Nhận thức được vai trò của GVCN trong công tác QL, GDHS tác giả đã chỉ ra các nội dung phương pháp công tác của GVCN với tập thể HS; nội dung và phương pháp quản lý của GVCN với GV khác;
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
- - - - - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài: TÌM HIỂU THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM CỦA
GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Trần Thị Kim Cúc Sinh viên thực hiện : Hồ Thị Thu Phụng
Đà Nẵng, tháng 1/2019
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận, em đã nhận được sự động viên, khuyến khích và tạo điều kiện giúp đỡ nhiệt tình của các cấp lãnh đạo, các thầy
cô giáo, bạn bè và gia đình
Với tình cảm chân thành, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Khoa Giáo dục Tiểu học, thầy Tiến sĩ Hoàng Nam Hải đã dạy cho em học phần Nghiên cứu khoa học ở Tiểu học, BGH trường tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, trường tiểu học Đoàn Thị Điểm và trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ
em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu, hoàn thiện khóa luận
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô Thạc sĩ Trần Thị Kim Cúc, người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thành đề tài
Em xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo chủ nhiệm, thầy cô Tổng phụ trách Đội của 3 trường tiểu học đã giúp đỡ em rất nhiều và tạo điều kiện tốt nhất để em thực hiện đề tài Và em cũng xin cám ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này
Mặc dù đã rất cố gắng, song khóa luận không thể tránh khỏi những khiếm khuyết
Em rất mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý của các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, và quý vị quan tâm để khóa luận hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cám ơn
Đà Nẵng, tháng 1 năm 2019
Hồ Thị Thu Phụng
Trang 3NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
TT Từ viết tắt Giải nghĩa
Trang 4Mục Lục
I Phần mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Khách thể nghiên cứu 2
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài 2
4.1 Giới hạn đối tượng nghiên cứu 2
4.2 Khách thể nghiên cứu 2
4.3 Giới hạn địa bàn nghiên cứu 2
5 Giả thuyết khoa học 2
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên Tiểu học 3
6.2 Tìm hiểu thực trạng về công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên thuộc 3 trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, Đoàn Thị Điểm và Nguyễn Bỉnh Khiêm 3
6.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng chủ nhiệm lớp cho GVTH 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 3
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3
7.3 Phương pháp chuyên gia: 3
7.4 Nghiên cứu sản phẩm: 4
7.5 Phương pháp toán thống kê: 4
8 Cấu trúc của đề tài 4
II Phần nội dung 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 5
1.1 Lịch sử về vấn đề nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài 5
1.2 Khái quát về công tác chủ nhiệm lớp 7
1.2.1 Khái niệm về quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường tiểu học 7
1.2.2 Mục tiêu hoạt động chủ nhiệm lớp của GVCN lớp 7
1.2.3 Phương pháp và hình thức quản lý chủ nhiệm lớp, bao gồm: 8
1.3 Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Tiểu học 8
1.3.1 Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp 8
1.3.2 Nội dung, phương pháp công tác chủ nhiệm lớp 10
1.3.3 Các yêu cầu của giáo viên chủ nhiệm lớp hiện nay 13
Trang 51.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chủ nhiệm 19
1.4.1 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý công tác chủ nhiệm lớp 19
1.4.2 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý công tác chủ nhiệm lớp 19
Tiểu kết chương 1 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 22
2.1 Mục đích 22
2.2 Nội dung khảo sát 22
2.3 Phương pháp khảo sát thực trạng 22
2.4 Địa bàn và khách thể khảo sát 22
2.5 Cách thức tiến hành khảo sát 23
2.6 Kết quả khảo sát thực trạng 23
2.6.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên làm công tác chủ nhiệm của 3 trường 23
2.6.2 Nhận thức về vai trò của GVCN trong việc QLGD học sinh 24
2.6.3 Nhận thức về thực trạng một số khuyết điểm của HS hiện nay 24
2.6.4 Những nội dung công việc và hoạt động chủ nhiệm lớp đang thực hiện 27
2.6.5 Những công việc của GVCN 32
2.6.6 Việc tổ chức các hoạt động nhằm GD cho HS tính chia sẻ, biết quan tâm đến người khác và các họat động GD khác 33
2.6.7 Sự phối hợp của GVCN với các bên có liên quan để GD học sinh 37
2.7 Đánh giá thực trạng công tác chủ nhiệm ở các trường Tiểu học 39
2.7.1 Thuận lợi 39
2.7.2 Khó khăn 40
* Tiểu kết chương 2 41
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO KỸ NĂNG THỰC HIỆN CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM CHO GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 42
3.1 Các nguyên tắc khi đề xuất biện pháp 42
3.1.1 Đảm bảo tính hệ thống 42
3.1.2 Đảm bảo tính kế thừa 42
3.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn 42
3.1.4 Đảm bảo tính phát triển 43
3.2 Đề xuất một số biện pháp 43
3.2.1 Biện pháp 1: Tự hoàn thiện phẩm chất và năng lực của người giáo viên chủ nhiệm 43
3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm 44 3.2.3 Biện pháp 3: Lực chọn 1 đội ngũ cán bộ lớp đủ uy tín và năng lực cùng GVCN điều khiển tập thể
Trang 6* Tiểu kết chương 3 49
Kết luận 50
DANH MỤC TƯ LIỆU THAM KHẢO 52
PHỤ LỤC 53
Trang 7I Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Đổi mới căn bản, toàn diện nền GD theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế là một chủ trương lớn của Đảng ta, để thực hiện thắng lợi chủ trương này cần trú trọng phát triển đội ngũ giáo viên cả về số lượng và chất lượng Điều
15 Luật giáo dục năm 2005 đã ghi: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục” [8, tr.40] Vì vậy, quản lý phát triển đội ngũ GV cả về số lượng và chất lượng là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của ngành GD và của các nhà trường Với mỗi GVTH, họ không chỉ dạy chuyên môn mà còn đảm nhận là người thực hiện chức năng GD đạo đức, lối sống, phát triển nhân cách cho từng HS HS tiểu học là những
HS hồn nhiên, sáng tạo, thích khám phá cái mới và thể hiện bản thân, bên cạnh đó, các em còn hạn chế về hiểu biết và kinh nghiệm sống còn ít; nhận thức vấn đề chưa sâu sắc, dễ bị tác động ảnh hưởng đến quá trình phát triển nhân cách Vì vậy, GVCN lớp có vai trò hết sức quan trọng trong trường tiểu học Họ vừa là người thầy, vừa là người cha (mẹ) và người bạn tin cậy chia sẻ, động viên, giáo dục các em kịp thời, hiệu quả nhất GVCN lớp không chỉ là người nắm được những chỉ số quản lí đơn thuần như: tên tuổi, số lượng, hoàn cảnh gia đình học sinh, trình độ học sinh về học lực, hạnh kiểm mà còn phải dự báo được xu hướng tổ chức giáo dục, dạy học phù hợp với điều kiện, khả năng của từng học sinh Người GVCN lớp còn là cầu nối giữa nhà trường và gia đình HS, góp phần thực hiện tốt mối quan
hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội Chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường phụ thuộc phần lớn vào kết quả công tác GD của đội ngũ GV, đặc biệt là hoạt động của đội ngũ GVCN Do đó, quản lý nâng cao chất lượng các hoạt động GDHS của GVCN lớp là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện cho HS ở các nhà trường tiểu học hiện nay
Là GVCN chắc chắn ai cũng muốn lớp mình có những thành tích xuất sắc dẫn đầu trong các hoạt động của nhà trường Ai cũng biết rằng nề nếp là một yếu tố quyết định ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập và việc hình thành nhân cách học sinh Xây dựng nề nếp lớp là việc đầu tiên mà giáo viên phải quan tâm khi nhận lớp chủ nhiệm Với định hướng của ngành giáo dục hiện nay là lấy học sinh làm trung tâm, cho các em tự
