Trong bài viết “The Benefits of Frequent Positive Affect: Does Happiness Lead to Success?” đăng trên tạp chí Psychological Bulletin do Hiệp hội Tâm lí học Hoa Kỳ xuất bản, các tác giả gh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VÕ THỊ TƯỜNG VY
Thành phố Hồ Chí Minh - 2020
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Văn Mỹ Linh
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
TS Võ Thị Tường Vy, người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn và động viên để tôi hoàn thành luận văn
Ban chủ nhiệm khoa, các Thầy, Cô giáo Khoa Tâm lí, Phòng Sau Đại học
Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện trong suốt thời gian tôi học tập và hoàn thành luận văn
Các anh chị nhân viên công tác xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong lúc thực hiện luận văn
Gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh tôi, chia sẻ những khó khăn, động viên
và hết lòng giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn
Trang 5Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc 6
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu trên thế giới về cảm nhận hạnh phúc 6
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước về cảm nhận hạnh phúc 13
1.2 Cơ sở lí luận về cảm nhận hạnh phúc của nhân việc công tác xã hội 17
1.2.1 Lí luận về cảm nhận hạnh phúc 17
1.2.2 Lí luận về nhân viên công tác xã hội 33
1.2.3 Lí luận về cảm nhận hạnh phúc của nhân viên công tác xã hội 42
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc của nhân viên công tác xã hội 54
Tiểu kết chương 1 63
Chương 2 THỰC TRẠNG BIỂU HIỆN CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI TP HỒ CHÍ MINH 64
2.1 Thể thức nghiên cứu 64
2.1.1 Mẫu nghiên cứu 64
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 65
2.1.3 Tiến trình nghiên cứu 75
2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng biểu hiện cảm nhận hạnh phúc của nhân viên công tác xã hội tại TP.HCM 76
Trang 62.2.2 Mức độ cảm nhận hạnh phúc của nhân viên công tác xã hội thông
qua các mặt biểu hiện 772.2.3 Tương quan giữa các mặt biểu hiện cảm nhận hạnh phúc 902.2.4 So sánh các mặt biểu hiện cảm nhận hạnh phúc của nhân viên
công tác xã hội với độ tuổi, tôn giáo, thu nhập, chuyên môn, đối tượng làm việc và môi trường làm việc 912.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc của nhân viên
công tác xã hội tại TP.HCM 952.2.6 Chân dung NVCTXH 1092.2.7 Tính hiệu quả và tính khả thi của các biện pháp nhằm hỗ trợ nhân
viên công tác xã hội tại TP.HCM cảm nhận hạnh phúc sâu sắc hơn 114Tiểu kết Chương 2 118
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 120 TÀI LIỆU THAM KHẢO 124 PHỤ LỤC
Trang 7Chữ viết tắt Nội dung viết tắt
Trang 8Bảng 2.1 Phân bố khách thể tham gia nghiên cứu 64
Bảng 2.2 Hệ số tin cậy của các thang đo 67
Bảng 2.3 Cách thức quy đổi điểm của tiểu thang đo EWB 70
Bảng 2.4 Cách thức quy đổi điểm của tiểu thang đo PWB 70
Bảng 2.5 Cách thức quy đổi điểm của tiểu thang đo SWB 71
Bảng 2.6 Cách thức quy đổi điểm của thang đo LOT - R 71
Bảng 2.7 Cách thức quy đổi điểm của thang đo RES 72
Bảng 2.8 Cách thức quy đổi điểm của thang đo SCS - SF 73
Bảng 2.9 Cách thức quy đổi điểm của các thang đo Hope 73
Bảng 2.10 Cách thức quy đổi điểm của các tiểu thang đo Hope 74
Bảng 2.11 Cách thức quy đổi điểm thang đo tính hiệu quả của các biện pháp 74
Bảng 2.12 Cách thức quy đổi điểm thang đo tính khả thi của các biện pháp 74
Bảng 2.13 Thực trạng mức độ biểu hiện của các mặt CNHP của NVCTXH 76
Bảng 2.14 Mức độ cảm nhận hạnh phúc biểu hiện qua mặt cảm xúc 78
Bảng 2.15 Mức độ cảm nhận hạnh phúc biểu hiện qua mặt tâm lí 79
Bảng 2.16 Mức độ CNHP về mặt tâm lí biểu hiện qua các nội dung 80
Bảng 2.17 Mức độ cảm nhận hạnh phúc biểu hiện qua mặt xã hội 85
Bảng 2.18 Mức độ CNHP về mặt xã hội biểu hiện qua các nội dung 86
Bảng 2.19 Mối tương quan giữa các mặt biểu hiện của CNHP 90
Bảng 2.20 So sánh CNHP về mặt cảm xúc theo chuyên môn 91
Bảng 2.21 So sánh CNHP về mặt cảm xúc theo thu nhập 91
Bảng 2.22 So sánh CNHP về mặt cảm xúc theo độ tuổi 91
Bảng 2.23 So sánh CNHP về mặt cảm xúc theo tôn giáo 92
Bảng 2.24 So sánh CNHP về mặt cảm xúc theo đối tượng làm việc 92
Bảng 2.25 So sánh CNHP về mặt tâm lí theo thu nhập 93
Bảng 2.26 So sánh CNHP về mặt tâm lí theo nơi làm việc 93
Bảng 2.27 So sánh CNHP về mặt tâm lí theo đối tượng làm việc 93
Bảng 2.28 So sánh CNHP về mặt xã hội theo thu nhập 94
Bảng 2.29 So sánh CNHP về mặt xã hội theo đối tượng làm việc 94
Bảng 2.30 Mức độ lạc quan của nhân viên công tác xã hội tại TP.HCM 95
Trang 9Bảng 2.32 Tương quan giữa các mặt của CNHP xã hội và thái độ lạc quan
của NVCTXH 97Bảng 2.33 Mức độ trải nghiệm lòng tự trọng của NVCTXH 97Bảng 2.34 Tương quan giữa các mặt biểu hiện của CNHP và trải nghiệm
lòng tự trọng của NVCTXH 99Bảng 2.35 Tương quan giữa các mặt của CNHP xã hội và trải nghiệm lòng tự
trọng của NVCTXH 99Bảng 2.36 Tương quan giữa các mặt của CNHP tâm lí và trải nghiệm lòng tự
trọng của NVCTXH 100Bảng 2.37 Mức độ trải nghiệm lòng trắc ẩn của nhân viên công tác xã hội 101Bảng 2.38 Tương quan giữa các mặt biểu hiện CNHP và trải nghiệm lòng
trắc ẩn của NVCTXH 103Bảng 2.39 Tương quan giữa các mặt của CNHP tâm lí và trải nghiệm lòng
trắc ẩn của NVCTXH 103Bảng 2.40 Tương quan giữa các mặt của CNHP xã hội và trải nghiệm lòng
trắc ẩn của NVCTXH 104Bảng 2.41 Tương quan giữa các mặt biểu hiện của CNHP và nét hy vọng của
NVCTXH 105Bảng 2.42 Tương quan giữa các mặt biểu hiện của CNHP và nét hy vọng của
NVCTXH 106Bảng 2.43 Tương quan giữa các yếu tố của CNHP cảm xúc và nét hy vọng
của NVCTXH 107Bảng 2.44 Tương quan giữa các mặt của CNHP tâm lí và nét hy vọng của
NVCTXH 108Bảng 2.45 Tương quan giữa các mặt của CNHP xã hội và nét hy vọng của
NVCTXH 108Bảng 2.46 Mức độ hiệu quả của các biện pháp hỗ trợ NVCTXH cảm nhận
hạnh phúc sâu sắc hơn 114Bảng 2.47 Mức độ khả thi của các biện pháp hỗ trợ NVCTXH cảm nhận
hạnh phúc sâu sắc hơn 116
Trang 10Biểu đồ 2.2 Biểu đồ mức độ CNHP biểu hiện qua mặt tâm lí của NVCTXH 79 Biểu đồ 2.3 Biểu độ mức độ CNHP biểu hiện qua mặt xã hội của NVCTXH 85
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hạnh phúc là chủ đề mà từ xưa đến nay dù ở thời đại nào cũng có ý nghĩa quan trọng đối với con người Mỗi cá nhân sẽ có những lựa chọn và mục đích cho riêng mình trên con đường đi tìm hạnh phúc Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của tâm lí học tích cực, số lượng các công trình nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc của con người ngày càng tăng Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng mối quan hệ giữa hạnh phúc và thành công của cá nhân có sự liên quan đến nhau Trong bài viết
“The Benefits of Frequent Positive Affect: Does Happiness Lead to Success?” đăng trên tạp chí Psychological Bulletin do Hiệp hội Tâm lí học Hoa Kỳ xuất bản, các tác giả ghi nhận sau một khoảng thời gian dài nghiên cứu về sức khỏe con người đã có
“hàng loạt các nghiên cứu cho thấy những cá nhân hạnh phúc thì thành công trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống như hôn nhân, bạn bè, thu nhập, sự nghiệp và sức khỏe” Mối quan hệ giữa hạnh phúc và thành công không hẳn là mối quan hệ một chiều, một mặt, thành công sẽ tạo nên hạnh phúc, ngược lại, hạnh phúc cũng sẽ dẫn đến thành công Dường như dù chúng ta làm bất cứ nghề nào thì mục đích chung đều hướng đến giá trị hạnh phúc, có những nghề trong xã hội vì hạnh phúc con người và CTXH là một nghề mang lại hạnh phúc cho người khác Do đó đòi hỏi ở NVCTXH sự cho đi, sự hi sinh đối với hạnh phúc của người khác Vậy câu hỏi đặt
ra, trong quá trình họ cống hiến cho nghề liệu họ có được hạnh phúc hay không? Nếu như NVCTXH cảm thấy hạnh phúc là một điều rất tuyệt vời, vì mỗi cá nhân hạnh phúc thì sự cho đi của họ là nhiều nhất, vì sự cho đi trước tiên là sự an bình và hạnh phúc của chính mình Mỗi ngành nghề đều có sứ mệnh của riêng mình, CTXH
là một nghề mới, mang sứ mệnh đảm bảo an sinh xã hội góp phần vào sự cải thiện đời sống của cộng đồng, tăng nguồn lực cá nhân, giúp những người yếu thế trong xã hội, cải thiện mối quan hệ cá nhân và xã hội, hỗ trợ các đối tượng hòa nhập vào cộng đồng trong sự phát triển bền vững chung của xã hội Bên cạnh đó, tốc độ phát triển kinh tế ngày càng tăng nhanh kéo theo những thách thức cần đối mặt ngày càng phức tạp, vai trò và tầm quan trọng của ngành CTXH càng được quan tâm chú trọng Dịch vụ mà ngành CTXH phải đảm nhận bao gồm dịch vụ CTXH với trẻ em,
