Bên cạnh đó, cũng có những Khóa luận tốt nghiệp, Sáng kiến kinh nghiệm nghiên cứu về việc sử dụng ĐDDH trực quan tự làm từ những vật liệu tái chế như: “Tự làm thiết bị dạy học – Thật là
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SỬ DỤNG VẬT LIỆU TÁI CHẾ ĐỂ THIẾT
KẾ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC TRONG MÔN
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành và sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn: Thạc sĩ Trần Thị Kim Cúc đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Em xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục tiểu học và Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN, đã trang bị cho em những kiến thức, truyền đạt những kinh nghiệm quý giá trong quá trình em học tập tại trường và tạo mọi điều kiện giúp chúng em thực hiện đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ thuộc quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã tạo mọi điều kiện cho em điều tra thực trạng và thực nghiệm sư phạm để có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do thời gian có hạn, bản thân còn nhiều hạn chế, thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô giáo
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày 02 tháng 01 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thanh
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc đề tài 4
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 6
1.1.1.1 Khái niệm về phương tiện 6
1.1.1.2 Khái niệm Đồ dùng dạy học, Thiết bị dạy học 6
1.1.1.3 Khái niệm vật liệu tái chế 7
1.1.1.4 Khái niệm đồ dùng dạy học làm từ vật liệu tái chế 7
1.1.2.Một số vấn đề về thiết kế đồ dùng dạy học làm từ vật liệu tái chế 7
1.1.2.1 Tầm quan trọng của việc thiết kế đồ dùng dạy học 7
1.1.2.2 Tầm quan trọng của việc thiết kế đồ dụng dạy học tự làm từ vật liệu tái chế 9
1.1.2.3 Phân loại đồ dùng dạy học 10
1.1.2.4 Yêu cầu chung đối với đồ dùng dạy học tự làm từ vật liệu tái chế 11
1.1.2.5 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh bậc Tiểu học 12
1.1.3 Mối quan hệ giữa việc tự làm đồ dùng dạy học bằng vật liệu tái chế và khả năng nhận thức của học sinh bậc Tiểu học 14
Trang 41.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 15
1.2.1 Một số vấn đề chung về dạy học các môn học ở tiểu học 15
1.2.1.1 Nguyên tắc, quan điểm xây dựng chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học 15
1.2.1.2 Mục tiêu, nội dung chương trình các môn học ở Tiểu học 17
1.2.2 Thực trạng về việc thiết kế và sử dụng đồ dùng dạy học làm từ vật liệu tái chế trong dạy học cái môn học ở Tiểu học 20
1.2.2.1 Mục đích nghiên cứu 20
1.2.2.2 Đối tượng điều tra 20
1.2.2.3 Nội dung điều tra 20
1.2.2.4 Phương pháp điều tra 21
1.2.2.5 Kết quả điều tra 21
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1: 32
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ MỘT SỐ MÔ HÌNH VẬN DỤNG VẬT LIỆU TÁI CHẾ VÀO THIẾT KẾ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC 33
2.1 Nguyên tắc thiết kế đồ dùng dạy học trực quan trong môn Tiếng Việt ở tiểu học 33
2.1.1 Đảm bảo mục tiêu bài học 33
2.1.2 Đảm bảo tính trực quan 33
2.1.3 Đảm bảo tính kinh tế 33
2.1.4 Đảm bảo phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của HS 34
2.1.5 Đảm bảo tính an toàn, độ bền và dễ vận chuyển 34
2.2 Thiết kế mô hình ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế 34
2.2.1 Quy trình thiết kế ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế 34
2.2.2 Một số mô hình ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế 36
2.2.2.1 Tên ĐDDH: Chiếc Ti vi phát sóng câu chuyện 36
2.2.2.2 Tên ĐDDH: Mô hình Những bông hoa kì diệu 40
Trang 52.2.2.3 Tên ĐDDH: Bộ sưu tập Thế giới động vật phục vụ phân môn Học vần 43
2.2.2.4 Tên ĐDDH: Mô hình Vòng quay bước đi 51
2.3 Nguyên tắc sử dụng các ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế trong dạy học môn Tiếng Việt 1 ở Tiểu học 54
2.3.1 Nguyên tắc sử dụng ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế đúng lúc 54
2.3.2 Nguyên tắc sử dụng ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế đúng chỗ 55
2.3.3 Nguyên tắc sử dụng ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế đúng cường độ 55
2.3.4 ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế phải phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học 56 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2: 57
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆP SƯ PHẠM 58
3.1 Mục đích thực nghiệm 58
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 58
3.3 Tiến hành thực nghiệm 58
3.3.1 Chọn đối tượng thực nghiệm 58
3.3.2 Bố trí thực nghiệm 58
3.3.3 Các bước tiến hành thực nghiệm 59
3.4 Kết quả thực nghiệm 59
3.4.1 Kết quả lĩnh hội tri thức của học sinh 59
3.4.2 Mức độ hứng thú của học sinh trong giờ học 62
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3: 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
1 Kết luận 66
2 Kiến nghị 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 1
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 1.1 Tầm quan trọng của việc sử dụng đồ dùng dạy học
trong dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học
Bảng 1.4 Tác dụng của việc tự làm ĐDDH từ vật liệu tái chế
của giáo viên
Trang 24
Bảng 1.5 Thực trạng việc tự làm ĐDDH từ vật liệu tái chế
phục vụ giảng dạy môn Tiếng Việt
Trang 24
Biểu đồ 1.1 Thực trạng việc tự làm ĐDDH từ vật liệu tái chế
phục vụ giảng dạy môn Tiếng Việt
Trang 8đó là nhiệm vụ chung của toàn xã hội Nghị quyết của Đảng về cải cách Giáo dục năm
1979 đã ghi rõ: “ Sự nghiệp Cách mạng luôn đổi mới vì thế công tác Giáo dục cũng phải đổi mới”
Xu hướng chung của sự đổi mới phương pháp giảng dạy ở Tiểu học là để giáo viên không chỉ là người truyền thụ kiến thức mà còn là con người tổ chức định hướng cho học sinh hoạt động để học sinh huy động vốn hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân vào chiếm lĩnh kiến thức mới Vì thế, việc cải tiến phương pháp giảng dạy bằng cách tạo ra nhiều hình thức học tập là cần thiết nhằm cuốn hút học sinh say mê hào hứng, tự giác lĩnh hội kiến thức, từ đó phát huy năng lực, trí sáng tạo của mỗi học sinh
Xuất phát từ yêu cầu đó, vấn đề sử dụng đồ dùng dạy học trong các giờ học phục vụ đổi mới phương pháp dạy học được nhiều giáo viên quan tâm Bởi học sinh Tiểu học từ Mẫu giáo chuyển lên nên việc thu thập kiến thức thông qua hình thức “Học mà chơi – Chơi mà học” rất phù hợp Mặc khác, xuất phát từ nhận thức của học sinh tiểu học là:
“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tương, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn khách quan” Bên cạnh các PPDH, các kĩ thuật dạy học tích cực, đồ dùng dạy học cũng khắc phục được các nhược điểm của dạy học truyền thống, đồng thời phát huy được năng lực của học sinh thông qua các hoạt động đa dạng, phong phú Các kĩ thuật dạy học kết hợp