Trang 8học, tự quản, tự chiếm lĩnh kiến thức Sự thành công hay thất bại của lớp là dựa vào khả năng quản lý của người GVCN, của đội ngũ Ban cán sự lớp
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Tìm hiểu thực trạng công tác chủ nhiệm của giáo viên ở trường tiểu học” để làm nội dung nghiên cứu cho đề tài này
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn công tác chủ nhiệm lớp ở trường tiểu học nhằm
đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp ở một số trường Tiểu học trên địa bản thành phố Đà Nẵng
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên chủ nhiệm ở các trường tiểu học nhằm nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm cho GVTH
3.2 Khách thể nghiên cứu
Công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên chủ nhiệm ở trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, trường Tiểu học Đoàn Thị Điểm và trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Giới hạn đối tượng nghiên cứu
Thực trạng về công tác chủ nhiệm của giáo viên Tiểu học thuộc 3 trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
4.2 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động chủ nhiệm ở trường Tiểu học thuộc 3 trường trên địa bản thành phố
4.3 Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Tôi tiến hành nghiên cứu trên 3 trường Tiểu học đó là: Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, trường Tiểu học Đoàn Thị Điểm và trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm thuộc địa bàn Quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
5 Giả thuyết khoa học
Trang 9Hiệu quả của công tác chủ nhiệm lớp sẽ được nâng cao để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh nếu có những biện pháp rèn kỹ năng chủ nhiệm lớp một cách khoa học và phù hợp với thực tế giáo dục của địa phương
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên Tiểu học
6.2 Tìm hiểu thực trạng về công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên thuộc 3 trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, Đoàn Thị Điểm và Nguyễn Bỉnh Khiêm
6.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng chủ nhiệm lớp cho GVTH
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập và đọc các tài liệu lý luận, các văn bản pháp qui, các công trình nghiên cứu khoa học về công tác chủ nhiệm lớp, từ đó phân tích và tổng hợp các vấn đề lý luận liên quan đến khóa luận
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
+ Bảng hỏi cha mẹ học sinh về sự phối kết hợp giữa giáo viên chủ nhịêm lớp với cha mẹ học sinh, cộng đồng trong quá trình giáo dục học sinh
+ Bảng hỏi giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp về những công việc của giáo viên chủ nhiệm lớp; những biện pháp quản lý lớp và làm việc với học sinh
+ Bảng hỏi học sinh về công tác chủ nhiệm của giáo viên
- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động chủ nhiệm lớp của các GVCN và công tác quản lý của các hiệu trưởng đối với hoạt động chủ nhiệm lớp của GV
7.3 Phương pháp chuyên gia:
Xin tư vấn thêm từ các giáo viên có kinh nghiệm về công tác chủ nhiệm lớp
Trang 107.4 Nghiên cứu sản phẩm:
Phân tích những sáng kiến về công tác chủ nhiệm và kế hoạch công tác chủ nhiệm của một số GV
7.5 Phương pháp toán thống kê:
Sử dụng phương pháp toán thống kê để xử lý và phân tích các số liệu từ các bảng hỏi thu thập được
8 Cấu trúc của đề tài
Cấu trúc đề tài được chia làm ba phần như sau:
Phần 1 Phần mở đầu
Phần 2 Phần nội dung bao gồm có ba chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
- Chương 2: Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở trường tiểu học
- Chương 3: Đề xuất một số biện pháp
Phần 3 Kết luận
Ngoài phần chính văn còn có phần danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục
Trang 11II Phần nội dung
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1 Lịch sử về vấn đề nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài
Trong hệ thống tổ chức của nhà trường nói chung và trường phổ thông nói riêng, đơn
vị quản lý cơ bản được tổ chức để giảng dạy và giáo dục là lớp học Hình thức này được hình thành từ thế kỉ XVII do nhà giáo dục Tiệp Khắc J.A, Cômenxki (1592 – 1670) đề xướng Mô hình lớp học được duy trì và phát triển ở khắp các nước trên thế giới Để tổ chức và quản lý lớp học bao giờ cũng cần ít nhất một người quản lý, đó chính là giáo viên chủ nhiệm lớp GVCN được hiệu trưởng nhà trường lựa chọn từ những GV ưu tú đang giảng dạy lớp đó, có kinh nghiệm GD, có uy tín trong HS, được hiệu trưởng phân công quản lý lớp học đó Như vậy, khi nói đến GVCN là nói đến quản lý, lãnh đạo, tổ chức và giáo dục học sinh của một lớp
Hiện nay các nước phát triển đã chỉ ra những nội dung GD cho HS tiểu học có liên quan đến công tác chủ nhệm lớp đó là GD kỹ năng sống, GD giá trị sống… Theo UNESCO,
GD tiểu học là giai đoạn mà trẻ bước đầu được hình thành nhân cách, được trang bị những kiến thức cơ bản, những hiểu biết ban đầu về tự nhiên xã hội Đây là những hành trang đầu tiên để các em bước vào cuộc sống sau này Như vậy, người GVCN cần tổ chức các hoạt động khác nhau để HS có thể tham gia và hoàn thiện nhân cách thông qua các hoạt động
đó
Nghiên cứu về công tác chủ nhiệm lớp ở các nhà trường phổ thông đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu trên cả hai phương tiện lý luận và thực tiễn Dưới đây là một số công trình tiêu biểu có liên quan đến đề tài
Tác giả Hà Thế Ngữ đã khẳng định: “Người đứng ra đảm đương vai trò chủ đạo chính trong công tác giáo dục học sinh của từng lớp, trên cơ sở phối hợp các lực lượng giáo dục cũng chính là GVCN’’ [10] Đặc biệt ở các cấp học phổ thông, công tác dạy học, GDHS ngày càng toàn diện hơn, phong phú hơn, sâu sắc hơn, hệ thống hơn với nhiều hình thức hoạt động đa dạng hơn trong và ngoài nhà trường Ở trường tiểu học, HS ở mỗi lớp đồng thời học nhiều GV khác nhau, vấn đề đặt ra là, ai sẽ là người đứng ra phối hợp hoạt động của tất cả các GV dạy trong cùng một lớp nhằm đảm bảo sự tác động GD thống nhất?
Trang 12Người đó chính là GVCN Nhận thức được vai trò của GVCN trong công tác QL, GDHS tác giả đã chỉ ra các nội dung phương pháp công tác của GVCN với tập thể HS; nội dung
và phương pháp quản lý của GVCN với GV khác; Nội dung và phương pháp quản lý của GVCN với cha mẹ HS; xây dựng kế hoạch công tác của GV chủ nhiệm lớp,
Tác giả Hà Nhật Thăng trong “Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông”
đã chủ ra các nhiệm vụ, hoạt động GD mà GVCN phải thực hiện là: GVCN là người thay thế Hiệu trưởng quản lý toàn diện tập thể học sinh một lớp học; GVCN là cố vấn tổ chức hoạt động tự quản của tập thể HS; GVCN phối hợp với các lực lượng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu GD của lớp chủ nhiệm Tác giả đã đưa ra một số phương pháp cụ thể cho GVCN trong QL và GD lớp học như: phương pháp giáo dục cá biệt; phương pháp giáo dục song song; phương pháp bùng nổ sư phạm Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng của công tác chủ nhiệm lớp, tác giả đã đưa ra các yêu cầu cao về phẩm chất và năng lực của người GVCN lớp, đảm bảo cho họ thực sự là những tấm gương sáng, trực tiếp và hiệu quả trong QL và GD HS trong lớp Đồng quan điểm trên, tác giả Phạm Viết Vượng đã đưa ra yêu cầu cao đối với GVCN lớp: “GVCN phải là người có năng lực chuyên môn tốt, có kinh nghiệm làm công tác GD, QLHS, có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình công tác và có uy tín với tập thể HS và tập thể sư phạm, GVCN lớp trở thành linh hồn của lớp, người tập hợp và dìu dắt tất cả lớp phấn đấu xây dựng một tập thể vững mạnh GVCN lớp bằng tổ chức các hoạt động đa dạng để GDHS trở thành con ngoan, trò giỏi, người công dân tốt, những người sống có ích cho Tổ quốc, cho gia đình và bản thân”
Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh đã đề cập công tác chủ nhiệm lớp gắn liền với việc xây dựng và phát triển tập thể HS, GVCN lớp là người đóng vai trò quyết định trong hình thành
và phát triển nhân cách cho HS trong lớp học.Theo tác giả: “ Công tác QL và GD toàn diện
HS chỉ thực sự có kết quả khi họ xây dựng lớp học trở thành tập thể đoàn kết thân ái, có tổ chức, có kỷ luật tự giác, biết giúp đỡ và tạo điều kiện cho mỗi thành viên trong tập thể phấn đấu vươn lên” [11, tr 178] Trên cơ sở đó tác giả đã chỉ ra nội dung và phương pháp xây dựng tập thể học sinh của GVCN; các giai đoạn phát triển của tập thể như một công cụ hữu ích cho việc GDHS chậm tiến về đạo đức
Nhiều nhà khoa học cũng quan tâm đến công tác chủ nhiệm lớp với các công trình của: Nguyễn Dục Quang, Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ, “Những tình huống giáo dục HS
Trang 13của người GVCN”, NXB ĐHQG Hà Nội, 2000; Hà Nhật Thăng (chủ biên)
Ngoài ra còn có một số công trình đã đánh giá được thực trạng và tìm ra giải pháp cho công tác giáo viên chủ nhiệm ở các vùng, địa phuơng khác nhau với các đối tuợng HS khác nhau, đây chính là các căn cứ khoa học cho tác giả xây dựng hệ thống cơ sở lý luận
và thực tiễn của đề tài nghiên cứu Mặc dù vậy vẫn chưa có đề tài nào tập trung đi sâu nghiên cứu các biên pháp cụ thể rèn kỹ năng chủ nhiệm cho giáo viên ở trường tiểu học Vì vậy, đề tài này với mong muốn đi sâu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp nhằm giúp sinh viên ngành GDTH có kiến thức về công tác chủ nhiệm lớp các truờng tiểu học,
1.2 Khái quát về công tác chủ nhiệm lớp
1.2.1 Khái niệm về quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường tiểu học
Cùng với việc dạy chữ, GVCN lớp và GV các bộ môn còn phải thực hiện nhiệm vụ dạy người, thực hiện mục tiêu GD toàn diện của nhà trường Quản lý công tác chủ nhiệm lớp là một quá trình khó khăn, phức tạp chịu tác động bởi các yếu tố khách quan, chủ quan, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới GD nhân cách cho HS GVCN lớp là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình GD nhân cách HS phát triền theo mục tiêu GD của nhà trường Theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”, “Chủ nhiệm là người đứng đầu và chịu trách nhiệm chính trong một số cơ quan nhà nước, một số tổ chức.” [2] Từ các khái niệm và phân tích ở trên, theo cách tiếp cận thì: Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường tiểu học là những tác động của chủ thể quản lý tới các hoạt động GD của GVCN lớp nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu
giáo dục đã đề ra
1.2.2 Mục tiêu hoạt động chủ nhiệm lớp của GVCN lớp
Nhằm làm cho các hoạt động GD trong lớp vận hành đồng bộ, hiệu quả để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh
Chủ thể quản lý hoạt động GD của GVCN lớp gồm: Ban Giám hiệu Nhà trường; Tổ trưởng chuyên môn; GV và GVCN lớp; Ban cán sự lớp; các tổ chức và lực lượng xã hội khác có liên quan Với chức năng, vai trò, vị trí khác nhau, các tổ chức, cá nhân phối hợp chặt chẽ với nhà trường, trong đó thường xuyên, trực tiếp là GVCN lớp chịu trách nhiệm
QL và tổ chức các hoạt động GDHS theo mục tiêu GD của nhà trường tiểu học
Trang 141.2.3 Phương pháp và hình thức quản lý chủ nhiệm lớp, bao gồm:
1.2.3.1 Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp
GVCN lớp chủ động xây dựng chương trình hành động trong tương lai của lớp chủ nhiệm, xác định một cách chính xác nội dung, cách thức, biện pháp và các điều kiện cần có
để thực hiện các mục tiêu GD của lớp học
1.2.3.2 Xây dựng tập thể học sinh lớp chủ nhiệm thông qua việc tổ chức bộ máy tự quản
GVCN lớp lựa chọn đội ngũ cán bộ tự quản theo quan điểm: chọn đúng người, giao đúng việc dựa trên sự lựa chọn dân chủ, bình đẳng, khuyến khích sự ứng cử với những cương lĩnh, kế hoạch hành động phù hợp với từng vị trí Trên cơ sở cơ cấu tổ chức lớp đã được thiết lập gồm các tổ chức cố định hoặc tạm thời để điều hành lớp học thực hiện mục
tiêu của tập thể, xây dựng tập thể đoàn kết thống nhất
1.2.3.3 Chỉ đạo tổ chức thực hiện các nội dung giáo dục toàn diện
Tổ chức đa dạng, phong phú các hoạt động GD chính khóa và ngoại khóa phù hợp với mục tiêu GD của nhà trường
1.2.3.4 Đánh giá kết quả rèn luyện, học tập và sự tiến bộ của HS về các mặt GD
Quy chế đánh giá xếp loại học sinh tiểu học theo thông tư 22/TT-BGDDT năm 2018 của Bộ trưởng Bộ GD - ĐT quy định một số việc phải làm cụ thể của GVCN về đánh giá kết quả học tập và đạo đức của HS để xếp loại mang tính quản lí hành chính
1.2.3.5 Cập nhật hồ sơ công tác giảo viên chủ nhiệm và hồ sơ học sinh
Cập nhật hồ sơ công tác giáo viên chủ nhiệm và hồ sơ học sinh bằng công nghệ thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời
1.2.3.6 Tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường
Phối hợp với các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường, xây dựng môi trường
GD, tổ chức GD và đánh giá học sinh theo mục tiêu GD
1.3 Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Tiểu học
1.3.1 Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp
Công tác chủ nhiệm lớp trong trường học, lớp học là đơn vị cơ bản được thành lập
để tổ chức giảng dạy và GD học sinh Để QL, GD học sinh trong lớp, nhà trường phân công một trong những GV đang giảng dạy có năng lực chuyên môn tốt, có kinh nghiệm làm công
Trang 15tác QL, GD học sinh, có tinh thần trách nhiệm cao và lòng nhiệt tình trong công tác, có uy tín với HS và đồng nghiệp làm chủ nhiệm lớp, đó là giáo viên chủ nhiệm Như vậy khi nói đến người GVCN là đề cập đến vị trí, vai trò, chức năng của người làm công tác chủ nhiệm lớp, còn nói công tác chủ nhiệm lớp là đề cập đến những nhiệm vụ, nội dung công việc mà người GVCN phải làm, cần làm và nên làm [3]
- Nhiệm vụ của GVCN lớp: Tại điều 31, khoản 1, điều lệ truờng Tiểu học: GVCN lớp
trước hết phải là GV giảng dạy bộ môn có nhiệm vụ dạy học và GD theo chương trình, kế hoạch GD, kế hoạch dạy học của nhà trường theo chế độ làm việc của GV do Bộ trưởng
Bộ GD quy định Với vị trí, vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong công tác GD toàn diện cho HS, đòi hỏi GVCN lớp phải đáp ứng những yêu cầu về phẩm chất và năng lực
- Đạo đức nghề nghiệp: GVCN lớp phải thực sự là nhà GD, biết dùng nhân cách của
chính mình để GD nhân cách cho HS, luôn mẫu mực, mô phạm trong học tập, công tác và cuộc sống
- Chuyên môn, nghiệp vụ: GVCN lớp phải đạt các tiêu chí chuẩn nghề nghiệp theo
quy định trong Điều lệ trường Tiểu học, quán triệt đường lối, chính sách, mục tiêu, nguyên
lí GD của Đảng, Nhà nước, mục tiêu GD của bậc học, của khối lớp về kế hoạch, chương trình hoạt động của nhà trường trong năm học và mỗi học kì để vận dụng vào việc tổ chức hoạt động GD HS
Hoạt động GDHS là “hoạt động có mục đích, có tổ chức của GV và HS, hình thành những quan điểm, niềm tin, giá trị, động cơ, thái độ, hành vi, thói quen phù hợp với những chuẩn mực chính trị, đạo đức, pháp luật, thẩm mỹ, văn hóa, làm phát triển nhân cách HS theo mục đích GD của nhà trường và xã hội” [1, tr.7]
Theo nghĩa hẹp, hoạt động GDHS là một bộ phận của chương trình GD ở các trường,
có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển toàn vẹn nhân cách cho HS Thực chất hoạt động GD là GV tổ chức các hoạt động học tập, giao lưu cho HS nhằm nâng cao nhận thức, rèn luyện thói quen, hành vi tốt cho HS theo mục tiêu GD GVCN lớp là chủ thể