Trang 12với gia đình, với người khuyết tật, với sức khỏe tâm thần, với người cao tuổi – không nơi nương tựa, với phòng chống tệ nạn xã hội, với người trẻ tuổi vi phạm pháp luật, với xóa đói giảm nghèo Chúng ta có thể nhìn thấy đối tượng làm việc của ngành CTXH rất đa dạng và mang tính đặc thù, họ đối diện với nhiều đau khổ, đứng trước những mảnh đời bất hạnh Vậy thì câu hỏi đặt ra, cho dù bản thân NVCTXH hạnh phúc thì liệu khi tiếp xúc với những người bất hạnh như thế thì NVCTXH có hạnh phúc hay không? Đứng trước những câu hỏi chồng chất như thế, đặt trong bối cảnh của sự đa dạng nghề nghiệp của NVCTXH thì họ có hạnh phúc như thế nào và điều gì ảnh hưởng đến hạnh phúc của họ Tại Việt Nam những nghiên cứu về cảm xúc công việc hay CNHP, sự hài lòng của NVCTXH chưa được nghiên cứu nhiều Đây là nhu cầu bức thiết và tối quan trọng
Xuất phát từ những lí do trên mà đề tài “ Cảm nhận hạnh phúc của nhân viên công tác xã hội” được xác lập với mong muốn tìm hiểu thực trạng biểu hiện CNHP
và những yếu tố có mối tương quan với CNHP của NVCTXH tại TP.HCM Từ đó
đề xuất những biện pháp nhằm hỗ trợ NVCTXH cảm nhận hạnh phúc sâu sắc hơn
2 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng các mặt biểu hiện và mức độ biểu hiện CNHP của NVCTXH Từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hỗ trợ NVCTXH cảm nhận hạnh phúc sâu sắc hơn
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các mặt biểu hiện và mức độ biểu hiện CNHP của NVCTXH tại TP.HCM
3.2 Khách thể nghiên cứu
60 người hiện đang làm nhân viên công tác xã hội tại TP.HCM
4 Giả thuyết nghiên cứu
4.1 Mức độ biểu hiện CNHP của NVCTXH qua các mặt ở mức trung bình 4.2 Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến CNHP của NVCTXH, trong đó yếu tố đối tượng làm việc có ảnh hưởng nhiều nhất
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xây dựng cơ sở lí luận về CNHP của NVCTXH
Trang 135.2 Khảo sát thực trạng các mặt biểu hiện và mức độ biểu hiện CNHP của NVCTXH tại TPHCM
5.3 Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến CNHP của NVCTXH tại TPHCM
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn và phạm vi về nội dung
Có nhiều quan điểm và lí thuyết khác nhau về CNHP Trong nghiên cứu này chỉ tập trung nghiên cứu CNHP chủ quan theo lí thuyết của Corey Lee M Keyes và cộng sự Đồng thời tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến CNHP của NVCTXH như: lòng tự trọng, sự lạc quan, thu nhập, môi trường làm việc, đối tượng làm việc, lòng trắc ẩn, nét hy vọng
6.2 Giới hạn và phạm vi về khách thể
Trong điều kiện thời gian và kinh phí có hạn, đề tài chỉ nghiên cứu 60 người đang làm NVCTXH tại TP.HCM
7 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Quan điểm tiếp cận
7.1.1 Quan điểm hệ thống – cấu trúc
Vận dụng quan điểm hệ thống – cấu trúc để xây dựng cơ sở lí luận về cảm nhận của nhân viên công tác xã hội Nghiên cứu đề tài (xây dựng bảng hỏi, bình luận thực trạng) được tiến hành trên cấu trúc đã được xác lập theo quan điểm hệ thống cấu trúc toàn vẹn nhưng có tính động
7.1.2 Quan điểm hoạt động – nhân cách
Nhận thấy được vai trò, sứ mệnh và tầm quan trọng của ngành CTXH Nhiệm
vụ mà mỗi NVCTXH phải đảm nhận luôn mang lại lợi ích và những giá trị nhân văn trong xã hội Song, bên cạnh đó đòi hỏi những phẩm chất và năng lực phù hợp
để đáp ứng những yêu cầu của ngành CTXH Từ đó, đặt ra một vấn đề rằng với những khối lượng công việc và đòi hỏi về năng lực phẩm chất của mỗi cá nhân, với những giá trị và thách thức của nghề nghiệp mang đến CNHP cho NVCTXH hiện nay như thế nào Đây là một vần đề mà xã hội cần quan tâm và chăm sóc bên cạnh những đòi hỏi chuẩn mực mà ngành CTXH đặt ra cho NVCTXH
Trang 147.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
a) Mục đích
Dựa trên sự tổng hợp các tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan đến cảm nhận hạnh phúc nói chung và cảm nhận hạnh phúc của nhân viên công tác xã hội nói riêng để xây dựng một hệ thống khái niệm công cụ cũng như những khái niệm có liên quan để định hướng cho việc thiết kế công cụ nghiên cứu, thực thi quá trình tìm hiểu thực trạng mức độ hạnh phúc của nhân viên công tác xã hội
b) Cách thực hiện
Tham khảo, phân tích, tổng hợp, đánh giá các công trình nghiên cứu, sách, tạp chí chuyên ngành và thu thập thông tin trên internet về các nội dung có liên quan đến cảm nhận hạnh phúc của nhân viên công tác xã hội
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
a) Mục đích
Đề tài xây dựng bảng hỏi nhằm đánh giá sự hài lòng, cảm xúc tích cực của NVCTXH; sự tác động của nhận thức đến quá trình làm việc và chất lượng cuộc sống; các yếu tố ảnh hưởng đến hạnh phúc của NVCTXH
b) Cách thực hiện
Xác định trường hợp nghiên cứu, chuẩn bị các phương tiện hỗ trợ để tiến hành thu dữ liệu và phân tích dữ liệu
Trang 157.2.3 Phương pháp thống kê toán học
a) Mục đích
Phần mền SPSS phiên bản 20.0 sẽ được dùng để xử lí các dữ kiện thu được, phục vụ cho việc phân tích số liệu cũng như đảm bảo tối đa yêu cầu định lượng và tính khách quan trong quá trình nghiên cứu
b) Cách thực hiện
Các phép tính thống kê suy luận được sử dụng để tính hệ số tin cậy, tần số, tỉ
số phần trăm, điểm trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm nghiệm T – test, kiểm nghiệm Anova, tương quan Pearson để bình luận số liệu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và phương pháp trắc nghiệm
Trang 16Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC
CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
1.1 Tổng quan nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu trên thế giới về cảm nhận hạnh phúc
Trong lịch sử nghiên cứu trên thế giới nhiều năm qua thì hạnh phúc vẫn còn là khái niệm mơ hồ chưa được định hình rõ và khó tiếp cận một cách chuẩn xác Từ lâu, hạnh phúc vẫn được xem thuộc về thần học, các nhà triết học và đạo đức học Bên cạnh đó, quan niệm của các tôn giáo về hạnh phúc cũng lần lượt cho thấy sự khác nhau trong cách hiểu thuật ngữ này Các nhà nghiên cứu lúc bấy giờ chủ yếu tập trung và tìm hiểu nguồn gốc của hạnh phúc, những tác động và ảnh hưởng nhất định đến đời sống của con người Theo dòng thời gian, từ những nhà triết học cổ đại đến các nhà nghiên cứu hiện đại, họ đều quan tâm đến chủ đề hạnh phúc và hạnh phúc như một ẩn số thúc đẩy việc tìm hiểu và hướng đến đích cuối cùng trong quá trình sống của con người Hạnh phúc là mối quan tâm hàng đầu của các nhà tư tưởng từ thời cổ đại khi được chứng kiến trong phần lớn các tác phẩm triết học của
Hy Lạp Các nghiên cứu ban đầu đặt nền móng cho việc tìm hiểu về hạnh phúc thuộc các ngành khác nhau như sinh học, xã hội học, Khi nguồn gốc của hạnh phúc là định hướng cho các nhà nghiên cứu tìm hiểu và tiến hành nhiều thí nghiệm Các kết quả đã chỉ ra rằng khi bên trong con người có nhiều chất hóa học tác động vào nhau thì con người sẽ cảm thấy hạnh phúc Năm 1872, bác sỹ Camillo Golgi đã phát hiện thành phần nền tảng nhất của bộ não là neuron và kết luận neuron là tác nhân tạo ra cảm xúc hạnh phúc Đến cuối thế kỷ 19, hạnh phúc được tiếp cận dưới góc độ sinh học nhiều hơn, và minh chứng một điều hạnh phúc sinh ra từ bộ não và
do sự kết hợp của các chất hóa học bên trong con người
Các nghiên cứu về CNHP vẫn còn kéo dài đến đầu thế kỷ 20, Sự phát triển quan trọng đầu tiên trong việc nghiên cứu về CNHP đến từ tác giả William James (1842–1910) Song song đó, các nghiên cứu thực nghiệm về CNHP chủ quan bắt đầu hình thành Năm 1925, tác giả Flugel đã nghiên cứu tâm trạng bằng cách để mọi người ghi lại các sự kiện cảm xúc của họ và sau đó tổng hợp các phản ứng cảm
Trang 17xúc qua các khoảnh khắc Cách của Flugel là tiền thân của các phương pháp tiếp cận lấy mẫu trải nghiệm để đo lường mức độ CNHP chủ quan trực tuyến thông qua việc cá nhân xem xét cuộc sống hàng ngày của họ Sau Thế chiến II, các nhà nghiên cứu bắt đầu khảo sát thăm dò ý kiến mọi người về mức độ hạnh phúc và sự hài lòng trong cuộc sống bằng các câu hỏi khảo sát đơn giản Nghiên cứu lớn đầu tiên về CNHP chủ quan được thực hiện vào cuối những năm 1950 ở Hoa Kỳ của các tác giả Gurin, Veroff, và Feld Nghiên cứu đi dưới ngọn cờ "sức khỏe tâm thần", chứ không phải là ngọn cờ "chất lượng cuộc sống" thường được sử dụng bởi các nghiên cứu CNHP chủ quan trong những năm 1970 và 1980 Gần hai thập kỷ sau, vào giữa những năm 1970, nghiên cứu này được nhân rộng trên một mẫu người Mỹ trưởng thành khác (Veroff, Douvan, & Kulka, 1981) Vào đầu và giữa những năm 1960, Bradburn và Caplovitz đã thu thập dữ liệu về “CNHP tâm lí” từ năm mẫu ở Hoa Kỳ (Bradburn, 1969) Bốn trong số các mẫu này có kích thước nhỏ (từ 252 đến 542), mẫu thứ năm chỉ có kích thước trung bình (n = 1277), và không có mẫu nào được
dự định là mẫu quốc gia, nhưng chúng cung cấp dữ liệu từ một loạt dữ kiện không đồng nhất Năm 1969, Norman Bradburn đã chỉ ra rằng cảm xúc dễ chịu và cảm xúc khó chịu có phần độc lập và có mối tương quan - chúng không đơn giản là đối lập nhau Do đó, hai cảm xúc này phải được nghiên cứu riêng biệt để có được bức tranh toàn cảnh về CNHP cá nhân Phát hiện này có ý nghĩa quan trọng đối với lĩnh vực CNHP chủ quan: Nó cho thấy rằng những nỗ lực của tâm lí học lâm sàng nhằm loại
