1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng phần mềm violet thiết kế trò chơi học tập môn mĩ thuật lớp 4 ở tiểu học

92 52 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 2,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1.1 Các phần mềm được giáo viên sử dụng để thiết kế trò chơi học tập 26 Biểu đồ 1.2 Mức độ hiểu biết về phần mềm Violet của giáo viên 28 Biểu đồ 1.3 Sự hứng

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

-  -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

SỬ DỤNG PHẦN MỀM VIOLET THIẾT KẾ TRÒ CHƠI HỌC TẬP MÔN MĨ THUẬT LỚP 4 Ở TIỂU HỌC

Giáo viên hướng dẫn : Th.S Đàm Văn Thọ

Sinh viên thực hiện : Hoàng Thị Thu Phương

Lớp : 15STH

Đà Nẵng, tháng 1/2019

Trang 2

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến từ nhiều phía

Lời đầu tiên cho phép em gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học đã tận tình giảng dạy cho em những kiến thức quý báu, giúp em có được nền tảng kiến thức vững chắc

Em xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình giúp đỡ của quý thầy cô giáo và các em học sinh trường Tiểu học Quảng Phong, trường Tiểu học Cảnh Dương (tỉnh Quảng Bình) và trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ (thành phố Đà Nẵng) trong quá trình làm việc tại trường

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến thầy Đàm Văn Thọ đã dành nhiều thời gian, công sức, sự nhiệt tình để hướng dẫn giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Trong thời gian ngắn ngủi, khóa luận này không tránh khỏi một số sai sót,

em rất mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy cô để khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 1 năm 2019

Sinh viên thực hiện

Hoàng Thị Thu Phương

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Mục đích nghiên cứu 2

3.Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4.Giả thiết khoa học 2

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

5.1 Đối tượng nghiên cứu 2

5.2 Phạm vi nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 3

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 3

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3

6.3 Phương pháp thực nghiệm 3

PHẦN NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

1.2 Trò chơi học tập 6

1.2.1 Khái niệm trò chơi, trò chơi học tập 6

1.2.2 Phân loại và vai trò của trò chơi học tập: 7

1.2.2.1 Phân loại 7

1.2.2.2 Vai trò: 8

1.2.3 Thiết kế trò chơi học tập bằng các phần mềm Công nghệ thông tin 10

1.2.3.1 Microsoft PowerPoint 10

1.2.3.2 Phần mềm Violet 10

1.2.3.3 Phần mềm Lecture Maker 2.0 10

1.2.3.4 Một số lưu ý khi sử dụng Trò chơi học tập 11

1.3 Tổng quan về phần mềm Violet 11

1.3.1 Khái niệm 11

1.3.2 Các ứng dụng của Violet trong dạy học 11

1.3.3 Ý nghĩa của việc sử dụng phần mềm Violet trong thiết kế trò chơi học tập 12

Trang 4

1.4 Đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học 13

1.5 Cơ sở thực tiễn 14

1.5.1 Khái quát môn Mĩ thuật ở nhà trường tiểu học 14

1.5.2.Tổng quan về môn Mĩ thuật lớp 4 16

1.5.2.1.Mục tiêu môn học 16

1.5.2.2 Đặc điểm môn học 17

1.5.2.3 Nội dung chương trình dạy học Mĩ thuật lớp 4 18

1.6 Thực trạng sử dụng trò chơi học tập ứng dụng phần mềm Violet vào dạy học môn Mĩ thuật lớp 4 ở Tiểu học 23

1.6.1 Đối tượng điều tra 24

1.6.2 Nội dung và kết quả điều tra 24

Tiểu kết chương 1 33

CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG PHẦN MỀM VIOLET THIẾT KẾ TRÒ CHƠI 34

HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC MĨ THUẬT 4 34

2.1 Các nguyên tắc sử dụng phần mềm Violet thiết kế trò chơi học tập môn Mĩ thuật lớp 4 ở Tiểu học 34

2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu, nội dung chương trình Mĩ thuật lớp 4 34

2.1.2 Nguyên tắc phù hợp với đặc điểm tâm lí học sinh tiểu học 34

2.1.3 Nguyên tắc phù hợp với các dạng ứng dụng của Violet trong dạy học 35

2.2.Quy trình thiết kế trò chơi học tập môn Mĩ thuật 4 bằng phần mềm Violet 35

2.2.2 Thiết kế trò chơi học tập môn Mĩ thuật 4 trên phần mềm Violet 36

2.2.2.1.Cài đặt phần mềm Violet 36

2.2.2.2.Thiết lập ban đầu 37

2.2.2.3 Các dạng trò chơi trong Violet 41

2.3.Thiết kế một số trò chơi học tập trên phần mềm Violet trong dạy học môn Mĩ thuật lớp 4 49

2.3.1 Trò chơi 49

2.3.1.1 Trò chơi Đi tìm kho báu 49

2.3.1.2 Trò chơi Tìm cặp giống nhau 52

2.3.1.3 Trò chơi Ai nhanh ai đúng 55

2.3.1.4 Trò chơi Cóc vàng tài ba 57

2.3.1.5 Trò chơi Đi tìm ô chữ 60

Trang 5

Tiểu kết chương 2 62

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63

3.1 Mục đích thực nghiệm 63

3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 63

3.3 Phương pháp thực nghiệm 63

3.3.1 Đối tượng thực nghiệm 63

3.3.2 Nội dung thực nghiệm 64

3.4 Kết quả 65

3.4.1 Tiêu chí đánh giá 65

3.4.2 Kết quả thực nghiệm 65

Tiểu kết chương 3 67

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68

1.Kết luận 68

2.Kiến nghị 68

2.1 Đối với nhà trường 68

2.2 Đối với giáo viên 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 1 71

PHỤ LỤC 2 74

PHỤ LỤC 3 76

PHỤ LỤC 4 80

PHỤ LỤC 5 84

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Đánh giá của giáo viên về vai trò của việc sử dụng

trò chơi học tập vào dạy học Mĩ thuật

24

Bảng 1.2 Mức độ giáo viên sử dụng trò chơi học tập trong dạy

học

25

Bảng 1.3 Đánh giá của thầy, cô về mục đích sử dụng trò chơi

học tập trong dạy học Mĩ thuật

25

Bảng 1.4 Đán giá của giáo viên về hiệu quả khi sử dụng trò

chơi học tập trong dạy học Mĩ thuật

27

Bảng 1.5 Đánh giá của giáo viên về những khó khăn khi sử

dụng trò chơi học tập

28

Bảng 1.6 Đề nghị của giáo viên khi thiết kế trò chơi học tập 29

Bảng 1.7 Mong muốn của học sinh đối với trò chơi học tập 32

Bảng 3.1 Trình độ học sinh hai lớp 4/7 và 4/8 64

Bảng 3.2 Mức dộ tiếp thu bài của lớp 4/7 và 4/8 65

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1 Các phần mềm được giáo viên sử dụng để thiết kế trò

chơi học tập

26

Biểu đồ 1.2 Mức độ hiểu biết về phần mềm Violet của giáo viên 28

Biểu đồ 1.3 Sự hứng thú của học sinh đối với môn Mĩ thuật 30

Biểu đồ 1.4 Mức dộ hứng thú của học sinh đối với trò chơi học

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.7 Thuộc tính công cụ sau khi cập nhật chức năng mới 39

Hình 2.17 Cửa sổ thiết kế Game Tìm cặp giống nhau 46

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của khoa học kĩ thuật trên thế giới, cách mạng công nghiệp 4.0 đặt ra cho đất nước ta những mục tiêu đổi mới toàn diện để theo kịp với những thành tựu văn minh của nhân loại Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ta và ngày nay trong công cuộc hội nhập và phát triển nhằm mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam có truyền thông yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của đất nước thì việc đào tạo con người toàn diện trên tất cả các mặt “đức, trí, thể, mĩ” là mục tiêu quan trọng hàng đầu của đất nước ta

Với thời đại bùng nổ về khoa học kĩ thuật hiện nay, nhiều phương tiện kĩ thuật ra đời nhằm phục vụ cho cuộc sống và lợi ích của con người Trong giáo dục ở nước ta, việc đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên là người tổ chức cho học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức của bài học Chính vì vậy, với sự phát triển của khoa học công nghệ đã mở ra những khả năng và điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy học Việc đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục phải gắn liền với việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin, tổ chức hoạt động dạy học phải đa dạng hóa bằng nhiều hình thức để phát huy tinh thần say mê học tập, tích cực hóa hoạt động của học sinh Từ đó góp phần đào tạo ra những con người toàn diện về các mặt, đáp ứng mục tiêu quan trọng hàng đầu của đất nước

