng của môi trường hoạt động với đồ vật

Để đảm bảo cho trẻ có thể có hứng thú trong hoạt động với đồ vật thì yếu tố môi trường hoạt động là vô cùng quan trọng Môi trường đó chính là thế giới đồ vật cho trẻ tiếp xúc Đó có thể là những đồ chơi được sản xuất dành cho trẻ (súc xắc, bộ lồng vòng, bộ lồng hộp…); đồ dùng trong sinh hoạt gia đình (bàn ghế, sách, giỏ đựng đồ…); các vật liệu đã qua sử dụng (hộp catton, chai nhựa…); các vật liệu tự nhiên (cát, nước, lá cây, sỏi, đá…) Đó còn là không gian (trong nhà, ngoài sân, ngoài hành lang…) mà trẻ được chơi, được trải nghiệm cùng thế giới đồ vật đó Sự cần thiết phải tính đến đặc điểm nào đó của đồ chơi như màu sắc, kích thước, hình dạng, chất liệu… cũng như sự sắp xếp, bố trí các đồ vật đó trong các khoảng không gian một cách hợp lý sẽ là điều kiện tiên quyết ảnh hưởng tới việc duy trì và nâng cao hứng thú cho trẻ trong hoạt động tự do với đồ vật của trẻ ấu nhi Việc đa dạng

và làm phong phú thêm nội dung hoạt động cho trẻ trong môi trường đó cũng ảnh hưởng đến hứng thú của trẻ Nếu trẻ chỉ được hoạt động ở các khu vực với các đồ vật quen thuộc, lặp đi lặp lại hàng ngày thì hứng thú của trẻ sẽ không được duy trì

Trang 40

Nội dung hoạt động với đồ vật của trẻ cần được thay đổi và làm mới, tạo nên tính hấp dẫn, lôi cuốn trẻ vào hoạt động

Giáo viên và các phương pháp, biện pháp mà họ sử dụng cũng là một trong những yếu tố gây ảnh hưởng lớn đến hứng thú của trẻ trong hoạt động với đồ vật

Giáo viên giữ vai trò cơ bản trong việc hình thành hứng thú, vai trò này rất tích cực và nhiều mặt Mặc dù cùng với thời gian, trẻ ngày càng làm chủ hành động với đồ chơi song trẻ vẫn rất cần đến sự trợ giúp của người lớn Giáo viên giữ vai trò

là người tạo môi trường đồ chơi, đồ vật đa dạng, an toàn, hấp dẫn và có khả năng kích thích trẻ chơi Họ là bạn chơi đầy kinh nghiệm giúp trẻ tiếp xúc và bắt đầu hoạt động của mình; giúp duy trì hứng thú cho trẻ khi gặp khó khăn, lúng túng Dựa trên những hiểu biết sát thực nhất về đứa trẻ, người giáo viên lựa chọn các phương pháp, biện pháp phù hợp tác động đến trẻ, dẫn dắt trẻ tự mình tham gia vào môi trường chơi đầy thú vị và tích cực hoạt động trong môi trường đó

Một số kích thích phản diện như âm thanh, người lạ, thời tiết, sức khoẻ, tâm trạng… cũng tác động tới hứng thú của trẻ trong hoạt động với đồ vật

Hứng thú của trẻ mầm non nói chung và của trẻ ấu nhi nói riêng thường không bền vững Trẻ hay chịu ảnh hưởng của các tác động bên ngoài như âm thanh, tiếng động mạnh, sự xuất hiện của người lạ, tình trạng sức khoẻ của bản thân trẻ… Các kích thích phản diện đó xuất hiện có thể là nguyên nhân khách quan làm giảm hoặc làm mất hứng thú của trẻ trong hoạt động tự do với đồ vật của trẻ ấu nhi Do

đó, trong quá trình tổ chức hoạt động này nhằm nâng cao hứng thú cho trẻ, nhà giáo dục cần phải lưu tâm đến những ảnh hưởng do các kích thích phản diện gây nên, lường trước những phản ứng và các tình huống có thể xảy ra Đặc biệt, với những trẻ có cường độ cảm xúc mạnh, nhạy cảm với tiếng động lạ, mạnh thì giáo viên cần

có những phản ứng kịp thời, nhanh chóng giúp trẻ thích nghi và quay trở lại tiếp tục hoạt động

Ngày đăng: 29/04/2021, 16:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w