đồ đùng dạy học giúp học sinh nắm sâu kiến thức, thể hiện năng lực của bản thân qua mỗi bài học Phương tiện dạy học không chỉ góp phần làm sinh động nội dung học tập, kích thích hứng thú học tập môn học mà còn giúp phát triển năng lực nhận thức của học sinh, giúp học sinh dễ hiểu bài, nhớ bài lâu hơn và đặc biệt cũng giúp giáo viên tiết kiệm thời gian lên lớp trong mỗi tiết học
Song trong thực tế, việc sử dụng đồ dùng dạy học ở một số trường nói chung và trường tiểu học nói riêng còn nhiều hạn chế Bản thân người thiết kế và sử dụng chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng nói nên đôi lúc còn bỡ ngỡ hoặc chỉ sử
Trang 9dụng một cách đối phó, còn mang tính hình thức hoặc chưa có kinh nghiệm nên dẫn đến hiệu quả giảng dạy không cao Đó là vấn đề đặt ra cho những người làm công tác giáo dục
Đối tượng học tập môn Tiếng Việt 1 là những âm, vần, tiếng,… nói chung và các sự vật, sự việc liên quan đến việc tìm hiểu và hình thành âm, vần, tiếng,… nói riêng Các em
HS có thể dễ dàng tri giác được qua các phương tiện dạy học như tranh ảnh, mô hình, mẫu vật,… về các âm, vần, tiếng kết hợp hay sự vật, hiện tượng liên quan đến nó Đồng thời, ở cấp học này là giai đoạn mà tư duy của HS chủ yếu là tư duy cụ thể, mang tính hình thức, trí nhớ cũng từ đó mà dần được hình thành, chưa hoàn thiện Do đó, việc sử dụng đồ dùng dạy học trong môn Tiếng Việt lớp 1 cũng như những môn học khác là rất cần thiết
Ngày nay, con người đang ra sức tìm cách giảm đi những hậu quả của ô nhiễm môi trường thì việc sáng tạo, tự thiết kế ra sản phẩm xuất phát từ những vật liệu bỏ đi, là việc làm vô cùng cần thiết Việc tạo ra dụng cụ, thiết bị dạy học từ đồ vật ấy vừa phục vụ lại nhu cầu của người giáo viên, vừa mang lại hứng thú học tập cho học sinh
Từ những yêu cầu và lí do trên, tôi chọn đề tài “Sử dụng vật liệu tái chế để thiết kế
đồ dùng dạy học trong môn Tiếng Việt 1” Qua đề tài này, tôi mong muốn rằng những
vấn đề được đề cập tới sẽ góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy ở trường tiểu học
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Bậc học ban đầu hết sức quan trọng để đào tạo thế hệ trẻ là bậc Tiểu học Các em sẽ trở thành những công dân tốt mang trong mình những phẩm chất tạo thành cốt lõi của một nhân cách Việt Nam trong giai đoạn mới Những phẩm chất đó là: trí tuệ phát triển,
ý chí cao và tình cảm đẹp
Để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học nhiều nhà giáo dục đã nghiên cứu về việc sử dụng phương tiện dạy học trực quan trong dạy học
- TS Nguyễn Sỹ Đức (chủ biên) đã viết cuốn “Lắp đặt, sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng
các thiết bị dạy học ở trường Tiểu học”, tài liệu này trình bày về vai trò của việc tự làm
ĐDDH trực quan; một số yêu cầu, chú ý, định hướng khi thiết kế Đặc biệt, tài liệu có trình bày quy trình thiết kế một số PTDH trực quan phục vụ trong dạy học các môn Toán, Tiếng Việt, Khoa học,… ở Tiểu học
Trang 10- “Phương pháp dạy học ở Tiểu học” – NXB Giáo dục, 2008 – Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam và “Các phương pháp dạy học ở Tiểu học” – NXB Giáo dục, 2009 – Viện
Khoa học Giáo dục Việt Nam nêu rõ những phương pháp, kĩ thuật thiết kế và sử dụng ĐDDH trực quan tự làm
Bên cạnh đó, cũng có những Khóa luận tốt nghiệp, Sáng kiến kinh nghiệm nghiên cứu về việc sử dụng ĐDDH trực quan tự làm từ những vật liệu tái chế như: “Tự làm thiết
bị dạy học – Thật là đơn giản”; “Một số kinh nghiệm thiết kế và sử dụng đồ dùng dạy học
tự làm trong các môn học ở Tiểu hoc”, “Sử dụng thiết bị dạy học trong môn Địa lí”,… Các công trong trình nghiên cứu bài viết nói trên chủ yếu trình bày quan niệm và sự cần thiết của việc thiết kế và sử dụng đồ dùng dạy học tự làm chứ chưa đi vào nghiên cứu việc sử dụng vật liệu tái chế thiết kế đồ dùng dạy học Tuy nhiên, việc áp dụng thực tế vẫn chưa cụ thể, đi sâu vào việc thiết kế, chế tạo ĐDDH trực quan tự làm trong dạy học
môn Tiếng Việt 1 ở Tiểu học Mặc dù vậy, các công trình trên vẫn là nguồn tư liệu làm
cơ sở cho việc tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực trạng việc sử dụng đồ dùng dạy học, đề tài nghiên cứu và xây dựng một số mô hình hợp lí từ vật liệu tái chế nhằm nâng cao chất lượng dạy học nói chung và dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 nói riêng
4 Giả thuyết khoa học
Nếu nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt lớp 1 ở Tiểu học, làm cho bải giảng thêm sinh động, lôi cuốn HS, phát huy tích cực và năng lực tư duy của HS thì giáo viên phải hiểu rõ vai trò quan trọng của việc thiết kế đồ dùng dạy học nói chung và thiết
kế đồ dùng từ vật liệu tái chế nói riêng, có kế hoạch sử dụng chúng trong giảng dạy
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nội dung dạy học các phân môn thuộc môn Tiếng Việt lớp 1
- Giáo viên và Học sinh lớp 1 trường tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, thành phố Đà Nẵng
Trang 116 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc thiết kế và sử dụng phương tiện dạy học bằng vật liệu tái chế trong môn Tiếng Việt lớp 1
- Tìm hiểu thực trạng thiết kế và sử dụng đồ dùng dạy học bằng vật liệu tái chế trong dạy học các phân môm thuộc môn Tiếng Việt lớp 1
- Thiết kế và hướng dẫn sử dụng một số phương tiện dạy học trực quan trong cáchan môn của môn Tiếng Việt lớp 1
- Thực nghiệm sư phạm
7 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài có sử dụng các phương pháp chính sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận thực tiễn: đọc sách và nghiên cứu tài liệu nhằm tìm hiểu các vấn đề lý luận và kỹ thuật dạy học tích cực, biện pháp sử dụng một số kỹ thuật dạy học tích cực vào dạy học
- Phương pháp điều tra: xây dựng các phiếu điều tra bằng an-ket để thu thập dữ liệu
từ giáo viên và học sinh về đề tài nghiên cứu
- Phương pháp thống kê: Thống kê số liệu thu thập được
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích, xử lý, tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra từ Giáo viên và Học sinh, kết quả thực nghiệm
4 Giải thuyết khoa học
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
7 Phương pháp nghiên cứu
8 Cấu trúc đề tài
NỘI DUNG gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và Cơ sở thực tiễn của đề tài
Trang 12Chương 2: Thiết kế một số mô hình vận dụng vật liệu tái chế vào thiết kế đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt 1 ở tiểu học
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1.1 Khái niệm về phương tiện
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Phương tiện là cách thức dùng để đạt được mục đích”.[16]
Phương tiện theo tiếng Latinh là “medium”, có nghĩa là ở giữa, trung gian liên kết
giữa người cho và người nhận Phương tiện nói lên sự hàm chứa, tính vị trí, vừa có chức năng chuyển giao, liên kết trong quan hệ giữa người gửi và người nhận