Nếu như hai môn Toán và Tiếng Việt là phần quan trọng trong việc hình thành kiến thức, kĩ năng cho học sinh thì Mỹ thuật là môn học cơ bản, là phương tiện giáo dục thẩm mỹ và nhân cách cho học sinh tiểu học Môn Mĩ thuật ở tiểu học không nhằm đào tạo cho học sinh trở thành những họa sĩ mà chủ yếu giúp các em hiểu biết và từng bước nhận thức về cái đẹp, cái thiện, từ đó làm phong phú trí tưởng tượng, kích thích sự sáng tạo, góp phần hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, có tinh thần trách nhiệm, năng lực giải quyết vấn đề…

Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật đã xuất hiện nhiều phương tiện dạy học trực quan, trong đó phương tiện nghe – nhìn chiếm một vị trí rất quan

Trang 10

trọng Hiện nay có rất nhiều phần mềm hỗ trợ cho việc giảng dạy, nâng cao hiệu quả dạy và học như: Microsoft Powerpoint, Violet, Lecture Maker Với đặc trưng của môn Mỹ thuật là cho học sinh tiếp xúc, làm quen, cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, của đời sống và qua các tác phẩm mĩ thuật nên việc thiết kế những bài giảng với nhiều hình ảnh sống động, những trò chơi đơn giản giúp hiệu quả dạy học được nâng cao Ứng dụng Violet vào dạy học sẽ phát huy được sự hứng thú học tập của học sinh,

từ đó các em tích cực, chủ động hơn trong học tập

Xuất phát từ những lý do thực tiễn và hiệu quả của phần mềm Violet mang lại,

chúng tôi quyết định chọn đề tài “Sử dụng phần mềm Violet thiết kế trò chơi học tập

môn Mĩ thuật lớp 4 ở Tiểu học” với mục đích nhằm tăng hứng thú học tập, giúp học

sinh vừa học vừa chơi Đồng thời, nâng cao chất lượng dạy và học ở tiểu học

2.Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng công nghệ thông tin nói chung và Violet nói riêng trong thiết kế trò chơi học tập môn Mĩ thuật lớp 4 cụ thể

với sự hỗ trợ của Violet nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Mĩ thuật 4

3.Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài

- Điều tra tìm hiểu thực trạng sử dụng trò chơi trên phần mềm Violet trong dạy học

4.Giả thiết khoa học

Đề tài đưa ra một số trò chơi thiết kế trên phần mềm Violet, áp dụng hiệu quả vào dạy học Mĩ thuật lớp 4, từ đó nâng cao chất lượng dạy học

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình dạy học môn Mĩ thuật lớp 4 ở Tiểu học

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Thiết kế trò chơi sử dụng phần mềm Violet trong dạy học Mĩ thuật lớp 4

Trang 11

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Tìm hiểu, nghiên cứu, tham khảo một số tài liệu, sách báo để tiến hành thu thập, phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Sử dụng phiếu điều tra, khảo sát thực trạng ở trường tiểu học

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp thực hành: Soạn giáo án, dạy thực nghiệm

- Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia: Phỏng vấn giáo viên, các nhà quản lý giáo dục

để thu thập thông tin, ý kiến về trò chơi học tập trên phần mềm Violet trong dạy học môn Mĩ thuật lớp 4 ở tiểu học

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, một số nhà khoa học giáo dục Nga như: P.A.Bexonova, OP.Seina, V.I.Đalia, E.A.Pokrovxki đã đánh giá cao vai trò giáo dục, đặc biệt và tính hấp dẫn của trò chơi dân gian Nga đối với trẻ mẫu giáo E.A.Pokrovxki trong lời đề tựa cho tuyển tập “Trò chơi của trẻ em Nga” đã chỉ ra nguồn gốc, giá trị đặc biệt và tính hấp dẫn lạ thường của trò chơi dân gian Nga [14] Bên cạnh kho tàng trò chơi học tập trong dân gian còn có một số hệ thống trò chơi dạy học khác do các nhà giáo dục có tên tuổi xây dựng

Đại diện cho khuynh hướng sử dụng trò chơi dạy học làm phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ phải kể đến nhà sư phạm nổi tiếng người tiệp khắc I.A.Komenxki (1592-1670) Ông coi trò chơi là hình thức hoạt động cần thiết, phù hợp với bản chất

và khuynh hướng của trẻ Trò chơi dạy học là một dạng hoạt động trí tuệ nghiêm túc,

là nơi mọi khả năng của trẻ em được phát triển, mở rộng phong phú thêm vốn hiểu biết Với quan điểm trò chơi là niềm vui sướng của tuổi thơ, là phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ I.A.Komenxki đã khuyên người lớn phải chú ý đến trò chơi dạy học cho trẻ và phải hướng dẫn, chỉ đạo đúng đắn cho trẻ chơi

Trong nền giáo dục cổ điển, ý tưởng sử dụng trò chơi với mục đích dạy học được thể hiện đầy đủ trong hệ thống giáo dục của nhà sư phạm người Đức Ph.Phroebel (1782-1852) Ông là người đã khởi xướng và đề xuất ý tưởng kết hợp dạy học với trò chơi cho trẻ Quan điểm của ông về trò chơi phản ánh cơ sở lý luận sư phạm duy tâm thần bí Ông cho rằng thông qua trò chơi trẻ nhận thức được cái khởi đầu do thượng đế sinh ra tồn tại ở khắp mọi nơi, nhận thức được những qui luật tạo ra thế giới, tạo ra ngay chính bản thân mình Vì thế ông phủ nhận tính sáng tạo và tính tích cực của trẻ trong khi chơi Ph.Phroebel cho rằng, nhà giáo dục chỉ cần phát triển cái vốn có sẵn của trẻ, ông đề cao vai trò giáo dục của trò chơi trong quá trình phát triển thể chất, làm vốn ngôn ngữ cũng như phát triển tư duy, trí tưởng tượng của trẻ [11 tr22] I.B.Bazedov cho rằng, trò chơi là phương tiện dạy học Theo ông, nếu trên tiết học, giáo viên sử dụng các phương pháp, biện pháp chơi hoặc tiến hành tiết học dưới hình thức chơi thì sẽ đáp ứng được nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của người học và tất nhiên hiệu quả tiết học sẽ cao hơn Ông đã đưa ra hệ thống trò chơi học tập dùng lời

Trang 13

như: trò chơi gọi tên, trò chơi phát triển kỹ năng khái quát tên gọi của cá thể, trò chơi đoán từ trái nghĩa, điền những từ còn thiếu Theo ông, những trò chơi này mang lại cho người học niềm vui và phát triển năng lực trí tuệ của chúng [11 tr 25-26]

Đầu thế kỉ XX, phương pháp trò chơi học tập đã được nhà tâm lí học người Thụy Sĩ J.Piaget (1896-1980) rất quan tâm và ủng hộ Luận điểm “Thông qua hoạt động vui chơi để tiến hành hoạt động học tập” của ông được triệt để khai thác trong các nhà trường hiện nay, nhất là đối với những em học sinh những lớp đầu cấp

Năm 1974, trên tạp chí văn học trường Matxcova (Tr53) tác giả B.C Gie-nhi-xloai-a cho rằng: “Chúng ta không phải tạo ra cho trẻ thì giờ để chơi mà còn phải làm cho toàn bộ cuộc sống của trẻ được nuôi dưỡng bằng trò chơi” [11]

Năm 1999, Nhà xuất bản Meadowbook đã xuất bản cuốn “Phương pháp giúp trẻ vừa chơi mà học (biên dịch Mạnh Linh- Minh Đức NXB Phụ nữ) của tác giả Penny Warner, cuốn sách đã được tác giả nghiên cứu và viết về trò chơi học tập, trong đó mỗi trò chơi có hướng dẫn từng bước, liệt kê các kĩ năng mà trẻ học được qua mỗi trò chơi [12]

Ở Việt Nam, có nhiều tác giả nghiên cứu về việc thiết kế trò chơi sử dụng trò chơi dạy học dưới các góc độ và các bộ môn khác nhau Một số tác giả như Phan Quỳnh Hoa, Vũ Minh Hồng, Phan Kim Liên, Lê Bích Ngọc… đã để tâm nghiên cứu một số trò chơi và trò chơi học tập Những trò chơi và trò chơi học tập đã được tác giả đề cập đến chủ yếu nhằm củng cố kiến thức phục vụ một số môn học như: Hình thành biểu tượng toán sơ đẳng, Làm quen với môi trường xung quanh, … rèn các giác quan chú ý, ghi nhớ, phát triển tư duy và ngôn ngữ cho trẻ