QL chịu trách nhiệm trước nhà trường và xã hội về chất lượng HS trong lớp mình Cùng với GV bộ môn, GVCN lớp trực tiếp, thường xuyên xây dựng và tổ chức các hoạt động GD theo kế hoạch hoạt động của nhà trường theo mục tiêu, yêu cầu GD nhân cách của HS Vì vậy, công tác chủ nhiệm lớp ở các trường Tiểu học là hoạt động có mục đích, có tổ chức
Trang 16nhằm hình thành phát triển nhân cách HS theo mục đích giáo dục của nhà trường và xã hội 1.3.2 Nội dung, phương pháp công tác chủ nhiệm lớp
1.3.2.1 Nội dung và phương pháp công tác của giáo viên chủ nhiệm với tập thể học sinh được thể hiện ở các mặt sau:
- Xây dựng các mối quan hệ lành mạnh, đúng đắn trong tập thể lớp
- Quản lý hoạt động xây dựng tập thể lớp vững mạnh, đoàn kết, thân ái của GVCN lớp
Một tập thể vững mạnh là một tập thể có các mối quan hệ lành mạnh, đúng đắn Có
3 mối quan hệ cần xây dựng, đó là: Quan hệ tình cảm (là quan hệ đoàn kết, thân ái, tương trợ, động viên khích lệ nhau trong học tập, tu dưỡng); Quan hệ chức năng (là quan hệ trách nhiệm của các thành viên trong tập thể lớp); Quan hệ tổ chức là quan hệ của cá nhân theo nội qui kỷ luật của tập thể
- Tổ chức các loại hình hoạt động và giao lưu trong tập thể HS Mức độ lôi cuốn
mọi thành viên trong các hoạt động của tập thể: học tập, lao động, văn nghệ, thể thao, vui chơi; sự đoàn két gắn bó của tập thể lớp chủ nhiệm qua các hoạt động
- Xây dựng đội ngũ cán bộ lớp vững mạnh QL xây dựng đội ngũ cán bộ lớp trở
thành cánh tay đắc lực của GVCN trong việc tổ chức và lãnh đạo tập thể Chất lượng tự quản của lớp và tính tích cực của đội ngũ cán bộ lớp trong việc xây dựng tập thể vững mạnh
- Quản lý hoạt động GD truyền thống, xây dựng mục đích học tập trong tập thể HS
Xây dựng mục tiêu cụ thể, phù hợp với mục tiêu chung, với các giai đoạn phát triển của tập thể GD truyền thống quê hương, đất nước và con người Việt Nam cho HS, xây dựng và phát huy truyền thống của trường, lớp, Đội thiếu niên Khắc phục, ngăn ngừa, hạn chế tác hại của các phong tục tập quán lạc hậu, thói quen, tác phong xấu
- Quan tâm GD học sinh cá biệt QL nắm bắt phát huy và khắc phục những biểu hiện
HS cá biệt theo các xu hướng:
+Tích cực: Thể hiện khả năng vượt trội, luôn có sự sáng tạo đòi hỏi GVCN phải nhạy cảm để nắm bắt và hướng dẫn các em phát triển tối đa khả năng của mình
+Tiêu cực: Thể hiện thiếu ý thức tổ chức kỷ luật; học tập yếu kém; vô lễ, thiếu tôn trọng thầy, cô giáo và người lớn tuổi; không vâng lời cha mẹ; lười biếng trong các hoạt
Trang 17động chung; sinh hoạt bê tha, ăn chơi, đua đòi, quậy phá GVCN cần nắm bắt kịp thời, tìm hiểu nguyên nhân để có kế hoạch giáo dục cho các em phát triển đúng hướng
1.3.2.2 Nội dung và phương pháp công tác của giáo viên chủ nhiệm với các giáo viên khác
- Phối hợp với các GV bộ môn, các lực lượng GD khác để thống nhất về mục đích, nội dung, biện pháp GD thế giới quan khoa học, đạo đức cho HS ở mọi nơi, mọi lúc của GVCN
+ Tổ chức hoạt động và giao lưu cho HS giữa của lớp chủ nhiệm, chú trọng những
hoạt động chuyên biệt chứa đựng nội dung GD tư tưởng, đạo đức, pháp luật, nhân văn cho
HS như: Tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn, tổ chức các hoạt động theo chủ đề chính trị - xã hội Thường xuyên phát động các phong trào thi đua với các chủ đề khác nhau để HS rèn luyện những phẩm chất tốt, khắc phục những phẩm chất xấu
+ Nâng cao chất lượng học tập văn hóa cho HS của GVCN lớp QL tổ chức hợp lý
các hoạt động học tập nhằm nâng cao chất lượng học tập văn hóa như: Dạy tốt môn học được phân công giảng dạy ở lớp; Phối hợp với GV bộ môn để tổ chức và hướng dẫn HS học tốt và đều tất cả các môn học; GD ý thức, động cơ học tập đúng đắn; xây dựng phong trào thi đua học tập trên lớp; tổ chức nhiều phong trào học tập ngoài giờ lên lớp; Thường xuyên kiểm tra đánh giá chất lượng học tập của HS
+ Tổ chức hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí QL tổ chức các hoạt động văn hóa,
văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi, giải trí, du lịch, cắm trại, xem triển lãm, hội thi, tham gia lễ hội truyền thống văn hóa, các hoạt động XH nhằm giúp HS sảng khoái tinh thần,
mở mang trí tuệ, phát triển thể chất GD thẩm mỹ, phát triển nhân cách cho HS
- Hoạt động tìm hiểu, nắm vững đối tượng và môi trường GD của GVCN lớp
GVCN thực hiện nhiệm vụ nắm đặc điểm tình hình của lớp: Phong trào, truyền thống, khó khăn, thuận lợi, chất lượng GD chung, kết quả xếp loại văn hóa, hạnh kiểm, bầu
không khí học tập, quan hệ xã hội; về đội ngũ GV giảng dạy tại lớp: uy tín, khả năng, trình
độ; vị trí, vai trò, nhiệm vụ của lớp: đầu cấp, cuối cấp; đặc điểm tình hình địa phương, hoàn cảnh kinh tế của địa phương
- Hoạt động tìm hiểu và nắm vững đặc điểm của từng HS của GVCN Nắm về sơ
yếu lý lịch; Hoàn cảnh sống của HS; Đặc điểm tâm, sinh lý, năng lực, trình độ, sở thích,
Trang 18phẩm chất đạo đức, các mối quan hệ, cách ứng xử của HS trong gia đình, với bạn bè, trong nhà trường và ngoài xã hội; Những biến đổi và sự phát triển về thể chất, tâm lý và xã hội của HS theo các giai đoạn phát triển của lứa tuổi
Việc cập nhật hồ sơ HS Việc cập nhật hồ sơ công tác GVCN và hồ sơ HS không
chỉ là thực hiện yêu cầu quản lí hành chính mà cập nhật hồ sơ HS để theo dõi sự phát triển của các em và khi cần thiết có thể kịp thời can thiệp điều chỉnh
- Hoạt động phối hợp với các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường của G VCN lớp trong GDHS
Hoạt động phối hợp với các GV bộ môn khác trong GDHS GVCN lớp cùng các GV
khác thống nhất yêu cầu GD đối với HS, theo dõi các sổ sách của lớp; thăm dò nguyện vọng
và phát hiện những khó khăn trong học tập của học sinh để phân tích, đánh giá tình hình học tập, trao đổi ý kiến với các GV và kiến nghị những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập của toàn lớp cũng như của từng cá nhân HS; Các GV phụ trách các môn học, căn
cứ vào những thông tin ngược do bản thân thu nhận được, nhất là do GVCN cung cấp, sẽ không ngừng cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; trong đó, chú ý kết hợp tốt giữa hoạt động nội khoá và hoạt động ngoại khoá, giữa việc giúp đỡ HS kém với việc bồi dưỡng HS giỏi, giữa việc giảng dạy và việc GD; GV bộ môn cùng phối hợp với GVCN lớp để tổ chức các hoạt động cho HS; GVCN lớp tham khảo ý kiến của GV bộ môn khi đánh giá HS
1.3.2.3 Nội dung và phương pháp công tác của giáo viên chủ nhiệm với cha mẹ học sinh
- Hoạt động phối hợp với các tổ chức đoàn thể trong lớp chủ nhiệm: GVCN là người
lĩnh hội đồng thời là người có kinh nghiệm trong xây dựng chủ trương, kế hoạch công tác, phong trào của nhà trường và các đoàn thể trong trường, cũng như hoạt động đoàn của lớp chủ nhiệm Phong trào đoàn ở ở các lớp đạt được ở mức nào phụ thuộc vào sự phối hợp nhiệt tình, trách nhiệm của GVCN
- Hoạt động phối hợp với gia đình và các lực lượng xã hội Xây dựng môi trường GD,
tổ chức GD và đánh giá HS đạt kết quả, GVCN lớp cần thường xuyên kết hợp với gia đình
và các lực lượng xã hội để xây dựng môi trường GD lành mạnh, ảnh hưởng tốt đến quá trình GD nhân cách HS
Trang 19- Sự kết hợp giữa các lực lượng giảo dục Sự kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng
GD là điều kiện thuận lợi để GVCN QL hoạt động GDHS ở các trường tiểu học Sự đồng
thuận giữa các lực lượng GD trong xã hội như nhà trường, gia đình và xã hội sẽ tạo thành
chu trình tuần hoàn, khép kín, sức mạnh tổng hợp để QL hoạt động GDHS diễn ra hiệu quả
nhất Sự liên kết chặt chẽ giữa gia đình, Hội phụ huynh của lớp, của trường, Chính quyền
địa phương, các đoàn thể, tổ chức xã hội, dưới sự chỉ đạo của nhà trường, GVCN lớp thông
qua các hoạt động, các hình thức và phương pháp, QLGD phù hợp sẽ góp phần nâng cao
