1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế và sử dụng câu đố trong dạy học lịch sử ở tiểu học

94 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết Kế Và Sử Dụng Câu Đố Trong Dạy Học Lịch Sử Ở Tiểu Học
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hoài
Người hướng dẫn Th.s Trần Thị Kim Cúc
Trường học Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Chuyên ngành Giáo Dục Tiểu Học
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2019
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì lẽ đó, việc đưa câu đố vào trong các tiết học Lịch sử sẽ giúp tiết học sinh động, học sinh sẽ được phát huy bản thân, vận dụng những kiến thức đã được học để giải đáp câu đố lịc

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

- - - - - - - - -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG CÂU ĐỐ TRONG DẠY HỌC

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Trần Thị Kim Cúc đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này

Và em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng; các thầy cô và các em học sinh trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi đã góp ý chân thành, tạo điều kiện thuận lợi nhất và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài

Do điều kiện và thời gian còn hạn chế, đề tài khóa luận không tránh khỏi những sơ suất và thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 12 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Thanh Hoài

Trang 3

MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Giả thuyết khoa học 3

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 4

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4

7.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm 4

7.2.2 Phương pháp đàm thoại 4

7.2.3 Phương pháp điều tra bằng anket 4

7.2.4 Phương pháp thống kê 4

7.2.5 Phương pháp phân tích, tổng hợp 4

8 Cấu trúc của đề tài 4

PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÂU ĐỐ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TIỂU HỌC 6

1.1 Khái quát về câu đố 6

1.1.1 Khái niệm về câu đố 6

1.1.2 Nguồn gốc, đối tượng phản ánh trong câu đố 7

1.1.2.1 Nguồn gốc câu đố 7

1.1.2.2 Đối tượng phản ánh trong câu đố 8

1.1.3 Những đặc trưng cơ bản của câu đố 9

1.1.3.1 Tính trí tuệ 9

1.1.3.2 Tính giải trí 10

Trang 4

1.1.3.3 Tính giáo dục 11

1.2 Vai trò của việc sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học 12

1.3 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học 14

1.3.1 Hoạt động của học sinh tiểu học 14

1.3.2 Sự phát triển của quá trình nhận thức (sự phát triển trí tuệ) 15

1.3.2.1 Nhận thức cảm tính 15

1.3.2.2 Nhận thức lý tính 16

1.3.2.3 Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học 17

1.3.2.4 Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học 18

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 20

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÂU ĐỐ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TIỂU HỌC 21

2.1 Nội dung chương trình môn Lịch sử ở Tiểu học 21

2.1.1 Mục tiêu môn Lịch sử ở Tiểu học 21

2.1.1.1 Mục tiêu môn Lịch Sử lớp 4 21

2.1.1.2 Mục tiêu môn Lịch sử lớp 5 21

2.1.2 Nội dung môn Lịch sử ở Tiểu học 22

2.1.2.1 Nội dung Lịch sử lớp 4 22

2.1.2.2 Nội dung Lịch sử lớp 5 24

2.1.3 Đặc điểm sách giáo khoa 26

2.1.3.1 Thiết kế 26

2.2 Thực trạng việc sử dụng câu đố ở trong môn Lịch sử ở Tiểu học 27

2.2.1 Mục đích điều tra 27

2.2.2 Đối tượng điều tra 27

2.2.3 Nội dung điều tra 27

2.2.4 Phương pháp điều tra 28

2.2.5 Kết quả điều tra 28

2.2.5.1 Đối với giáo viên 28

2.2.5.2 Đối với học sinh 35

TIỂU KẾT CHƯƠNG II 39

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG CÂU ĐỐ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TIỂU HỌC 41

Trang 5

3.1 Thiết kế câu đố trong dạy học Lịch sử 41

3.1.1 Nguyên tắc thiết kế câu đố trong dạy học Lịch sử 41

3.1.2 Thiết kế câu đố lịch sử 41

3.1.2.1 Thiết kế câu đố giới thiệu bài 41

3.1.2.2 Thiết kế câu đố cung cấp kiến thức mới 42

3.1.2.3 Thiết kế câu đố để củng cố kiến thức 42

3.1.3 Sưu tầm và thiết kế một số câu đố lịch sử 43

3.2.1.5 Nguyên tắc xác định thời điểm sử dụng câu đố thích hợp 53

3.2.1.6 Nguyên tắc đảm bảo về số lượng câu đố trong mối tương quan giữa các yếu tố khác 54

3.2.1.7 Nguyên tắc thu hút học sinh tích cực tham gia vào hoạt động giải đố 54

3.2.2 Sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử 55

3.2.2.1 Phương pháp sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học 55

3.2.2.2 Hình thức tổ chức sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học

57

3.2.2.3 Quy trình sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học 62

TIỂU KẾT CHƯƠNG III 80

PHẦN KẾT LUẬN 81

1 Kết luận 81

2 Một số ý kiến đề xuất 82

2.1 Đối với nhà trường: 82

2.2 Đối với giáo viên 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Mức độ nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của việc sử dụng câu đố

trong môn Lịch sử 29 Bảng 1.2 Mức độ sử dụng câu đố của giáo viên trong dạy học môn Lịch sử 30 Bảng 1.3 Kết quả thể hiện mục đích sử dụng câu đố của giáo viên trong dạy học

môn Lịch sử 31 Bảng 1.4 Kết quả thể hiện hình thức sử dụng câu đố của giáo viên trong dạy học

môn Lịch sử 32 Bảng 1.5 Kết quả thể hiện phương pháp giáo viên sử dụng câu đố của trong dạy

học môn Lịch sử 33 Bảng 1.6 Mức độ hứng thú của học sinh khi giáo viên sử dụng câu đố trong dạy

học môn Lịch sử 34 Bảng 1.7 Kết quả khảo sát nhận thức của học sinh đối với môn Lịch sử 35 Bảng 1.8 Kết quả khảo sát thái độ của học sinh đối với môn Lịch sử 36 Bảng 1.9 Mức độ hứng thú của học sinh khi thầy cô sử dụng câu đố trong dạy học

môn Lịch sử 37 Bảng 1.10 Kết quả thể hiện hiệu quả khi thầy cô sử dụng câu đố trong dạy học

môn Lịch sử 38

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1: Mức độ nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của việc sử dụng câu

đố trong môn Lịch sử 29 Biểu đồ 1.2 Mức độ sử dụng câu đố của giáo viên trong dạy học môn Lịch sử 30 Biểu đồ 1.3 Kết quả thể hiện mục đích sử dụng câu đố của giáo viên trong dạy học

môn Lịch sử 31 Biểu đồ 1.4 Kết quả thể hiện hình thức sử dụng câu đố của giáo viên trong dạy học

môn Lịch sử 32 Biểu đồ 1.5 Kết quả thể hiện phương pháp giáo viên sử dụng câu đố của trong dạy

học môn Lịch sử 33 Biểu đồ 1.7 Kết quả khảo sát nhận thức của học sinh đối với môn Lịch sử 35 Biểu đồ 1.8 Kết quả khảo sát thái độ của học sinh đối với môn Lịch sử 36 Biểu đồ 1.9 Mức độ hứng thú của học sinh khi thầy cô sử dụng câu đố trong dạy

học môn Lịch sử 37 Biểu đồ 1.10 Kết quả thể hiện hiệu quả khi thầy cô sử dụng câu đố trong dạy học

môn Lịch sử 38

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đất nước ta đang trên đà đổi mới, Đảng và Nhà nước luôn coi giáo dục, khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu Phát triển giáo dục là nền tảng, là một trong những động lực quan trọng thức đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa của đất nước; là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội nhanh và hoàn chỉnh Luật Giáo dục,