Ngoài ra, nhóm tác giả Đỗ Tiến Đạt, Trần Ngọc Lan, Phạm Thanh Tâm đã cho xuất bản cuốn “100 trò chơi học tập Toán 1” – NXB Giáo dục, 2007 Tác giả Ngô Thúc lanh cho xuất bản cuốn “Giúp em vui học Toán 1” đã đưa ra nhiều câu đố và nhiều trò chơi toán học giúp em củng cố nội dung bài học, rèn trí thông minh và khả năng sáng tạo mà vẫn đảm bảo học mà chơi, chơi mà học[13] Tác giả Bùi Phương Nga (chủ biên) với cuốn “Trò chơi học tập môn Tự nhiên và xã hội 1,2,3” – NXB Giáo dục,2004 Trong môn Tiếng Việt, nhóm tác giả Trần Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Hạnh,

Lê Phương Nga cho xuất bản cuốn “Trò chơi học tập Tiếng Việt lớp 3” – NXB Giáo dục, 2004 Sách đã đưa ra các trò chơi học tập gắn với nội dung bài học thuộc các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn trong sách giáo

Trang 14

khoa Tiếng Việt 3 tập 1, tập 2, giúp các em học sinh vừa học vừa vui, mang lại hệu quả, tạo hứng thú học tập

Giáo trình "Mỹ thuật và phương pháp dạy học mỹ thuật" của Nguyễn Quốc Toản (chủ biên) - NXBGD - 2007 chủ yếu cung cấp nội dung và kiến thức cơ bản về

mỹ thuật và phương pháp dạy học mỹ thuật [8]

Một số đề tài nghiên cứu về vấn đề này như:

- Sử dụng hình thức trò chơi học tập trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 1,2,3 – Lê Thị Thắm – Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng, 2013

- Thiết kế và sử dụng trò chơi học tập trong dạy học phân môn Địa lí lớp 4 ở Tiểu học – Trần Thị Mận – Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng, 2013

Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu xây dựng trò chơi học tập trên phần mềm Violet trong dạy học môn Mĩ thuật lớp 4 một cách cụ thể, hệ thống và hoàn chỉnh Mặc dù vậy, các tài liệu trên vẫn là nguồn tham khảo bổ ích cho chúng tôi trong quá trình thực nghiệm đề tài của mình

Trên quan điểm macxit, các nhà khoa học Xô Viết đã khẳng định rằng, trò chơi có nguồn gốc từ lao động và mang bản chất xã hội Trò chơi được truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác chủ yếu bằng con đường giáo dục [1]

Còn tác giả Đặng Thành Hưng thì trò chơi là một thuật ngữ có hai nghĩa khác nhau tương đối xa:

+ Một là kiểu loại phổ biến của chơi Nó chính là chơi có luật (tập hợp quy tắc định

rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động) và có tính cạnh tranh hoặc tính thách thức đối với người tham gia

+ Hai là những thứ công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thức chơi, như chơi bằng chơi, chẳng hạn: học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dưới hình thức chơi

Trang 15

Các trò chơi đều có luật lệ, quy tắc, nhiệm vụ, yêu cầu tức là có tổ chức và thiết

kế, nếu không có những thứ đó thì không có trò chơi mà chỉ có sự chơi đơn giản Như vậy, trò chơi là tập hợp các yếu tố chơi, có hệ thống và có tổ chức, vì thế luật hay quy tắc chính là phương tiện tổ chức tập hợp đó

Tóm lại, Đặng Thành Hưng cho rằng: Trò chơi là một kiểu loại phổ biến của chơi có luật (tập hợp quy tắc định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động) và có tính cạnh tranh hoặc tính thách thức đối với người tham gia; là những công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thức chơi bằng chơi: học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dưới hình thức chơi [2]

Trong tâm lý học đại cương và giáo dục học trẻ em đưa ra khái niệm trò chơi học

tập như sau: “Trò chơi học tập là trò chơi có luật và những nội dung cho trước, là

trò chơi của sự nhận thức, hướng đến sự mở rộng, chính xác hóa, hệ thống hóa các biểu tượng đã có nhằm phát triển các năng lực trí tuệ, giáo dục lòng ham hiểu biết của trẻ, trong đó nội dung học tập kết hợp với hình thức chơi” [4]

1.2.2 Phân loại và vai trò của trò chơi học tập:

1.2.2.1 Phân loại

Hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất về việc phân loại trò chơi nói chung và trò chơi học tập nói riêng Theo nghiên cứu của nhà giáo dục học Xô-Viết P.G.Xamarucova [5], dựa vào tính chất sử dụng đồ chơi và tài liệu học tập, trò chơi học tập được phân thành các nhóm sau:

- Trò chơi học tập với các đồ vật: là trò chơi với các đồ vật học tập dân gian, với các hình ghép, với các đồ vật thiên nhiên Đây là những trò chơi giúp trẻ phát triển tri giác màu sắc, tri giác độ lớn và tri giác hình dạng

- Trò chơ học tập in ấn – trên bàn: được thiết kế theo nội dung nhất định, hướng đến việc làm chính xác thêm các biểu tượng về thế giới xung quanh, hệ thống hóa kiến

Trang 16

thức, phát triển các thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp, phân loại ) Ví dụ: trò chơi Ghép tranh, trò chơi Lôtô, Đôminô

- Những trò chơi bằng lời: trong nhóm trò chơi này, có một lượng lớn là trò chơi dân gian Nhóm trò chơi này chủ yếu giúp trẻ phát triển khả năng chú ý, trí thông minh, phản ứng nhanh nhạy

Ngoài ra còn có thể phân loại trò chơi học tập theo các yếu tố như chủ đề, dạng bài, mục đích sử dụng, Hầu hết giáo viên đều thiết kế trò chơi theo mục đích sử dụng Trong tạp chí Khoa học ĐH Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh [6], Nguyễn Thị Bích Hồng đã phân trò chơi học tập thành 3 loại theo mục đích sử dụng:

Loại trò chơi Khởi động Kích thích học tập Khám phá tri thức Mục tiêu Tạo hưng phấn trước khi

học

Kích thích tính tích cực học tập

Khám phá tri thức

Tác dụng Thư giãn, kích thích tâm

thế học tập

Học hào hứng, sôi nổi

Trải nghiệm, tạo tình huống có vấn

đề Đặc điểm Chơi ra chơi, học ra học Thao tác chơi là

1.2.2.2 Vai trò:

Vui chơi là hoạt động cần thiết, góp phần phát triển nhân cách con người ở mọi lứa tuổi, nhất là đối với học sinh tiểu học Vì vậy, giáo viên phải tạo ra các em môi trường học tập: chơi mà học, học mà chơi

Trò chơi học tập là một hình thức hoạt động thường được đông đảo học sinh hứng thú tham gia trong và ngoài lớp học Trò chơi học tập nhằm tạo điều kiện cho các em học sinh thực hành rèn luyện những kiến thức, kỹ năng ở các môn học, đồng thời tiếp thu kiến thức môn học một cách tự giác và sáng tạo Tham gia vào các trò chơi học

Trang 17

tập, học sinh còn được rèn luyện kĩ năng, phát triển cả về trí tuệ, đáp ứng mục tiêu

- Giúp trẻ nhận thức nhanh và khắc sâu hơn, tạo tâm lý học tập thoải mái Điều này sẽ kích thích cho các em bộc lộ năng lực, sở trường, ý thích một cách tự nhiên và vận dụng những kỹ năng đó vào học tập

- Qua trò chơi học sinh có cơ hội để thể nghiệm những thái độ, hành vi Chính sự thể nghiệm này sẽ hình thành được ở các em niềm tin vào những thái độ, hành vi tích cực, tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi ứng xử trong cuộc sống Thông qua trò chơi có thể giáo dục những phẩm chất đạo đức cho học sinh như tính trung thực, nhẫn nại, đoàn kết, có kỷ luật Giúp cho các em có tính sáng tạo có óc quan sát nhanh, nhận định được lời nói nhanh, phán đoán và ứng xử khôn khéo, nhớ được lâu, khéo léo Rèn luyện cho người chơi sự nhanh nhạy tai mắt, tay chân…

- Trò chơi học sinh được hình thành năng lực quan sát, được rèn luyện kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi

- Bằng trò chơi, việc học tập được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động, không khô khan, nhàm chán Học sinh được lôi cuốn vào quá trình luyện tập một cách tự nhiên, hứng thú và có tinh thần trách nhiệm, đồng thời giải trừ được những mệt mỏi, căng thẳng trong học tập

- Trò chơi còn giúp phát huy tinh thần đồng đội, tăng cường khả năng làm việc nhóm, khả năng giao tiếp giữa học sinh với học sinh, giữa giáo viên với học sinh Tuy nhiên, không có một phương pháp nào là vạn năng và trò chơi học tập cũng vậy Vậy nên việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học cần sự kết hợp khéo léo,

có chọn lọc để có thể thực hiện tốt hơn các mục tiêu bài học

Trang 18

1.2.3 Thiết kế trò chơi học tập bằng các phần mềm Công nghệ thông tin

1.2.3.1 Microsoft PowerPoint

Microsoft PowerPoint (gọi tắt là PowerPoint) là một phần mềm trình diễn do hãng Microsoft phát triển Chương trình là một công cụ có tính chuyên nghiệp cao để diễn đạt các ý tưởng cần trình bày không chỉ bằng lời văn mà còn có âm thanh, hình ảnh, các đoạn phim một cách sống động Vì vậy nó là một công cụ giảng dạy rất tốt trong dạy học