chất lượng GD Sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường, cộng đồng nơi ở, các tổ chức đoàn
thể xã hội tác động trực tiếp đến HS, giúp HS tiếp thu, sàng lọc, điều chỉnh, định hướng,
đánh giá kịp thời về nhận thức, thái độ và hành vi của mình Thực tiễn cho thấy, sự phối
hợp của các lực lượng GD trong QL hoạt động GDHS ở các trường trên địa bàn quận Thanh
Khê hiện nay đang diễn ra có hiệu quả Tuy nhiên, bên cạnh đó, một số địa phương trên địa
bàn Quận hoạt động này được thực hiện còn chưa thường xuyên, hiệu quả chưa cao
1.3.3 Các yêu cầu của giáo viên chủ nhiệm lớp hiện nay
1.3.3.1 Về đạo đức nghề nghiệp
Nếu như GV dạy các môn học quan tâm nhiều hơn đến kết quả nắm kiến thức và
khả năng vận dụng kiến thức đó thì người GVCN thực sự là nhà giáo dục, ảnh hưởng của
họ đến nhân cách HS đến hiệu quả giáo dục còn lớn hơn cả người Hiệu trưởng Chính vì
vậy mức độ phát triển nhân cách, đạo đức nghề nghiệp của người GVCN rất quan trọng,
tác động của nó đến kết quả giáo dục không thua kém gì năng lực sư phạm, vì đặc thù của
nghề này là nhân cách, đạo đức GV cũng trở thành phương tiện giáo dục [5];
Những yêu cầu về nhân cách, đạo đức người GVCN được quy định trong các văn
bản Luật và các văn bản Pháp quy của nhà nước, chẳng hạn như:
Thông tư 22 quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông Tiêu chí 1
Đạo đức nhà giáo:
a) Mức đạt: Thực hiện nghiêm túc các quy định về đạo đức nhà giáo;
b) Mức khá: Có tinh thần tự học, tự rèn luyện và phấn đấu nâng cao phẩm chất đạo đức
nhà giáo;
Trang 20c) Mức tốt: Là tấm gương mẫu mực về đạo đức nhà giáo; chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ đồng nghiệp trong rèn luyện đạo đức nhà giáo
Điều 72 Nhiệm vụ của nhà giáo trong Luật giáo dục (2005) đã quy định [8] Điều này cũng tương đương với Điều 31 về Nhiệm vụ của GV tiểu học trong điều lệ trường tiểu học [6] Đặc biệt Điều 75 (về các hành vi nhà giáo không được làm); Năm 2008 Bộ GD ĐT còn ban hành Quy định đạo đức nhà giáo [6], trong đó quy định về phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, lối sống tác phong, giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo Như vậy, đạo đức nghề nghiệp của người GV là yếu tố quan trọng trong việc giáo dục và hình thành nhân cách cho HS Chính vì thế mà việc tu dưỡng đạo đức và rèn luyện nâng cao phẩm chất
là việc làm vô cùng quan trọng
1.3.3.2 GVCN cần quán triệt đường lối, chính sách, mục tiêu, nguyên lí giáo dục
của Đảng, Nhà nước
GVCN cần quán triệt đường lối, chính sách, mục tiêu, nguyên lí giáo dục của Đảng, Nhà nước Đồng thời phải nắm vững quy chế, điều lệ nhà trường phổ thông, mục tiêu giáo dục của bậc học, của khối lớp về kế hoạch, chương trình hoạt động của nhà trường trong năm học và mỗi học kì để vận dụng vào việc tổ chức hoạt động giáo dục HS Ngoài ra, GVCN còn phải tính đến các hoạt động văn hóa, chính trị, xã hội của địa phương trong từng năm học để phối hợp tổ chức các hoạt động lôi cuốn HS tham gia nhằm giáo dục HS, cũng như góp phần phát triển cộng đồng [6]
1.3.3.3 Thu thập và xử lý thông tin đa dạng về lớp chủ nhiệm
Để xây dựng hồ sơ học sinh và lập kế hoạch phát triển tập thể, GVCN cần tìm hiểu đặc điểm cá nhân, đặc điểm phát triển trí tuệ, xã hội, xúc cảm- tình cảm và thể chất của học sinh, hoàn cảnh học sinh lớp mình phụ trách để hiểu rõ đặc điểm chung về tập thể lớp chủ nhiệm cũng như những đặc điểm riêng, nhu cầu của từng cá nhân HS Trên cơ sở đó tìm ra những cách tiếp cận, để thiết kế nội dung và chiến lược giáo dục, phương pháp tác động phù hợp, cũng như khuyến khích kỉ luật tích cực và ý thức tự giáo dục ở mỗi HS Đây là một trong những biểu hiện của quan điểm trong giáo dục “Hướng vào học sinh” hay là
“Học sinh là trung tâm” [5]
Chuẩn nghề nghiệp GVTH đã yêu cầu GV phải “ phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã
hội để thực hiện hoạt động dạy học cho học sinh”:
Trang 21a) Mức đạt: Cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin về tình hình học tập, rèn luyện của học sinh ở trên lớp; thông tin về chương trình, kế hoạch dạy học môn học và hoạt động giáo dục cho cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh và các bên có liên quan; tiếp nhận thông tin từ cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh và các bên có liên quan về tình hình học tập, rèn luyện của học sinh;
b) Mức khá: Chủ động phối hợp với đồng nghiệp, cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh và các bên liên quan trong việc thực hiện các biện pháp hướng dẫn, hỗ trợ và động viên học sinh học tập, thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học môn học và hoạt động giáo dục;
c) Mức tốt: Giải quyết kịp thời các thông tin phản hồi từ cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh và các bên liên quan về quá trình học tập, rèn luyện và thực hiện chương trình,
kế hoạch dạy học môn học và hoạt động giáo dục của học sinh (Tiêu chí 12) [5] Chính vì vậy mà GVCN cần phải có cách thu thập và xử lý thông tin đầy đủ về HS trước khi xây dựng hồ sơ và lập kế hoạch phát triển tập thể lớp đang được phân công chủ nhiệm
1.3.3.4 GVCN phải biết lập kế hoạch năm học và các kế hoạch giáo dục ngắn hạn khác
Để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu giáo dục, các chủ trương, nhiệm vụ
nhà trường giao cho, GVCN cần phải biết lập kế hoạch giáo dục năm học và các kế hoạch giáo dục ngắn hạn khác một cách hợp lý và khoa học Lâu nay việc lập kế hoạch còn mang tính hình thức, bây giờ GVCN cần có kĩ năng lập kế hoạch khoa học hơn, trong đó các thành tố mục tiêu, nội dung, nguồn lực, biện pháp, thời gian thực hiện, kết quả dự kiến được xác định tường minh, cụ thể, đảm bảo tính khả thi Sau đó là chỉ đạo, tổ chức thực hiện kế hoạch và giám sát, đánh giá việc thực hiện những kế hoạch này
Chuẩn nghề nghiệp GVTH yêu cầu : Xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh:
a) Mức đạt: Xây dựng được kế hoạch dạy học và giáo dục;
b) Mức khá: Chủ động điều chỉnh kế hoạch dạy học và giáo dục phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường và địa phương;
Trang 22c) Mức tốt: Hướng dẫn, hỗ trợ đồng nghiệp trong việc xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục ( Tiêu chí 4 )[5] Chính vì vậy GVCN phải có năng lực tìm hiểu môi trường giáo dục
để tính đến vừa như là điều kiện, nội dung tổ chức giáo dục ngay từ khi lập kế hoạch chủ nhiệm ”
1.3.3.5 Xây dựng tập thể học sinh lớp chủ nhiệm
Đây là chức năng đặc trưng và cũng là yêu cầu đối với GVCN mà các giáo viên bộ môn không thể thay thế Để giáo dục và phát triển toàn diện từng HS, GVCN tất yếu phải xây dựng và phát triển tập thể lớp Nhiệm vụ của người GVCN đưa tập thể lớp từ trạng thái này đến trạng thái phát triển cao hơn Tập thể phát triển là tập thể ở giai đoạn có tính tự quản cao, có dư luận tập thể lành mạnh, các mối quan hệ trong tập thể gắn bó Tập thể phát
triển cũng đồng thời là môi trường học tập thân thiện, chứa đựng văn hóa của mình Trong chiều sâu văn hóa của tập thể là những giá trị, hệ thống các chuẩn mực và niềm tin của HS
Biểu hiện bên ngoài của văn hóa tập thể là các chuẩn mực hành vi, truyền thống, thói quen được tập thể chấp nhận làm nên bộ mặt riêng của lớp học có tác động giáo dục và phát triển từng nhân cách HS Đó chính là văn hóa học đường Môi trường học tập thân thiện là môi trường mà HS được quan tâm mọi mặt, được đảm bảo an toàn, môi trường học tập chất
lượng tốt, giúp HS phát huy hết tiềm năng Trong chuẩn nghề nghiệp GV đã yêu cầu GV
phải “Thực hiện xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh dân chủ, phòng, chống bạo lực học đường” (Tiêu chuẩn 3) [5].Trong tập thể như vậy, GVCN giáo dục động cơ học tập, giá trị, hành vi tích cực, lành mạnh cho HS thuận lợi hơn Sứ mạng của người GV trong thế kỉ XXI là phải biết khơi dậy nhu cầu học hỏi và tự hoàn thiện của HS