bỏ trạng thái tiêu cực không nhất thiết sẽ thúc đẩy trạng thái tích cực Kết quả từ một cuộc khảo sát (Andrew & Withey, 1976) tiết lộ rằng niềm vui và gia đình đóng góp nhiều cho hạnh phúc hơn là sự hài lòng trong cuộc sống Ngược lại, tiền bạc, an ninh kinh tế, một ngôi nhà, hàng hóa và dịch vụ mua trên thị trường góp phần mang lại sự hài lòng cho cuộc sống nhiều hơn là hạnh phúc (x Saris & Andreenkova, 2001) Một bộ dữ liệu đa quốc gia lớn khác về CNHP chủ quan đã được phát triển thông qua các cuộc khảo sát "Eurobarometer" được thực hiện hàng năm bắt đầu từ năm 1973 ở hầu hết các nước thuộc Cộng đồng Kinh tế Châu Âu Những phân tích
về những dữ liệu này cho thấy ảnh hưởng của khoảng thời gian, thế hệ và các yếu
tố tâm lí xã hội khác nhau tác động đến CNHP đã được Inglehart và Rabier (1986)
Trang 18công bố Sử dụng những dữ liệu này, Andrews và Inglehart (1979) đã chỉ ra những điểm tương đồng đáng kể trong cấu trúc nhận thức về CNHP giữa các nước châu
Âu với nhau và giữa các nước châu Âu với Hoa Kỳ Tác giả Michalos (1980) đã chỉ
ra rằng các đánh giá của tất cả 10 lĩnh vực được đo lường (sức khỏe, an ninh tài chính, cuộc sống gia đình và lòng tự trọng, v.v.) có liên quan mật thiết đến sự hài lòng của cuộc sống hơn là hạnh phúc Một cuộc khảo sát năm 1980 bao gồm một số câu hỏi giống nhau về CNHP chủ quan và sử dụng thang điểm bảy giống như đã được sử dụng trong một số cuộc khảo sát trên các mẫu đại diện trên toàn quốc ở Hoa Kỳ để đánh giá mức độ hài lòng Nhìn chung, mức độ hài lòng và hạnh phúc ở Hàn Quốc thấp hơn ở Hoa Kỳ và các mối quan hệ tích cực giữa CNHP và giáo dục hoặc thu nhập mạnh mẽ hơn (Lee, Kim, & Shinn, 1982; Shinn, 1986; Shinn, Ahn, Kim & Lee, 1983)
Những năm cuối thế kỷ 20, hạnh phúc mới được các nhà nghiên cứu về tâm lí học quan tâm và tiến hành tìm hiểu rộng rãi hơn Hạnh phúc không phải là một khái niệm đơn giản, để đạt được hạnh phúc thì không chỉ có những yếu tố bên ngoài mà yếu tố bên trong mỗi người như về cảm xúc tích cực, sự hài lòng cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm đến Từ đó, các nhà nghiên cứu có nhiều góc nhìn về thuật ngữ này và những thành quả của các công trình đã được ghi nhận Parker, Thorslund và Nordstrom (1992) nhận thấy rằng sự hài lòng trong cuộc sống dự đoán tỷ lệ tử vong ở những người già (75 tuổi đến 84 tuổi), nhưng không dành cho những người rất già (85 tuổi) Những điều này cho thấy CNHP chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe thể chất Điển hình, một nghiên cứu cho thấy bệnh nhân bị suy thận có khả năng sống sót trong 4 năm nếu họ hạnh phúc hơn là không hạnh phúc (Devins, Mann, Mandin, & Leonard, 1990) Những người càng hạnh phúc thì càng có nhiều khả năng sống lâu hơn và ngược lại Diener đã phân tích các báo cáo về thực trạng CNHP chủ quan từ hơn một triệu người ở 45 quốc gia và nhận thấy rằng sự tự đánh giá về CNHP chủ quan của người dân trung bình là 6,75 trên thang điểm 10 hoặc 67,5 trên thang điểm 100 (Myers & Diener , 1995) Diener, Saccota và Suh (1998) đã thực hiện một nghiên cứu khảo sát sinh viên đại học ở 41 quốc gia, trong đó một trong những mục khảo sát hướng dẫn người trả lời đánh giá
Trang 19tầm quan trọng của hạnh phúc là mục tiêu trong cuộc sống theo thang điểm 7 Kết quả xếp hạng trung bình là 6,39 cho thấy hạnh phúc là cực kỳ quan trọng như là một mục tiêu trong cuộc sống Sau đó Diener, Suh, Lucas and Smith (1999) đã bổ sung thêm sự hài lòng trong các lĩnh vực khác nhau khi nói về CNHP chủ quan Diener
và các cộng sự đã đưa ra đánh giá về CNHP chủ quan dựa trên sự đánh giá của mỗi người về sự hài lòng trong cuộc sống nói chung và hài lòng trong các mặt nói riêng Các nghiên cứu đã phát hiện ra mức độ CNHP chủ quan tương đối ổn định trong nhiều năm (Diener & Lucas, 1999) Các đặc điểm tính cách tích cực được phát hiện
là có thể ổn định đến 30 năm (Costa, McCrea & Zonderman, 1987)
Đầu thế kỷ 21, trong một nghiên cứu của Harker và Keltner (2001) liên quan đến sự ổn định của hạnh phúc, hai tác giả Harker và Keltner đã phát hiện ra rằng cảm xúc tích cực ở trường trung học có liên quan đáng kể đến CNHP của 30 năm sau Các nhà điều tra yêu cầu những người phụ nữ mang theo các cuốn kỷ yếu thời trung học của họ để đo cường độ nụ cười trong các bức ảnh kỷ yếu Một nụ cười thật sự, được gọi là nụ cười "Duchenne", bao gồm các cơ xung quanh mắt và toàn
bộ khuôn mặt của một người Hai tác giả Harker và Keltner nhận thấy rằng cường
độ nụ cười của phụ nữ trong các bức ảnh kỷ yếu thời trung học có liên quan đáng kể đến CNHP và chất lượng của các mối quan hệ hôn nhân sau 30 năm
Trong một nghiên cứu của Diener và Seligman (2002), tiến hành trên 222 khách thể là sinh viên của trường đại học Illinois Kết quả nghiên cứu cho thấy những người rất hạnh phúc có tính xã hội cao, và có những mối quan hệ xã hội và lãng mạn mạnh mẽ hơn những nhóm ít hạnh phúc So với các nhóm ít hạnh phúc hơn, những người được hỏi hạnh phúc nhất đã không tập thể dục nhiều, nhưng lại tham gia vào các hoạt động tôn giáo nhiều hơn đáng kể hoặc trải nghiệm các sự kiện tốt đẹp đã được xác định khách quan Hầu hết các thành viên của nhóm hạnh phúc nhất đều trải qua cảm giác tích cực, và họ đánh giá những tâm trạng tiêu cực không thường xuyên Điều này cho thấy rằng những người rất hạnh phúc có một hệ thống chức năng cảm xúc có thể phản ứng thích hợp với các sự kiện trong cuộc sống Hai tác giả Diener và Oishi (2004) cho thấy, hạnh phúc được coi là quan trọng hơn sức khỏe tốt, thu nhập cao, hấp dẫn và thậm chí quan trọng hơn là trải nghiệm
Trang 20tình yêu và tìm kiếm ý nghĩa, mục đích trong cuộc sống Sau đó vào năm 2006, hai tác giả Diener và Oishi đã thực hiện một cuộc khảo sát quốc tế lớn với 10.000 người được hỏi từ 48 quốc gia và thấy rằng hạnh phúc được đánh giá rất quan trọng so với các mong muốn khác như thành công, trí thông minh kiến thức và sự giàu có vật chất
Trong một đánh giá ấn tượng về hơn 225 bài báo nghiên cứu về CNHP chủ quan, Sonja Lyubomirsky, Laura King và Ed Diener (2005) đã phát hiện ra rằng những người cảm thấy hạnh phúc và hài lòng hơn với cuộc sống có xu hướng thành công trong nhiều lĩnh vực So với những người nói rằng họ chỉ hạnh phúc ở mức độ vừa phải hoặc không quá hạnh phúc, những người nói rằng họ hạnh phúc và trải qua nhiều cảm xúc tích cực hơn thì có cuộc sống hôn nhân tốt hơn, tình bạn và các mối quan hệ xã hội viên mãn, khỏe mạnh, tham gia nhiều hơn vào cộng đồng, có kỹ năng ứng phó tốt, hài lòng với công việc và có xu hướng có thu nhập cao hơn Ngoài ra, cảm xúc tích cực có thể giúp học sinh học tập tốt hơn (Parish & Parish,, 2005); có thể làm giảm thành kiến về chủng tộc (Johnson & Fredrickson, 2005); và
có thể giúp mọi người xử lí thông tin trực quan chính xác hơn (Anderson, 2009)
Trong nghiên cứu về “Cảm nhận hạnh phúc chủ quan của vị thành niên
trường nội trú dưới sự đe dọa của chiến tranh” của tác giả Tammie Ronen and
Anat Seeman (2007), nghiên cứu tiến hành trên 567 vị thành niên từ 14 đến 18 tuổi trong năm trường nội trú của Israel, bao gồm 271 nam, 273 nữ và 23 người không ghi giới tính của họ Tác giả tiến hành nghiên cứu để tìm hiểu những gì mà trẻ vị thành niên Israel có thể làm để duy trì CNHP chủ quan của chúng bao gồm kỹ năng
tự kiểm soát, niềm tin về khả năng của bản thân, và những nguồn lực xã hội Nghiên cứu sử dụng quan điểm của Diener với cấu trúc ba thành phần bao gồm: cảm xúc tích cực, cảm xúc tiêu cực và sự hài lòng trong cuộc sống để đánh giá CNHP chủ quan Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhìn chung nỗi sợ chiến tranh gây ra ảnh hưởng đến CNHP chủ quan của vị thành viên, cụ thể là cảm xúc tích cực và cảm xúc tiêu cực nhưng lại không gây ảnh hưởng đến đánh giá chung về sự hài lòng trong cuộc sống của chúng
Trang 21Trong một nghiên cứu “Nghề công tác xã hội và cảm nhận hạnh phúc chủ
quan: tác động của nghề nghiệp lên tổng thể của cảm nhận hạnh phúc chủ quan”
của tác giả John R Graham and Micheal L Shier (2007) Nghiên cứu này phân tích CNHP chủ quan tại nơi làm việc của những người làm CTXH Từ cuộc khảo sát ban đầu với 700 NVCTXH là các thành viên của Trường Cao đẳng CTXH Alberta
ở Alberta, Canada Kết quả cho thấy các yếu tố quan trọng nhất liên quan đến sự ảnh hưởng của nghề nghiệp và CNHP chủ quan của NVCTXH bao gồm sự kết nối với môi trường, tổ chức mà họ làm việc, sự hài lòng với các hiệp hội nghề nghiệp
và sự hài lòng với khối lượng công việc Sau đó, tác giả tiến hành phỏng vấn 13 người có điểm CNHP chủ quan cao nhất Những người được hỏi báo cáo rằng điểm CNHP chủ quan cao một phần là kết quả của các cơ hội thực hành có sẵn liên quan đến nghề nghiệp, khả năng bản thân nhận ra ranh giới, giới hạn nghề nghiệp của họ
và nhận thức của bản thân về nghề nghiệp Kết quả cho thấy sự đa dạng trong phạm