Chương trình trình diễn có thể bổ trợ hoặc thay thế cho việc sử dụng các đồ dùng trực quan quen thuộc như tài liệu phát tay, bảng đen, bảng phụ

MS PowerPoint còn giúp giáo viên thực hiện nhiều thứ mà cách dạy truyền thống không làm được: sơ đồ sống động, tài liệu minh họa đa dạng, hình ảnh động, video phù hợp với tư duy trực quan, sinh động của trẻ

1.2.3.2 Phần mềm Violet

Violet được viết tắt từ cụm từ tiếng Anh: Visual & Online Lesson Editor for Teachers (công cụ soạn thảo bài giảng trực tuyến dành cho giáo viên).Violet là phần mềm công cụ giúp cho giáo viên có thể tự xây dựng được các bài giảng trên máy tính một cách nhanh chóng và hiệu quả So với các công cụ khác, Violet chú trọng hơn trong việc tạo ra các bài giảng có âm thanh, hình ảnh, chuyển động và tương tác rất phù hợp với học sinh từ tiểu học đến THPT

Tương tự phần mềm Powerpoint, Violet có đầy đủ các chức năng dùng để tạo các trang nội dung bài giảng như: cho phép nhập các dữ liệu văn bản, công thức, các file

dữ liệu multimedia (hình ảnh, âm thanh, phim, hoạt hình Flash ), sau đó lắp ghép các

dữ liệu, sắp xếp thứ tự, căn chỉnh hình ảnh, tạo các hiệu ứng chuyển động và biến đổi, thực hiện các tương tác với người dùng Riêng đối với việc xử lý những dữ liệu multimedia, Violet tỏ ra mạnh hơn so với Powerpoint, ví dụ như cho phép thể hiện và điều khiển các file Flash hoặc cho phép thao tác quá trình chạy của các đoạn phim v.v giúp giáo viên sử dụng linh hoạt hơn trong quá trình dạy học

1.2.3.3 Phần mềm Lecture Maker 2.0

Lecture Maker là phần mềm soạn thảo bài giảng đa phương tiện, đây là phần mềm được Cục Công nghệ Thông tin Bộ GD – ĐT khuyến khích sử dụng để tạo ra các bài giảng điện tử và có thể siwr dụng trong công tác giảng dạy như một phương tiện dạy học có hiệu quả Lecture Maker là một phần mềm dễ dùng, giao diện thân thiện, có cấu

Trang 19

trúc gần giống chương trình MS PowerPoint 2007, bên cạnh đó Lecture Maker có một

số điểm mạnh như chèn được nhiều định dạng file PowerPoint, PDF, Flash, HTLM, Audio có thể thu âm trực tiếp vào video Vì vậy giáo viên có thể tận dụng lại các bào giảng đã được soạn thảo từ các phần mềm khác vào nội dung bài gảng của mình

1.2.3.4 Một số lưu ý khi sử dụng Trò chơi học tập

Để sử dụng trò chơi học tập một cách có hiệu quả, cần lưu ý những điểm sau:

- Trò chơi phải dễ tổ chức và thực hiện, phù hợp với nội dung bài học, với dặc điểm và trình độ học sinh, với thời gian, hoàn cảnh, điều kiện thực tế của lớp học và không gây nguy hiểm cho học sinh

- Trò chơi học tập phải phục vụ cho mục tiêu bài học

- Luật chơi rõ ràng, quá trình chơi phải thực hiện công bằng, nghiêm minh

- Trò chơi phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh

- Đa dạng hóa trò chơi, thay đổ một cách hợp lí để không gây nhàm chán cho học sinh

- Trò chơi sử dụng một cách hợp lí, đúng thời điểm, không lạm dụng trò chơi quá mức

1.3 Tổng quan về phần mềm Violet

1.3.1 Khái niệm

Violet được viết tắt từ cụm từ tiếng Anh: Visual & Online Lesson Editor for Teachers (công cụ soạn thảo bài giảng trực tuyến dành cho giáo viên) Violet là phần mềm công cụ giúp cho giáo viên có thể tự xây dựng được các bài giảng

trên máy tính một cách nhanh chóng và hiệu quả

Có thể cài download và cài đặt phần mềm Violet từ đĩa CD hoặc cài phần mềm dùng thử miễn phí trên website của công ty Bạch Kim: www.bachkim.vn

1.3.2 Các ứng dụng của Violet trong dạy học

Violet cũng có các module công cụ dùng cho vẽ hình cơ bản và soạn thảo văn bản nhiều định dạng (Rich Text Format) Ngoài ra, Violet còn cung cấp sẵn nhiều mẫu bài tập chuẩn thường được sử dụng trong các SGK và sách bài tập như:

- Bài tập trắc nghiệm, gồm có các loại: một đáp án đúng, nhiều đáp án đúng, ghép đôi,

chọn đúng sai,

- Bài tập ô chữ: học sinh phải trả lời các ô chữ ngang để suy ra ô chữ dọc

- Bài tập kéo thả chữ / kéo thả hình ảnh: học sinh phải kéo thả các đối tượng này vào

đúng những vị trí được quy định trước trên một hình ảnh hoặc một đoạn văn bản Bài tập này còn có thể thể hiện dưới dạng bài tập điền khuyết hoặc ẩn/hiện

Trang 20

Ngoài các module dùng chung và mẫu bài tập như trên, Violet còn hỗ trợ sử dụng rất nhiều các module chuyên dụng cho từng môn học, giúp người dùng có thể tạo được những trang bài giảng chuyên nghiệp một cách dễ dàng:

- Vẽ đồ thị hàm số: Cho phép vẽ được đồ thị của bất kỳ hàm số nào, đặc biệt còn thể

hiện được sự chuyển động biến đổi hình dạng của đồ thị khi thay đổi các tham số của biểu thức

- Vẽ hình hình học: Chức năng này tương tự như phần mềm Geometer SketchPad,

cho phép vẽ các đối tượng hình học, tạo liên kết và chuyển động Đặc biệt, người dùng

có thể nhập được các mẫu mô phỏng đã làm bằng SketchPad vào Violet

- Ngôn ngữ lập trình mô phỏng: Một ngôn ngữ lập trình đơn giản, có độ linh hoạt

cao, giúp người dùng có thể tự tạo ra được các mẫu mô phỏng vô cùng sinh động Violet còn cho phép chọn nhiều kiểu giao diện (skin) khác nhau cho bài giảng, tùy thuộc vào bài học, môn học và ý thích của giáo viên

Sau khi soạn thảo xong bài giảng, Violet sẽ cho phép xuất bài giảng ra thành một thư mục chứa file EXE hoặc file HTML chạy độc lập, tức là không cần Violet vẫn có thể chạy được trên mọi máy tính, hoặc đưa lên máy chủ thành các bài giảng trực tuyến

để sử dụng qua mạng Internet

Violet có giao diện được thiết kế trực quan và dễ dùng, ngôn ngữ giao tiếp và phần trợ giúp đều hoàn toàn bằng tiếng Việt, nên phù hợp với cả những giáo viên không giỏi Tin học và Ngoại ngữ Mặt khác, do sử dụng Unicode nên font chữ trong Violet và trong các sản phẩm bài giảng đều đẹp, dễ nhìn và có thể thể hiện được mọi thứ tiếng trên thế giới Thêm nữa, Unicode là bảng mã chuẩn quốc tế nên font tiếng Việt luôn đảm bảo tính ổn định trên mọi máy tính, mọi hệ điều hành và mọi trình duyệt Internet

1.3.3 Ý nghĩa của việc sử dụng phần mềm Violet trong thiết kế trò chơi học tập

ở Tiểu học

Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào thiết kế bài giảng điện tử cũng như tổ chức trò chơi trong dạy học hiện nay là rất cần thiết Với nhiều tính năng vượt trội, phần mềm Violet là một công cụ hỗ trợ rất tốt cho giáo viên

Phần mềm Violet giúp học sinh xây dựng kiến thức một cách có hệ thống, lấy được thông tin nhanh và chính xác, phát huy khả năng sáng tạo Đồng thời việc sử dụng Violet thiết kế những trò chơi học tập đa dạng, sinh động, nhiều màu sắc sẽ thu hút, kích thích trí tò mò của học sinh bằng những hình ảnh, âm thanh sống động

Trang 21

Thông qua hình thức học sinh vừa học tập vừa vui chơi, thư giãn từ đó giảm căng thẳng (nhất là những giờ học kiến thức mới), tạo hứng thú học tập, các em tiếp thu kiến thức một cách chủ động, từ đó nhớ kĩ và nhớ lâu hơn