Như vậy, phương tiện được hiểu là cấu trúc chứa đựng và thể hiện các tín hiệu nhằm chuyển giao nội dung nhất định giữa người gửi và người nhận bằng hệ thống các tín hiệu thông qua các giác quan cảm nhận của con người.[4]
1.1.1.2 Khái niệm Đồ dùng dạy học, Thiết bị dạy học
Có nhiều quan điểm khác nhau về Thiết bị dạy học (TBDH) hay Đồ dùng dạy học (ĐDDH):
- Theo Từ điển Tiếng Việt – Hoàng Phê, Phương tiện là tổng thể những máy móc, dụng cụ, phụ tùng cần thiết cho một hoạt động nào đó
- Nhóm tác giả Đào Thái Lai (Chủ biên), Chu Vĩnh Quyên, Trịnh Đình Thắng, Trịnh Đình Vinh, trong cuốn “phương tiện kỹ thuật dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở tiểu học” cho rằng: TBDH có thể được xem là những đối tượng vật chất được người dạy sử dụng với tư cách là những phương tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của người học, thông qua đó mà thực hiện những nhiệm vụ dạy học
- Theo tác giả Đàm Hồng Quỳnh, TBDY là công cụ lao động của giáo viên (GV) và học sinh (HS)
- Tác giả Quản Hà Hưng cho rằng TBDH là hệ thống đối tượng vật chất và những phương tiện kỹ thuật được GV và HS sử dụng trong quá trình dạy học nhằm thực hiện mục đích dạy học
Từ các quan điểm trên, có thể hiểu TBDH là tổng thể các đối tượng vật chất được GV
và HS sử dụng trong quá trình dạy và học nhằm đạt được mục tiêu dạy học đề ra Như vậy TBDH bao gồm thiết bị dạy và thiết bị học Thiết bị dạy là những thiết bị mà GV sử
Trang 14dụng trong dạy học Ví dụ: Bản đồ, tranh ảnh, bảng biểu,… trong dạy học môn Lịch sử, Địa lý lớp 4, 5; Bộ chữ học vần ở lớp 1; Bộ lắp ghép mô hình kỹ thuật dành cho GV trong dạy học Kỹ thuật lớp 4,5…
Thiết bị học là những thiết bị do cá nhân HS sử dụng trong quá trình học tập Ví dụ: que tính trong ghép mô hình kỹ thuật HS sử dụng trong học môn Kỹ thuật lớp 4,5; Phiếu học tập…
1.1.1.3 Khái niệm vật liệu tái chế
Theo Từ điển Tiếng Việt, “tái chế là: quá trình rác thải hoặc vật liệu không cần thiết thành vật liệu mới Đây là một giải pháp thay thế cho việc thải rác thông thường, nó có thể giúp tiết kiệm vật liệu”.[28]
Như vậy, vật liệu tái chế được hiểu là việc sử dụng những vật liệu đã qua sử dụng để thiết kế đồ dùng
1.1.1.4 Khái niệm đồ dùng dạy học làm từ vật liệu tái chế
Sử dụng vật liệu tái chế trong việc dạy học làm đồ dung dạy học là việc người GV kết hợp những kiến thức, kĩ năng hay nói cách khác là mục tiêu và nội dung cần đạt về từng bài học của HS để vận dụng, sáng tạo, sử dụng những đồ vật đã qua sử dụng để thiết
kế đồ dung dạy học phục vụ nhu cầu giảng dạy, truyền thụ kiến thức Như vậy, việc thiết
kế vật liệu tái chế sẽ giảm bớt rác thải ra môi trường sống là cách giảm những rủi ro về ô nhiễm môi trường hiện nay
Trong đời sống sinh hoạt hằng ngày mỗi gia đình thường có rất nhiều sản phẩm bị loại bỏ sau khi sử dụng như: vỏ hộp sữa các loại, chai dầu gội, lọ sữa tắm, lon bia, bìa lịch cũ, vỏ trai, vỏ sò,… có nhiều kiểu dáng và kích thước khác nhau Đó là nguồn nguyên liệu phong phú và đa dạng, có thể tận dụng để làm đồ dùng, phương tiện phục vụ cho việc dạy học là một trong những việc rất có ý nghĩa, vừa tiết kiệm được tiền mua sắm nguyên vật liệu, tạo ra những đồ dùng mang tính sáng tạo cá nhân, phong phú, vừa làm tăng số lượng đồ dùng, thiết bị, phương tiện dạy học cho các em HS mà hiệu quả sử dùng khá cao Đồng thời làm giảm thiểu lượng rác thải, giảm chi phí cho công tác vệ sinh môi trường cũng như giảm chi phí để tạo nên một đồ dùng cùng chức năng khác
1.1.2 Một số vấn đề về thiết kế đồ dùng dạy học làm từ vật liệu tái chế
1.1.2.1 Tầm quan trọng của việc thiết kế đồ dùng dạy học
Trang 15Phương tiện dạy học nói chung và phương tiện dạy học trực quan nói riêng là một thành tố trong quá trình dạy học Nó cùng với các nhân tố khác: mục tiêu, nội dung, phương pháp, tổ chức, kiểm tra, đánh giá tạo thành một thể hoàn chỉnh và có quan hệ chặt chẽ thúc đẩy quá trình dạy học đạt hiệu quả Do đó, việc vận dụng và tiến hành các phương pháp dạy học không thể tách rời việc sử dụng các phương tiện dạy học
Qua những yếu tố trực quan: tranh ảnh, mô hình, mẫu vật,… kết hợp cùng lời giảng của giáo viên, học sinh xây dựng được những biểu tượng về chúng, đó là những tư liệu cảm tính Từ những tư liệu cảm tính kết hợp vói thao tác tư duy mà học sinh hình thành khái niệm Như vậy phương tiện dạy học trực quan có vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy học ở Tiểu học Việc tự làm phương tiện dạy học trực quan luôn đặt ra với giáo viên Bởi PTDH có tầm quan trọng đối với GV và HS:
- Giúp HS lĩnh hội tốt nhất các biểu tượng, khái niệm, quy tắc cũng như góp phần hướng dẫn, đẩy mạnh hoạt động nhận thức của HS; giúp HS nhận thức sâu sắc bài học thông qua quá trình HS quan sát sự vật, hiện tượng một cách trực quan, quá trình tự làm,
tự trải nghiệm và quá trình làm thí nghiệm
- Kích thích hứng thú của HS: PTDH trực quan tự làm thường đơn giản và do GV và
HS làm ra Quá trình làm và sử dụng PTDH trong các bài học tạo ra động cơ học tập tốt hơn, giúp HS tập trung chú ý cao và việc nắm kiến thức mới trở nên dễ dàng và sâu sắc hơn
- Phát triển kĩ năng thực hành ở HS: tự làm PTDH giúp GV và nhà trường tạo ra nhiều
bộ đồ dùng dạy học cho HS thực hành Chính các bộ đồ dùng dạy học này (trong đó có phần đóng góp của HS) giúp các em tự thực hiện các thí nghiệm và rèn luyện kĩ năng thực hành Thông qua đó, hình thành kĩ năng tốt hơn, có cơ hội khám phá môi trường xung quanh, giúp HS nắm nội dung bài học sâu sắc, chủ động, tích cực và sáng tạo
- Phát triển trí tuệ của HS: qua tự làm PTDH và quá trình quan sát sự vật, hiện tượng một cách trực quan, quá trình thí nghiệm ở bài học giúp HS tiếp thu kiến thức mới sâu sắc, bền vững Ý thức ham tìm hiểu cái mới, thích tò mò khoa học được nhen nhóm và tính chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập được phát huy ở mỗi HS
- Giáo dục nhân cách HS: đó là tính cần cù, cẩn thận, tỉ mỉ ý thức tổ chức kỉ luật, tính trung thực, thói quen làm việc mang tính khoa hoc, yêu quý thành quả lao động mà sản phẩm là PTDH do GV và HS tự làm ra
Trang 16- Hợp lí hóa quá trình hoạt động dạy hoc: PTDH tự làm không những là công cụ, là phương tiện để HS tự xây dựng và chiếm lĩnh kiến thức mới mà còn là nguồn cung cấp thông tin, kiến thức, góp phần giúp GV tổ chức điều khiển hoạt động nhận thức của HS một cách chủ động và đó là cơ sở để cuốn hút HS vào các hoạt động tự lập trên lớp, vào khả năng tự xây dựng hoạt động nhận thức của mình một cách tích cực
1.1.2.2 Tầm quan trọng của việc thiết kế đồ dụng dạy học tự làm từ vật liệu tái chế
Bên cạnh những tính cấp thiết mà việc thiết kế đồ dùng dạy học mang lại trong việc dạy và học, việc thiết kế đồ dùng dạy học tự làm từ vật liệu tái chế cũng mang lại cho GV
và cả HS những vai trò khác nhau:
- Hiện nay đồ dùng dạy học, thiết bị phục vụ dạy học có rất nhiều trên thị trường, tuy nhiên xét về phương diện giáo dục thì chúng không thể để đáp ứng đầy đủ các nhu cầu