Điều 24.2 đã nêu: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự

giác, chủ động của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” đặt ra yêu cầu

cần phải đổi mới phương pháp dạy và học, hướng đến hoạt động học tập chủ động, tích cực của học sinh

Tiểu học được xem là cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân Góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh Vì vậy, phương pháp dạy và học ở bậc tiểu học có vị trí đặc biệt Việc hình thành cho học sinh phương pháp học tập đúng đắn, khoa học, sáng tạo ngay từ cấp học đầu tiên là nhiệm vụ quan trọng của nhà trường tiểu học Có như vậy, chất lượng giáo dục mới từng bước được nâng cao, nhằm đạt được mục tiêu phát triển con người

Phân môn Lịch sử ở nhà trường Tiểu học có vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo, giáo dục học sinh trở thành con người toàn diện Môn học này không chỉ cung cấp cho học sinh các sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu có hệ thống theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam và thế giới mà còn hình thành kĩ năng quan sát, thu tập, tìm kiếm tư liệu lịch sử và trình bày kết quả bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ Từ đó góp phần bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, con người, văn hóa và những giá trị văn hóa lịch sử của dân tộc Vì thế môn Lịch sử có nhiều ưu thế trong giáo dục thế giới quan khoa học, đạo đức, thẩm mĩ, cho học sinh – là “người thầy của cuộc sống” giúp các em có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

Lịch sử được đánh giá là một môn học nặng nề về việc tái hiện thông tin, buộc ghi nhớ gượng ép, máy móc vì có rất nhiều thông tin về quá trình hình thành và diễn biến của sự vật, hiện tượng, sự kiện, nhân vật Bên cạnh đó, việc dạy và học

Trang 9

Lịch sử hiện nay quá chú tâm vào tính lý thuyết, theo kiểu học vẹt nhưng lại thiếu khả năng tư duy cho học sinh Đó là nguyên nhân khiến học sinh “chán” học môn Lịch sử, coi đó là môn học khô khan, nhàm chán

Từ lâu, trong đời sống tinh thần của người lao động, câu đố chiếm một vị trí đáng kể Câu đố đã trở thành một gia vị quan trọng không thể thiếu trong món ăn tinh thần của người dân đất Việt Nếu tục ngữ là túi khôn đúc kết kinh nghiệm, ca dao dân ca là tiếng nói của tình cảm thì câu đố là tiếng cười của trí tuệ, của sự thông minh, linh hoạt Có thể nói, hoạt động đố - đáp được người lao động hưởng ứng và trở nên phổ biến ở mọi vùng miền

Chính vì lẽ đó, việc đưa câu đố vào trong các tiết học Lịch sử sẽ giúp tiết học sinh động, học sinh sẽ được phát huy bản thân, vận dụng những kiến thức đã được học để giải đáp câu đố lịch sử, phát huy năng lực tư duy, suy luận, ghi nhớ cũng như giúp tiết học trở nên vui vẻ Qua đó, các em sẽ nhớ bài một cách dễ dàng và lâu hơn, tạo không khí vui vẻ, giúp các em thư giãn hơn

Với những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Thiết kế và sử dụng câu đố trong dạy

học Lịch sử ở Tiểu học” để thực hiện khóa luận tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Việc sử dụng câu đố có vai trò rất quan trọng trong dạy học Lịch sử, nó không chỉ có tác dụng phát triển tư duy, mở rộng vốn tri thức, phát huy trí tưởng tượng, khả năng suy luận nhanh nhẹn, mà còn giúp các em được thư giãn, trở nê vui vẻ, hòa đồng hơn Câu đố bao gồm các đặc trưng như tính trí tuệ, tính giải trí và tính giáo dục Do vậy, nên từ lâu, vấn đề này được các nhà giáo dục quan tâm và có rất nhiều công trình nghiên cứu như:

Các giáo trình dạy học Lịch sử: Lê Khắc Nhãn và các tác giả khác của “Sơ thảo phương pháp giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông” (NXB Giáo dục);

“Phương pháp dạy học Lịch sử”, Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng,

Nguyễn Thị Côi

Ngoài ra còn có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về câu đố trong dạy học Lịch sử

như: Nguyễn Văn Trung (1999), “Câu đố Việt Nam”, NXB TP Hồ Chí Minh; Ninh Viết Giao (2000), “Tìm hiểu câu đố Việt Nam”, NXB Giáo dục; Trần Thị

Trang 10

Lan (1996), “Một số vấn đề về bản chất thể loại câu đố Việt Nam với trẻ em”, Trường Đại học SPHN; NXB và Nguyễn Thị Côi trong “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường phổ thông”; Phan Ngọc Liên (chủ biên) (2008), “Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông’’, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội; Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng (1998), “Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở” NXB Giáo dục, Hà Nội

Các bài viết trên tuy đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về việc sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử song đều khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử và sự cần thiết phải sử dụng các biện pháp sư phạm có hiệu quả Mặc dù chưa có công trình cụ thể nào nghiên cứu về việc sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học Nhưng những tài liệu đó sẽ là nguồn tham khảo

bổ ích để chúng tôi thực hiện đề tài này

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu vấn đề này với mục đích tìm hiểu việc sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học, từ đó thiết kế và sử dụng câu đố thích hợp để dạy học Lịch

sử ở Tiểu học có hiệu quả

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình dạy học phân môn Lịch sử lớp 4,5

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thiết kế và sử dụng câu đố trong phân môn Lịch sử lớp 4, 5

5 Giả thuyết khoa học

Nếu sử dụng câu đố theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh vào dạy học Lịch sử thì sẽ giúp học sinh lĩnh hội, ghi nhớ kiến thức một cách nhẹ nhàng, thoải mái, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử ở Tiểu học

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu một số vấn đề lí luận về việc sử dụng câu đố trong dạy học Lịch

sử ở Tiểu học

Trang 11

- Tìm hiểu một số vấn đề thực tiễn của việc sử dụng câu đố trong dạy học Lịch

sử ở Tiểu học

-Tìm hiểu việc sưu tầm, thiết kế và sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học

7 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp

sau đây:

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Tham khảo một số tài liệu, sách, báo có liên quan đến việc sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học để thu thập thông tin, cơ sở lý luận cho đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm

Quan sát quá trình dạy và học môn Lịch sử lớp 4, 5

7.2.2 Phương pháp đàm thoại

Đàm thoại với giáo viên về việc sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử ở Tiểu

học để đạt hiệu quả dạy học tốt nhất

7.2.3 Phương pháp điều tra bằng anket

Dùng hệ thống câu hỏi để thu thập ý kiến của giáo viên, học sinh việc sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học

8 Cấu trúc của đề tài

Phần mở đầu gồm các tiểu mục sau:

- Lý do chọn đề tài

Trang 12

- Lịch sử nghiên cứu vấn đề

- Mục đích nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu

- Giả thiết khoa học

- Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu

Phần nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và việc sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học

Chương 2: Cơ sở thực tiễn việc sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học

Chương 3: Thiết kế và sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học Phần kết luận và kiến nghị

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÂU ĐỐ

TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TIỂU HỌC 1.1 Khái quát về câu đố

1.1.1 Khái niệm về câu đố

Câu đố là một thể loại của văn học dân gian Thuật ngữ câu đố được dùng từ lâu và phổ biến trong dân gian với hàm nghĩa chỉ một loại hình sáng tác của folklore Câu đố không đơn thuần là một hiện tượng ngôn ngữ, nó cũng không phải

là một tác phẩm (tác phẩm hiểu theo nghĩa là một cấu trúc nghệ thuật) có các yếu tố được sắp xếp theo bố cục, diễn biến nhất định nhằm thể hiện một tư tưởng chủ đề nào đó, nhưng mỗi câu đố đều có một nội dung hoàn chỉnh, được thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ nghệ thuật riêng Từ xưa, Arítxtôt đã sắp xếp câu đổ vào lĩnh vực “Sự bắt chước có tính nghệ thuật” Do vậy Arítxtôt đã định nghĩa: “Nó là một kiểu ẩn

dụ hay” và coi cái hay đặc biệt của câu đố ở chỗ “Trong khi nói về cái tồn tại thực

tế, câu đố đồng thời kết hợp với cả cái hoàn toàn không thể có được” [15,7]