Việc thiết kế trò chơi học tập bằng phần mềm Violet sẽ giúp giáo viên đơn giản hóa công việc, tạo trò chơi một cách dễ dàng, nhanh chóng, hấp dẫn, giúp kiến thức được truyền tải một cách tự nhiên, gây ấn tượng đậm nét với học sinh Ngoài ra, khi tham gia trò chơi học sinh còn được rèn luyện những kĩ năng cơ bản như kĩ năng phản ứng nhanh, luyện tập các giác quan, Đặc biệt những trò chơi theo nhóm sẽ phát huy tinh thần đồng đội, nâng cao khả năng hợp tác giữa các em

Vì vậy, việc sử dụng trò chơi học tập thiết kế trên phần mềm Violet là rất cần thiết, làm đa dạng các hình thức dạy học, thay đổi không khí, giúp học snh nắm bắt kiến thức một cách chủ động, tự giác

1.4 Đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học

Học sinh tiểu học thuộc độ tuổi từ 7 đến 11 tuổi, trong giai đoạn này những đặc điểm về tâm sinh lý của trẻ phát triển chưa ổn định, nhận thức của trẻ còn mang tính

cụ thể, trực quan Vì vậy, trong quá trình dạy học cần có những phương pháp phù hợp nhằm thực hiện mục tiêu phát triển con người toàn diện ở bậc tiểu học

Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và nặng

nề về tính không chủ định, do đó mà các em phân biệt được các đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm và có khi lẫn lộn Thường gắn với hành động, hoạt động thực tiễn Vì vậy, cái trực quan, sinh động sẽ thu hút học sinh, giúp học sinh tri giác tốt hơn Các hình ảnh, âm thanh sống động được thiết kế trong trò chơi học tập là cơ sở trực quan để học sinh tri giác

Ngôn ngữ tạo hình của học sinh tiểu học nhìn chung rất đơn giản nhưng cũng rất sáng tạo, phong phú Các em thường vẽ tranh theo nhiều nội dung đề tài khác nhau, một số em cũng tìm cho mình nội dung và cách thể hiện rất dí dỏm, lạ mắt nhưng cũng không ít bố cục thể hiện sự lỏng lẻo, vụng về, lúng túng

Trí nhớ trực quan là đặc điểm của học sinh tiểu học Hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - logic, ghi nhớ máy móc của học sinh chiếm ưu thế (nhất là học sinh lứa tuổi đầu tiểu học) Mỗi trò chơi học tập chứa nội dung bài học, có thể sử dụng trò chơi học tập là một công cụ giúp học sinh khắc sâu tri thức, từ đó nhớ

kĩ và nhớ lâu hơn

Trang 22

Với học sinh cuối bậc tiểu học, trí tưởng tượng, trí nhớ trực quan của các em đã dần dần phát triển, bước đầu hình thành tư duy có phân tích Trẻ quan sát có chủ định, tập trung Nhận thức phong phú tạo cơ sở diễn tả được những gì trẻ thấy và những gì thích thú "Trẻ đã có ý thức hướng đến đề tài nhất định và vẽ rất hồn nhiên, sinh động, mang tính tưởng tượng cao về những ước mơ trong sáng, bay bổng Hình vẽ của các em phát triển hoàn chỉnh hơn, sát thực hơn"[6]

Đây là thời kì then chốt nhất của sự phát triển hình tượng tranh thiếu nhi Về hình tượng thì đa phần các em có suy nghĩ tìm tòi về dáng, hình, động tác để vẽ còn chung chung, thiếu cái động, tĩnh, thiếu chiều sâu của bức tranh Các em vẽ tranh chỉ đơn giản là kể, tả lại những hoạt động, động tác của nhân vật, người hay vật, hay một quang cảnh nào đó Đa số học sinh thể hiện màu sắc trong tranh thường rực rỡ đôi khi trở nên đối lập về màu sắc khiến cho tranh trở nên khô cứng Những đề tài được các

em yêu thích nhất thường là tranh phong cảnh, bởi vì đó là những thứ gần gũi được các

em quan sát thu nhận một cách thường xuyên thể hiện trí tưởng tượng ghi nhớ của các

em hết sức phong phú và đa dạng Nghệ thuật ngôn ngữ tạo hình của các em từ đó mà được hình thành, bộc lộ từng đặc trưng của lứa tuổi

Tình cảm của học sinh tiểu học được hình thành trong đời sống và học tập của các

em Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể, trực tiếp và luôn gắn liền với các

sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ Ở giai đoạn này khả năng kiếm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, dễ xúc động, rất hồn nhiên vô tư Vì vậy trong tiết học giáo viên cần quan tâm xây dựng môi trường học tập nhằm tạo ra những xúc cảm, tình cảm tích cực

ở trẻ để trẻ chủ động trong học tập Sử dụng trò chơi học tập sẽ tạo ra môi trường học tập thoải mái, giúp học sinh giảm bớt căng thẳng, mệt mỏi

Tóm lại, học sinh lứa tuổi tiểu học chịu tác động và ảnh hưởng nhiều từ môi trường xung quanh Các em còn ham chơi, hiếu động ít chú ý vào bài học nên giáo viên cần sử dụng phối hợp các phương pháo và hình thức dạy học lôi cuốn, hợp lí Trong đó, trò chơi học tập trên phần mềm Violet là lựa chọn hợp lí, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh

1.5 Cơ sở thực tiễn

1.5.1 Khái quát môn Mĩ thuật ở nhà trường tiểu học

Mục tiêu của môn Mĩ thuật ở trường tiểu học là nhằm giáo dục thẩm mĩ cho học sinh, tạo điều kiện cho học sinh làm quen với nghệ thuật thị giác, biết cảm nhận được

Trang 23

vẻ đẹp của thiên nhiên, của đời sống và của các sản phẩm mỹ thuật Dạy học Mĩ thuật

ở trường tiểu học là dạy cho học sinh tiếp xúc, làm quen, cảm nhận, thưởng thức và vận dụng những hiểu biết của mình về cái đẹp vào học tập, và cuộc sống- đó chính là

giáo dục thẩm mĩ Như Marx đã khẳng định: "Nếu muốn thưởng thức nghệ thuật thì

trước hết phải được giáo dục về nghệ thuật" Một trong những yếu tố cần thiết giúp

các em hình thành và phát triển một nhân cách toàn diện để trở thành con người của thời đại mới Thông qua đó, năng lực quan sát, trí tưởng tượng, tính sáng tạo của các

em được phát triển Các em biết cảm nhận cái đẹp, và hơn thế nữa là tạo ra cái đẹp không chỉ cho bản thân mà còn cho mọi người xung quanh

Mĩ thuật là một môn học mà hầu hết các em học sinh rất hứng thú, say mê, đặc biệt là với các em có năng khiếu hội họa Dạy học Mĩ thuật không nhằm đào tạo các

em thành họa sĩ mà thông qua những kiến thức cơ bản, sơ đẳng của Mĩ thuật nhằm khơi dậy và phát huy khiếu thẩm mĩ vốn có ở các em, đồng thời hướng dẫn một số phương pháp để học sinh tập quan sát, tập vẽ, tập nặn, tập xếp đặt, tiến tới xem tranh,

vẽ tranh, sao cho phù hợp với lứa tuổi Từ đó tạo cho các em hứng thú tìm tòi tới cái đẹp, hình thành thị hiếu thẩm mỹ tốt cho học tập, vui chơi và trong sinh hoạt hằng ngày Môn Mĩ thuật ở bậc tiểu học giúp cho học sinh bước đầu làm quen với các phương tiện và ngôn ngữ tạo hình như đường nét, hình khối, màu sắc, bố cục, có khả năng liên kết, tích hợp với các môn học khác như Toán, Tiếng Việt, Thủ Công - Kĩ thuật, tạo cho nhận thức của học sinh phong phú và sâu sắc hơn trong tiếp thu bài học Nhờ môn Mĩ thuật mà các em biết cách trình bày sản phẩm của mình (như bài văn, bài toán, hoặc các sản phẩm khác) có tính thẩm mĩ cao hơn Các bài vẽ thực hành luôn yêu cầu học sinh phải có óc quan sát, vận dụng trí nhớ và tư duy tưởng tượng sáng tạo Do đó, cả quá trình học tập là quá trình hình thành và phát triển trí tưởng tượng, năng lực sáng tạo của học sinh

Từ năm học 2014 - 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo triển khai phương pháp dạy - học mĩ thuật (DHMT) mới, vận dụng những quy trình DHMT của Dự án SAEPS ở tất cả các trường tiểu học trên toàn quốc Bên cạnh việc triển khai các khoá tập huấn về phương pháp và cách tổ chức các hoạt động dạy học mĩ thuật mới theo tinh thần của Dự án SAEPS, Tài liệu Dạy học Mĩ thuật dành cho giáo viên tiểu học là

sự đúc kết những kinh nghiệm quý báu từ Vương quốc Đan Mạch và các nền giáo dục nghệ thuật tiên tiến trên thế giới Bộ sách học Mĩ thuật theo định hướng phát triển