1.3.3.6 Tổ chức các hoạt động giáo dục và các hình thức giao lưu đa dạng
Bên cạnh việc sử dụng hệ thống các mối quan hệ và các giá trị, truyền thống trong tập thể để giáo dục HS, GVCN còn phải tổ chức giờ sinh hoạt lớp, hoạt động GD ngoài giờ lên lớp theo chủ đề và các loại hình hoạt động GD đa dạng khác phù hợp với mục tiêu giáo
dục của hoạt động Đây là một nhiệm vụ cơ bản của GVCN Thông qua tổ chức các loại
hình hoạt động phong phú, đa dạng để GV giáo dục hành vi, thói quen ứng xử văn hóa cho
HS về các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ, lao động đồng thời, qua đó phát triển tập thể lớp và từng HS Trong xã hội hiện đại, GVCN rất cần chú trọng giáo dục những giá trị sống và kĩ năng sống (KNS) cho HS để các em có thể tránh được những rủi ro, vượt qua
Trang 23những thách thức ữong cuộc sống Cần phối hợp tổ chức các chủ đề giáo dục những KNS phù hợp với từng lứa tuổi, vùng miền và giáo dục KNS theo tiếp cận bốn trụ cột trong giáo dục thế kỉ XXI “Học để biết, Học để làm, Học để tự khẳng định mình, Học để chung sống với mọi người” Trên thực tế, đa số GV chủ nhiệm không thực hiện đầy đủ và thực hiện một cách hình thức các chủ đề hoạt động ngoài giờ lên lớp
1.3.3.7 Phát hiện kịp thời và ngăn ngừa những xung đột trong lớp
Sự bất hòa và những xung đột nảy sinh là điều khó tránh trong các mối quan hệ giữa các thành viên của tập thể Thực tiễn bạo lực học sinh trong nhà trường hiện nay đang làm mọi người đều bức xúc và để lại hậu quả nặng nề về tâm lí, tinh thần học sinh Do đó, GVCN cần lưu tâm ngăn ngừa và giải quyết kịp thời những mâu thuẫn có thể trong tập thể lớp chủ nhiệm Một tập thể phát triển có văn hóa tổ chức, là môi trường học tập thân thiện thì mâu thuẫn sẽ được giải quyết trên nền của sự thiện chí, tôn trọng, thừa nhận lẫn nhau
1.3.3.8 Đánh giá kết quả tu dưỡng, học tập và sự tiến bộ của HS về các mặt giáo dục
Quy chế đánh giá xếp loại học sinh tiểu học ban hành theo Thông tư số
22/2018/TT-BGDDT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT) quy định một số việc phải làm cụ thể của GVCN về đánh giá kết quả học tập và đạo đức của HS để xếp loại mang tính quản lí hành chính Người GVCN cần thường xuyên thu thập và xử lí thông tin để khích lệ HS vươn lên, hoặc điều chỉnh kịp thời những hành vi không mong đợi của các em Ngoài yêu cầu đánh giá khách quan, công bằng, đánh giá HS còn cần hướng đến làm tăng lòng tự tin, muốn tự hoàn thiện của các em GVCN cần nhìn HS theo quan điểm động và phát triển Quan trọng nhất là GVCN cần phân biệt giữa đánh giá hành vi và đánh giá nhân cách HS, tránh từ hành vi không mong đợi đơn lẻ của HS quy
kết thành đặc điểm nhân cách Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học đã yêu cầu “Kiểm tra,
đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh:
a) Mức đạt: Sử dụng các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập và sự tiến bộ của học sinh;
b) Mức khá: Chủ động cập nhật, vận dụng sáng tạo các hình thức, phương pháp, công cụ kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh;
Trang 24c) Mức tốt: Hướng dẫn, hỗ trợ đồng nghiệp kinh nghiệm triển khai hiệu quả việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập và sự tiến bộ của học sinh Phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường” (Tiêu chí 6) [5]
1.3.3.9 Phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường
Xây dựng môi trường giáo dục, tổ chức giáo dục và đánh giá học sinh GVCN
thường xuyên cần kết hợp với GV bộ môn để giáo dục HS và tổ chức hoạt động tự học nhằm không ngừng nâng cao chất lượng học tập cho HS lớp mình.GVCN cũng phải phối hợp với tổ chức đoàn thể, các tổ chức xã hội khác để GD đạo đức, nề nếp, lối sống cho học sinh; tổ chức và đưa HS vào hoạt động xã hội.Đặc biệt, GVCN cần phối hợp với cha mẹ
HS để xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, dựa trên tình cảm, quan hệ huyết thống, tác động giáo dục đến HS theo mục tiêu giáo dục, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện, đánh giá vì sự tiến bộ của HS Quy chế đánh giá xếp loại học sinh Tiểu học cũng quy định trách
nhiệm GVCN phải “Phối hợp với Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chỉ Minh, Đoàn Thanh
niên cộng sản Hồ Chí Minh và Ban Đại diện cha mẹ học sinh của lớp để tổ chức các hoạt
động giáo dục học sinh” (Điều 19), đồng thời Chuẩn nghề nghiệp GV Tiểu học cũng yêu
cầu GV “Chủ động phối hợp với đồng nghiệp, cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh và các bên liên quan trong thực hiện giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh” ( Tiêu chí 13) [5] GVCN phối hợp với các lực lượng xã hội để xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh
và tổ chức các hoạt động giáo dục HS
Theo Điều lệ nhà trường GV chủ nhiệm có quyền dự các giờ học, hoạt động giáo dục khác của học sinh lớp, trên thực tế GVCN chưa thực hiện quyền này để hiểu và phối hợp với các GV khác giáo dục, phát triển tập thể lớp chủ nhiệm
1.3.3.10 Cập nhật hồ sơ công tác giảo viên chủ nhiệm và hồ sơ học sinh bằng
công nghệ thông tin
Bộ GD-ĐT cũng quy định về hồ sơ học sinh, sinh viên và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ học sinh, sinh viên Việc tổ chức ứng dụng và khai thác công nghệ thông tin trong công tác quản lí học sinh, sinh viên ở các trường là một trong những tiêu chuẩn xét thi đua năm học đối với các cơ sở giáo dục
Việc cập nhật hồ sơ công tác giáo viên chủ nhiệm và hồ sơ học sinh không chỉ là thực hiện yêu cầu từ góc độ quản lí hành chính, mặt khác cập nhật hồ sơ học sinh để theo
Trang 25dõi sự phát triển của các em Trong xã hội hiện đại HS gặp nhiều thách thức về tâm lí, tinh thần, trong khi trong nhà trường nhìn chung chưa có đội ngũ cán bộ thực hiện chức năng tâm lí học đường, nên GVCN cần phải thực hiện chức năng tư vấn thậm chí là tham vấn để
HS tự giải quyết vấn đề bằng chính nội lực của mình [5]
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chủ nhiệm
1.4.1 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý công tác chủ nhiệm lớp
+ Cơ sở vật chất các trường: Các nhà trường đều được đầu tư kinh phí mua sắm các thiết bị dạy học đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của xã hội Đây cũng là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên hiệu quả trong công tác giáo dục của GVCN lớp cũng như công tác quản lý giáo viên chủ nhiệm lớp
+ Các mặt tiêu cực ngoài XH của cuộc sống đô thị hóa đã có tác động không nhỏ tới việc giáo dục HS (hoàn cảnh gia đình, phương tiện giao thông và mạng Internet );
+ Công nghệ thông tin phát triển đã làm cho việc thông tin liên lạc trở nên rất tiện lợi và đã thúc đẩy đổi mới QL có hiệu quả Tuy nhiên công nghệ thông tin cũng đem lại tác động tiêu cực đến việc giáo dục học sinh Những mặt trái của nó tác động trực tiếp vào học sinh nếu không được kiểm soát Do đó công tác chủ nhiệm lớp cần có định hướng đúng, mang tính tích cực, hạn chế những tác động xấu từ việc sử dụng công nghệ thông tin
1.4.2 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý công tác chủ nhiệm lớp
- Trong giai đoạn hiện nay, công tác quản lý công tác chủ nhiệm lớp có một số điều kiện thuận lợi:
+ Bộ GD&ĐT ban hành Điều lệ trường tiểu học và Qui định chuẩn nghề nghiệp GV trong đó có qui định cụ thể về nhiệm vụ của GVCN; Sở GD&ĐT đã có hướng dẫn, chỉ đạo
và tổ chức tập huấn về công tác chủ nhiệm lớp;
+ Đa số cha mẹ HS quan tâm đen việc giáo dục con em và phối hợp tốt với nhả trường trong việc quản lý, giáo dục HS;
+ Đa số GV có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao, thương yêu HS;