Về phía các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam, quan niệm về câu đố của họ cũng không đi chệch hướng nghiên cứu của các tác giả đi trước Theo tác giả Ninh Viết Giao: “Câu đố là một loại hình của văn học dân gian Nó phản ánh các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan theo lối nói chệch đi, lối nói một đằng hiểu theo một nẻo Nó là những định nghĩa ngược lại, hầu hết là ngắn gọn về một hiện tượng hay một sự vật nào đó Nhưng khác với tục ngữ ở chỗ những định nghĩa được phát biểu dưới dạng khác đi là nói ngược lại và dùng liên tưởng” [43,1] Tác giả

Triều Nguyên trong công trình nghiên cứu: “Câu đố người Việt” của mình lại chú ý

đến mặt cấu tạo của câu đố Ông đưa ra một cách nhìn về câu đố như sau: “Câu đố

là một thể loại văn học dân gian, gồm hai bộ phận, bộ phận lời đố và bộ phận lời giải (vật đố); lời độ bằng văn vần, nhằm miêu tả vật đố một cách xác thực, hợp lẽ nhưng làm cho lạ hóa để khó đoán nhận; lời giải nêu tên vật đố, là những sự vật, hiện tượng phổ biến, ai cũng từng biết, từng hay”[83,8] Còn theo GS Nguyên Văn Trung [10], quan niệm về câu đố của tác giả dựa trên hai mặt: mặt cấu tạo và mặt xã hội Về mặt cấu tạo, câu đố có cấu trúc của một đối thoại gồm hai phần: lời đố và lời giải Lời đố là một câu hỏi dưới hình thức: tên vật có những hình dáng, đặc

Trang 14

điểm, công dụng này hay tên vật giống như vật được nói ra là gì? Như vậy câu đố là một định nghĩa, xét theo nội dung dựa trên khái niệm căn bản: tương tự Về mặt xã hội, câu đố là một cuộc chơi sử dụng đồ chơi là hình ảnh, từ và ý nghĩa, là một chơi chữ nhằm mục đích giải trí tinh thần vui vẻ Thay vì chỉ đưa ra một định nghĩa, ông

đề nghị đưa ra nhiều định nghĩa tùy theo phương diện nhìn vấn đề hoặc nhiều chiều cạnh của đối tượng Bởi theo ông những định nghĩa này không nhằm bày tỏ thực chất hay yếu tính của câu đố vì bản chất hay yếu tính của câu đố là siêu hình không

ai kiểm nghiệm được Cái có thể kiểm nghiệm và quan sát được ở đây chỉ có thể là những sự mô tả yếu tố cấu tạo của câu đố mà thôi

1.1.2 Nguồn gốc, đối tượng phản ánh trong câu đố

1.1.2.1 Nguồn gốc câu đố

Nguồn gốc của câu đố là một “ẩn số” từ trước tới nay Tất cả những công trình nghiên cứu về câu đố thường đi sâu vào sưu tầm câu đố nhiều hơn là quan tâm đến nguồn gốc ra đời của nó Song cũng phải nói rằng trả lời cho câu hỏi câu đố ra đời từ khi nào? Bắt nguồn từ đâu? Là rất khó Bởi lẽ câu đố thuộc loại hình văn học

dân gian, tức là những sáng tác truyền khẩu và có dị bản Trong “Câu đố Việt Nam”

Nguyễn Văn Trung [213,10] viết: “Nhiều câu đố sưu tầm, ghi lại được không biết

có phải là những câu đố có từ thời xa xưa cách đây bốn trăm năm từ trước không? Chắc hẳn ở những thời xa xưa trước người Việt có sinh hoạt giải đố nhưng phải chăng bây giờ không còn lưu lại gì hoặc đã được cải biến theo thời gian?” Câu hỏi

đó vẫn chưa có câu trả lời Mặt khác, câu đố xuất phát từ địa phương nào cũng còn

có nhiều giả thuyết, nhiều nghi vấn, chỉ biết rằng câu đố và sinh hoạt giải đố có mặt trên cả ba miền của Tổ quốc và mặc dù có nhiều lý giải khác nhau về nguồn gốc thì chúng ta vẫn nhận ra rằng câu đố có thể ra đời từ những trường hợp sau:

- Câu đố ra đời trong sinh hoạt của người dân Xét qua những sinh hoạt của nông thôn trước đây, bà con thường đố nhau những khi lao động tập thể như lúc đắp

đê, cùng nhau cấy hái, nhổ mạ, đi củi, lúc nghỉ ngơi, tụ tập lại một sân nhà nào đó trong xóm, khi xuân sang gặp gỡ nhau bên giếng nước, gốc đa, Câu đố trong những lúc như vậy đã đem lại cho người bình dân Việt Nam những tràng cười thoải mái không chỉ ở sự giải được câu đố mà ngay ở bản thân câu đố cũng có những yếu

tố gây cười

Trang 15

-Một nhu cầu nữa để câu đố ra đời ta sống trong lòng người dân Việt Nam đến ngày nay là vấn đề nhận thức Trong quá trình lao động, sản xuất, quá trình sử dụng những vật dụng và những sự việc xung quanh diễn ra cần xử lý, người bình dân Việt Nam muốn hiểu biết, nắm vững, làm chủ những sự vật ấy và họ xem xét rất tỉ

mỉ Bằng thể loại câu đố họ đã thể hiện được những nhận xét đó của mình đồng thời

để giáo dục nhau nhận xét, hiểu biết sự vật, sự việc hàng ngày chung quanh đời sống nông thôn, có liên quan đến sản xuất

-Ngoài ra câu đố còn ra đời do nhiều nhu cầu khác nữa

Như vậy có thể nói câu đố cũng như nhiều thể loại văn học dân gian khác được ra đời do nhu cầu sinh hoạt, lao động, nhu cầu nhận thức thế giới xung quanh gắn liền với quá trình tồn tại và phát triển của cộng đồng

1.1.2.2 Đối tượng phản ánh trong câu đố

Đối tượng phản ánh trong câu đố tức là những sự vật, hiện tượng được đưa ra

để đố

-Vật đố là những sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan Phần lớn những đối tượng đó là những sự vật, hiện tượng ở nông thôn có liên quan mật thiết đến công việc lao động và sinh hoạt của người dân:

+ Những đồ dùng lao động và sinh hoạt của người dân Việt Nam: Đó là cái cày, cái bừa, cái cuốc, cái liềm, gầu tát nước, cái cối giã gạo, cối xay lúa, đôi quang gánh, ấm chén, bát đũa, cái chổi, đèn, quạt, kéo…

+ Những công việc lao động sản xuất, sinh hoạt ở nông thôn như cấy lúa, tát nước, xay lúa, sàng gạo, hút thuốc, nhai trầu, ăn cơm…

+ Những sự vật hiện tượng trong thiên nhiên: mưa gió, sấm sét, Mặt Trăng, Mặt Trời…

+ Những câu đố về các anh hùng và sự kiện lịch sử: Đó là câu đố về những vị vua anh minh, sáng suốt, nhìn xa trong rộng được thần dân kính nể, ngưỡng mộ như: Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Lợi, Quang Trung – Nguyễn Huệ qua các triều đại phong kiến Việt Nam, những vị tướng tài ba, có công lớn với đất nước như: Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Lê Khôi Những danh nhân tài cao đức sáng như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, La Sơn Phu Tử,