Trang 24

năng lực từ lớp 1 đến lớp 5 được biên soạn nhằm vận dụng linh hoạt phương pháp dạy học mới vào thực tiễn một cách hiệu quả với mục tiêu:

• Lấy học sinh (HS) làm trung tâm

• Kích thích sự tương tác, tư duy sáng tạo và phát triển nhận thức giúp HS có được các khả năng:

+ Biểu đạt sáng tạo và giao tiếp thông qua hình ảnh

+ Khám phá, hiểu và đề cao văn hoá thông qua nghệ thuật thị giác

+ Hình thành các kĩ năng sống và phát triển năng lực cá nhân thông qua việc học môn

Mĩ thuật

+ Yêu thích cái đẹp và biết vận dụng vào cuộc sống sinh hoạt, học tập hằng ngày

1.5.2.Tổng quan về môn Mĩ thuật lớp 4

1.5.2.1.Mục tiêu môn học

Mĩ thuật là môn học có vị trí đặc biệt quan trọng, giúp học sinh tiếp xúc, làm quen, cảm nhận, thưởng thức và bằng kiến thức, kinh nghiệm của bản thân thể hiện cái hay, cái đẹp trong thiên nhiên, trong cuộc sống; đồng thời vận dụng những hiểu biết về cái đẹp vào sinh hoạt, học tập hàng ngày và góp phần tạo dựng môi trường thẩm mĩ cho

+ Năng lực biểu đạt: Có nghĩa là học sinh ứng dụng ngôn ngữ mĩ thuật để diễn đạt sự trải nghiệm và thái độ của bản thân

+ Năng lực phân tích và trình bày: Thông qua các hoạt động trình bày về tác phẩm của mình, tham gia giải thích, phân tích, nhận xét về nghệ thuật, kỹ thuật thể hiện tác phẩm

+ Năng lực giao tiếp và đánh giá: Học sinh tham gia giao tiếp, thảo luận và đánh giá tất cả các hoạt động trong tiết Mĩ thuật, đánh giá những gì đã làm được, có như mong muốn hay không?

Trang 25

Môn học Mĩ thuật trong nhà trường tiểu học không nhằm đào tạo các em trở thành họa sĩ mà thông qua các hoạt động tạo hình để khơi gợi và phát huy khiếu thẩm

mĩ vốn có ở trẻ, gây hứng thú cho các em trước cái đẹp tiến tới hình thành thị hiếu thẩm mĩ của riêng mình trong cuộc sống hàng ngày Điểm nổi bật của phương pháp dạy học mới môn Mĩ thuật là giáo viên có thể chủ động theo từng nội dung tiết dạy mà kết hợp nhiều kĩ thuật trong một bài dạy như: Vẽ biểu cảm, Vẽ theo nhạc, Vẽ cùng nhau, Xây dựng cốt truyện, …

1.5.2.2 Đặc điểm môn học

Nếu như nội dung chương trình năm học 2014 – 2015 trở về trước, các bài học được chia ra riêng lẻ theo từng dạng bài như vẽ theo mẫu, vẽ trang trí, thường thức mĩ thuật, tập nặn tạo dáng Các bài học kế tiếp nhau không có sự nối tiếp về nội dung, bài học thiếu sự liên kết và khả năng vận dụng bài học trước vào bài học sau rất ít thì phương pháp dạy học theo hướng đổi mới của Đan Mạch – dạy học theo quy trình thì các bài học có liên quan đến nhau sẽ được liên kết lại, tạo sự nối tiếp giữa các bài, bài học sau củng cố làm rõ hơn cho bài học trước, học sinh cũng từ đó phát triển được suy nghĩ, nhận thức liên tục – kết nối qua mỗi bài, nhìn thấy ngay tính ứng dụng của bài trước trong bài sau Hơn nữa, với phương pháp Mĩ thuật mới, các hình thức hoạt động

mà học sinh tham gia được mở rộng; sự giao lưu, học tập, trải nghiệm và thể hiện của học sinh chú trọng nhiều hơn, không bị hạn chế cảm xúc, suy nghĩ, ý tưởng hay rập

khuôn theo các khuôn mẫu đã được định sẵn nữa

Ví dụ: Theo chủ đề dạy minh họa; Mĩ thuật khối lớp 4 có các bài: - Chủ đề 5: Sự chuyển động của dáng người; Chủ đề 6: Ngày tết, lễ hội và mùa xuân; Chủ đề 11: Em tham gia giao thông

Điểm nổi bật của phương pháp dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới là giáo viên có thể chủ động theo từng nội dung mà kết hợp nhiều quy trình trong một chủ đề như: Vẽ biểu cảm, Vẽ cùng nhau, Vẽ theo nhạc, tạo hình 2D, 3D; Xây dựng cốt truyện, Xây dựng câu chuyện v.v…Với phương pháp dạy học Mĩ thuật mới, học sinh học tập hứng thú hơn, ham thích hoa ̣t đô ̣ng thể hiê ̣n rõ ở làm viê ̣c theo nhóm Ho ̣c sinh

có năng khiếu thì được bô ̣c lô ̣ hết khả năng của mình, học sôi nổi, hào hứng, thỏa sức sáng tạo theo sự tưởng tượng của mình Không những thế nó còn mang la ̣i niềm vui cho các thầy cô giáo, những người hằng ngày chứng kiến các em tìm thấy niềm vui, sự

sáng ta ̣o, lòng đam mê trong từng sản phẩm do chính tay các em và ba ̣n làm ra

Trang 26

1.5.2.3 Nội dung chương trình dạy học Mĩ thuật lớp 4

Môn Mỹ thuật khối lớp 4 theo chương trình hiện hành gồm có 12 chủ đề, tương ứng với 35 tiết Mỗi chủ đề tạo thành một quy trình mỹ thuật tương tác và tích hợp giữa 5 nội dung: Vẽ theo mẫu, Vẽ trang trí, Vẽ tranh, Tập nặn tạo dáng, Thường thức

Mỹ thuật Mỗi chủ đề sẽ lồng ghép giáo dục nhiều mục tiêu và được thực hiện ít nhất

là 2 tiết, nhiều nhất là 4 tiết

Cụ thể:

CHƯƠNG TRÌNH CHÍNH KHÓA MÔN MỸ THUẬTKHỐI 4

- Biết dùng các đường nét ngẫu nhiên và hình cơ bản vẽ và tô màu

- Tập giới thiệu và nhận xét sản phẩm

- Sáng tạo cùng với những mảng màu thú vị

- Hs biết sử dụng đường nét, hình mảng và màu sắc tạo một bức tranh tùy thích

- Biết giới thiệu, nhận xét và nêu cảm nhận về sản phẩm

3

Chúng em

với thế giới động

vật

1

- Tạo ngân hàng các con vật

- HS nhận biết và nêu được đặc điểm hình dáng, môi trường sống của một số con vật

- Vẽ được hình ảnh con vật tùy thích

Trang 27

- Tâp giới thiệu và nhận xét sản phẩm

- Sáng tạo tranh

về thế giới động vật

- Biết sắp xếp hình ảnh tạo thành bố cục bức tranh và thêm hình ảnh phụ

- Biết giới thiệu, nhận xét sản phẩm

- Xây dựng và chia sẻ nội dung các câu chuyện

- Biết dựa vào tranh xây dựng

và chia sẻ nội dung các câu chuyện

- Biết nhận xét về cách trình bày và nội dung câu chuyện của nhóm bạn

- Tạo hình ba chiều về thế giới các con vật

- Biết thể hiện các con vật bằng đất nặn

- Biết giới thiệu, nhận xét sản phẩm

- HS biết phân biệt đặc điểm một số loại mặt nạ

- Biết cách và tạo được một mặt nạ theo ý thích

- Biết giới thiệu, nhận xét sản phẩm

- Sáng tạo hình mặt nạ tùy thích

- HS biết trang trí hoàn thành sản phẩm

- Biết thuyết trình giới thiệu sản phẩm

-HS nêu được đặc điểm của kiểu chữ nét đều, nét thanh nét đậm và kiểu chữ trang trí

- Tạo dáng chữ tên mình hoặc người thân theo ý thích

Trang 28

- Biết giới thiệu và nhận xét sản phẩm

- Sáng tạo cùng những con chữ (cá nhân)

- Trang trí và vẽ màu sản phẩm tiết 1

- Biết giới thiệu, nhận xét sản phẩm

- Sáng tạo cùng những con chữ (theo nhóm)