và mục đích của chương trình dạy học ở trường Tiểu học Hơn nữa việc mua quá nhiều
đồ dùng dạy học làm ảnh hưởng đến kinh tế của các trường học, của nhiều giáo viên Trong khi các đồ phế phẩm từ gia đình, các nguyên vật liệu đã qua sử dụng đang sẵn có
và có rất nhiều thì việc tái sử dụng tạo làm đồ dùng dạy học là điều có thể thực hiện Khi thực hiện đồ dùng dạy học do cô và HS hoặc tự HS tự tay làm ra, các em HS sẽ cảm thấy yêu quý và hứng thú hơn rất nhiều so với các đồ dùng, thiết bị dạy học có sẵn Đây cũng
là một hình thức dạy cho HS biết yêu quý sức lao động ngay khi còn bé Vì vậy, việc tự làm đồ dùng dạy học tự làm từ vậy liệu tái chế là việc làm hết sức cần thiết và bổ đối với
các đồ dùng và đáp ứng tiêu chí “Dạy và học phát huy tối đa tính tích cực của học sinh”
- Bồi dưỡng cho người giáo viên lòng nhiệt tình trong công tác, nhiệt huyết, yêu nghề, mến trẻ có tinh thần ham học hỏi, cầu tiến bộ, tích cực học tập để nâng cao kiến thức, kỹ năng, phương pháp cho việc làm đồ dùng dạy học phục vụ cho các hoạt động của cô và trò trong nhà trường Tạo động lực khuyến khích sự sáng tạo của đội ngũ giáo viên và HS trong việc bồi dưỡng khả năng tự học và thực hành
- Khai thác sử dụng hiệu quả các thiết bị dạy học đã được trang bị theo danh mục tối thiểu kết hợp với hoạt động tự làm đồ dùng dạy học, để góp phần nâng cao hiệu quả trong việc đổi mới phương pháp dạy học và chất lượng giáo dục
- Đặc biệt, việc sử dụng vật liệu tái chế để thiết kế đồ dùng dạy học đã góp một phần nhỏ vào công cuộc bảo vệ môi trường sống xung quanh chúng ta, giảm thiểu sự đe dọa
về ô nhiễm do rác thải thải ra môi trường quá nhiều so với mức cho phép
Trang 171.1.2.3 Phân loại đồ dùng dạy học
Hiện nay, có 2 loại PTDH cơ bản phổ biến rộng rãi trong nhà trường là: phương tiện
kĩ thuật dạy học (phương tiện nghe – nhìn, máy kiểm tra, máy dạy học) và phương tiện dạy học trực quan
Trong đó, PTDH trực quan là phương tiện được sử dụng phổ biến rộng rãi và nhiều hơn bởi còn tùy theo điều kiện, cơ sở vật chất của từng trường PTDH trực quan gồm có: + Mẫu vật: có thể dưới dạng vật thật, vật nhồi, tiêu bản,… tùy theo môn học, mẫu vật được chế tạo theo những chủng loại khác nhau Như vậy, mẫu vật là bao gồm vật thật và những vật thật vốn tươi sống nhưng chưa được bảo quản qua thời gian đem ngâm, phơi
Ép hoặc nhồi
+ Mô hình: là những mẫu thu nhỏ trong không gian để biểu thị một vật hoặc mô tả một quá trình, sự kiện Nó giúp cho người quan sát có thể hình dung cấu trúc không gian của toàn thể cũng như bộ phận cơ bản nhất của vật thật với kích thước được phóng to, thu nhỏ
+ Tranh ảnh: là những hình vẽ hay ảnh chụp được sử dụng làm PTDH nhằm tập trung
sự chú ý của HS vào những mặt chủ yếu của đối tượng nghiên cứu trong những điều kiện thích hợp kết hợp với lời giảng
+ Sơ đồ, là bức vẽ đơn giản để biểu diễn những nét chính của sự vật, sự kiện hay hiện tượng nào đó Nó có tác dụng làm đơn giản hóa, vạch ra mối liên hệ hoặc tổng hợp kiến thức
+ Bản đồ, lược đồ: là hình vẽ thu nhỏ toàn bộ Trái Đất hoặc một bộ phận của bề mặt Trái Đất trên mặt phẳng dựa vào các phương pháp Toán học, phương pháp biểu hiện kí hiệu để thể hiện các thông tin về đối tượng Trong trường hợp không yêu cầu tính chính xác cao và nội dung cần giản lược thì người ta dung lược đồ
+ Quả địa cầu: là mô hình thu nhỏ của Trái Đất Trên quả địa cầu, tất cả những đặc điểm về hình cầu, về kinh tuyến, vĩ tuyến, phương hướng đều được giữ nguyên gần đúng với thực tế Tuy nhiên, khoản cách đều được thu nhỏ theo một tỉ lệ nhất định
+ Dụng cụ thí nghiệm: là những dụng cụ được chế tạo đặc chủng phục vụ cho những môn học tương ứng như TN-XH, Khoa học,… ở Tiểu học
+ Phiếu học tập: là PTDH mà các yêu cầu học tập thường được in., viết hoặc vẽ trên giấy Phiếu học tập được đánh giá là một trong những công cụ giúp cá thể hóa hoạt động học tập, tạo điều kiện để HS hoạt động độc lập, tự khám phá kiến thức mới Mặt khác,
Trang 18phiếu học tập còn là công cụ hữu hiệu giúp GV kiểm tra, đánh giá khả năng thu nhận kiến thức của HS
1.1.2.4 Yêu cầu chung đối với đồ dùng dạy học tự làm từ vật liệu tái chế
Trong quá trình dạy học, để thiết kế hoặc tự tay chế tạo các PTDH từ vật liệu tái chế, người GV cần phải nắm được yêu cầu đối với việc tự làm PTDH trực quan tương ứng Với mỗi loại PTDH trực quan sẽ có những yêu cầu riêng nhưng nhìn chung để đánh giá chất lượng của các loại PTDH, người ta thường dựa vào các tiêu chí chính: tính khoa học sư phạm, tính nhân trắc học, tính thẩm mĩ, tính khoa học kĩ thuật, tính kinh tế,…
- Tất cả các Đồ dùng dạy học là từ vật liệu tái chế tập hợp thành bộ phải có mối liên
hệ chặt chẽ về nội dung, bố cục, hình thức thiết kế và việc tổ chức dạy học cho HS bằng chúng Trong đó, mỗi loại trong bộ phải có vai trò cụ thể và chỗ đứng riêng
- Đồ dùng dạy học làm từ vật liệu tái chế phải phù hợp với phương pháp dạy học của
GV và có tác dụng thúc đẩy việc sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại và các hình thức tổ chức dạy hoc tiên tiến, sáng tạo
Trang 19- Màu sắc các đồ dùng dạy học làm từ vật liệu tái phải hài hòa, gần giống như thật
- Thích hợp dạy nhiều môn học cũng như có tính hiệu quả ứng dụng cao
- ĐDDH làm từ vật liệu tái chế cần có vẻ đẹp hấp dẫn để HS hứng thú quan sát, nhờ
đó nâng cao hiệu quả dạy học
- Cần tận dụng phế liệu, nguyên liệu rẻ tiền và đặc biệt là những vỏ bao bì hay chai
lọ trong đời sống gia đình không dùng nữa để giảm bớt đi chi phí không cần thiết nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả cao nhất, qua đó giáo dục HS ý thức tiết kiệm
- ĐDDH làm từ vật liệu tái chế phải bền chắc và chi phí bảo đảm thấp
1.1.2.5 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh bậc Tiểu học
a Tri giác
Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ định, do đó các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác, dễ mất sai lầm, có khi còn lẫn lộn Tri giác thường gắn liền với hành động, với hoạt động thực tiễn, trẻ cảm nhận được những thứ nó cầm nắm Những gì phù hợp với nhu cầu cần hoạt động của các em, những gì GV chỉ dẫn các em mới tri giác được Vì vậy các em tri giác tốt khi
Trang 20được nhìn, cầm, nắm, tháo gỡ, tận mắt thấy, nghe thấy,… các sự vật, đặc biệt là các ĐDDH làm từ vật liệu tái chế hấp dẫn sẽ tạo cho HS hứng thú quan sát, nhờ đó nâng cao
hiệu quả dạy học
b Tư duy
V.I Lê Nin đã diễn tả bản chất của sự vật nhận thức qua quy luật: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến tư duy thực tiễn…đó là con đường nhận thức hiện thực khách quan và nhận thức chân lí” Tư duy của học sinh Tiểu học cũng phát triển theo quy luật đó Ở giai đoạn HS lớp 1, 2, 3 tư duy của các em là tư duy cụ thể mang tính hình thức bằng cách dựa vào đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng
cụ thể, thường là những đặc điểm bên ngoài (màu sắc, kích thức, hình dáng), chưa chú trọng những thuộc tính và bản chất bên trong của sự vật
Nhờ ảnh hưởng của quá trình học tập, các em dần dần chuyển từ mặt nhận thức các mặt bên ngoài của sự vật, hiện tượng đến nhận thức các thuộc tính bên trong và dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng
Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Khả năng khái hóa phát triển dần theo lứa tuổi, tuy nhiên hoạt động phân tích – tổng hợp vẫn còn sơ đẳng, học sinh Tiểu học chủ yếu tiến hành phân tích – trực quan – hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng
c Tưởng tượng
Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng Tưởng tượng của
HS phát triển không đầy đủ, chính xác thì sẽ gây trở ngại trong quá trình lĩnh hội tri thức Khả năng tưởng tượng của HS phát triển khi các em có nhiều vốn kiến thức và kinh nghiệm sống phong phú Lứa tuổi học sinh Tiểu học là lứa tuổi thơ mộng giúp cho tưởng tượng phát triển Tuy vậy, tưởng tượng của các em còn tản mạn, ít có tổ chức Hình ảnh đối tượng còn đơn giản hay thay đổi chưa bền vững Ở giai đoạn 1 tưởng tượng của HS càng gần thực tế hơn và các em biết cách biểu đạt những sự vật, hiện tượng mà mình tưởng tượng bằng tranh vẽ ngôn ngữ
Trong quá trình giảng dạy, GV cần lưu ý tưởng tượng góp phần phát triển trí tưởng tượng cho HS, nhờ có tưởng tượng mà HS có thể khái quát sự vật, hiện tượng môn học, tạo thêm động lực để kích thích tính tìm tòi, khám phá những điều mới mẻ
d Trí nhớ
Trang 21Ở học sinh Tiểu học, trí nhớ trực quan – hình tượng và trí nhớ máy móc chiếm ưu thế hơn trí nhớ logic Các em ghi nhớ và giữ gìn chính xác sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng hay là học thuộc lòng tài liệu học tập theo đúng từng câu, từng chữ mà không diễn đạt bằng lời nói của mình, Vì vậy, GV cần hướng dẫn cho các em các thủ thuật ghi nhớ, tránh ghi nhớ một cách máy móc
Sự tập trung chú ý của các em vẫn còn yếu, thiếu bền vững Các em có thể quên lời
cô dặn, quên làm bài tập do đó GV cần điều chỉnh nhịp độ học tập phù hợp
Ở giai đoạn 1 (các lớp 1, 2, 3) cùng với việc hình thành các biện pháp ghi nhớ, trí nhớ chủ định của các em phát triển và mang lại hiệu quả trong học tập hơn là trí nhớ không chủ định
Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: sức hấp dẫn của PTDH, mức độ tích cực tập trung của các em, yếu tố tâm lí tình cảm hay hứng thú học tập ở các em
e Chú ý
Ở học sinh Tiểu học, chú ý không chủ định phát triển hơn chú ý có chủ định Những
gì mang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường dễ dàng lôi cuốn sự chú ý của các em
Sự chú ý không chủ định càng trở nên mạnh mẽ khi GV sử dụng PTDH đẹp, mới la, ít gặp, gợi cho các em cảm xúc tích cực Vì vậy việc sử dụng PTDH trực quan như tranh ảnh, tranh vẽ, biểu đồ, đồ dùng dạy học tự làm,… là điều kiện quan trọng để tổ chức sự chú ý
Ở giai đoạn này trẻ bắt dầu hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập Khi GV sử dụng những phương tiện trực quan như: tranh ảnh, mô hình, lược đồ, mẫu vật,… trong giờ học thì dễ dàng thu hút sự chú ý của các em
1.1.3 Mối quan hệ giữa việc tự làm đồ dùng dạy học bằng vật liệu tái chế và khả năng nhận thức của học sinh bậc Tiểu học
Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học ở giai đoạn 1 (các lớp 1, 2, 3) là tư duy cụ thể, mang tính hình thức, dễ bị lôi cuốn vào những PTDH trực quan đẹp, mới lạ Kết quả của quá trình quan sát các PTDH trực quan là hình thành cho HS những biểu tượng đầu tiên về những dấu hiệu bên ngoài của sự vật hay hiện tượng nào đó
Trang 22Biểu tượng chính là sản phẩm của quá trình tri giác, mà quan sát là hình thức cao nhất của tri giác là hình thức cao nhất của tri giác Vì vậy để hình thành biểu tượng cho HS về các sự vật hay hiện tượng nào đó, cách tốt nhất là tổ chức cho các em quan sát chúng Đối tượng quan sát chính là các ĐDDH làm từ vật liệu tái chế mà GV sáng tạo nên Sau đó
HS đã có biểu tượng thì GV sẽ hình thành cho HS khái niệm về các sự vật, hiện tượng
đó
Mặt khác, các ĐDDH làm từ vật liệu tái chế còn có tác dụng tốt đối với việc phát huy tính tích cực và tương tác của HS bởi vì khác với lời nói (thông tin đến với HS chậm, chủ yếu theo con đường thính giác một cách từ từ theo trình tự và ý nghĩa của từng từ, từng câu), mỗi ĐDDH làm từ vật liệu tái chế thường huy động đồng thời nhiều giác quan của
HS tạo nên một hình ảnh tương đối trọn vẹn về một đối tượng nhận thức Thông qua việc quan sát các ĐDDH làm từ vật liệu tái chế, các em được học tập chủ động, có khả năng
tự xây dựng hoạt động nhận thức của mình một cách tích cực, khơi dậy ở HS mong muốn
và hứng thú học tập thỏa mãn nhu cầu nhận thức ngày càng tăng
Đặc biệt, nếu GV hướng dẫn cho HS tự làm ĐDDH từ vật liệu tái chế thì còn có tác dụng giáo dục các em ở nhiều mặt vì đây chính là hình thức học tập thông qua thực hành Khi đó các em sẽ nắm chắc, nhớ lâu bài học Ngoài ra, các em còn được rèn luyện kĩ năng tay chân, khéo léo và giáo dục tình yêu lao động, có thái độ trân trọng các sản phẩm lao động do bản thân cũng như người khác làm ra Qua việc tận dụng các phế thải và nguồn nguyên liệu có sẵn ở địa phương để làm ĐDDH, có thể giáo dục ở HS ý thức tiết kiệm, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Một số vấn đề chung về dạy học các môn học ở tiểu học
1.2.1.1 Nguyên tắc, quan điểm xây dựng chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học
a Nguyên tắc xây dựng chương trình
- Tính khoa học
Chương trình được thiết kế phù hợp với lo-gic phát triển tâm sinh lý và khả năng nhận thức của HS: từ ngữ, hình ảnh liên quan đến các hoạt động hằng ngày của các em và những sự vật quen thuộc xung quanh
Kiến thức được trình bày có hệ thống và chặt chẽ:
Trang 23+ Mạch kiến thức và kỹ năng được thực hiện từ đơn giản đến phức tạp, có lặp lại và nâng cao
+ Trật tự các âm, vần, chữ cái thể hiện theo nguyên tắc nhất quán: trong sách không
có âm, vần, tiếng chưa xuất hiện, không xuất hiện tiếng trống nghĩa, các âm có chữ viết gần giống nhau được sắp xếp theo từng cụm bài
- Tính sư phạm
Nội dung chương trình Tiếng Việt ở lớp 1 thống nhất với những mục tiêu giáo dục
đã đề ra Nó luôn hướng đến giáo dục lí tưởng sống và những phẩm chất đạo đức tốt đẹp cho HS Trong việc xoay quanh các chủ đề về: Nhà trường, Gia đình, Thiên nhiên – Đất nước
Do đặc điểm về tâm lí của HS lớp 1 chỉ có thể nhận thức được hoặc làm được một số chuyện nhất định nên nguyên tắc xây dựng chương trình còn dựa trên tính vừa sức của các em Ví dụ về chuẩn của chương trình cần đạt tới: chương trình cải cách giáo dục yêu cầu HS cuối lớp 1 đọc được 20 tiếng/phút Viết đúng được các vần, các từ ngữ Viết được các chữ cái to, nhỏ và đúng cách Hiểu được nội dung câu chuyện
b Quan điểm xây dựng chương trình
- Quan điểm giao tiếp
Quan điểm giao tiếp được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và phương pháp dạy học