vi thực hành của nghề nghiệp là quan trọng đối với NVCTXH Có nghĩa là loại công việc và các mức độ công việc trong thực hành CTXH đều tạo điều kiện tác động giúp cho CNHP chủ quan của cá nhân ở mức cao
Khi đề cập đến những người làm việc trong môi trường xã hội hoặc dịch vụ xã hội nói chung và NVCTXH nói riêng, một điều không thể phủ nhận rằng tình trạng kiệt sức nghề nghiệp có thể xảy ra Tỷ lệ căng thẳng và kiệt sức cao không chỉ đe dọa đến CNHP của các nhân viên công tác xã hội mà còn cả sự thành công trong công việc của họ với khách hàng (Kim & Stoner, 2008) Các nghiên cứu trước đây cho thấy những kỳ vọng, phá hủy xã hội (Gant và cộng sự, 1993), thành tích cá nhân trong công việc (Koeske và Koeske, 1993), xung đột vai trò (Um và Harrison, 1998), bất hòa về cảm xúc (Nelson và Merighi, 2003), tính không thực tế (Lev-Wiesel, 2003) có tác động trực tiếp đến tình trạng kiệt sức và căng thẳng ở nơi làm việc của NVCTXH Một minh chứng khác trong nghiên cứu của Evans và cộng sự (2006) cho thấy rằng, sức khỏe tinh thần của các NVCTXH ở Anh trong đó 47% người cho rằng họ có những trải nghiệm đau khổ Tương tự như vậy, Siebert (2006)
đã khảo sát trên 751 người là các NVCTXH tại Mỹ, kết quả ngiên cứu cho thấy tỷ lệ kiệt sức nghề nghiệp là 39% và tỷ lệ kiệt sức suốt đời là 75% Từ đó cho thấy, đối
Trang 22với các NVCTXH, sự hỗ trợ từ xã hội không đủ để cân bằng những trải nghiệm liên quan đến sự căng thẳng, kiệt sức (Himle và cộng sự, 1991), và không phải là yếu tố
dự đoán duy nhất có điểm số cao về mặt CNHP tâm lí tại nơi làm việc (Ben-Zur và Michael, 2007) Bên cạnh đó, nghiên cứu của các tác giả Ting, Jacobson & Sanders (2008) báo cáo rằng trong một nghiên cứu trên 285 NVCTXH, phần lớn trong số họ nói rằng các hệ thống hỗ trợ phổ biến nhất dành cho NVCTXH không được coi là hiệu quả trong việc ảnh hưởng tích cực đến CNHP Ví dụ, phần lớn nhân viên xã hội coi giám sát lâm sàng là một hệ thống hỗ trợ có sẵn và phổ biến nhưng cũng báo cáo rằng nó hầu như không hiệu quả (Ting, Jacobson & Sanders, 2008) Yliruka & Karvinen-Niinikoski (2013) đã khảo sát hiệu suất trong nghề CTXH Kết quả cho thấy, CNHP và hiệu suất công việc có mối quan hệ tương hỗ và đan xen nhau Yliruka & Karvinen-Niinikoski (2013) đã viết, “CNHP liên quan đến công việc được coi là yếu tố trung tâm của hiệu suất” Cuối cùng, các tác giả này kết luận rằng thực hành nghề nghiệp của NVCTXH phản ánh cách ứng phó với những thách thức nghề nghiệp của họ, từ đó dẫn đến tăng năng suất và hiệu quả trong công việc (Yliruka & Karvinen-Niinikoski, 2013) Lin, Yu, & Yi (2014) đã thực hiện một nghiên cứu định lượng để hiểu tác động của cảm xúc tích cực, sự phù hợp giữa con người với công việc và CNHP trong công việc Nghiên cứu này đưa ra kết quả cho thấy rằng CNHP có ảnh hưởng đến hiệu suất công việc, những nhân viên có CNHP tốt thì chất lượng công việc được cải thiện (Lin, Yu, & Yi, 2014) Shier và Graham (2013) nhận thấy rằng quy trình ra quyết định tại nơi làm việc, chất lượng và bản chất của các tương tác trong quản lí và giám sát ở các tổ chức, sự kỳ vọng tại nơi làm việc và khả năng tiếp cận các nguồn lực đầy đủ là những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên CNHP cho nhân viên xã hội
Như vậy, tổng quan về nghiên cứu nước ngoài cho thấy, các công trình nghiên cứu được tiến hành đo lường về mặt cảm xúc, sự hài lòng trong cuộc sống Nhìn chung, khi đo lường về mức độ CNHP sẽ tiến hành trên hai mặt nhận thức và cảm xúc Bên cạnh đó, các nghiên cứu xem xét các yếu tố ảnh hưởng và có liên quan đến CNHP của mỗi cá nhân
Trang 231.1.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước về cảm nhận hạnh phúc
Xu hướng nghiên cứu trên thế giới thay đổi qua từng thời kỳ, nắm bắt được xu hướng chung và sự tiến bộ của xã hội, các công trình nghiên cứu trong nước cũng bắt đầu tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau Sau đây là một số nghiên cứu trong nước về CNHP:
Tác giả Phan Thị Mai Hương với đề tài “ Cảm nhận hạnh phúc chủ quan của
người nông dân”, đăng trong tạp chí tâm lí học số 4/8/2014 Đây là công trình
nghiên cứu đầu tiên về CNHP tại Việt Nam Tác giả đã tiến hành khảo sát trên 427 gia đình nông dân tại 6 thị xã ở Hưng Yên, Sơn La, Bình Định và Thái Nguyên Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ hài lòng của người nông dân trong cuộc sống ở mức khá, cụ thể mức độ hài lòng trong cuộc sống nói chung là gần 70% Mặt khiến
họ hài lòng nhất là quan hệ gia đình, mặt ít hài lòng nhất là địa vị bản thân Mức hài lòng chung cũng như mức hài lòng riêng với từng mặt khác nhau trong cuộc sống
có sự khác biệt nhất định giữa các địa phương, giữa các nhóm mức sống, giữa nam
và nữ và giữa những người có mức học vấn khác nhau Nghiên cứu này cũng chỉ ra hai yếu tố chi phối mạnh nhất đến sự hài lòng là công việc và điều kiện sống của gia đình trong cuộc sống của người nông dân Dựa trên kết quả nghiên cứu có được, tác giả nhận định để người nông dân hạnh phúc, trước hết họ phải có việc làm, có thu nhập, đảm bảo điều kiện sống của gia đình Đối với nữ, họ cần được tạo điều kiện
để nâng cao năng lực cá nhân; với người già họ cần được quan tâm chăm sóc sức khỏe, củng cố vị trí trong quan hệ gia đình; với người có học vấn thấp, họ cần được tạo điều kiện để nâng cao trình độ, nâng cao năng lực và vị thế xã hội (Phan Thị Mai Hương, 2014)
Trong nghiên cứu của tác giả Trần Hoàng Diễm Ngọc, Nguyễn Thị Hương
Giang với đề tài: “Cảm nhận hạnh phúc cá nhân của người cao tuổi”, nghiên cứu
tập trung tìm hiểu CNHP như một chỉ báo về trạng thái tinh thần của người cao tuổi
và mối liên hệ của nó với sức khỏe thể chất Nghiên cứu tiến hành bằng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi với mẫu nghiên cứu là 341 người ở độ tuổi nữ từ 55 –
58, nam từ 60 – 63 Kết quả nghiên cứu cho thấy, đa số người cao tuổi cảm thấy hài lòng về các mặt khác nhau trong cuộc sống của bản thân, cụ thể, tỷ lệ hài lòng về
Trang 24gia đình ở mức cao nhất, tiếp theo là công việc và các mối quan hệ xã hội của người cao tuổi; đồng thời tồn tại mối liên hệ khắng khít giữa sức khỏe thể chất và tinh thần trong đời sống tinh thần của họ Bên cạnh đó, khi so sánh về CNHP theo giới tính cũng có sự khác biệt Nhìn chung, nam cao tuổi đều có chỉ số hạnh phúc tích cực hơn nữ mà trong nghiên cứu này có sự khác biệt cao nhất về giá trị hài lòng về công việc Song song đó mức độ hài lòng về tình hình kinh tế gia đình cũng có sự khá biệt lớn giữa những gia đình có con cái thành đạt và con cái không thành đạt Trên
cơ sở của kết quả khảo sát, một số đề xuất được nêu ra nhằm định hướng các hoạt động có ý nghĩa kết hợp tăng cường giao tiếp tạo sự gắn kết với các thành viên trong gia đình giúp người cao tuổi có một cuộc sống vui, khỏe, có ích
Trong nghiên cứu của tác giả Trương Thị Khánh Hà với đề tài “Thích ứng
thang đo hạnh phúc chủ quan dành cho vị thành niên” được đăng trên Tạp chí Tâm
lí học số 05/2015 Tác giả đã tiến hành thích ứng thang đo MHC – SF (Mental Health Continuum – Short Form) trên 861 khách thể từ 15 đến 18 tuổi, đang học ở các trường phổ thông trên các địa bàn Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu cho thấy: Thang đo Phổ sức khỏe tinh thần rút gọn MHC-SF (Mental Health Continuum – Short Form) phiên bản tiếng Việt, có thể sử dụng trong nghiên cứu mức độ hạnh phúc của thanh thiếu niên ở Việt Nam Thang đo có
độ tin cậy cao, có cấu trúc ba thành tố rõ ràng (hạnh phúc cảm xúc, hạnh phúc xã
hội, hạnh phúc tâm lí) Các nghiên cứu sau có thể sử dụng thang đo và tham khảo
các khoảng ĐTB cho các mức độ để so sánh với các nghiên cứu tiếp theo Kết quả nghiên cứu còn cho thấy CNHP của nhóm học sinh ở TP.HCM có mức độ cao nhất
và thấp nhất là nhóm học sinh ở Hà Nội (Trương Thị Khánh Hà, 2015a)
Tiếp theo sau đó, trong đề tài nghiên cứu của tác giả Trương Thị Khánh Hà:
“Cảm nhận hạnh phúc chủ quan của người trưởng thành”, Tạp chí Tâm lí học số
11/2015 Tác giả tiến hành khảo sát trên 1565 khách thể là người trưởng thành có
độ tuổi từ 26 đến 70 tuổi tại các địa bàn Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu sử dụng thang đo Phổ sức khỏe tinh thần rút gọn (Mental Health Continuum – Short Form) Kết quả nghiên cứu cho thấy, thang đo có thể sử dụng để đánh giá CNHP của người trưởng thành ở Việt Nam Thang đo có độ tin cậy cao, có
Trang 25cấu trúc ba thành tố rõ ràng và độ tin cậy bên trong mỗi thành tố chấp nhận được ở mức tốt Trong ba mặt CNHP thì CNHP ở mặt xã hội có ĐTB thấp nhất Bên cạnh
đó, khi so sánh CNHP chủ quan theo một số yếu tố như trình độ học vấn, mức sống, theo địa bàn có sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê Môi trường sống năng động, nhiều lựa chọn và những công việc được xã hội tôn trọng, thu nhập ổn định, có khả năng phát triển cũng làm cho con người cảm thấy hạnh phúc hơn (Trương Thị Khánh Hà, 2015b)