- Biết sắp xếp sản phẩm của cá nhân trang trí tạo thành sản phẩm nhóm

- Biết giới thiệu, nhận xét sản phẩm

12

Sự chuyển

động của dáng người

1 - Tạo ngân hàng

hình dáng người

- HS nhận biết và nêu được đặc điểm các bộ phận chính của cơ thể khi đang hoạt động

- Tạo được một dáng người đang hoạt động tùy thích

- Biết giới thiệu, nhận xét sản phẩm

- Sáng tạo nội dung chủ đề

- Các nhóm biết chọn và sắp xếp tạo thành nội dung chủ đề

- Giới thiệu, nhận xét và nêu cả16m nhận về sản phẩm

-Sáng tạo hình ba chiều

- Tạo hình một dáng người đang hoạt động theo ý thích

- Giới thiệu, nhận xét sản phẩm

“Ngày Tết, lễ hội

và mùa xuân”

-HS nhận biết và nêu được một

số đặc điểm về ngày Tết, lễ hội

và mùa xuân

- Tạo được những hình ảnh về chủ đề

- Biết giới thiệu và nhận xét

Trang 29

-Sáng tạo hình ba chiều

- Biết tạo những sản phẩm hoa, quả, bánh về ngày Tết

-Giới thiệu và nhận xét sản phẩm

19 Vũ điệu của

-Nghe nhạc và vẽ màu

- Biết cách lắng nghe và vận động theo giai điệu của âm nhạc, chuyển âm thanh và giai điệu thành những đường nét và màu sắc biểu cảm trên giấy

-Giới thiệu, nhận xét và nêu được cảm nhận về sản phẩm của mình, của bạn

gấp giấy

Trang 30

1 -Tạo họa tiết

Học sinh hiểu sơ lược về họa tiết trang trí

Học sinh vẽ được họa tiết

theo ý thích

trang trí đồ vật

Học sinh tạo dáng được đồ vật

và sử dụng họa tiết để trang trí

Học sinh vẽ được bức tranh tĩnh vật theo quan sát và biểu

cảm theo ý thích

-Hoàn thành và giới thiệu sản

phẩm

Học sinh giới thiệu , nhận xét

và nêu được cảm nhận về sản

phẩm của mình, của bạn

Trang 31

-Tạo hình bối

cảnh, không gian

-Học sinh tạo được bối cảnh,

không gian cho sản phẩm

phẩm

-Giới thiệu , nhận xét và nêu cảm nhận về sản phẩm của nhóm mình, nhóm bạn

-Giáo dục học sinh biết khi tham gia giao thông chúng ta cần phải làm gì?

33

Tìm hiểu tranh dân

gian Việt Nam

1

-Tìm hiểu nội dung, hình thức của tranh dân gian

Việt Nam

-Hiểu biết về nguồn gốc, nội dung và vẽ đẹp của tranh dân gian Việt Nam

-Mô phỏng lại một tranh dân

gian Việt Nam

-Học sinh vẽ màu vào hình tranh dân gian hoặc vẽ lại được tranh dân gian

-Giới thiệu, nhận xét và nêu

Trang 32

nhiều phụ huynh, học sinh và một số giáo viên cho rằng đây là môn phụ nên không quan tâm đầu tư cho môn học

Để biết được tình hình sử dụng trò chơi học tập trên phần mềm Violet vào dạy học

Mĩ thuật lớp 4, tôi đã tiến hành điều tra:

- 20 giáo viên trường Tiểu học Quảng Phong, trường Tiểu học Cảnh Dương ở tỉnh Quảng Bình và trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ ở thành phố Đà Nẵng

- 156 học sinh trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi và trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ

1.6.1 Đối tượng điều tra

- Giáo viên dạy Mỹ thuật và giáo viên trong tổ đặc thù khối 1, 2, 3,4

- 156 học sinh lớp 4/7, 4/8 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi và lớp 4/5, 4/6 trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ

1.6.2 Nội dung và kết quả điều tra

a, Kết quả điều tra giáo viên

a1, Đánh giá của giáo viên về vai trò của việc sử dụng trò chơi học tập vào dạy học

a,2 Mức độ giáo viên sử dụng trò chơi học tập trong dạy học

Trang 33

Mức độ sử dụng Số lượng giáo viên Tỉ lệ (%)

Bảng 1.2: Mức độ giáo viên sử dụng trò chơi học tập trong dạy học

Qua bảng 1.2 cho thấy, đa số các giáo viên đều nhận thức được vai trò của trò chơi ô chữ nên việc sử dụng trò chơi ô chữ cũng được phổ biến Cụ thể với 90% giáo viên có sử dụng trò chơi ô chữ Trong đó có 20% giáo viên thường xuyên sử dụng và 70% giáo viên thỉnh thoảng sử dụng, chỉ có 10% là không sử dụng

a3, Đánh giá của giáo viên về mục đích sử dụng trò chơi học tập trong dạy học môn

Mĩ thuật

Khi được hỏi về mục đích sử dụng trò chơi học tập trong môn Mĩ thuật thu được kết

quả như sau:

Trang 34

dụng cho tất cả các mục đích trên Như vậy, việc sử dụng trò chơi dạy học có nhiều mục đích khác nhau nhưng hầu hết giáo viên đều hướng tới việc giúp tiết học đạt hiệu quả cao nhất

a4, Các phần mềm mà giáo viên sử dụng để thiết kế trò chơi học tập

Có rất nhiều phần mềm hỗ trợ cho việc giảng dạy của giáo viên với nhiều tính năng tối ưu Qua khảo sát các phần mềm giáo viên thường sử dụng để thiết kế trò chơi học tập thu được kết quả sau:

Biểu đồ 1.1: Các phần mềm được giáo viên sử dụng để thiết kế trò chơi học tập

Qua biểu đồ, số lượng giáo viên sử dụng phần mềm PowerPoint để thiết kế trò chơi học tập 13/29 giáo viên, chiếm 65% Những giáo viên lựa chọn phần mềm này đều cho răng đây là phần mềm dễ sử dụng, có thể thiết kế nhiều hình thức trò chơi theo ý muốn của mình Bên cạnh đó 10% giáo viên sử dụng phần mềm Violet cho giáo viên rằng phần mềm này đơn giản, có các trò chơi phong phú, có sẵn, không cần tự thiết kế như phần mềm PowerPoint

a5, Đánh giá của giáo viên về hiệu quả của việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học môn Mĩ thuật

(5: rất tác dụng, 4: tác dụng, 3: bình thường, 2: tác dụng rất ít, 1: hoàn toàn không

Phần mềm khác Không sử dụng

65%

25%

10%

Trang 35

Thu hút sự tham gia của học sinh, tiết học

Hình thành cảm xúc, động cơ, hứng thú

học tập đối với môn học và tạo môi trường

thuận lợi trong học tập

Phát triển tư duy sáng tạo, tìm tòi cái mới

Bảng 1.4: Đánh giá của giáo viên về những thuận lợi khi sử dụng trò chơi học tập

trong dạy môn Mĩ thuật

Qua bảng 1.4 ở trên, chúng tôi nhận thấy hầu hết tất cả giáo viên khi sử dụng trò chơi ô chữ đều cho rằng trò chơi ô chữ rất có tác dụng trong việc hình thành kiến thức nhanh và khắc sâu hơn (chiếm 60%), 40% cho rằng có tác dụng và 65% giáo viên cho rằng sử dụng trò chơi thu hút sự chú ý của học sinh, làm tiết học không khô khan, nhàm chán

Ngoài ra, 65% giáo viên cho rằng trò chơi có tác dụng trong việc hình thành cảm xúc, động cơ hứng thú đối với môn học, và 10% cho rằng nó chỉ có tác dụng bình thường; tác dụng phát triển tư duy sáng tạo chiếm 50% và 30% giáo viên cho rằng chỉ có tác dụng bình thường đối với học sinh

Không có giáo viên nào cho rằng việc sử dụng trò chơi trong dạy học Mĩ thuật là

có tác dụng rất ít và hoàn toàn không có tác dụng

a6, Đánh giá của giáo viên về những khó khăn khi thiết kế và sử dụng trò chơi học tập

Xây dựng trò chơi mất nhiều thời gian, công

sức

Trò chơi không đa dạng

Trang 36

Lựa chọn trò chơi phù hợp với nội dung bài

Bảng 1.5: Đánh giá của giáo viên về những khó khăn khi sử dụng trò chơi học tập

Qua bảng thống kê trên, chúng tôi nhận thấy giáo viên còn gặp không ít khó khăn khi thiết kế và sử dụng trò chơi học tập Cụ thể là có tới 90% giáo viên cho rằng xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan mất nhiều thời gian, công sức Đồng thời phần lớn giáo viên cũng thấy khó khăn trong việc lựa chọn trò chơi vì không đa dạng (65%) Bên cạnh đó có 35% giáo viên đồng ý với ý kiến lựa chọn trò chơi phù hợp với nội dung bài học gặp khó khăn, 8% giáo viên thấy thiết kế trò chơi đòi hỏi kĩ thuật cao, khó sử dụng các phần mềm, số giáo viên lựa chọn mục này cho biết những trò chơi được thiết kế thường đơn giản, lặp đi lặp lại hoặc gần giống nhau về hình thức, hoặc nội dung trong trò chơi gây ra khó khăn cho giáo viên khi phải chọn ra từ khóa, từ gốc