Trang 16

Nguyễn Thiếp Những liệt nữ anh hùng trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo

vệ tổ quốc như Hai Bà Trưng, nữ tướng Lê Chân, Thái Hậu Dương Văn Nga, nữ tướng Bùi Thị Xuân, trong thế kỷ XX tiêu biểu có Nguyễn Thị Minh Khai những anh hùng nhỏ tuổi nhưng chí lớn như: Trần Quốc Toản, Võ Thị Sáu câu đố về lịch

sử thường bao quát những nét chính trong cuộc đời và sự nghiệp của các anh hùng, danh nhân, chí sỹ

+ Bên cạnh đó còn có một số câu đố phản ánh những nét sinh hoạt văn hóa vui chơi và học hành

- Hầu hết các câu đố đều mang đặc điểm tính chất hiện thực, cụ thể, chi tiết, trực quan rất khó tìm thấy những câu đố liên quan đến khái niệm trừu tượng như sự sống, cái chết, đạo đức, tôn giáo, cụ thường không khái quát hóa một loại sự vật hiện tượng cùng loại

Nhìn chung đối tượng của câu đố không phải những sự vật đối với người giải Thế nhưng vấn đề là ở chỗ người đó đã nhìn sự vật bằng cái nhìn mới lạ, bất ngờ, độc đáo và thể hiện nó bằng nhiều biện pháp nghệ thuật khác nhau khiến cho những đối tượng ấy hiện lên trong câu đố trở thành những nhân vật kỳ và có sự sống đem lại cho ta niềm thích thú

1.1.3 Những đặc trưng cơ bản của câu đố

1.1.3.1 Tính trí tuệ

Một trong những đặc trưng cơ bản nhất của câu đố là chất trí tuệ Đã gọi là

đố, ắt cần có người để giải đố Nói một cách khác, đó là nhằm thử tài người khác

Để thử tài người khác, cần có những câu đố khó, một người giải đố phải vắt óc suy nghĩ Có thể nói mối quan hệ giữa người ra đố và người giải đố là mối quan hệ đối ứng Người giải đố là người “khóa mã tác phẩm” và người giải đố là người “giải mã tác phẩm” Câu đố càng khó, càng độc đáo bao nhiêu thì độ hay, độ hấp dẫn của nó càng lớn bấy nhiêu Để có những câu đố hay, những câu đố khó, đòi hỏi người ra đố phải vận dụng toàn bộ vốn sống, vốn hiểu biết, vận dụng trí tưởng tượng và khả năng liên tưởng của mình Ngược lại người giải đố cũng phải tiến hành những thao tác tư duy tương tự

Một trong những mẹo luật để tạo nên độ khó của các câu đố là phá vỡ quy luật logic thông thường để tạo nên yếu tố bất ngờ Nhiều câu đố hóc hiểm, sau khi được

Trang 17

giải khiến người ta phải tâm phục khẩu phục Ta có thể dẫn ra một số câu đố dân gian thuộc dạng như vậy:

Bốn anh ở cùng một nhà Cùng sinh một giáp, cùng ra một hình Một anh thì đỗ Cống sinh Một anh quỷ quái như tinh trong nhà Một anh hôi hám xấu xa Một anh ăn vụng cả nhà đều khinh

(Chuột cống, chuột nhắt, chuột chù, chuột đồng)

Miệng dưới biển, đầu trên non Thân dài uốn lượn như con thằn lằn Bụng đầy những nước trắng ngần Nuốt tôm cá, nuốt cá thân tàu bè

(Dòng sông)

Có thể nói, mỗi lần giải đố là mỗi lần con người phải tiến hành hoạt động tư duy, và mỗi khi giải được đố, con người có thêm một nhận thức mới Điều này cũng giống như việc giải toán vậy Vì thế, đồ được coi là một hình thức rèn luyện trí thông minh của con người, nhất là giới trẻ

1.1.3.2 Tính giải trí

Nếu nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn được coi là một trong những nhu cầu cần thiết và chính đáng của con người trong cuộc sống thường nhật, thì xét trên phương diện này, đố được coi là một trong những phương tiện giải trí tích cực Không phải ngẫu nhiên mà các câu đố được truyền tụng trong dân gian rất được mọi người say

mê, thích thú Trước hết, đố là dịp để những người tham gia được thử sức mình Giải được các câu đố, nhất là các câu đố khó, bao giờ cũng mang lại cho người ta niềm vui - niềm vui của sự tự khẳng định Niềm vui ấy sẽ giúp cho họ quên đi những lo toan, căng thẳng, bực bội trong cuộc sống thường nhật

Trang 18

Hai là, đố kích thích trí tò mò, khám phá của người chơi Tham gia việc giải

đố cũng giống như chơi trò chơi trốn - tìm, trò chơi đuổi - bắt của trẻ em mỗi khi nhàn rỗi

Ba là, xét trên phương diện giao tiếp xã hội, đố cũng là một quá trình giao lưu văn hóa Tham gia vào các hoạt động đố vui, người ta được giao lưu với người khác, được trao đổi tư tưởng, tình cảm lẫn nhau, để có thêm những người bạn mới Thực tế cho thấy, các cuộc đố vui được tổ chức trong các lễ hội văn hóa dân gian, trong các buổi sinh hoạt văn hóa cộng đồng đều được mọi người hưởng ứng nhiệt liệt

Cũng giống như các trò chơi dân gian khác, trong các cuộc đố vui tập thể, bao giờ cũng có người thắng, kẻ thua Người thắng cuộc thì mừng vui, thích thú, nhưng người thua cũng cảm thấy hài lòng, mãn nguyện, vì tiêu chí hàng đầu mà họ luôn xác định là lấy vui làm chính

1.1.3.3 Tính giáo dục

Đề tài của câu đố thường rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau có liên quan đến đời sống xã hội của con người Các hiện tượng tự nhiên, thế giới đồ vật, các sự kiện lịch sử, các danh nhân văn hóa, các phong tục tập quán, các món ăn truyền thống, các kiến thức khoa học - kỹ thuật, Qua các câu đố, người ta hiểu biết thêm về nguồn gốc, bản chất của các sự vật hiện tượng xung quanh Điều đó có nghĩa, đố tham gia vào việc giáo dục tri thức Từ đó, mối quan hệ giữa con người đối với thế giới cũng trở nên thân quen, gần gũi

Ví dụ, những câu đố về đề tài lịch sử, các doanh nhân văn hóa giúp ta bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc:

Ai từng đóng cọc trên sông Đánh tan thuyền giặc, nhuộm hồng sóng xanh?

Vua nào thần tốc quân hành Mùa xuân đại phá quân Thanh tơi bời?

Vua nào tập trận đùa chơi

Cờ lau phất trận một thời ấu thơ?

Trang 19

Vua nào thảo chiếu dời đô?

Vua nào chủ xướng hội thơ Tao Đàn?