Trong nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Trang với đề tài: “Cảm nhận hạnh
phúc của sinh viên”, tác giả đã tiến hành khảo sát 555 sinh viên đang trực tiếp học
tập tại các trường đại học của 4 tỉnh, thành phố bao gồm : 188 sinh viên trung tâm nội thành Hà Nội, 187 sinh viên các trường nội và ngoại thành của Hải Phòng, 91 sinh viên Hà Giang và 89 Nghệ An đều học hệ tại chức tại trường đại học Khoa học
và Xã hội Nhân văn Hà Nội Tác giả đã sử dụng thang đo Phổ sức khỏe tinh thần rút gọn MHC-SF, kế thừa từ kết quả nghiên cứu của tác giả Trương Thị Khánh Hà Kết quả nghiên cứu được tác giả kết luận như sau: CNHP về mặt xã hội của nam sinh viên và nữ sinh viên thấp hơn CNHP chung Khi tiến hành so sánh CNHP giữa các nhóm tuổi kết quả cho thấy có sự khác biệt rõ nét giữa các nhóm tuổi thể hiện ở mức CNHP chung, trong đó nhóm tuổi 21-23 có mức cảm nhận thấp nhất, nhóm tuổi từ 32 tuổi đến 52 tuổi có mức cảm nhận cao nhất Sự khác biệt này cũng được tìm thấy ở cả ba mặt của CNHP, nhóm tuổi từ 21-23 vẫn có mức cảm nhận hạnh phúc thấp nhất và nhóm tuổi 32-52 ở mức cao nhất Khi so sánh CNHP của sinh viên ở các địa bàn thì kết quả sinh viên tại địa bàn Nghệ An cao hơn rất nhiều so với sinh viên tại địa bàn Hà Nội và Hải Phòng, riêng với địa bàn Hà Giang cũng có sự chênh lệch đáng kể với hai địa bàn này CNHP có mối tương quan với các nhóm cảm xúc Kết quả đánh giá cũng cho thấy các nhóm cảm xúc có mối tương quan mạnh với các mặt biểu hiên của CNHP Cá nhân tích cực và liên cá nhân tích cực có tương quan mạnh nhất đến các mặt biểu hiện CNHP của sinh viên Các sinh viên thường xuyên có cảm xúc tự tin, kiên quyết, chu đáo, niềm nở với mọi người xung quanh, khi giải quyết các vấn đề của bản thân thì sẽ dễ có CNHP
Trang 26cao hơn so với các bạn sinh viên thường xuyên thấy lo âu, chán nản, khổ sở, xấu hổ (Hoàng Thị Trang, 2015)
Tác giả Đặng Hoàng Ngân với nghiên cứu về: “Thích ứng thang đo cảm nhận
hạnh phúc tâm lí của Carol Ryff trên khách thể sinh viên”, đăng trên Tạp chí Tâm lí
học số 02/2017, tác giả đã tiến hành thích ứng thang đo CNHP tâm lí của Ryff (1989, phiên bản 84 mệnh đề) (Ryff’s Psychological Well-being Scales) để sử dụng trên khách thể Việt Nam Việc điều tra bảng hỏi được thực hiện hai lần, khoảng thời gian cách nhau là hai tuần trên cùng một nhóm khách thể Lần đầu tiên có 265 người tham gia trả lời bảng hỏi, lần thứ hai có 98 người tham gia trả lời bảng hỏi Kết quả cho thấy, với độ tin cậy là 0,943, tương quan giữa hai lần đánh giá (test-retest) 0.912 (p<0.001), sự tương quan hai nửa thang đo (split-half) cao (0.884 và 0.924; p<0.001) Kết quả phân tích nhân tố chỉ ra sáu nhóm yếu tố tương đương với
số lượng tiểu thang đo mà Ryff (1989) đề xuất Từ kết quả thu được tác giả đã rút ra kết luận như sau: thang đo CNHP tâm lí 84 mệnh đề của tác giả Caron D Ryff (1989) chuyển ngữ sang tiếng Việt có độ tin cậy cao Tiểu thang đo “Mối quan hệ tích cực” và tiểu thang đo “Phát triển bản thân” có hiệu lực tốt, có thể được sử dụng như những thang độc lập để đánh giá hai thành tố trong lí thuyết CNHP của tác giả Caron D Ryff (Đặng Hoàng Ngân, 2017)
Tác giả Lê Thị Linh Trang trong đề tài: “Cảm nhận hạnh phúc trong công
việc của người lao động tại Học viện Cán Bộ Thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí
Tâm lí học số 01/2018 Tác giả tiến hành khảo sát trên 69 khách thể là người lao động tại Học viện Nghiên cứu sử dụng thang đo hạnh phúc công việc với 18 mệnh
đề bao gồm các khía cạnh cảm xúc tiêu cực với công việc, cảm xúc tích cực với công việc, sự hài lòng với công việc và giá trị bản thân trong công việc Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhìn chung CNHP trong công việc của người lao động tại Học viện có cảm xúc xúc dương tính nổi trội hơn với 82,5%, ít có trải nghiệm cảm xúc
âm tính với tỷ lệ 11,2% Người lao động thường xuyên có hứng thú với công việc, cảm thấy có động lực, vui vẻ, thoải mái, nhưng đôi khi vẫn có sự bực bội và buồn chán Người lao động khẳng định phần lớn hoặc hoàn toàn tìm thấy sự hài lòng trong công việc hiện tại của mình với tỷ lệ 83,3% Có gần 90% số người thấy rằng
Trang 27phần lớn hoặc hoàn toàn tìm thấy ý nghĩa xã hội trong công việc, 75% nhận thấy giá trị bản thân trong công việc Như vậy cho thấy, các khía cạnh không tồn tại độc lập
mà song hành với nhau, bên cạnh đó cho thấy một bộ phận nhỏ người lao động chưa thấy CNHP trong môi trường làm việc hiện tại (Lê Thị Linh Trang, 2018)
Trong nghiên cứu của tác giả Hồ Tâm Đan với đề tài: “Cảm nhận hạnh phúc
của người làm tham vấn tâm lí tại thành phố Hồ Chí Minh” được tiến hành trên
khách thể là 63 người đang làm tham vấn tâm lí Tác giả sử dụng thang đo CNHP tâm lí của tác giả Caron D.Ryff (Ryff’s Psychological Well-Being Scales) với cấu
trúc 6 thành tố: sự tự chủ; làm chủ hoàn cảnh; phát triển bản thân; mối quan hệ
tích cực với người khác; mục tiêu sống và tự chấp nhận Kết quả nghiên cứu cho
thấy, CNHP của người làm tham vấn tâm lí ở mức khá, trong đó biểu hiện ở mặt phát triển bản thân có ĐTB cao nhất và biểu hiện ở mặt tự chủ có ĐTB thấp nhất Bên cạnh đó, có mối tương quan chặt chẽ giữa CNHP chung và mặt biểu hiện tự chấp nhận, mối tương tương quan giữa CNHP chung và lòng tự trọng cũng thể hiện
rõ rệt so với các yếu tố còn lại Nghiên cứu còn cho thấy có sự khác biệt giữa CNHP của người làm tham vấn tâm lí và thâm niên làm việc, thu nhập Không có
sự khác biệt về giới tính và độ tuổi (Hồ Tâm Đan, 2019)
Như vậy, ở Việt Nam hiện nay, những đề tài nghiên cứu về CNHP còn hạn chế, những khách thể đã được nghiên cứu qua bao gồm: sinh viên, người nông dân,
vị thành niên, người trưởng thành, người cao tuổi, người lao động, người làm tham vấn tâm lí Điều này cho thấy chưa có nghiên cứu nào ở Việt Nam nghiên cứu về
Trang 28Các lí thuyết hạnh phúc bắt nguồn từ những ý tưởng sơ khai ban đầu về một cuộc sống tốt đẹp (the good life) Các quan điểm triết học về hạnh phúc lần lượt được đưa ra với nhiều cách hiểu khác nhau: Quan điểm của Aristotle về hạnh phúc rằng, mục đích cuộc sống là sự hưng thịnh, một loại hạnh phúc gắn liền với một cách sống đức hạnh và tư duy thông thái Nhà triết học người Anh, John Lock (1632–1704), khi bàn về đạo đức, ông cho rằng “đạo đức học là nỗ lực tìm kiếm những quy tắc, thước đo và hành động của con người để dẫn đến hạnh phúc và những phương tiện để thực hiện chúng” Cụ thể về hạnh phúc, ông cho rằng hạnh phúc gắn liền với cái thiện và sự vui sướng Vui sướng dường như là động lực duy nhất của hoạt động con người Về mặt đạo đức, ông phân biệt giữa hạnh phúc và hạnh phúc đích thực, có loại hạnh phúc là kết quả của một ham muốn nào đó, và có loại hạnh phúc đích thực là kết quả của một loại ham muốn khác Ông cho rằng theo đuổi hạnh phúc đích thực là sự “hoàn thiện cao nhất của bản tính trí tuệ Một triết gia người cùng quê hương với ông là John Stuart Mill (1806-1873) lại tin rằng, hạnh phúc của các trải nghiệm khác nhau thì khác nhau cả về lượng và chất (Richard Layard, 2008)
Jeremy Bentham (1789- 1969), người sáng lập triết lí đạo đức của chủ nghĩa thực dụng, đã xem hạnh phúc là hệ quả của sự lựa chọn trong số các hành động thay thế Tuyên ngôn đạo đức nổi tiếng của ông về việc chọn hành động dẫn đến hạnh phúc minh họa cho quan điểm của ông về hạnh phúc Hạnh phúc là một trạng thái
mà mọi người trải nghiệm như là kết quả của hành động của chính mình hoặc của người khác Bertrand Russell (1930 - 1975), một triết gia và nhà đạo đức học, người đặt nền móng cho triết học phân tích đã khẳng định rằng những người trải nghiệm niềm vui khi thấy người khác hạnh phúc cũng trở nên hạnh phúc
Daniel Haybron (2000) chỉ ra sự khác biệt giữa ba khái niệm triết học về hạnh phúc bao gồm: hạnh phúc tâm lí, hạnh phúc thận trọng và hạnh phúc cầu toàn Hạnh phúc tâm lí có thể là một điều kiện cần nhưng không đủ của hạnh phúc thận trọng Hạnh phúc thận trọng đạt được khi một người đạt được trạng thái hạnh phúc cao, cả
về tinh thần và thể chất (Veenhoven, 2000) Hạnh phúc thận trọng là đang có một cuộc sống tốt đẹp Nó liên quan đến cả cảm giác hạnh phúc và hành động tạo ra sự
Trang 29phát triển cá nhân Hạnh phúc tâm lí là trải nghiệm cảm xúc tích cực theo thời gian
và liên quan đến cảm giác vui sướng Hạnh phúc cầu toàn là khi mỗi cá nhân có được những trải nghiệm tích cực về mặt cảm xúc và những điều đạt được trong đời sống đạo đức Bên cạnh đó, Osho, một nhà triết học hiện đại đã định nghĩa hạnh phúc không có nghĩa là thành công, cũng không phải sống trong hy vọng, hay cố gắng có được tiền bạc, quyền lợi danh tiếng Hạnh phúc là khi ta làm một điều gì đó
bằng ý thức, chứ không phải bằng ý chí Ông cho rằng “nếu bạn cố tìm kiếm hạnh
phúc, bạn sẽ không bao giờ đạt được Hạnh phúc là điều gì đó đang thực hiện Nó không phải là kết quả của một sự theo đuổi nào cả”