Về nội dung:
+ Ở nhóm bài Làm quen với chữ cái và nhóm bài Dạy học âm, vần mới: khi dạy về chữ cái hay âm vần mới luôn có phần luyện đọc và luyện nói có sử dụng đến nội dung mới học
Trang 24+ Ở nhóm bài Luyện tập tổng hợp: Thông qua các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả luôn tạo ra môi trường giao tiếp có chọn lọc để học sinh mở rộng vốn từ theo định hướng, trang bị những kiến thức nền và phát triển các kỹ năn sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp
- Quan điểm tích cực hóa hoạt động của học sinh
Đổi mới phương pháp dạy và học được chuyển từ phương pháp truyền thụ sang tích cực hóa hoạt động của người học, trong đó GV đóng vai trò người tổ chức hoạt động của
HS, mỗi HS đều được hoạt động, mỗi HS đều được bộc lộ mình và được phát triển Theo phần Luyện tập tổng hợp ở SGK Tiếng Việt 1 (tập 2) không trình bày kiến thức như là những kết quả có sẵn mà xây dựng hệ thống câu hỏi ở từng phân môn Tập đọc, Kể chuyện, bài tập hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động nhằm chiếm lĩnh kiến thức và phát triển
kỹ năng sử dụng tiếng Việt (qua các “phần mẫu và ví dụ” trong các bài tập)
1.2.1.2 Mục tiêu, nội dung chương trình các môn học ở Tiểu học
a Mục tiêu chương trình
1 Kiến thức
- Nhận biết được hệ thống chữ cái và số
- Nhận biết được hệ thống thanh điệu
- Nắm được nguyên tắc ngữ âm cơ bản
Trang 25- Biết cảm nhận cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ từ tiếng Việt
- Trân trọng và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
b Nội dung chương trình
1 Kiến thức
• Tập đọc
Giúp HS:
+ Làm quen được với âm, chữ cái, thanh điệu và dấu ghi thanh điệu
+ Hiểu được các từ ngữ trong bài, nội dung của bài
• Tập viết
+ Truyền thụ cho HS những kiến thức cơ về chữ viết và kỹ thuật viết chữ, tọa độ chữ viết, tên gọi các nét chữ, cấu tạo chữ cái: vị trí dấu thanh, dấu phụ, các khái niệm liên kết nét chữ hoặc liên kết chữ cái
• Chính tả
Giúp HS:
+ Biết được một số quy tắc chính tả
+ Điền đúng được các vần và chữ, các dấu câu, thanh điệu
• Kể chuyện
Giúp học sinh:
+ Kể lại được từng đoạn cũng như toàn bộ câu chuyện
+ Hiểu được lời khuyên của các câu chuyện muốn nhắn nhủ
+ Nắm được nội dung cốt truyện
Trang 262 Kỹ năng
• Tập đọc
+ Rèn cho HS khả năng đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý thức và đọc diễn cảm
+ Đọc trơn được cả bài, phát âm đúng được các từ ngữ
+ Biết cách ngắt, nghỉ nhịp khi đọc bài
+ Nghe hiểu được các câu kể đơn giản
+ Rèn kỹ năng viết nhanh, viết đẹp, đúng mẫu và rõ ràng
+ Kể lại được to, rõ, diễn cảm
+ Biết phân biệt được lời các nhân vật
+ Nắm được nội dung cốt truyện
+ Rèn được lòng yêu tiếng Việt, chữ Việt
+ Rèn tính kiên trì, nhẫn nại, cẩn thận, kỷ luật và khiếu thẩm mỹ
Trang 27• Chính tả
+ Rèn được lòng yêu thương đất nước, con người, gia đình và bạn bè
+ Rèn được tính chủ động, sáng tạo
• Học vần
+ Giúp HS có tình yêu thương đối với tiếng Việt
+ HS ham thích đọc thơ văn, giáo dục đạo đức, tư cách, tình cảm và tâm hồn cho các
1.2.2.2 Đối tượng điều tra
Đối tượng điều tra của chúng tôi khi thực hiện đề tài này là 30 GV thuộc khối lớp 1
và 290 HS thuộc khối lớp 1 tại 2 trường Tiểu học trong địa bàn thành phố Đà Nẵng
- 15 GV và 150 HS của trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, Hà Khê, Thanh Khê, Đà Nẵng
- 15 GV và 140 HS của trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, Hòa Khánh Nam, Liên Chiểu, Đà Nẵng
1.2.2.3 Nội dung điều tra
Chúng tôi tiến hành điều tra một số vấn đề sau:
a Về phía giáo viên
- Tìm hiểu nhận thức của GV về tầm quan trọng của ĐDDH trong quá trình dạy học
- Tìm hiểu nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc thiết kế và sử dụng ĐDDH
làm từ vật liệu tái chế trong giảng dạy môn Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học
Trang 28- Tìm hiểu tác dụng của việc tự làm ĐDDH làm từ vật liệu tái chế ngoài bộ đồ dùng
có sẵn trong quá trình dạy học Tìm hiểu những khó khăn của GV trong quá trình thiết kế
các ĐDDH làm từ vật liệu tái chế trong giảng dạy môn Tiếng Việt ở tiểu học
- Tìm hiểu thái độ học tập của HS khi GV sử dụng các ĐDDH làm từ vật liệu tái chế
trong giảng dạy môn Tiếng Việt
b Về phía học sinh
- Tìm hiểu mức độ hứng thú của HS khi học môn các môn học và khi được quan sát,
tìm hiểu nội dung bài học qua những ĐDDH làm từ vật liệu tái chế của GV
- Tìm hiểu mức độ HS được học tập thông qua các ĐDDH làm từ vật liệu tái chế mà
GV tự làm và kết quả học tập của HS
- Thực trạng GV hướng dẫn HS tư làm các ĐDDH làm từ vật liệu tái chế hay yêu cầu
các em sưu tầm những mẫu vật trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt
1.2.2.4 Phương pháp điều tra
- Phương pháp trò chuyện: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để tìm hiểu nhận thức của GV để thiết kế và sử dụng ĐDDH làm từ vật liệu tái chế trong dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học
- Phương pháp An-két (phiếu điều tra): Các nội dung chúng tôi đưa ra ở trên được thể hiện dưới dạng câu hỏi trắc nghiệm trong phiếu điều tra
- Phương pháp xử lí thống kê: Chúng tôi đã phát và thu lại 30 phiếu điều tra trên đối tượng GV và 290 phiếu điều tra trên đối tượng HS Sau khi thu thập số liệu từ phiếu điều tra, chúng tôi tiến hành xử lý thống kê qua đó nhận xét về thực trạng thiết kế và sử dụng các ĐDDH làm từ vật liệu tái chế trong dạy học các chủ đề thuộc môn học
1.2.2.5 Kết quả điều tra
a Khảo sát trên đối tượng GV
Để tìm hiểu tầm quan trong của việc sử dụng ĐDDH trong môn Tiếng Việt ở lớp 1,
chúng tôi đã đưa ra câu hỏi 1: “Theo thầy (cô), tầm quan trọng của việc sử dụng đồ dùng
dạy học trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt như thế nào?” Kết quả thu được như
sau:
Trang 29Bảng 1.1 Tầm quan trọng của việc sử dụng đồ dùng dạy học trong dạy học môn
Tiếng Việt ở Tiểu học
và sử dụng nhiều loại ĐDDH tự làm nói chung và ĐDDH làm từ vật liệu tái chế nói riêng
để bài dạy thêm phong phú, đa dạng, sinh động, tiết kiệm thời gian trên lớp, tiết kiệm chi phí, truyền đạt được một nguồn kiến thức lớn mà kênh chữ không biểu đạt một lúc được hết
Để tìm hiểu hình thức trình bày trong SGK Tiếng Việt 1 (tập 1, tập 2), tôi đã đưa ra
câu hỏi 2: “Theo thầy (cô), nội dung SGK môn Tiếng Việt 1 hiện nay thường được trình
bày dưới dạng nào?” Kết quả thu được như sau:
Bảng 1.2 Hình thức trình bày nội dung SGK Tiếng Việt 1
Trang 30môn Tiếng Việt 1 thuộc chương trình bậc Tiểu học có cần thiết không?” Sau quá trình
điều tra, chúng tôi thu được kết quả sau:
Bảng 1.3 Mức độ nhận thức về sự cần thiết của các ĐDDH làm từ vật liệu tái chế
Để tìm hiểu tác dụng của việc tự làm ĐDDH phục vụ việc giảng dạy các môn học
thuộc chương trình tiểu học, chúng tôi đưa ra câu hỏi 4: “Theo thầy (cô), việc tự làm
ĐDDH từ những thứ có sẵn là vật liệu tái chế phụ vụ giảng dạy các môn học có tác dụng như thế nào đối với người dạy và người học?” Kết quả thu được như sau:
Bảng 1.4 Tác dụng của việc tự làm ĐDDH từ vật liệu tái chế của giáo viên
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của GV được củng cố,
phát triển HS sẽ nắm chắc và nhớ lâu bài học hơn
Góp phần làm cho PTDH ở tiểu học thêm đa dạng phong
phú, kịp thời những yêu cầu dạy học, hạn chế hiện tượng
học chay, dạy chay HS được rèn luyện kĩ năng chân tay
khéo léo và tình yêu lao động
Trang 31Qua điều tra câu hỏi này, ta có thể thấy rằng hầu hết GV đều nắm được vai trò của
việc tự làm ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế: Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của GV được củng cố, phát triển; HS sẽ nắm chắc và nhớ lâu bài học hơn; Góp phần làm cho PTDH ở Tiểu học thêm đa dạng, phong phú, kịp thời những yêu cầu dạy học, hạn chế hiện tượng học chay, dạy chay; HS được rèn luyện kĩ năng chân tay khéo léo và tình yêu lao động Vì vậy, nhiệm vụ của GV là đầu tư, tâm huyết trong việc thiết kế và sử dụng PTDH trực quan trong giảng dạy
Để tìm hiểu thực trạng việc tự làm các ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế ngoài bộ đồ
dùng có sẵn khi dạy môn Tiếng Việt ở Tiểu học, chúng tôi đưa ra câu hỏi 5: “Thầy (cô)
có tự làm ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế ngoài bộ đồ dùng có sẵn khi giảng dạy môn
Tiếng Việt không?” Qua điều tra chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 1.5 Thực trạng việc tự làm ĐDDH từ vật liệu tái chế phục vụ giảng dạy môn
Trang 32Biểu đồ 1.1 Thực trạng tự làm ĐDDH từ vật liệu tái chế của GV trong giảng dạy
môn Tiếng Việt
Nhìn vào bảng và biểu đồ ta nhận thấy rõ có 13,3% GV thường xuyên tự làm ĐDDH
tự làm từ vật liệu tái chế; 26,7% GV không thường xuyên thiết kế và có 60% GV thỉnh thoảng thiết kế, chế tạo Theo ý kiến của các thầy (cô) thì việc thiết kế và sử dụng ĐDDH
tự làm từ vật liệu tái chế ngoài bộ đồ dùng có sẵn khi giảng dạy môn Tiếng Việt ở Tiểu học mất rất nhiều thời gian, công sức nên chưa thực hiện một cách thường xuyên được Nhưng đây cũng là một bước đầu giúp thúc đẩy mạnh phong trào thiết kế và sử dụng các ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế trong giảng dạy môn Tiếng Việt 1
Việc thiết kế các ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế trong dạy học môn Tiếng Việt 1 có tác dụng về mọi mặt đối với người dạy và người học, để biết những khó khăn GV gặp phải khi thiết kế các ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế trong môn học, chúng tôi đưa ra câu
hỏi 6: “Thầy (cô) thường gặp khó khăn gì trong quá trình thiết kế và sử dụng ĐDDH tự
làm từ vật liệu tái chế phục vụ giảng dạy môn Tiếng Việt ở Tiểu hoc?” Sau quá trình điều
tra, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 1.6 Những khó khăn khi thiết kế ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế
Trang 33Tất cả các ý kiến trên đều đúng 20 66,7
Theo ý kiến của các GV, đa số các thầy (cô) đều gặp khó khăn khi thiết kế và sử dụng ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế trong môn Tiếng Việt 1 ở tiểu học Vì GV chưa thành thạo và có kinh nghiệm để tự làm ĐDDH thật sự phong phú như chưa có kinh nghiệm trong việc chọn vật liệu, chế tạo sản phẩm đảm bảo bền vững,… Ngoài ra, để tự làm ĐDDH phục vụ giảng dạy thì GV phải mất nhiều thời gian thiết kế và chế tạo
Để tìm hiểu mức độ sử dụng các ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế trong giảng dạy
môn Tiếng Việt, chúng tôi đưa ra câu hỏi 7: “Thầy (cô) có sử dụng ĐDDH tự làm từ vật
liệu tái chế để giảng dạy môn Tiếng Việt không?” Qua kết quả điều tra thực tế, chúng tôi
thu được kết quả sau:
Bảng 1.7 Mức độ sử dụng các ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế
Thông qua việc điều tra, ta có thể thấy chỉ có 26,7% GV hiếm khi sử dụng ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế vào tiết dạy Tỉ lệ GV thường xuyên sử dụng ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế khi dạy lại chiếm tỉ lệ cao, chiếm đến 73,3% Điều đó khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế trong giảng dạy là rất lớn
Trang 34Câu hỏi cuối cùng (câu 8) tôi đưa ra: “Khi thầy (cô) sử dụng những phương tiện dạy
học ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế vào giảng dạy các chủ đề của môn học, thái độ học tập của HS như thế nào?” Qua điều tra thực tế, chúng tôi thu được kết quả sau:
Bảng 1.8 Kết quả thái độ học tập của HS
Bộ GD&ĐT cung cấp đã đủ dùng; hơn nữa hầu hết các phòng học của nhà trường đều được trang bị tivi, đa số GV dạy bằng giáo án điện tử nên việc thiết kế và sử dụng ĐDDH
Trang 35tự làm từ vật liệu tái chế trong các môn học chỉ cần thiết với các trường học có điều kiện
cơ sở vật chất còn hạn chế” Hoặc vì “Việc thiết kế và sử dụng ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế trong dạy học các môn học rất cần thiết, nó không những là công cụ truyền đạt kiến thức cho HS, mà còn giáo dục HS óc thẫm mĩ; những để thiết kế được một sản phẩm thì đòi hỏi đầu tư về thời gian và công sức, lòng yêu nghề, sự sáng tạo của GV”
Kết luận:
Từ kết quả điều tra trên, chúng tôi đã rút ra được một số kết luận như sau:
- GV đã nhận thức được sự cần thiết của việc thiết kế và sử dụng các ĐDDH tự làm
từ vật liệu tái chế trong dạy học môn Tiếng Việt 1 ở Tiểu học Cùng với bộ Thiết bị dạy học tối thiểu cấp Tiểu học, việc tự làm các ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế của GV và
HS góp phần làm cho PTDH ở Tiểu học thêm đa dạng, phong phú, phù hợp với đặc điểm của địa phương, phục vụ thiết thực, kịp thời những yêu cầu dạy học
- Có rất nhiều GV đã sáng tạo trong việc thiết kế ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế vào
dạy học môn dễ ứng dụng như Toán còn Tiếng Việt thì rất ít Dựa vào số liệu thống kê,
ta nhận thấy GV chỉ thỉnh thoảng tự làm các ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế trong giảng dạy môn học này Nguyên nhân chủ yếu là do không có thời gian để thiết kế, chế tạo, chưa thành thạo và có kinh nghiệm để tự làm ĐDDH phong phú, chủ yếu sử dụng phụ thuộc vào các PTDH có sẵn của Bộ GD&ĐT ban hành, lạm dụng dạy học bằng bài giảng điện tử, ảnh hưởng đến việc GV không quen sáng tạo, đầu tư tâm huyết trong việc thiết
kế và chế tạo ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế
b Khảo sát trên đối tượng HS
Để tìm hiểu hứng thú của HS khi học môn Tiếng Việt 1, chúng tôi đưa ra câu hỏi 1:
“Em có thích GV sử dụng đồ dùng dạy học trong quá trình học tập không?” Kết quả thu
được như sau:
Bảng 1.9 Mức độ hứng thú khi được học các môn học có sử dụng đồ dùng dạy học
của HS
Mức độ hứng thú Số lượng Tỉ lệ (%)
Trang 36Bình thường 38 13,1
Nhìn chung các em HS tiểu học đều thích học môn Tiếng Việt (chiếm tỉ lệ 77,2% trong tổng số 290 em HS được chọn khảo sát) Đây là những môn học cơ bản và cần thiết được đưa vào chương trình học giúp các em nắm được kiến thức và kĩ năng sơ giản, ban đầu thiết thực về các con số, con người, sự vật tồn tại trong môi trường xung quanh, góp phần hình thành, bồi dưỡng nhân cách toàn diện cho các em