(Ngô Quyền, Quang Trung, Đinh Bộ Lĩnh, Lý Công Uẩn, Lê Thánh Tông)

Với những đặc trưng cơ bản đó, câu đố đã đóng một vai trò không nhỏ trong đời sống tinh thần của nhân dân ta từ xưa tới nay, câu đố còn được người lớn dùng

để giáo dục trẻ, dạy cho trẻ những hiểu biết thường thức trong sinh hoạt hàng ngày, trong học tập, vui chơi Hơn thế nữa, câu đố là một phương tiện hữu ích cho trẻ có được một bộ não phát triển toàn diện

1.2 Vai trò của việc sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học

Nhờ áp dụng câu đố vào dạy học, học sinh có được nhận thức về một số hiện tượng và sự vật xung quanh Đặc biệt trong môn Lịch sử ở Tiểu học, câu đố giúp học sinh dễ ghi nhớ và tái hiện các kiến thức về lịch sử: các sự kiện lịch sử, thời gian, nhân vật lịch sử Điều này góp phần không nhỏ trong việc giúp học sinh dễ học lịch sử hơn, không cảm thấy Lịch sử là môn học khô khan, nhàm chán

Câu đố ở môn Lịch sử, đối tượng chủ yếu là các nhân vật lịch sử thuộc nhiều lĩnh vực, ở nhiều thời đại lịch sử ở nước ta Đó là câu đố về những vị vua anh minh, sáng suốt, nhìn xa trong rộng được thần dân kính nể, ngưỡng mộ như: Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Lợi, Quang Trung – Nguyễn Huệ qua các triều đại phong kiến Việt Nam, những vị tướng tài ba, có công lớn với đất nước như: Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Lê Khôi Những danh nhân tài cao đức sáng như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp Những liệt nữ anh hùng trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc như Hai Bà Trưng,

nữ tướng Lê Chân, Thái Hậu Dương Văn Nga, nữ tướng Bùi Thị Xuân trong thế kỷ

XX tiêu biểu có Nguyễn Thị Minh Khai những anh hùng nhỏ tuổi nhưng chí lớn như: Trần Quốc Toản, Võ Thị Sáu câu đố về lịch sử thường bao quát những nét chính trong cuộc đời và sự nghiệp của các anh hùng, danh nhân, chiến sĩ Câu đố được viết bằng thể loại lục bát dễ nhớ, dễ thuộc làm cho học sinh dễ liên hệ để giải

và có ấn tượng

Ví dụ:

Vua nào mặt sắt đen sì?

Trang 20

Vua nào trong thủa hàn vi ở chùa?

(Là những ai?

- Vua Mai Hắc Đế (Mai Thúc Loan) và vua Lý Thái Tổ

Ai viết Đại cáo bình Ngô Giúp vua Lê Lợi dựng cờ đuổi Minh Một lòng vì nước vì dân Tài cao đức sáng xứng danh anh hùng

Nguyễn Trãi

Mỗi câu đố là một tình huống giao tiếp, là sự vận dụng các kiến thức, kĩ năng

từ các bài học của môn học này cũng như các kiến thức, kĩ năng từ các môn học khác, vì để giải được câu đố học sinh phải thực hiện cả 4 kĩ năng, phải tư duy một cách logic trong giải đố Chính vì thế sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử sẽ góp phần nâng cao và rèn luyện khả năng tư duy cho học sinh ở lứa tuổi tiểu học Ví dụ:

Cuộc đời tựa áng phù vân Biết bao vinh nhục, cũng ngần ấy thôi Thăng trầm cứ thế mặc đời Kim Sơn, Tiền Hải, đôi đàng lập công?

(Nguyễn Công Trứ)

Đất thiêng khí thụy Lam Sơn

Có người thánh chúa long nhan khác thường

Tiền là tiền nhật đăng quang Hưng là hưng phục Lê Hoàn nghiệp xưa?

(Lê Thái Tổ)

Hơn nữa, câu đố có thơ giản dị, có vần vè, nhịp nhàng, dễ nhớ, dễ thuộc nên

có sức lôi cuốn các em trong việc học Lịch sử Việc thay đổi hình thức tổ chức học tập căng thẳng thành một "cuộc đố vui" lại là hình thức "học mà chơi, chơi mà học" Vì thế, các em được thoải mái suy nghĩ, tự do bàn bạc mà không bị nhàm

Trang 21

chán Mặt khác, các em còn có thể tạo ra những câu đố tương tự dựa trên các câu đố

đã có và vốn kiến thức về biểu tượng và khái niệm vừa được học Từ đó, càng khắc sâu biểu tượng và khái niệm trong tâm trí của các em Ví dụ:

Đố ai trên Bạch Đằng giang Làm cho cọc nhọn dọc ngang sáng ngời Phá quân Nam Hán tơi bời Gươm thần độc lập giữa trời vang lên?

Đinh Tiên Hoàng (Đinh Bộ Lĩnh)

Qua thực tế cho thấy, dạy câu đố về lịch sử có tác dụng rõ rệt là khắc sâu trong tâm trí học sinh những đức tính, công lao, tài năng của các nhân vật thuộc nhiều lĩnh vực từ triều đại này đến triều đại khác trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Từ đó bồi dưỡng cho các em lòng tự hào quật cường về lịch sử chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta, càng thêm trân trọng yêu quý

họ và những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam Việc đưa câu đố vào các tiết dạy nhằm làm thay đổi không khí học tập, thay đổi hoạt động của học sinh, kích thích sự liên tưởng, suy đoán làm cho tiết học sinh động lý thú, có ý nghĩa hơn Từ

đó các em nhớ lâu hơn, sâu sắc hơn kiến thức trong bài học

1.3 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học

1.3.1 Hoạt động của học sinh tiểu học

Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các

em còn diễn ra các hoạt động khác như:

Trang 22

+Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ vật sang các trò chơi vận động

+Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản thân và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa, Ngoài ra, trẻ còn còn tham gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa,

+Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào của trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong,

Những thay đổi kèm theo:

-Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể tham gia các công việc trong gia đình Điều này được thể hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, các em phải tham gia lao động sản xuất cùng gia đình từ rất nhỏ

- Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học đều thay đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương pháp, hình thức, thái độ học tập Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tập tốt

- Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội mang tính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong gia đình) Đặc biệt là các em muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình

Việc đưa câu đố vào dạy học sẽ giúp các em vừa được học, vừa được giải trí Các em sẽ được tham gia vào các hoạt động đố - đáp giữa cô và trò, giữa trò và trò, lớp học nhờ đó trở nên sôi động hơn

1.3.2 Sự phát triển của quá trình nhận thức (sự phát triển trí tuệ)

Trang 23

sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng

1.3.2.2 Nhận thức lý tính

a Tư duy:

Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành

động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát

Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học

b Tưởng tượng:

Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dày dặn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:

Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và

dễ thay đổi

Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em

c Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học:

Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ

có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính

và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của

Trang 24

trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ

d Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi…

Ở cuối tuổi tiểu học, trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế

- Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học:

Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic Giai đoạn lớp 1, 2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa

Giai đoạn lớp 4, 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em

e Ý chí và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu cầu của người lớn

Đến cuối tuổi tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời

Khi sử dụng câu đố vào dạy học, giáo viên sẽ phát triển được tư duy, trí tưởng tượng phong phú của trẻ Việc đưa những câu đố dân gian vào dạy học cũng góp phần phát triển ngôn ngữ của các em Qua các hoạt động đố - đáp hấp dẫn sẽ thu hút các em tâp trung, chú ý vào bài học, giúp các em ghi nhớ bài học một cách dễ dàng và bồi dưỡng lòng yêu lịch sử dân tộc Việt Nam

1.3.2.3 Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học

Trang 25

Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với

các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ, Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của

trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc

mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư

Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi (tuy vậy so với

tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn rất nhiều

Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh tiểu học luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học, khi đó cần phát hiện và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui chột năng khiếu của trẻ

Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh tiểu học cần ở nhà giáo dục

sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi từ hình ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm cho các em thông qua các hoạt động cụ thể như trò chơi nhập vai, đóng các tình huống cụ thể, các hoạt động tập thể ở trường lớp Đặc biệt là các hoạt động đố vui giữa cô và trò nhằm kích thích tinh thần ham học hỏi, tìm ra lời giải đố của học sinh…

1.3.2.4 Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học

Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc

lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển; và đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn

thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình

Nói tóm lại, khi trẻ vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ Môi trường thay đổi: đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 - 35 phút Chuyển từ

Trang 26

hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá Bước đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bộc phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững của các thao tác tinh khéo của đôi bàn tay để tập viết Tất cả đều là thử thách của trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những điều này thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học Việc đưa câu đố vào dạy học Lịch sử