Nhìn chung, quan điểm về hạnh phúc của các nhà triết học đi theo một định hướng dựa trên sự nhận thức và trải nghiệm cảm xúc của bản thân trong các mặt của cuộc sống, tập trung vào bên trong của mỗi người Chính những quan điểm bước đầu được xây dựng từ các nhà triết học đã góp phần hình thành nên những quan điểm đa dạng của các nhà văn, nhà tâm lí học hiện đại ngày nay
Theo Philosopher V J McGill (1967), trong cuốn sách The Idea of Happiness, cho rằng hạnh phúc về cơ bản là tình trạng lâu dài, trong đó tỷ lệ thuận lớn nhất của
sự hài lòng đối với những mong muốn được hiện thực hóa Bradburn (1969) định nghĩa hạnh phúc là kết quả của sự cân bằng giữa cảm xúc tích cực và cảm xúc tiêu cực Wladyslaw Tatarkiewicz (1976) đã lập luận rằng hạnh phúc là sự hài lòng với mọi thứ trong cuộc sống của một người Một người hạnh phúc khi họ hoàn toàn hài lòng với hoàn cảnh hiện tại của cuộc sống, hoàn cảnh trong quá khứ và những hoàn cảnh tương lai, những kết quả tích cực trên các lĩnh vực của cuộc sống: công việc, mối quan hệ giữa các cá nhân và sức khỏe (Lyubomirsky, King và Diener 2005) Những người hạnh phúc được hưởng những lợi ích thuộc về nghề nghiệp của họ và giữa các cá nhân như tăng cường sự sáng tạo, nhìn nhận vấn đề rộng hơn, nhiều bạn
bè hơn và tỷ lệ ly hôn thấp hơn (Estrada, Isen, và Young 1994; Labroo và Patrick 2009; Lyubomirsky et al 2005b; Okun et al 1984) Những người hạnh phúc cũng thể hiện chức năng miễn dịch tốt hơn (Stone et al 1994), có nhiều năng lượng hơn (Csikszentmihalyi và Wong1991), và có xu hướng sống lâu hơn (Diener và Chan 2011) Trong một báo cáo tháng 11 năm 1995 về vấn đề của tâm lí học ngày nay,
Trang 30Mark Leavy cho rằng “chúng ta cảm thấy hạnh phúc nhất khi được người khác
chấp nhận và khen ngợi” Warburton (1996) cho rằng hạnh phúc là một cảm giác
dễ chịu về mặt sinh lí gây ra bởi các phản ứng hóa học thần kinh trong hệ thống dopamine để đáp ứng với các kích thích bên ngoài có các đặc tính bổ ích (ví dụ, thực phẩm, thuốc, và âm nhạc) Do đó, mọi người có khả năng tự nhiên để tăng hạnh phúc bằng cách trải nghiệm các kích thích kích hoạt giải phóng dopamine trong não - Hệ thống phần thưởng Hay tác giả Michael Lewis nói “hạnh phúc có thể được tạo ra bởi nhìn thấy một người quan trọng”, định nghĩa này được đăng trong phiên bản thứ 3 của “Sổ tay cảm xúc” (2000)
Các nhà xã hội học nhấn mạnh sự hài lòng của cuộc sống là chỉ số chính của hạnh phúc Nó được xem như là một phần của nhận thức, sự hài lòng của cuộc sống
đã được nhìn thấy để bổ sung cho hạnh phúc, khía cạnh tích cực hơn của chức năng tích cực (ví dụ, Andrew & McKennell, 1980; Andrews & Withey, 1976; Bryant & Veroff, 1982; Campbell, Converse, & Rodgers, 1976) King và Napa (1998) phát hiện ra rằng những người được hỏi nhận thấy hạnh phúc và ý nghĩa là yếu tố quyết định sự mong muốn của cuộc sống tốt đẹp Tương tự, một nghiên cứu định tính ở người trung niên và người cao tuổi cho thấy tầm quan trọng của việc hưởng thụ và thách thức đối với các quan niệm về hạnh phúc (Ryff, 1989b)
Theo Diener và Seligman (2004) cho rằng Hạnh phúc có thể có nghĩa là niềm vui, sự hài lòng trong cuộc sống, cảm xúc tích cực, một cuộc sống có ý nghĩa hoặc cảm giác mãn nguyện, (Diener và Seligman 2004) Martin Seligman, trong cuốn sách rất nổi tiếng Hạnh phúc đích thực (Seligman 2002), đã lập luận rằng hạnh phúc đích thực bắt nguồn từ ba trải nghiệm chính trong cuộc sống, đó là trải nghiệm sự
dễ chịu thường xuyên (the pleasant life), trải nghiệm mức độ tham gia cao trong các hoạt động (the engaged life) và trải nghiệm cảm giác kết nối với một tổng thể lớn hơn trong cuộc sống (the meaningful life) Theo ông, hạnh phúc được định nghĩa là những trải nghiệm cảm xúc tích cực, sự gắn kết và có ý nghĩa trong cuộc sống Sau
đó ông đã bổ sung thêm vào lí thuyết của bản thân bằng mô hình 5 thành tố hay còn gọi là mô hình Perma Mô hình bao gồm các yếu tố sau: cảm xúc tích cực, sự gắn kết, mối quan hệ tích cực, ý nghĩa cuộc sống và thành tựu
Trang 31Feldman (2010) đã đưa ra một định nghĩa rằng hạnh phúc về cơ bản là một trạng thái của niềm vui (chủ nghĩa khoái lạc về hạnh phúc) mà một người có trong mọi thứ của cuộc sống Do đó, để hạnh phúc là tìm thấy niềm vui trong mọi việc; mức độ mà một người có được niềm vui trong mọi thứ càng lớn, người ta càng hạnh phúc (trừ đi sự không hài lòng trong mọi thứ) Các nghiên cứu gần đây cho thấy các hoạt động chia sẻ tạo ra hạnh phúc lớn hơn các hoạt động cá nhân (Caprariello và Reis 2013); các hoạt động đặc biệt tạo ra hạnh phúc lớn hơn các hoạt động thông thường ở những người trẻ tuổi (Bhattacharjee và Mogilner 2014); các hoạt động thú
vị tạo ra hạnh phúc lớn hơn ở những người trẻ tuổi, trong khi các hoạt động bình tĩnh tạo ra hạnh phúc lớn hơn ở những người lớn tuổi (Mogilner et al 2011, 2012); các hoạt động kết nối xã hội, như giao tiếp xã hội và thân mật, tạo ra hạnh phúc lớn hơn các hoạt động công việc (Kahneman et al 2004; Mogilner 2010); và các hoạt động tự chọn tạo ra hạnh phúc lớn hơn các hoạt động áp đặt (Ransford và Palisi 1996)
Chúng ta nhìn thấy rằng, các định nghĩa mặc dù diễn đạt khác nhau, đề cập đến các góc nhìn riêng biệt và khác nhau về hạnh phúc, nhưng tụ chung có những điểm như sau:
- Hạnh phúc là một trạng thái tâm lí
- Hạnh phúc là sự hài lòng của một cá nhân trong các mặt của cuộc sống
- Hạnh phúc là những trải nghiệm cảm xúc tích cực của cá nhân trong cuộc sống
Như vậy, chúng ta thấy rằng, mặc dù thuật ngữ hạnh phúc có rất nhiều quan điểm và cách định nghĩa khác nhau, song một thực tế cho thấy nó vẫn có sự nối tiếp dựa trên xuất phát điểm ban đầu của các nhà triết học từ rất lâu Các quan điểm đề cao sự hài lòng và những trải nghiệm về mặc cảm xúc của mỗi cá nhân Tuy mỗi quan điểm khác nhau nhưng không đối lập hay bác bỏ ý kiến khác mà lại hỗ trợ cung cấp thêm cho các nhà nghiên cứu những góc nhìn mới để tìm hiểu về khái niệm này
Trang 32b) Lí luận về cảm nhận hạnh phúc
Khái niệm cảm nhận hạnh phúc
CNHP được tiếp cận theo hai hướng chính: CNHP khoái lạc (hedonic being) và CNHP hưng thịnh (eudaimonia well-being) Hiện nay, khi tiến hành nghiên cứu về CNHP, các nhà nghiên cứu nhận thấy những khó khăn và có nhiều cách tiếp cận khác nhau để hiểu khái niệm này Trong giới hạn, nghiên cứu chỉ tập trung vào quan điểm CNHP chủ quan (Subjective well-being) của tác giả Corey L
well-M Keyes
Trước hết, chúng ta sẽ làm rõ hướng nghiên cứu chính của hai cách tiếp cận về CNHP Theo cách tiếp cận chủ nghĩa khoái lạc, CNHP là kết quả của việc tránh đau đớn và tìm kiếm niềm vui Ngược lại, cách tiếp cận theo chủ nghĩa hưng thịnh, CNHP nảy sinh khi con người hoạt động và tương tác trong xã hội, một cách tiếp cận nhấn mạnh vào những mưu cầu phi vật chất như mối quan hệ giữa các cá nhân
và động lực nội tại (Deci và Ryan 2001) Nhiều nhà nghiên cứu về chất lượng cuộc sống đã nắm bắt được khái niệm về CNHP chủ quan bằng cách đo lường hai loại cảm xúc tích cực và tiêu cực, sau đó tổng hợp điểm số để đưa ra chỉ số về CNHP chủ quan (ví dụ: Bradburn, 1969; Chamberlain, 1988; Diener & Emmons, 1984; Diener, Sandvik, Seidlitz, & Diener, 1993; Diener, Smith, & Fujita, 1995; Headey, Kelley, & Wearing, 1993; Kim & Mueller, 2001; Lucas, Diener & Suh, 1996; Watson, Clark, & Tellegen, 1988) Đó là, một người có mức độ CNHP chủ quan cao là người có ưu thế về cảm xúc tích cực (như sự hài lòng hoặc niềm vui) hơn là cảm xúc tiêu cực (như buồn bã, trầm cảm, lo lắng hoặc tức giận) Chủ nghĩa khoái lạc được tái hiện trong dòng nghiên cứu CNHP chủ quan về mặt cảm xúc Chủ nghĩa hưng thịnh thể hiện mối quan tâm của con người với việc phát triển khả năng
và năng lực để trở thành công dân hoàn thiện Chủ nghĩa này được tái hiện trong dòng nghiên cứu về CNHP tâm lí (Ryff 1989) và CNHP về mặt xã hội (Keyes 1998) Qua đó, phản ánh cách các cá nhân nhìn nhận bản thân như thế nào trong cuộc sống, phấn đấu để đạt được các tiêu chuẩn như mục đích, đóng góp, hòa nhập, thân mật , chấp nhận, và làm chủ CNHP chủ quan bị đánh đồng và có sự nhầm lẫn với hạnh phúc khoái lạc thông qua các đo lường của cảm xúc tích cực và sự hài lòng
Trang 33trong cuộc sống (Kahneman, Diener, & Schwartz, 1999) Tóm lại, CNHP chủ quan bao gồm hai hướng tiếp cận: một hướng tập trung vào cảm xúc đối với cuộc sống (khoái lạc, hạnh phúc cảm xúc (emotional well being) và một hướng còn lại tập trung vào chức năng trong cuộc sống (hạnh phúc hưng thịnh ( Keyes, Shmotkin, & Ryff, 2002))
Cần phải thừa nhận rằng có nhiều quan điểm khác nhau về các khía cạnh của CNHP Nhà triết học Aristotle đã sử dụng thuật ngữ “eudaimonia” (thường được dịch là '' hạnh phúc '',) để mô tả một cuộc sống sung túc, tuy nhiên ở đây chúng ta