để học sinh nhớ bài Ngoài ra còn một số lí do khác như không đủ thời gian cho tiết học (35%), học sinh không hứng thú tham gia (10%) Dễ nhận thấy, việc thiết kế và tổ chức trò chơi học tập của giáo viên còn gặp nhiều khó khăn

a7, Mức độ hiểu biết về phần mềm Violet của giáo viên

Khi tiến hành thăm dò ý kiến của các giáo viên về phần mềm Violet thu được kết quả

Trang 37

Dựa vào biểu đồ ta thấy chỉ có một lượng nhỏ giáo viên (chiếm 10%) đã sử dụng phần mềm Violet vào dạy học Mĩ thuật Còn lại đa phần giáo viên chỉ nghe qua hoặc chưa từng sử dụng phần mềm

Ta có thể thấy phần mềm Violet chưa thực sự được giáo viên sử dụng rộng rãi Mặc dù phần mềm có rất nhiều ưu điểm như đơn giản, dễ sử dụng, trò chơi có sẵn, không cần thiết kế phức tạp

a8, Đề nghị của giáo viên về việc xây dựng trò chơi học tập

Nội dung câu hỏi gắn liền với nội dung

bài học, phù hợp với trình độ

học sinh

Không quá lạm dụng trò chơi trong dạy

học

Bảng 1.6: Đề nghị của giáo viên về thiết kế trò chơi học tập

Qua bảng ta thấy được đa số những giáo viên đều đề xuất trò chơi thiết kế ngắn gọn, dễ hiểu và nội dung câu hỏi gắn liền với nội dung bài học, phù hợp với trình độ học sinh (chiếm 90%), còn lại 40% đề nghị nên tăng độ khó câu hỏi và 60% đề xuất không quá lam dụng trò chơi trong dạy học

b, Kết quả khảo sát học sinh

a1, Mức độ hứng thú của học sinh đối với môn Mĩ thuật

Khi được hỏi “Em có thích môn Mĩ thuật không?” thu được kết quả sau:

Trang 38

Biểu đồ 1.3: Sự hứng thú của học sinh đối với môn Mĩ thuật

Qua sơ đồ ta thấy đa số các em học sinh khối 4 ở hai trường đều có hứng thú

với môn học Mĩ thuật, cụ thể có 49 học sinh rất thích môn Mĩ thuật, 83em thích học môn học này, chỉ có 22 học sinh thấy bình thường và 2 học sinh không thích môn

Mĩ thuật

b2, Mức độ hứng thú của học sinh đối với trò chơi học tập

Biểu đồ 1.4: Mức độ hứng thú của học sinh đối với trò chơi học tập

Quan sát từ biểu đồ ta có thể thấy được học sinh rất hứng thú với trò chơi học tập,

cụ thể có 65/156 em rất thích chơi trò chơi học tập trong giờ Mĩ thuật, có 78 học sinh thích chơi và 12 học sinh cảm thấy bình thường, còn lại không có em nào là không thích chơi trò chơi trong giờ Mĩ thuật

b3, Mức độ sử dụng trò chơi trong tiết học môn Mĩ thuật

0

0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 Rất thích

Thích

Bình thường

Không thích

Trang 39

Có rất nhiều ý kiến trả lời khác nhau cho câu hỏi “Các em thường được chơi trò chơi học tập trong giờ học Mĩ thuật không ?” Dưới đây là bảng thể hiện mức độ sử dụng trò chơi dạy học của các em:

Biểu đồ 1.5: Mức độ các em được chơi trò chơi học tập trong giờ học Mĩ thuật

Qua biểu đồ ta thấy được tần suất học sinh được chơi trò chơi học tập trong giờ học Mĩ thuật thường là thỉnh thoảng giáo viên mới tổ chức (chiếm 71,7%), thường xuyên tổ chức chỉ chiếm 14,6% Ngoài ra 13,7% học sinh cho rằng các em hiếm khi được chơi trò chơi học tập trong giờ Mĩ thuật

b4, Thời gian thầy cô thường tổ chức trò chơi học tập tong giờ học Mĩ thuật

Biều đồ 1.6: Thời gian tổ chức trò chơi học tập trong tiết học Mĩ thuật

14.6%

71.70%

13.70%

Thường xuyênThỉnh thoảngHiếm khiChưa bao giờ

29.5%

28%

42.5%

Đầu giờ Giữa giờ Cuối giờ

Trang 40

Qua biểu đồ ta thấy thời gian tổ chức trò chơi học tập thường là cuối tiết học, nhằm củng cố kiến thức cho học sinh, còn đầu giờ chiếm 29,5%, thời gian sử dụng ít trò chơi học tập nhất là giữa giờ (28%)

b5, Mong muốn của học sinh đối với trò chơi dạy học trong môn Mĩ thuật

Bảng 1.7: Mong muốn của học sinh đối với trò chơi học tập

Qua bảng ta thấy, đa số các em học sinh đều muốn trò chơi học tập với nhiều hình

ảnh, âm thanh sống động (chiếm 91%), với hình thức tập thể lớp tham gia thì có 142 học sinh lựa chọn (chiếm 71,8%) Ngoài ra, hình thức vượt chướng ngại vật được

118 học sinh lựa chọn, còn 43,6% học sinh thích trò chơi có các câu đố

c, Nhận xét

Sau khi khảo sát giáo viên và học sinh ở các trường tiểu học, tôi nhận thấy trò

chơi dạy học là một hình thức quen thuộc trong việc dạy và học Tuy nhiên, những trò chơi dạy học vẫn chưa được tổ chức thường xuyên và đa dạng trong các tiết học

Mĩ thuật

Qua khảo sát, tôi thấy được hầu hết giáo viên còn gặp khó khăn trong quá trình thiết

kế và tổ chức trò chơi dạy học, cụ thể như:

- Xây dựng trò chơi mất nhiều thời gian, công sức

- Không có đủ thời gian cho tiết học

- Trò chơi không đa dạng

- Lựa chọn trò chơi phù hợp với nội dung bài học gặp khó khăn

- Thiết kế trò chơi đòi hỏi kĩ thuật cao, khó sử dụng các phần mềm

Phần lớn các giáo viên khi hỏi về phần mềm Violet đều chỉ nằm ở mức độ nghe qua chứ chưa sử dụng do điều kiện còn hạn chế

Ngày đăng: 29/04/2021, 16:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Leonchiev A.N Sự phát triển tâm lý trẻ em, Trường Sư phạm Mẫu giáo TW 3, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển tâm lý trẻ em
5. Đặng Nam (chủ biên), Tranh dân gian Việt Nam, NXBVH Dân tộc, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh dân gian Việt Nam
Nhà XB: NXBVH Dân tộc
8. Nguyễn Quốc Toản (chủ biên), Mỹ thuật và phương pháp dạy học Mỹ thuật, NXBGD, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật và phương pháp dạy học Mỹ thuật
Nhà XB: NXBGD
11. B.C Gie-nhi-xloai-a - Tạp chí văn học trường Matxcova - tác giả B.C Gie-nhi- xloai-a Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí văn học trường Matxcova
12. Penny Warner Phương pháp giúp trẻ vừa chơi mà học- Năm 1999 – NXB Meadowbook (biên dịch Mạnh Linh- Minh Đức NXB Phụ nữ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giúp trẻ vừa chơi mà học
Nhà XB: NXB Meadowbook (biên dịch Mạnh Linh- Minh Đức NXB Phụ nữ)
13. Đỗ Tiến Đạt, Trần Ngọc Lan, Phạm Thanh Tâm - “100 trò chơi học tập Toán 1” – NXB Giáo dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “100 trò chơi học tập Toán 1
Nhà XB: NXB Giáo dục
14. E.A.Pokrovxki - tuyển tập “Trò chơi của trẻ em Nga” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trò chơi của trẻ em Nga
10. Trang web: www.google.com.vn https://vi.wikipedia.org Link
2. Đặng Thành Hưng (2002), Dạy học hiện đại - Lí luận, biện pháp, kĩ thuật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
4. Giáo trình Tâm lí học đại cương và giáo dục học trẻ em, NXB Sư phạm, 2011 Khác
6. Nguyễn Thị Bích Hồng, Phương pháp sử dụng trò chơi trong dạy học, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, 2014 Khác
7. Vũ Minh Hồng, Trò chơi học tập, NXB Giáo dục, 1980 Khác
9. Sách giáo khoa Mĩ thuật 4, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w