ở tiểu học không những giúp trẻ hiểu và nhớ bài một cách dễ dàng hơn mà còn giúp trẻ phát triển tư duy, trí tưởng tượng, ngôn ngữ của mình, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, yêu lịch sử dân tộc cho các em

Trang 27

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Môn Lịch sử ở nhà trường Tiểu học có vai trò quan trọng trong việc đào tạo, giáo dục học sinh trở thành con người toàn diện Tuy nhiên, Lịch sử được coi là một môn học khô khan, khó nhớ, là một môn học nặng nề về việc tái hiện thông tin, buộc ghi nhớ gượng ép, máy móc vì có rất nhiều thông tin về quá trình hình thành

và diễn biến của sự vật, hiện tượng, sự kiện, nhân vật Vì vậy, việc tìm ra những phương pháp, biện pháp giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhớ và yêu thích học môn Lịch

sử là một điều cần thiết

Với sự giản dị, có vần vè, nhịp nhàng, dễ nhớ, dễ thuộc của câu đố đã tạo ra sức lôi cuốn các em trong việc học Lịch sử Việc thay đổi hình thức tổ chức học tập căng thẳng thành một "cuộc đố vui" lại là hình thức "học mà chơi, chơi mà học" Vì thế, các em được thoải mái suy nghĩ, tự do bàn bạc mà không bị nhàm chán Từ đó, càng khắc sâu biểu tượng và khái niệm trong tâm trí của các em

Nhờ áp dụng câu đố vào dạy học, học sinh có được nhận thức về một số hiện tượng và sự vật xung quanh Đặc biệt trong môn Lịch sử ở Tiểu học, câu đố giúp học sinh dễ ghi nhớ và tái hiện các kiến thức về lịch sử: các sự kiện lịch sử, thời gian, nhân vật lịch sử Điều này góp phần không nhỏ trong việc giúp học sinh dễ học lịch sử hơn, không cảm thấy Lịch sử là môn học khô khan, nhàm chán

Trang 28

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÂU ĐỐ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TIỂU HỌC

2.1 Nội dung chương trình môn Lịch sử ở Tiểu học

2.1.1 Mục tiêu môn Lịch sử ở Tiểu học

2.1.1.1 Mục tiêu môn Lịch Sử lớp 4

Sau khi học xong môn Lịch sử ở Tiểu học, học sinh cần đạt được:

 Kiến thức:

- Cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản thiết thực về các sự kiện lịch

sử, các hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu, tương đối có hệ thống theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho tới nửa đầu thế kỷ XIX

 Kĩ năng:

Bước đầu rèn luyện và hình thành cho học sinh các kỹ năng:

+ Quan sát sự vật hiện tượng; thu thập tìm kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồn khác nhau

+ Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập và chọn thông tin để giải đáp

+ Trình bày lại kết quả học tập bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ

+ Vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống

 Thái độ:

Góp phần bồi dưỡng và phát triển ở học sinh thái độ và thói quen:

+ Ham học hỏi, tìm hiểu để biết về môi trường xung quanh các em

+ Yêu thiên nhiên, con người, quê hương, đất nước

+Tôn trọng và bảo vệ cảnh quan thiên nhiên văn hóa gần gũi với học sinh

2.1.1.2 Mục tiêu môn Lịch sử lớp 5

Trong chương trình Lịch sử ở lớp 5, mục tiêu của chương trình được xác định học xong chương trình lớp 5 học sinh cần nắm:

 Kiến thức:

Trang 29

- Kiến thức cơ bản về các sự kiện, nhân, tiểu sử tương đối có hệ thống theo dòng lịch sử Việt Nam từ nửa sau thế kỉ XIX tới nay

 Kĩ năng:

- Bước đầu hình thành kỹ năng nhận biết đúng các sự kiện lịch sử

 Thái độ:

- Yêu quê hương đất nước, lòng tự hào, tự tôn vinh dân tộc

Như vậy về kiến thức yêu cầu đối với học sinh là không quá cao, tuy nhiên chương trình được dàn trải, với 29 tiết được quy định học sinh phải học toàn bộ lịch

sử dân tộc từ giữa thế kỉ XIX đến nay Bởi vậy phần lớn học sinh nắm kiến thức lịch sử còn mơ hồ, các em hay lẫn lộn mất thời gian, nhân vật lịch sử này với nhân vật lịch sử kia

2.1.2 Nội dung môn Lịch sử ở Tiểu học

Nội dung chương trình môn Lịch Sử lớp 4 được chia theo mốc thời gian cụ thể như sau:

Buổi đầu dựng nước và giữ nước (Khoảng 700 năm TCN đến năm 179 TCN)

- Bài 1 Nước Văn Lang

- Bài 2 Nước Âu Lạc

Hơn một nghìn năm đấu tranh giành lại độc lập (Từ năm 179 TCN đến

Trang 30

- Bài 3 Nước ta dưới ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc

- Bài 4 Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (Năm 40)

- Bài 5 Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo (Năm 938)

- Bài 6 Ôn tập

Buổi đầu độc lập (Từ năm 938 đến năm 1009)

- Bài 7 Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân

- Bài 8 Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ nhất (Năm 981)

Nước Đại Việt thời Lý (Từ năm 1009 đến năm 1226)

- Bài 9 Nhà Lý dời đô ra Thăng Long

- Bài 10 Chùa thời Lý

- Bài 11 Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ hai (1075 - 1077)

Nước Đại Việt thời Trần (Từ năm 1226 đến năm 1400)

- Bài 12 Nhà Trần thành lập

- Bài 13 Nhà Trần và việc đắp đê

- Bài 14 Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên

- Bài 15 Nước ta cuối thời Trần

Nước Đại Việt buổi đầu thời hậu Lê (Thế kỉ XV)

- Bài 16 Chiến thắng Chi Lăng

- Bài 17 Nhà Hậu Lê và việc tổ chức quản lí đất nước

- Bài 18 Trường học thời Hậu Lê

- Bài 19 Văn học và khoa học thời Hậu Lê

- Bài 20 Ôn tập

Nước Đại Việt thế kỉ XVI - XVIII

- Bài 21 Trịnh - Nguyễn phân tranh

- Bài 22 Cuộc khẩn hoang ở Đàng Trong

Trang 31

- Bài 23 Thành thị ở thế kỉ XVI - XVII

- Bài 24 Nghĩa quân Tây Sơn tiến ra Thăng Long (Năm 1786)

- Bài 25 Quang Trung đại phá quân Thanh (Năm 1789)

- Bài 26 Những chính sách về kinh tế và văn hóa của vua Quang Trung

Buổi đầu thời Nguyễn (Từ năm 1802 đến năm 1858)

Ở lớp 5, học sinh tìm hiểu lịch sử dân tộc từ năm 1858 cho đến nay với các nội dung chính sau:

Thời kì 1858 – 1945: Hơn tám mươi năm chống thực dân Pháp xâm lược

và đô hộ

- Bài 1 "Bình Tây Đại nguyên soái" Trương Định

- Bài 2 Nguyễn Trường Tộ mong muốn canh tân đất nước

- Bài 3 Cuộc phản công ở kinh thành Huế

- Bài 4 Xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX

- Bài 5 Phan Bội Châu và phong trào Đông Du

- Bài 6 Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước

- Bài 7 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời

- Bài 8 Xô viết Nghệ - Tĩnh

Bài 9 Cách mạng mùa thu

Trang 32

- Bài 10 Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập

- Bài 11 Ôn tập: Hơn tám mươi năm chống thực dân Pháp xâm lược và đô hộ (1858 - 1945)

Thời kì 1945 – 1954: Bảo vệ chính quyền non trẻ, trường kì kháng chiến chống thực dân Pháp