có thể hiểu thuật ngữ đề cập đến chủ nghĩa khoái lạc (Thomson, 1953) Các nhà nghiên cứu chịu ảnh hưởng của Aristotle đã ủng hộ định nghĩa về CNHP theo chủ nghĩa khoái lạc và đề xuất khái niệm CNHP không chỉ bao gồm sự hài lòng trong cuộc sống và cảm xúc tích cực, mà còn cả mục đích sống, sự tự chủ, chấp nhận bản thân, gắn kết và một cảm giác tràn đầy sức sống (Ryff & Singer, 1998; Ryan & Deci, 2001) Một số nhà nghiên cứu cho rằng ý nghĩa của cuộc sống (Steger, Kawabata, Shimai, & Otake, 2008) và công việc có ý nghĩa, hay còn gọi là (Wrzesniewski, McCauley, Rozin, & Schwartz, 1997) là những thành phần quan trọng của một cuộc sống tốt đẹp Một loạt các định nghĩa có liên quan về hạnh phúc cho rằng đó là sự thỏa mãn hài hòa giữa mong muốn và mục tiêu của một người
(Chekola, 1975) Shin và Johnson (1978) đã định nghĩa CNHP chủ quan là “sự
đánh giá toàn diện về chất lượng cuộc sống của một người theo các tiêu chí đã chọn của chính họ” Giáo sư tâm lí học người Mỹ Diener đã đưa ra nhận định của
mình trên tạp chí Psychology Bulletin vào năm 1984, ông cho rằng CNHP chủ quan gồm có 3 yếu tố: sự hài lòng trong cuộc sống, cảm xúc tích cực, cảm xúc tiêu cực
(Diener, 1984) Theo Ryff thì CNHP chủ quan là “sự đánh giá của các cá nhân về
chất lượng cuộc sống, về kinh nghiệm, thành tựu, mối quan hệ và các giá trị có liên quan đến văn hóa khác nhau trong chức năng sống” (Ryff, 1989) Lucas và Smith
(1999) đã định nghĩa CNHP chủ quan là một phạm trù rộng lớn bao gồm các phản ứng cảm xúc, các khía cạnh của sự hài lòng và đánh giá toàn diện về sự hài lòng của cuộc sống Đồng quan điểm với Diener và các cộng sự về việc đưa ra thang đánh giá về CNHP chủ quan dựa trên sự đánh giá của mỗi người về sự hài lòng trong
Trang 34cuộc sống nói chung và hài lòng trong các mặt khác nói riêng, tác giả Corey L.M Keyes nhấn mạnh và bổ sung thêm yếu tố CNHP về mặt xã hội trong tổng thể CNHP chủ quan của một cá nhân Tác giả cho rằng mặc dù các nhà nghiên cứu tập trung vào các đặc điểm riêng của CNHP nhưng cá nhân vẫn gắn liền với các cấu trúc xã hội và cộng đồng, đồng thời phải đối mặt với vô số nhiệm vụ và thách thức trong xã hội Vì vậy, khi xét CNHP chủ quan của một cá nhân cần phải xét trên tổng thể cả ba mặt biểu hiện bao gồm cảm xúc, tâm lí và xã hội
Keyes (1998, 2002) định nghĩa CNHP chủ quan là “sự phản ánh nhận thức và
đánh giá của cá nhân với cuộc sống của bản thân, về các trạng thái cảm xúc, các chức năng tâm lí và chức năng xã hội được hoạt động” Theo quan điểm của tác giả
Keyes, CNHP chủ quan được hiểu là sự khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các trạng thái cảm xúc tích cực và hoạt động tốt của các chức năng tâm lí và chức năng xã hội trong cuộc sống Trong bốn mươi năm nghiên cứu về CNHP chủ quan
đã mang lại một bảng phân loại các triệu chứng sức khỏe tinh thần bao gồm CNHP
về mặt cảm xúc và chức năng của CNHP (Keyes, Shmotkin, & Ryff, 2002; Keyes
& Waterman, 2003) Tác giả cho rằng, CNHP chủ quan bao gồm 3 thành tố riêng biệt: CNHP về mặt cảm xúc, CNHP về mặt tâm lí và CNHP về mặt xã hội như sau:
- CNHP về mặt cảm xúc:
CNHP về mặt cảm xúc bảo gồm cảm xúc tích cực (chỉ sự thường xuyên có những cảm xúc vui vẻ, có tinh thần tốt, sung túc, tĩnh lặng và yên bình , hài lòng và tràn đầy sức sống), hạnh phúc (cảm thấy hạnh phúc về quá khứ hoặc về cuộc sống hiện tại nói chung hoặc trong các lĩnh vực của cuộc sống), sự hài lòng trong cuộc sống (cảm giác hài lòng hoặc hài lòng với cuộc sống trong quá khứ hoặc hiện tại nói chung hoặc trong lĩnh vực cuộc sống)
- CNHP về mặt tâm lí:
Tác giả Ryff (1989) cho rằng khái niệm CNHP bao hàm cả hạnh phúc trong cuộc sống Ngoài ra, CNHP chủ quan bao gồm các thước đo về hoạt động tích cực trong cuộc sống Kể từ khi Ryff’s (1989) vận hành các quan niệm về lí thuyết nhân cách và lâm sàng về hoạt động tích cực (Jahoda, 1958), lĩnh vực này đã hướng tới một loạt các thước đo tâm lí tốt hơn Hoạt động tích cực bao gồm sáu khía cạnh: tự
Trang 35chấp nhận, quan hệ tích cực với người khác, phát triển cá nhân, mục tiêu sống, làm chủ hoàn cảnh và sự tự chủ (Keyes & Ryff, 1999) Các cá nhân khỏe mạnh về mặt tinh thần khi họ thích tất cả các mặt tốt lẫn mặt xấu của bản thân, có mối quan hệ tin cậy ấm áp, thấy bản thân phát triển thành người tốt hơn, có định hướng trong cuộc sống, có khả năng định hình thế giới để thỏa mãn nhu cầu của họ và có mức độ tự quyết định Các thang đo về CNHP tâm lí là đáng tin cậy và xác thực (Ryff, 1989); cấu trúc sáu yếu tố giả thuyết đã được xác nhận trong một mẫu lớn và đại diện là người trưởng thành tại Hoa Kỳ (Ryff & Keyes, 1995)
- CNHP về mặt xã hội:
Keyes (1998) cho rằng chức năng hoạt động tích cực bao gồm nhiều hơn CNHP về mặt tâm lí Chức năng hoạt động tốt trong cuộc sống bao gồm những thách thức và nhiệm vụ của một cá nhân trong xã hội sẽ phản ánh CNHP về mặt xã hội của một người (Keyes, 1998) CNHP về mặt xã hội là hình ảnh thu nhỏ của các tiêu chí trong cộng đồng và xã hội, theo đó mọi người đánh giá hoạt động của họ trong cuộc sống Các khía cạnh xã hội này bao gồm sự gắn kết xã hội, hiện thực hóa
xã hội, hòa nhập xã hội, sự chấp nhận xã hội và đóng góp xã hội Các cá nhân khỏe mạnh về mặt tinh thần khi họ xem cuộc sống xã hội là có ý nghĩa và dễ hiểu, khi họ thấy xã hội có tiềm năng phát triển, khi họ cảm thấy họ thuộc về cộng đồng của họ,
có thể chấp nhận tất cả các thành phần của xã hội và khi họ xem cuộc sống của họ
là đóng góp cho xã hội Các thang đo mức độ CNHP về mặt xã hội đã cho thấy giá trị xây dựng tốt và tính nhất quán nội bộ, và cấu trúc năm yếu tố đã được xác nhận trong hai nghiên cứu về các mẫu đại diện của người lớn ở Hoa Kỳ (Keyes, 1998;
Keyes & Shapiro)
Trong nghiên cứu này, người nghiên cứu chọn khái niệm CNHP là:
Cảm nhận hạnh phúc là sự nhận định và đánh giá của cá nhân về các trạng thái cảm xúc tích cực, khả năng tham gia hoàn chỉnh của bản thân vào công việc
và cuộc sống thông qua sự tự chủ, làm chủ hoàn cảnh, phát triển cá nhân, có các mối quan hệ tích cực,có mục tiêu sống, tự chấp nhận bản thân và chấp nhận xã hội,có sự gắn kết xã hội, hòa nhập xã hội, hiện thực hóa xã hội, đóng góp xã hội
Trang 36 Cấu trúc cảm nhận hạnh phúc theo quan điểm của Corey L M Keyes
Theo Keyes (2002), tác giả cho rằng có lẽ có rất ít bằng chứng cho thấy CNHP
về mặt xã hội, CNHP về mặt cảm xúc, CNHP về mặt tâm lí là ba mặt biểu hiện sức khỏe tinh thần của một cá nhân Tuy nhiên, tác giả lập luận rằng các bác sĩ phẫu thuật nói chung đã định nghĩa về sức khỏe tinh thần bao gồm các tiêu chí cụ thể như
"hoạt động sản xuất", "mối quan hệ thỏa mãn" và "khả năng thích ứng với sự thay đổi", tất cả đều ngụ ý sự tham gia hoàn chỉnh của một cá nhân vào cuộc sống và xã hội Các đánh giá của CNHP về mặt cảm xúc thường xác định sự hài lòng hoặc cảm xúc tích cực của một cá nhân đối với "cuộc sống nói chung", nhưng hiếm khi xác định các khía cạnh của cuộc sống xã hội của họ Các chiều kích của CNHP về mặt tâm lí là những phản ánh nội tâm và sự điều chỉnh về cách nhìn của một cá nhân trong cuộc sống của họ, phản ánh khả năng xây dựng và duy trì các mối quan hệ thân mật và tin cậy giữa các cá nhân Ở nghiên cứu cá nhân của tác giả, ông cho rằng sự điều chỉnh của một cá nhân đối với cuộc sống bao gồm các khía cạnh liên quan đến CNHP về mặt xã hội (Keyes 1998) Các phân tích nhân tố cho thấy rằng các đánh giá về sức khỏe tinh thần hình thành dựa trên ba yếu tố tương quan nhưng khác biệt: CNHP về mặt cảm xúc, CNHP về mặt tâm lí và CNHP về mặt xã hội Vì vậy, theo quan điểm của tác giả Keyes thì CNHP chủ quan của một người cần hội tựu 3 thành tố như sau:
CNHP về mặt cảm xúc (emotional well-being) là một nhóm các biểu hiện
phản ánh sự hiện diện hoặc không có của cảm giác tích cực về cuộc sống Các biểu hiện của CNHP về mặt cảm xúc được xác định từ phản ứng của mỗi cá nhân đối với các thang đo có cấu trúc đo lường sự hiện diện của cảm xúc tích cực (ví dụ: cá nhân
có tinh thần tốt), sự vắng mặt của cảm xúc tiêu cực (ví dụ: cá nhân không phải là vô vọng) và sự hài lòng về cuộc sống Các đánh giá về sự thể hiện CNHP cảm xúc về mặt cảm xúc tích cực và cảm xúc tiêu cực có liên quan nhưng các khía cạnh khác nhau (Bradbur 1969; Watson và Tellegen 1985)
CNHP về mặt tâm lí (psychological well-being): Ryff và Keyes (1995) đã
sử dụng dữ liệu từ nhiều nghiên cứu để điều tra mối liên quan giữa CNHP chủ quan
và CNHP tâm lí Mỗi chiều của CNHP tâm lí cho thấy những thách thức khác nhau
Trang 37mà các cá nhân gặp phải khi họ cố gắng hoàn thành những chức năng tích cực (Ryff, 1989a; Ryff & Keyes, 1995):
Tự chấp nhận (self-acceptance): Ý thức chấp nhận bản thân là tiêu chí xuất
hiện thường xuyên trong các quan điểm trước đây về CNHP Các lí thuyết nhấn mạnh đặc điểm của sự trưởng thành, luôn giữ thái độ tích cực với bản thân, khả năng thừa nhận nhiều khía cạnh của bản thân, chấp nhận cả những phẩm chất tích