Việc thiết kế các ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế là rất cần thiết, để biết GV có thường xuyên sử dụng những ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế do mình tự làm trong quá
trình giảng dạy môn Tiếng Việt hay không, chúng tôi đưa ra câu hỏi 4: “Trong quá trình
dạy học môn Tiếng Việt, GV có thường xuyên sử dụng những ĐDDH mà GV tự làm không?” Sau khi tiến hành điều tra, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 1.10 Mức độ HS được học tập qua các ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế
Mức độ được học tập bằng ĐDDH tự làm
Số lượng Tỉ lệ (%)
Qua kết quả khảo sát trên, ta thấy chỉ có 27% GV thường xuyên sử dụng ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế mà GV tự thiết kế Việc tự làm ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế trong môn Tiếng Việt con rất hạn chế GV cần nghiên cứu thiết kế, chế tạo những ĐDDH
tự làm từ vật liệu tái chế liên quan đến nội dung bài học để tiết học thêm sinh động, hấp dẫn, cuốn hút các em HS
Để tìm hiểu kết quả học tập của HS khi được quan sát, tìm hiểu nội dung bài học qua
các ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế lạ, đẹp mắt, chúng tôi đưa ra câu hỏi 5: “Việc quan
sát, tìm hiểu nội dung bài học qua ĐDDH như mô hình, mẫu vật,… GV tự làm trong môn
Trang 37Tiếng Việt có giúp các em hiểu bài tốt hơn không?” Sau đó, chúng tôi thu được kết quả
sau:
Bảng 1.11 Mức độ hiểu bài của HS
Mức độ hiểu bài của HS thông qua ĐDDH tự làm của GV
Để tìm hiểu thực trạng GV hướng dẫn HS tự làm các ĐDDH tự làm từ vật liệu tái
chế, chúng tôi đưa ra câu hỏi 6: “Thầy (cô) có hướng dẫn các em tự làm ĐDDH tự làm
từ vật liệu tái chế hay yêu cầu các em sưu tầm mẫu vật, mô hình trong các môn học hay không?” Và chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 1.12 Mức độ GV hướng dẫn HS tự làm ĐDDH từ vật liệu tái chế
Mức độ GV hướng dẫn
HS
Trang 38Thỉnh thoảng 148 51
Nhìn vào bảng trên, ta thấy rằng GV chỉ thỉnh thoảng hướng dẫn các em tự làm ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế hay yêu cầu các em sưu tầm Qua đó ta nhận thấy việc thiết kế và sử dụng ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế của GV đang phổ biến GV cần hướng dẫn các em tự làm bởi qua đó vừa kích thích hướng thú học tập, vừa giáo dục nhân cách
cho HS, đó là tính cần cù, cẩn thận, tỉ mỉ, có ý thức kỉ luật,…
Có thể nói hầu hết HS tiểu học rất hứng thú với các giờ học sử dụng hoặc tự làm ĐDDH từ vật liệu tái chế Đối với các em, học các môn học không chỉ là sự thích thú mà còn là nhu cầu để các em hiểu biết hơn về cuộc sống Mỗi tiết học với những tư liệu bổ ích, các em cảm thấy yêu môn học hơn, tập trung cao và kích thích tính tò mò, óc sáng tạo trong ý tưởng của các em Để tạo không khí sôi nổi và hiệu quả cao trong các giờ học
ở các môn thì thiết kế và sử dụng ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế của GV là một việc hết sức quan trọng
Trang 39TIỂU KẾT CHƯƠNG 1:
Cùng với bộ Thiết bị dạy học tối thiểu cấp Tiểu học của Bộ GD&ĐT ban hành, việc
tự làm ĐDDH từ vật liệu tái chế của GV và HS góp phần làm cho ĐDDH ở tiểu học nói chung cũng như ĐDDH phục vụ môn Tiếng Việt 1 nói riêng thêm đa dạng, phong phú, phù hợp với đặc điểm của địa phương, phục vụ thiết thực, kịp thời những yêu cầu dạy học Nhưng hiện nay, một số GV con xem nhẹ vấn đề này, chưa thực sự quan tâm đến công tác này Do GV không có thời gian để thiết kế, chế tạo, chưa thành thạo và có kinh nghiệm để tự làm ĐDDH từ vật liệu tái chế phong phú và đặc biệt chủ yếu sử dụng phụ thuộc vào những PTDH có sẵn do Bộ GD&ĐT ban hành và lạm dụng việc dạy học bằng giáo án điện tử
Đối với HS, nhìn chung các em đều rất thích học các môn học có sử dụng ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế trực quan sinh động Phần lớn HS đều cảm thấy hứng thú, học tập hiệu quả hơn khi được tiếp thu nội dung kiến thức qua những ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế lạ, đẹp, màu sắc hấp dẫn GV cần đầu tư về trí tuệ, thời gian, công sức để có ý tưởng chế tạo ĐDDH trực quan phù hợp và cần thiết., phục vụ cho quá trình giảng dạy Như vậy, căn cứ vào đặc trưng của môn Tiếng Việt 1 và đặc điểm tâm sinh lí của HS tiểu học, việc thiết kế và sử dụng ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế trong việc phục vụ giảng dạy môn Tiếng Việt ở tiểu học là rất cần thiết và thiết thực Đây cũng là cơ sở để chúng tôi thiết kế đồ dùng dạy học làm từ vật liệu tái chế ở chương 2
Trang 40CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ MỘT SỐ MÔ HÌNH VẬN DỤNG VẬT LIỆU TÁI CHẾ VÀO THIẾT KẾ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC 2.1 Nguyên tắc thiết kế đồ dùng dạy học trực quan trong môn Tiếng Việt ở tiểu học
Để xác định được các nguyên tắc cơ bản khi thiết kế ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế cần phải dựa trên cơ sở như mục tiêu, nội dung từng bài học, đặc điểm tâm sinh lí của HS tiểu học,… Những ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế này là công cụ để giúp GV truyền đạt kiến thức cho HS Vì vậy, khi thiết kế ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế trong các chủ đề môn Tiếng Việt cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
2.1.1 Đảm bảo mục tiêu bài học
Một tiết dạy được xem là thành công khi thực hiện được mục tiêu bài học Vì vậy nguyên tắc đảm bảo mục tiêu bài học là một trong những yêu cầu được đặt hàng đầu khi thiết kế ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế trong dạy học môn Tiếng Việt 1 ở tiểu học ĐDDH cần bám vào nội dung bài họ, xác định những mục tiêu cơ bản và kiến thức,
kĩ năng, thái độ mà HS cần đạt được sau mỗi tiết học Vì vậy, GV lên ý tưởng và thiết kế ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế phù hợp, đảm bảo ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế đó vừa giúp HS nắm được kiến thức vừa củng cố, mở rộng tầm hiểu biết cho các em
2.1.2 Đảm bảo tính trực quan
Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất của sự nhận thức qua quy luật: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Đó là con đường nhận thức hiện thực khách quan và nhận chân lí” của V.I Lê - nin ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình tiếp thu kiến thức của HS Vì vậy, khi thiết kế ĐDDH tự làm từ vật liệu tái chế trong các môn học, GV phải đảm bảo được tính trực quan
2.1.3 Đảm bảo tính kinh tế
Tính kinh tế là một nguyên tắc khi chế tạo đồ dùng dạy học Nội dung và đặc tính kết cấu của đồ dùng dạy học phải được tính toán để chi phí nhỏ vẫn bảo đảm hiệu quả cao nhất Cần tận dụng phế liệu, nguyên liệu rẻ tiền để bớt đi những chi phí không cần thiết qua đó giáo dục học sinh ý thức tiết kiệm