- Bài 12 Vượt qua tình thế hiểm nghèo

- Bài 13 "Thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước"

- Bài 14 Thu - đông 1947, Việt Bắc "mồ chôn giặc Pháp"

- Bài 15 Chiến thắng Biên giới thu - đông 1950

- Bài 16 Hậu phương những năm sau chiến dịch Biên giới

- Bài 17 Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ

- Bài 18 Ôn tập: Chín năm kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc (1945 - 1954)

- Bài 19 Nước nhà bị chia cắt

- Bài 20 Bến Tre đồng khởi

- Bài 21 Nhà máy hiện đại đầu tiên của nước ta

- Bài 22 Đường Trường Sơn

- Bài 23 Sấm sét đêm giao thừa

- Bài 24 Chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không"

- Bài 25 Lễ kí Hiệp định Pa- ri

- Bài 26 Tiến vào dinh Độc lập

Thời kì từ 1975 đến nay: Xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước

- Bài 27 Hoàn thành thống nhất đất nước

- Bài 28 Xây dựng Nhà máy Thủy điện Hòa Bình

- Bài 29 Ôn tập: Lịch sử nước ta từ giữa thế kỉ XIX đến nay

Trang 33

2.1.3 Đặc điểm sách giáo khoa

-Hình ảnh phong phú đa dạng về thể loại

+ Lớp 4 bao gồm 43 tranh ảnh, 9 lược đồ, 3 bản đồ

+ Lớp 5 bao gồm 47 tranh ảnh, 3 lược đồ

-Kênh hình đóng vai trò quan trọng: Ngoài bản đồ (lược đồ), bảng số liệu, biểu đồ và tranh ảnh cần có những hình vẽ hoặc tranh ảnh mang tính chất liên hoàn, giúp cung cấp thông tin là nguồn tri thức cho học sinh học tập

-Kênh hình chú ý thể hiện sự kết nối giữa tranh ảnh và bản đồ trong việc cung cấp thông tin

-Chức năng làm nguồn tri thức của kênh hình được chú trọng hơn chức năng minh họa cho kênh chữ

* Kênh chữ

-Các câu hỏi, các câu lệnh yêu cầu học sinh làm việc, Trả lời câu hỏi

-Chú thích ở một số hình, đóng vai trò chủ yếu trong việc cung cấp các thông tin cần thiết, thể hiện nội dung của bài và hệ thống câu hỏi cuối bài

* Cách trình bày bài học

-Một bài học gồm 3 phần chính:

+ Phần cung cấp thông tin và các yêu cầu hoạt động học tập (quan sát, thực hành, ) bằng kênh chữ, kênh hình

+ Phần câu hỏi hoặc các yêu cầu hoạt động học tập:

Câu hỏi hoặc yêu cầu các hoạt động học tập được in nghiêng ở giữa bài nhằm gợi ý cho giáo viên tổ chức học sinh hoạt động để khai thác thông tin, rèn luyện kỹ

Trang 34

năng hoặc yêu cầu học sinh phải động não suy nghĩ, làm việc với kênh hình, đồ dùng học tập và liên hệ với thực tế để tìm ra kiến thức mới

Câu hỏi ở cuối bài giúp giáo viên kiểm tra việc thực hiện mục tiêu của bài và củng cố kiến thức của học sinh sau mỗi bài

-Phần tóm tắt trong tâm của bài được in đậm

-Phần chú thích (có ở một số bài)

-Khác với sách giáo khoa Tự nhiên - Xã hội ở các lớp 1, 2, 3, trong sách Lịch

Sử lớp 4, 5 kênh chữ đóng vai trò chủ yếu trong việc cung cấp kiến thức Tuy nhiên, kênh hình vẫn đóng vai trò quan trọng Nó không chỉ là sự minh họa cho kênh chữ mà còn là nguồn cung cấp kiến thức và rèn luyện kỹ năng cho học sinh -Ngôn ngữ giao tiếp trong sách giáo khoa cũng có đổi mới Cuốn sách được coi là người bạn của học sinh Vì vậy, cách xưng hô với người học là “bạn”

2.2 Thực trạng việc sử dụng câu đố ở trong môn Lịch sử ở Tiểu học

2.2.1 Mục đích điều tra

Tìm hiểu thực trạng sử dụng câu đố trong môn Lịch sử ở Tiểu học, mức độ sử dụng, mục đích, hình thức, phương pháp sử dụng và tính hiệu quả của việc sử dụng câu đố ở trong môn Lịch sử ở Tiểu học

Tìm hiểu thái độ, nguyện vọng, khả năng hiểu bài của học sinh lớp 4, 5 đối với môn Lịch sử để nắm bắt tình hình học tập của học sinh Từ đó, xây dựng kế

hoạch dạy học sao cho phù hợp và mang lại kết quả tốt

2.2.2 Đối tượng điều tra

- Giáo viên các lớp 4, 5 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, trường Tiểu học

Huỳnh Ngọc Huệ

- Học sinh lớp 4/1 (35 HS), 4/3 (34 HS), 5/1 (37 HS), 5/6 (33 HS), 5/7 (36 HS) trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi

2.2.3 Nội dung điều tra

 Đối với giáo viên:

- Nhận thức của giáo viên về việc sử dụng câu đố để dạy các bài Lịch sử lớp 4,

5

Trang 35

- Mức độ sử dụng các câu đố để dạy các bài Lịch sử lớp 4, 5

- Điều tra các hình thức, phương pháp giáo viên đã sử dụng khi đưa câu đố vào dạy học Lịch sử ở Tiểu học

- Những thuận lợi, khó khăn của giáo viên khi sử dụng câu đố để dạy học các bài Lịch sử lớp 4, 5

 Đối với học sinh

- Thái độ của học sinh lớp 4, 5 đối với môn Lịch sử

- Những khó khăn, nguyện vọng của học sinh khi học môn Lịch sử

- Mức độ hứng thú học tập và khả năng hiểu bài của học sinh lớp 4, 5 trong giờ học Lịch sử có sử dụng câu đố

2.2.4 Phương pháp điều tra

- Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát quá trình dạy và học môn Lịch sử

lớp 4, 5

- Phương pháp đàm thoại: Đàm thoại với giáo viên về việc sử dụng câu đố

trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học để đạt hiệu quả dạy học tốt nhất

- Phương pháp điều tra bằng anket: Dùng hệ thống câu hỏi để thu thập ý kiến

của giáo viên, học sinh việc sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học

- Phương pháp thống kê: Phân tích, xử lý số liệu, kết quả của điều tả và thực

nghiệm

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Dựa vào việc nghiên cứu lí luận, quan sát,

thực nghiệm sư phạm mà phân tích- tổng hợp kết quả thu được

2.2.5 Kết quả điều tra

2.2.5.1 Đối với giáo viên

Tổng số phiếu phát ra là 30, tổng số phiếu thu vào là 30 Những số liệu thu được trong phiếu điều tra được tôi xử lí và thống kê bằng phương pháp toán học, trên cơ sở đó khái quát được thực trạng

Trang 36

Dựa vào những phương pháp điều tra nêu trên, tôi đã thu được kết quả nghiên cứu thực trạng về việc sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử tại các trường tiểu học như sau:

Câu 1: Theo thầy (cô), việc sử dụng câu đố trong môn Lịch sử có cần thiết hay không?