cực và tiêu cực trong một tổng thể cân bằng về khả năng của một người
Mối quan hệ tích cực với người khác (positive relations with others): các lí
thuyết trước đây nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ nồng ấm, tin cậy giữa các cá nhân Những người được mô tả là có mối quan hệ tích cực với người khác là người có sự đồng cảm mạnh mẽ đối với mọi người, có khả năng yêu thương, tình bạn sâu sắc Mối quan hệ ấm áp với người khác được coi là tiêu chí của sự trưởng thành Các lí thuyết về giai đoạn phát triển của người trưởng thành cũng nhấn mạnh đến việc đạt được sự gắn kết (sự thân thiết) và sự hướng dẫn của những người khác (tính chung chung) Vì vậy, tầm quan trọng của mối quan hệ tích cực với người khác được nhấn mạnh nhiều lần trong những quan niệm về CNHP tâm lí
Làm chủ hoàn cảnh (environmental mastery): Khả năng của cá nhân trong
việc lựa chọn hoặc tạo ra môi trường phù hợp với bản thân, đòi hỏi khả năng thao tác và kiểm soát các môi trường phức tạp Những lí thuyết trước đây nhấn mạnh khả năng của một người để thăng tiến và thay đổi một cách sáng tạo thông qua các hoạt động thể chất hoặc tinh thần trong cuộc sống Kết quả về mặt tuổi tác cũng nhấn mạnh mức độ mà cá nhân tận dụng các cơ hội từ môi trường Những quan điểm tổng hợp này cho thấy rằng sự tham gia tích cực và làm chủ môi trường là những thành phần quan trọng của một khuôn khổ tích hợp của chức năng tâm lí tích cực
Quyền tự chủ (autonomy): các tài liệu trước đây nhấn mạnh đáng kể vào các
phẩm chất như quyền tự quyết, tính độc lập và sự điều chỉnh hành vi từ bên trong Quyền tự chủ được thể hiện qua việc cá nhân có cơ sở đánh giá bản thân, không nhìn vào người khác để phê duyệt mà theo tiêu chuẩn cá nhân Cá nhân không còn bám vào nỗi sợ hãi tập thể, lợi ích Quá trình hướng nội mang lại cho cá nhân cảm
giác tự do khỏi những chuẩn mực chi phối cuộc sống hàng ngày
Trang 38Mục tiêu trong cuộc sống (purpose in life): bao gồm những niềm tin mang
lại cho cá nhân cảm giác có mục đích và ý nghĩa đối với cuộc sống, sự hiểu biết rõ ràng về mục đích định hướng trong cuộc sống Các lí thuyết về phát triển cũng đề cập đến nhiều mục đích hoặc mục tiêu thay đổi trong cuộc sống, chẳng hạn như năng suất và sự sáng tạo hoặc sự hài hòa về mặt cảm xúc trong cuộc sống sau này
Do đó, một người hoạt động tích cực có mục tiêu, ý thức về phương hướng, tất cả đều góp phần tạo ra cảm giác cuộc sống có ý nghĩa
Phát triển bản thân (personal growth): cá nhân nhận thức được tiềm năng
của bản thân, luôn mong muốn phát triển bản thân, sẵn sàng cởi mởi để trải nghiệm Tận dụng tối đa tài năng và năng lực của bản thân, có cái nhìn sâu sắc về tiềm năng của bản thân để tiếp tục phát triển, tăng trưởng cá nhân Các lí thuyết trước đây cũng nhấn mạnh rõ ràng đến sự phát triển liên tục và đối mặt với những thách thức hoặc nhiệm vụ mới ở các giai đoạn khác nhau trong cuộc đời Do đó, việc tiếp tục phát triển và nhận thức bản thân là một chủ đề nổi bật trong các lí thuyết nói trên Phát triển bản thân có thể là hướng tiếp cận CNHP gần nhất với khái niệm
“eudaimoniac” của Aristotle
Trong khi CNHP tâm lí được khái niệm như một hiện tượng chủ yếu tập trung vào những thách thức mà cá nhân gặp phải trong đời sống cá nhân, thì CNHP xã hội đại diện cho trải nghiệm phổ biến tập trung vào các nhiệm vụ xã hội mà các cá nhân gặp phải trong cấu trúc xã hội của họ và cộng đồng CNHP xã hội bao gồm năm yếu
tố cho biết liệu các cá nhân đang hoạt động tốt ở mức độ nào trong cuộc sống xã hội của họ (ví dụ như là hàng xóm, đồng nghiệp và là công dân) (Keyes 1998)
CNHP về mặt xã hội (Social well-being) bắt nguồn từ mối quan tâm xã hội
học đối với các cá nhân và sự tha hóa trong xã hội, đó là những chủ đề kinh điển trong các tác phẩm của Emile Durkheim và Karl Marx Rút ra từ các nguồn gốc lí thuyết, Keyes (1998) đã phát triển nhiều khía cạnh hoạt động của CNHP hạnh phúc
xã hội đại diện cho những thách thức mà cá nhân phải đối mặt với tư cách là thành viên, nhóm, tổ chức và cộng đồng Theo tác giả, CNHP xã hội là sự đánh giá về hoàn cảnh và chức năng của một người trong xã hội Ông đã đề xuất và mô tả một
Trang 39số thách thức xã hội tạo ra qua năm khía cạnh có thể có của CNHP về mặt xã hội như sau:
Hòa nhập xã hội (Social integration) là sự đánh giá chất lượng mối quan hệ
của một người với xã hội và cộng đồng Hòa nhập xã hội dựa trên quan niệm về sự gắn kết xã hội (Durkheim), sự ghẻ lạnh xã hội, cô lập xã hội (Seeman), và ý thức giai cấp (Marx) Theo quan điểm của Durkheim, sự gắn kết xã hội và sức khỏe phản ánh mối liên hệ giữa các cá nhân với nhau thông qua các chuẩn mực và thể hiện lòng yêu thích của họ đối với xã hội Theo Seeman (1959, 1983, 1991; cũng xem Merton 1949), sự ghẻ lạnh về xã hội là sự tách biệt bản thân khỏi xã hội Xa lánh là
sự từ chối của xã hội hoặc nhận ra rằng xã hội không phản ánh giá trị và lối sống của bản thân Cô lập xã hội là sự phá vỡ các mối quan hệ cá nhân mang lại ý nghĩa
và sự hỗ trợ Giống như quan niệm của Marx về ý thức giai cấp, hòa nhập xã hội kéo theo sự hiểu biết số phận của bản thân với tư cách là thành viên trong tập thể
Do đó, sự hòa nhập là mức độ mà mọi người cảm thấy họ có điểm chung với những người khác (ví dụ, khu vực lân cận của họ), mức độ mà họ cảm thấy rằng họ thuộc
về cộng đồng và xã hội Cá nhân cảm thấy gần gũi và có được sự thoải mái từ những người khác trong cộng đồng thì sẽ cảm thấy rằng họ sống trong một môi trường lành mạnh và có sức sống Người trưởng thành hòa nhập vào xã hội có khả năng tình nguyện duy trì khu phố của họ vì họ cảm thấy hành động của họ sẽ được người khác coi trọng và vì họ muốn duy trì chất lượng của khu phố
Đóng góp xã hội (Social contribution) là sự đánh giá giá trị của bản thân đối
với xã hội Nó bao gồm niềm tin rằng mỗi người là một thành viên quan trọng của
xã hội, với mọi thứ có giá trị để cho đi trong cuộc sống Đóng góp xã hội giống như các khái niệm về khả năng và trách nhiệm Khả năng của bản thân được hiểu là niềm tin của một người rằng họ có thể thực hiện một số hành vi nhất định (Bandura 1977) và có thể hoàn thành các mục tiêu cụ thể (Gecas 1989) Trách nhiệm xã hội là chỉ sự chỉ định các nghĩa vụ cá nhân có thể đóng góp cho xã hội Đóng góp xã hội phản ánh cho dù ở mức độ nào đi nữa nếu mọi người cảm thấy rằng bất cứ điều gì
họ làm trên thế giới đều được xã hội coi trọng và đóng góp cho cộng đồng Cấu trúc này phù hợp với luận điểm của Marx rằng mỗi người có năng suất tự nhiên (Israel
Trang 401971) Sự xa lánh làm giảm giá trị cảm nhận của cuộc sống và các hoạt động hàng ngày Tương tự, sự phát triển của đóng góp xã hội là động cơ và hành vi khái quát Theo Erikson (1950), midlife là giai đoạn người trưởng thành có thể hành động theo mong muốn đóng góp cho xã hội bằng cách thúc đẩy thế hệ tiếp theo trở thành những thành viên có ích của xã hội (ví dụ, bằng cách cố vấn)
Sự gắn kết xã hội (Social coherence) là nhận thức về chất lượng, tổ chức và
hoạt động của cuộc sống xã hội, và nó bao gồm một mối quan tâm để biết về thế giới Sự gắn kết xã hội tương tự như ý nghĩa trong cuộc sống liên quan đến việc đánh giá rõ ràng, hợp lí và có thể dự đoán được trong xã hội Những người khỏe mạnh không chỉ quan tâm đến nơi họ đang sống mà còn cảm thấy rằng họ có thể hiểu những gì đang xảy ra xung quanh họ Ý thức về sự gắn kết cá nhân, theo Antonovsky (1994), có thể là một dấu hiệu của sức khỏe tinh thần: những cá nhân
cố gắng duy trì sự gắn kết khi phải đối mặt với những sự kiện cuộc sống khó lường trước và những đau thương Những người như vậy không ảo tưởng rằng họ sống trong một thế giới hoàn hảo; họ đã duy trì hoặc thúc đẩy mong muốn có ý nghĩa của cuộc sống Sự gắn kết xã hội liên quan đến việc đánh giá xã hội rõ ràng, hợp lí và có thể dự đoán được về mặt tâm lí Tóm lại, các quan điểm bắt nguồn từ triết học, lí thuyết tâm lí xã hội và phân tích văn hóa lập luận để nhấn mạnh bản chất của xã hội bình đẳng là hạnh phúc của mỗi cá nhân Các chủ đề về hội nhập, sự tham gia của
xã hội và ý thức cộng đồng trong lí thuyết xã hội học cổ điển, được nhắc lại trong các quan niệm tâm lí về bản thân trong xã hội, cho thấy những thách thức trong xã hội mà người lớn phải đối mặt
Hiện thực hóa xã hội (Social actualization) là sự đánh giá tiềm năng và quỹ
đạo của xã hội Đây là niềm tin vào sự phát triển của xã hội và ý thức rằng xã hội có một tiềm năng đang được hiện thực hóa thông qua các tổ chức và công dân trong xã hội đó Những người khỏe mạnh hy vọng về điều kiện và tương lai họ có thể nhận
ra tiềm năng của xã hội Những người khỏe mạnh hơn về mặt xã hội có thể hình dung rằng họ và những người như họ là những người hưởng tiềm năng và lợi ích của sự phát triển xã hội Việc đánh giá tiến bộ xã hội phù hợp với cách giải thích của Srole (1956) về sự bất thường của xã hội thông qua việc đánh giá tiềm năng của