+ Đội ngũ CBQL đã được kiện toàn theo qui định, không còn tình trạng thiếu CBQL; + Kỷ cương, nền nếp dạy học đã được xây dựng và duy trì từ trước;
- Bên cạnh đó khó khăn trong công tác chủ nhiệm lớp:
Trang 26+ Kiến thức, kỹ năng các môn Tâm lý học, Giáo dục học của một bộ phận GV chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao về chất lượng GD toàn diện HS và công tác tư vấn học đường;
+ Nhiều giáo viên còn trẻ, ít kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm;
+ Việc quản lý HS, tổ chức các hoạt động cho HS của một số GV rất hạn chế + Việc tổ chức bồi dưỡng, tập huấn cho GVCN còn gặp nhiều khó khăn về thời gian, nội dung, phương pháp;
+ Một bộ phận HS học yếu, cha mẹ ít quan tâm dẫn đến lười học, vi phạm nội qui làm cho GVCN mất nhiều công sức, thời gian vào viêc QL và GD;
Trang 27Tiểu kết chương 1
Qua nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến vấn đề công tác chủ nhiệm lớp, tôi thấy
có một số công trình đã đánh giá đuợc thục trạng và tìm ra giải pháp cho công tác giáo viên chủ nhiệm ở các vùng, địa phuơng khác nhau với các đối tuợng HS khác nhau, đây chính
là các căn cứ khoa học cho tác giả xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu Mặc dù vậy vẫn chưa có đề tài nào tập trung đi sâu nghiên cứu các biên pháp
cụ thể rèn kỹ năng chủ nhiệm cho giáo viên ở trường tiểu học.Vì vậy, đề tài này với mong muốn đi sâu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp các truờng tiểu học, huớng tới nâng cao chất luợng giáo dục toàn diện cho các truờng tiểu học trên địa bàn thành phố nói riêng và nâng cao chất luợng GD và đào tạo cả nước nói chung
Trang 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 Mục đích
Tìm hiểu thực trạng về hoạt động chủ nhiệm lớp ở các trường tiểu học thuộc quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng để có căn cứ đề ra các biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng chủ nhiệm lớp ở các trường tiểu học
2.2 Nội dung khảo sát
Để xác định đúng thực trạng họat động chủ nhiệm lớp của GV các trường tiểu học,
tôi đã tìm hiểu về các vấn đề sau:
- Công tác chủ nhiệm lớp hiện nay ở các trường tiểu học (nội dung công tác chủ
nhiệm lớp và biện pháp mà các GVCN đang áp dụng trong thực tiễn);
- Những yếu tố ảnh hưởng, điều kiện thực hiện công tác chủ nhiệm lớp
2.3 Phương pháp khảo sát thực trạng
- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động chủ nhiệm lớp của các GVCN và công
tác quản lý của các hiệu trưởng đối với hoạt động chủ nhiệm lớp của GV;
- Phương pháp phỏng vấn:
+ Phỏng vấn HS, cha mẹ HS để làm rõ thực trạng công tác chủ nhiệm lóp;
+ Phỏng vấn GV để làm rõ thực trạng công tác quản lý chủ nhiệm lớp của hiệu
trưởng
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
+ Bảng hỏi GV làm công tác chủ nhiệm lớp về những công việc của GVCN lớp;
những biện pháp QL lớp và làm việc với HS (HS cá biệt, HS học kém, HS học giỏi, những
em có hoàn cảnh khó khăn ); những việc làm có hiệu quả ;
2.4 Địa bàn và khách thể khảo sát
Trang 29a) Địa bàn
Tiến hành khảo sát tại 3 trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, trường tiểu học Đoàn Thị Điểm và trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm thuộc quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng b) Khách thể khảo sát
Khảo sát cán bộ là giáo viên chủ nhiệm ở các lớp thuộc 3 trường tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, Đoàn Thị Điểm và Nguyễn Bỉnh Khiêm.Tổng số 92 giáo viên
2.5 Cách thức tiến hành khảo sát
- Thu thập thông tin bằng các bảng hỏi;
- Quan sát một số hoạt động chủ nhiệm lớp của các GVCN của các giáo viên khi
sắp kết thúc kỳ 1 năm học 2018-2019
- Phỏng vấn trực tiếp nhằm làm sáng tỏ một số điểm mà trong bảng hỏi chưa thể
hiện được hết
2.6 Kết quả khảo sát thực trạng
2.6.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên làm công tác chủ nhiệm của 3 trường
Qua thực tế khảo sát 92 giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp tại 03 trường thì số giáo viên có thâm niên công tác từ 20 năm trở lên không có giáo viên nào, số giáo viên có thâm niên công tác 05 năm và làm chủ nhiệm lớp chiếm 11,5% Điều đó cho thấy tình hình đội ngũ GVCN ở các trường này còn rất trẻ cả về tuổi đời và tuổi nghề
Bảng 2.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên làm công tác chủ nhiệm của 3 trường
stt Tiêu chí Thòi gian Số lượng Tỷ lệ %
Trang 30Qua bảng 2.1 cho thấy thâm niên công tác chủ nhiệm từ 02 năm trở lên chiếm 28,3
%, số giáo viên chủ nhiệm có thâm niên từ 6 năm trở lên chiếm 65,2% và số giáo viên mới làm chủ nhiệm năm đầu tiên chiếm 6,5% Như vậy GVCN là những giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm, có đủ điều kiện và tiêu chuẩn để được phân công chủ nhiệm ở các năm sau
2.6.2 Nhận thức về vai trò của GVCN trong việc QLGD học sinh
Để đánh giá nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về vai trò GVCN trong quản
lý học sinh, tôi đánh giá kết quả qua 4 mức độ: Rất quan trọng, quan trọng, bình thường, không quan trọng Kết quả cụ thể ở bảng sau:
Bảng 2.2 Nhận thức về vai trò của GVCN trong việc QLGD học sinh
Kết quả điều tra cho thấy:
- CBQL và GV nhận thức rất đúng và đánh giá cao vai trò của GVCN trong QLGD học sinh; 100% CBQL đều đánh giá cao vai trò của GVCN trong QLGD học sinh; 96,7%
GV được hỏi đều trả lời vai trò của GVCN trong việc QLGD học sinh là rất quan trọng, chỉ
có 3,3 % GV cho rằng vai trò của GVCN ừong việc QLGD học sinh là quan trọng Điều đó
cho thấy nhận thức về vai trò của GVCN trong việc QLGD học sinh là rất quan trọng
2.6.3 Nhận thức về thực trạng một số khuyết điểm của HS hiện nay
Nhằm thấy được một số khuyết điểm của học sinh hiện nay trong trong quá trình học
Trang 31tập ở trường cũng như trong các hoạt động giáo dục khác, tôi tiến hành điều tra khảo sát về các mức độ thực hiện của HS Cụ thể trong bảng sau:
Bảng 2.3 Các biểu hiện về mức độ khuyết điểm ở HS hiện nay
bậc Thường
Trang 32Số liệu ở bảng 2.3 cho thấy:
- Hiện tượng thường xuyên lười học bài là chiếm tỷ lệ cao nhất: 67,3% Tiếp theo
là thường xuyên giao tiếp kém và khả năng hơp tác nhóm kém bởi HS vùng này còn nhút nhát, chưa mạnh dạn tự tin;
- Đôi khi có hiện tượng không trung thực, chiếm 76,9% Thường HS nói dối chuyện vặt như quên mang vở, “bận nên chưa làm bài tập ;
- Một số hiện tượng thường thấy ở HS có liên quan đến ý thức thái độ là điều đánh quan tâm như: Không trung thực, sống thiếu lý tưởng, sống tự do, buông thả, thiếu lòng nhân ái, có hiện tượng xấu về giới tính cần được GVCN quan tâm và GD hơn nữa Các GVCN cần phải đẩy mạnh hơn việc giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho HS, trong đó trước hết cần tập trung giáo dục học sinh về ý thức, thái độ học tập tốt, kỹ năng giao tiếp,
kỹ năng hợp tác trong hoạt động nhóm;
Qua ý kiến phỏng vấn GV cũng có ý kiến cho rằng đôi khi họ gặp phải những tình huống sư phạm phải xử lý, hoặc có những HS bướng bỉnh mà khả năng giải quyết của họ cũng hạn chế Đây là điều mà các Hiệu trưởng cần quan tâm, tổ chức bồi dưỡng cho GV hoặc tổ chức cho GV học tập, chia sẻ kinh nghiệm với nhau
-Việc giáo dục đạo đức cho HS phải cần một quá trình lâu dài và sự phối hợp chặt chẽ về phía nhà trường và gia đình các em Tuy nhiên quá trình này cũng gặp rất nhiều khó khăn trong công tác chủ nhiệm của GVCN Cụ thể đó là:
Bảng 2.4 Nhận thức các khó khăn trong quá trình GD đạo đức cho HS
Các khó khăn Số người đồng tình Phần trăm (%)
Thiếu sự phối hợp của
Giáo viên bộ môn
Trang 33Số liệu bảng 2.4 ở trên cho thấy:
- Các ý kiến về ảnh hưởng từ lớp học có quá nhiều học sinh chậm tiến chiếm tỉ lệ cao nhất: 80,4%, tiếp đó là khó khăn trong việc gặp gỡ cha mẹ HS chiếm 78,8%