Bảng 1.1 Mức độ nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của việc sử

dụng câu đố trong môn Lịch sử

Biểu đồ 1.1: Mức độ nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của việc sử dụng

câu đố trong môn Lịch sử

Câu hỏi này nhằm điều tra mức độ nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của việc sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử, để biết việc sử dụng câu đố lịch sử là rất cần thiết, cần thiết hay không cần thiết Sau khi điều tra, chúng tôi thu được kết quả như sau:

- Có 10 giáo viên (chiếm 33,3%) được điều tra trả lời việc sử dụng câu đố và dạy học Lịch sử rất cần thiết

- Có 15 giáo viên (chiếm 50%) được điều tra trả lời việc sử dụng câu đố và dạy học Lịch sử cần thiết

Trang 37

- Có 5 giáo viên (chiếm 16,7%) được điều tra trả lời việc sử dụng câu đố và dạy học Lịch sử không cần thiết

Câu 2: Thầy (cô) đang sử dụng câu đố trong dạy học Lịch sử có thường xuyên hay không?

Bảng 1.2 Mức độ sử dụng câu đố của giáo viên trong dạy học môn Lịch sử

Biểu đồ 1.2 Mức độ sử dụng câu đố của giáo viên trong dạy học môn Lịch sử

Câu hỏi này nhằm điều tra mức độ sử dụng câu đố của giáo viên trong quá trình dạy học Lịch sử, để biết xem họ thường xuyên sử dụng, thỉnh thoảng sử dụng hay là chưa bao giờ sử dụng câu đố vào dạy học Lịch sử Sau khi điều tra, chúng tôi thu được kết quả như sau:

- Có 18 giáo viên (chiếm 60%) được điều tra trả lời là thường xuyên sử dụng câu đố và dạy học Lịch sử

- Có 11 giáo viên (chiếm 36,7%) được điều tra trả lời là thỉnh thoảng sử dụng câu đố và dạy học Lịch sử

- Có 1 giáo viên (chiếm 3,3%) được điều tra trả lời là chưa bao giờ sử dụng câu đố và dạy học Lịch sử

Câu 3: Thầy (cô) sử dụng câu đố vào dạy học Lịch sử với mục đích nào sau

Trang 38

Bảng 1.3 Kết quả thể hiện mục đích sử dụng câu đố của giáo viên trong

dạy học môn Lịch sử

Tạo hứng thú học tập cho học sinh 28 93,3%

Giúp học sinh hiểu được giá trị của

những câu đố dân gian

Tổ chức tìm tòi, khám phá kiến thức

Lịch sử

Biểu đồ 1.3 Kết quả thể hiện mục đích sử dụng câu đố của giáo viên

trong dạy học môn Lịch sử

Câu hỏi này nhằm điều tra mục đích sử dụng câu đố của giáo viên trong quá trình dạy học Lịch sử là để tạo hứng thú học tập cho học sinh, củng cố kiến thức lịch sử, giúp học sinh hiểu được giá trị của những câu đố dân gian hay để tổ chức tìm tòi, khám phá kiến thức Lịch sử Sau khi điều tra, chúng tôi thu được kết quả như sau:

- Có 28 giáo viên (chiếm 93,3%) được điều tra trả lời là họ sử dụng câu đố vào dạy học Lịch sử nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh

- Có 29 giáo viên (chiếm 96,7%) được điều tra trả lời là họ sử dụng câu đố vào dạy học Lịch sử nhằm củng cố kiến thức lịch sử

Trang 39

- Có 15 giáo viên (chiếm 50%) được điều tra trả lời là họ sử dụng câu đố vào dạy học Lịch sử nhằm giúp học sinh hiểu được giá trị của những câu đố dân gian

- Có 27 giáo viên (chiếm 90%) được điều tra trả lời là họ sử dụng câu đố vào dạy học Lịch sử nhằm tổ chức tìm tòi, khám phá kiến thức Lịch sử

Câu 4: Thầy (cô) sử dụng câu đố vào dạy học Lịch sử với các hình thức tổ chức dạy học nào sau đây:

Bảng 1.4 Kết quả thể hiện hình thức sử dụng câu đố của giáo viên trong

dạy học môn Lịch sử

Sử dụng câu đố trong giai đoạn

giới thiệu bài

Sử dụng câu đố trong giai đoạn

cung cấp kiến thức mới

Sử dụng câu đố trong phần củng

cố kiến thức

Biểu đồ 1.4 Kết quả thể hiện hình thức sử dụng câu đố của giáo viên

trong dạy học môn Lịch sử

Câu hỏi này nhằm điều tra hình thức sử dụng câu đố của giáo viên trong quá trình dạy học Lịch sử để biết các giáo viên thường xuyên dùng hình thức sử dụng câu đố nào Sau khi điều tra, chúng tôi thu được kết quả như sau:

- Có 22 giáo viên (chiếm 73,3%) được điều tra trả lời là họ sử dụng câu đố trong giai đoạn giới thiệu bài

Sử dụng câu đố trong giai đoạn giới thiệu bài

Sử dụng câu đố trong giai đoạn cung cấp kiến thức mới

Sử dụng câu đố trong phần củng cố kiến thức

Trang 40

- Có 20 giáo viên (chiếm 66,7%) được điều tra trả lời là họ sử dụng câu đố trong giai đoạn cung cấp kiến thức mới

- Có 29 giáo viên (chiếm 96,7%) được điều tra trả lời là họ sử dụng câu đố trong phần củng cố kiến thức

Câu 5: Thầy (cô) sử dụng câu đố vào dạy học Lịch sử với các phương pháp

dạy học nào sau đây:

Bảng 1.5 Kết quả thể hiện phương pháp giáo viên sử dụng câu đố của

trong dạy học môn Lịch sử

Biểu đồ 1.5 Kết quả thể hiện phương pháp giáo viên sử dụng câu đố của

trong dạy học môn Lịch sử

Câu hỏi này nhằm điều tra phương pháp sử dụng câu đố của giáo viên trong quá trình dạy học Lịch sử để biết giáo viên thường xuyên sử dụng phương pháp nào

để lồng ghép câu đố vào dạy học Lịch sử Sau khi điều tra, chúng tôi thu được kết quả như sau:

Ngày đăng: 29/04/2021, 16:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ninh Viết Giao (2000), “Tìm hiểu câu đố Việt Nam”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tìm hiểu câu đố Việt Nam”
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
2. Hồ Quốc Hùng (1995) "Câu đố và tư duy nghệ thuật", in trong Kỷ yếu Văn học và Ngôn ngữ khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu đố và tư duy nghệ thuật
3. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (2008), “Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông’’, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông’’
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2008
4. Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (2002), “Phương pháp dạy học Lịch sử”, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phương pháp dạy học Lịch sử”
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2002
5. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng (1998), “Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở” NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở”
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
6. Trần Thị Lan (1996), “Một số vấn đề về bản chất thể loại câu đố Việt Nam với trẻ em”, Trường Đại học SPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề về bản chất thể loại câu đố Việt Nam với trẻ em”
Tác giả: Trần Thị Lan
Năm: 1996
7. Đặng Thị Mận, 2013, Câu đố và vai trò của câu đố trong việc phát triển tư duy cho học sinh Tiểu học, Khóa luận tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu đố và vai trò của câu đố trong việc phát triển tư duy cho học sinh Tiểu học
8. Triều Nguyên (2007), “Câu đố người Việt”, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Câu đố người Việt”
Tác giả: Triều Nguyên
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2007
9. Lê Khắc Nhãn và các tác giả khác (1961), “Sơ thảo phương pháp giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông”, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo phương pháp giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông”
Tác giả: Lê Khắc Nhãn và các tác giả khác
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1961
10. Nguyễn Văn Trung (1999), “Câu đố Việt Nam”, NXB TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Câu đố Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Văn Trung
Nhà XB: NXB TP Hồ Chí Minh
Năm: 1999
11. Lê Đình Trung“Dạy học định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông”, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dạy học định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông”
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
12. Sách Lịch sử và Địa lý lớp 4, NXB Giáo dục Khác
13. Sách Lịch sử và Địa lý lớp 5, NXB Giáo dục Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w