- Có nhiều ý kiến của GV tự nhận rằng do: thời gian của giáo viên và kể cả phụ huynh không có nhiều nên công tác gặp gỡ, trao đổi còn nhiều khó khăn; đồng thời khả năng làm việc với phụ huynh trong trao đổi tình hình của HS còn hạn chế nhất định;
2.6.4 Những nội dung công việc và hoạt động chủ nhiệm lớp đang thực hiện
Theo Điều lệ trường tiểu học có quy định về nhiệm vụ của GVCN, mà nhiệm vụ GVCN
bao gồm nhiệm vụ của một GV giảng dạy bộ môn và nhiệm vụ của GVCN Ở đây đề tài
chỉ đi sâu nghiên cứu nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp
Bảng 2.5 Mức độ thực hiện nhiệm vụ của GVCN
Làm rất tốt Làm tốt Bình
thường
Không tốt
1 Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm
lớp thể hiện rõ mục tiêu, nội
dung, phương pháp giáo dục
bảo đảm tính khả thi, phù hợp
với đặc điểm HS, với hoàn cảnh
và sự tiến bộ của cả lớp và của
từng HS;
14 15,2 35 38 43 46,8 0 0
Trang 342 Thực hiện các hoạt động giáo
dục theo kế hoạch đã xây dựng;
25 27,2 36 39,1 30 32,6 1 1,1
3 Phối hơp chặt chẽ với gia đình
học sinh, với các giáo viên bộ
môn, Đoàn thanh niên, các tổ
chức xã hội có liên quan trong
việc hỗ trợ, giám sát việc học
tập, rèn luyện, hướng nghiệp
5 Báo cáo thường kỳ hoặc đột
xuất về tình hình của lớp với
Hiệu trưởng
12 13,0 35 38,0 40 43,4 5 5,6
Số liệu bảng 2.5 trên cho thấy:
Những nhiệm vụ có đa số GVCN thực hiện rất tốt hoặc tốt là nhận xét, đánh gía học sinh cuối kỳ, cuối năm học; báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất cho Hiệu trưởng về tình hình của lớp Tuy nhiên vẫn còn một số giáo viên tự nhận là mình vẫn chưa thực hiện tốt các nhiệm vụ này;
- Một số nhiệm vụ vẫn còn nhiều GVCN thực hiện ở mức độ bình thường hoặc không tốt như: Xây dựng kế hoạch các hoạt động GD thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục bảo đảm tính khả thi, phù họp với đặc điểm HS, với hoàn cảnh và điều kiện thực
tế nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp và của từng HS còn 38% GVCN thực hiện ở mức
độ tốt đặt ra yêu cầu đối với các nhà trường là phải chú trọng bồi dưỡng GVCN về xây dựng kế hoạch các hoạt động GD; bên cạnh đó vẫn còn 43% GVCN thực hiện kế hoạch đề
Trang 35ra ở mức bình thường và 0% GVCN chưa thực hiện tốt nhiệm vụ phối họp giáo dục học sinh Điều đó đặt ra vấn đề về việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch chưa thực sự đồng
bộ và việc thực hiện nhiệm vụ phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục học sinh của giáo viên chủ nhiệm cần phải được chú trọng hơn trong công tác quản lý của hiệu trưởng
nhà trường
Bảng 2.6 Mức độ thực hiện công việc của các GVCN
4 Tìm hiểu tất cả HS về mọi mặt, cả môi
trường xã hội nơi HS cư trú 28 30,4 38 41,3 26 28,3
(văn nghệ, thăm hỏi, ) 35 35,8 38 41,3 19 20,7
10 Giáo dục học sinh chậm tiến bộ 15 16,3 55 59.8 22 22,9
Trang 3611 Tố chức các phong ừào thi đua cho tập
12 Hỗ trợ HS có khó khăn trong học tập 15 16,33 52 56,5 25 27,2
13 Giúp đỡ các em có hoàn cảnh khó khăn 33 35.8 48 52,1 11 11,9
Số liệu bảng 2.6 cho thấy
- Các công việc có số đông GVCN làm tốt là “Giúp đỡ các em có hoàn cảnh khó khăn” có 63,5 % số GVCN làm tốt; công việc “Tìm hiểu học sinh về mọi mặt” có 51,9 %
số GVCN làm tốt; công việc “Phối họp với cán bộ TPT, GV bộ môn” có 51,9 % số GVCN làm tốt; công việc “Rèn nền nếp cho HS” có 53,9% số GVCN làm tốt;
- Các công việc còn nhiều GVCN làm bình thường, có GVCN làm chưa tốt như “Tổ
chức giờ sinh hoạt lớp theo tinh thần đổi mới phương pháp giáo dục” có 69,2 % số GVCN làm bình thường, 7,7 % số GVCN làm chưa tốt; công việc lập kế hoạch, giáo dục học sinh
chậm tiến, hỗ trợ học sinh trong học tập, giáo dục tập thể tự quản, tổ chức giáo dục NGLL,
tổ chức thi đua trong lớp còn trên 50% % số GVCN làm bình thường, và một số GVCN làm chưa tốt
Theo ý kiến của GVCN thì hiện nay công việc chủ yếu trong giở sinh hoạt lớp đều
do GVCN đảm nhận là chính, qua bảng số liều cho thấy có đến gàn 90% số GVCN nhận xét tình hình lớp và triển khai công việc, học sinh chỉ thực hiện các mệnh lệnh của GVCN
là chính, các em chưa có vai trò chủ đạo trong giờ sinh hoạt lớp;
- Một số GVCN đã có sự đổi mới nội dung, hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp Nội dung sinh hoạt lớp đã chủ yếu hướng vào HS, đã chú ý đến việc động viên, khích lệ, tạo không khí nhẹ nhàng, thân thiện Hình thức tổ chức đã có sự chuyển đổi một phần vai trò giữa GV và HS (GV hướng dẫn, HS hoạt động tích cực) Tuy nhiên, sự đổi mới cíăng mới chỉ ở bước đầu, chưa được triển khai tích cực ở tất cả GVCN Mới có 44,2 % số GVCN tổ chức cho nhiều HS được hoạt động tích cực Điều đó đòi hỏi các hiệu trưởng trường tiểu học phải quan tâm đến việc chỉ đạo đổi mới giờ sinh hoạt lớp bằng cách xây dựng khung nội dung, hình thức hoạt động và hướng dẫn, tập huấn cho GVCN
Theo kết quả điều tra HS thì họat động chủ yếu trong giờ sinh họat lớp là thầy/ cô
Trang 37nhận xét tình hình của lớp (chiếm 87,3%), rồi cán bộ lớp báo cáo tình hình của lớp (chiếm 50,6%) và thày cô triển khai công việc tuần tiếp theo (chiếm 79,3%);
Trong một số trường hợp nhất định, HS tự kiểm điểm trước lớp về khuyết điểm của mình (chiếm 54,6%)
So sánh đối chiếu ý kiến của GVCN và HS cho thấy các ý kiến đồng nhất với nhau Như vậy trên thực tế GVCN vẫn đóng vai trò chủ đạo trong buổi sinh họat lớp, chưa phát huy được tính tích cực của HS và vai trò cán bộ lớp chưa được nâng cao.Qua thực tế dự giờ sinh hoạt lớp của một số GVCN, phỏng vấn một số GVCN và HS thấy rằng hoạt động chủ yếu trong giờ sinh hoạt lớp vẫn là việc nhận xét tình hình lớp trong tuần, kiểm điểm các HS và triển khai kế hoạch tuần sau của GVCN; HS có tham gia chỉ là một vài em cán bộ lớp, đa
số HS khác không được hoạt động
Biểu đồ 2.1 Ý kiến của GVCN về biện pháp nắm tình hình HS
Số liệu ở biểu đồ 2.1 cho thấy:
GVCN rất chú trọng việc nắm tình hình và đã sử dụng nhiều kênh thông tin để nắm tình hình HS Kênh thông tin được nhiều GVCN sử dụng nhất là từ sổ ghi đầu bài (100 %), đội cờ đỏ (90,4%), giáo viên bộ môn (86,5%); Đặc biệt chỉ có 48,1 % số GVCN cho rằng
Trang 38họ theo dõi trực tiếp, sát sao tình hình HS hằng ngày, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao; 80,7 % số GVCN đã nắm tình hình HS từ cha mẹ các em, điều này thể hiện sự chú trọng phối hợp với cha mẹ trong QL và GD học sinh;
Mặt khác cũng phản ánh sự hạn chế của một số GVCN trong việc xây dựng ý thức
tự giác, tích cực, tự quản cho HS và trong việc phối họp với cha mẹ các em
2.6.5 Những công việc của GVCN
Kết quả đánh giá về những công việc của giáo viên chủ nhiệm qua thăm dò cho thấy:
Đa số GVCN có tinh thần trách nhiệm khá cao, đã làm nhiều công việc chủ nhiệm lớp trong tuần Đồng thời kết quả đó cũng phản ánh các GVCN khá bận rộn với các công việc chủ nhiệm ngoài việc giảng dạy Điều đó đòi hỏi các Hiệu trưởng nhà trường cần chú ý quan tâm, tạo điều kiện về thời gian cho GVCN và phần công công việc phù hợp với điều kiện của GV;
-Những công việc GVCN hay làm nhất là: “gặp riêng HS mắc khuyết điểm để kiểm điểm, uốn nắn các hành vi không mong muốn ở HS” và “tiếp cha mẹ HS ở trường”, “ghi chép tình hình HS để tiếp tục theo dõi”, chiếm 98,1%;
Cũng có nhiều GVCN dùng biện pháp “thường xuyên khen ngợi, động viên, khích lệ hoặc khơi gợi thành tích của HS”, chiếm 98,1%;
Điều đáng chú ý nữa là việc GVCN rất ít khi đến thăm gia đình HS chỉ có 67,3 % số GVCN và rất hãn hữu “tiếp gia đình HS ở nhà riêng”, chiếm 3,8% Các nhà trường cần chú
ý chỉ đạo tăng cường đồng thời tạo điều kiện cho GVCN thăm gia đình để hiểu HS và hoàn cảnh của các em
* Quan hệ giữa GVCN với HS và việc xây dựng tập thể lớp đoàn kết
Biểu đồ 2.2 Quan hệ giữa GVCN với HS và việc xây dựng tập thể lớp đoàn kết