Lịch sử nghiên cứu đề tài Tiếp xúc văn hóa Nhật Bản – Trung Quốc trong lịch sử, đặc biệt là ở giai đoạn từ thế kỷ VI đến đầu thế kỷ XX được các nhà nghiên cứu Trung Quốc, Nhật Bản và nhi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ THẾ GIỚI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRỊNH TIẾN THUẬN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2020
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trượng Thị Ngoan
Trang 4Để hoàn thành được Luận văn này tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến: Quý Thầy Cô Khoa Lịch sử, Phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Trong quá trình học tập, tôi đã nhận được từ quý Thầy
Cô những hướng dẫn tận tình trong nghiên cứu khoa học Lịch sử, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm… Quý Thầy Cô là những hình mẫu về tinh thần nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học và tận tâm trong giảng dạy
TS Trịnh Tiến Thuận, người hướng dẫn khoa học Trong quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được từ Thầy sự hướng dẫn tận tình, cẩn trọng và tinh thần nghiêm túc, trung thực trong nghiên cứu khoa học
Gia đình, những người đã động viên, giúp đỡ và tạo cho tôi điều kiện tốt nhất để có thể theo đuổi con đường học vấn của tôi
Gửi lời cảm ơn đến các bạn Khóa 29 đã cùng tôi học tập trao đổi và đôn thúc nhau hoàn thành tốt các nội dung học trên trường và trong quá trình làm Luận văn đã giúp đỡ và tạo thêm động lực để tôi hoàn thành tốt đúng hạn
TP Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2020
Trang 5Lời cảm ơn Lời cam đoan
MỞ
ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài 3
2.1 Các nhà nghiên cứu Trung Quốc 3
2.2 Các nhà nghiên cứu Nhật Bản 4
2.3 Các nhà nghiên cứu Việt Nam 4
2.4 Các nhà nghiên cứu phương Tây 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
3.1. Đối tượng nghiên cứu: 6
3.2. Phạm vi nghiên cứu: 7
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4.1. Mục đích nghiên cứu 7
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 8
5.1. Nguồn tài liệu 8
5.2. Phương pháp nghiên cứu 9
6. Đóng góp mới đề tài 9
Trang 61.1. Khái niệm văn hóa và giao lưu văn hóa 12
1.1.1 Khái niệm văn hóa 12
1.1.2 Tiếp xúc và giao lưu văn hóa 14
1.2.Con đường tiếp xúc văn hóa Nhật Bản – Trung Quốc (tk VI đến đầu tk XX) 15
1.2.1 Điều kiện tự nhiên của Trung Quốc 15
1.2.2 Điều kiện tự nhiên của Nhật Bản 17
1.2.3 Nguyên nhân tiếp xúc 18
1.2.4 Những con đường tiếp xúc văn hóa Nhật Bản – Trung Quốc trong lịch sử 20
Tiểu kết chương 1 23
CHƯƠNG 2 SỰ TIẾP XÚC VĂN HÓA NHẬT BẢN – TRUNG QUỐC ( TK VI – ĐẦU TK X) 24
2.1.Về chữ viết, văn học 24
2.2.Về giáo dục 35
2.3.Về chính trị 36
2.4.Về tư tưởng, tôn giáo 45
2.5.Về nghệ thuật 54
2.6.Về khoa học kỹ thuật 60
Tiểu kết chương hai 62
CHƯƠNG 3 GIAO LƯU VĂN HÓA NHẬT BẢN – TRUNG QUỐC (TK X – ĐẦU TK XX) 64
3.1.Về chữ viết, văn học 64
Trang 73.3.Về chính trị 74
3.4.Về tư tưởng, tôn giáo 75
3.5.Về nghệ thuật 80
3.6.Về khoa học kỹ thuật 91
3.7. Ảnh hưởng của Nhật Bản thời Minh Trị đối với Trung Quốc 92
Tiểu kết chương ba 94
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC PL
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình lịch sử lâu dài, các dân tộc trên thế giới đã sáng tạo nên những nền văn hoá, những truyền thống, những niềm tin, những giá trị riêng biệt của họ; đã sinh thành những nền văn minh lâu đời và đa sắc Tính đa dạng
là đặc trưng bản chất của các nền văn minh thế giới Đa dạng có nghĩa là khác biệt, khác biệt đòi hỏi phải có giao lưu và giao lưu làm cho phát triển dễ dàng,
do đó làm cho thế giới của chúng ta đa sắc hơn
Theo quan điểm toàn diện về lịch sử, một hình thức văn minh không thể khởi phát và tiến bộ trong sự tự khép kín và tách biệt Xu thế chủ đạo trong tiến trình vận động của nền văn minh thế giới là các nền văn minh khác nhau luôn được làm phong phú và phát triển trong sự giao lưu hài hoà và học tập lẫn nhau Và giao lưu văn hoá đã trở thành một động lực thúc đẩy sự tiến triển của các nền văn minh thế giới qua mọi thời đại
Như Tổng bí thư Đỗ Mười đã nói: Qúa trình tiến hóa của một quốc gia luôn lôn phải gắn với cội nguồn, phát triển trên nền tảng bản sắc văn hóa dân tộc đi đôi với việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Nếu phát triển tách khỏi cội nguồn, xa rời những giá trị văn hóa truyền thống, nhất định sẽ lâm vào nguy cơ đánh mất bản thân, chẳng những không thể đóng góp cho nền văn hóa chung của nhân loại mà còn trở thành bản sao mờ nhạt của dân tộc (Lương Duy Thứ, 1996)
Bởi vậy, mỗi quốc gia dân tộc đều có những đặc trưng văn hóa riêng Nó
là thành tựu phản ánh quá trình của dân tộc đó và chính là đóng góp của dân tộc đó vào gia tài văn hóa chung của nhân loại Nó đã in đậm vào lịch sử và nhờ có gia tài riêng biệt, các dân tộc, quốc gia mới có thể đứng trong rừng cây văn hóa các dân tộc thế giới
Trang 9Trung Quốc là một quốc gia có nền văn minh cổ xưa ở phương Đông Dân tộc Trung Hoa trải qua mấy ngàn năm tu luyện và hòa hợp, kết tụ và phát triển,
đã trở thành một dân tộc vĩ đại tràn đầy sức sống trong cộng đồng các dân tộc thế giới “Dân tộc Trung Hoa đã thu hút được muôn phương mà lại có phong thái độc đáo, hình thành nền văn hóa Trung Hoa rực rỡ muôn màu mà lại đa nguyên nhất thể, rộng lớn sâu lắng mà lại mộc mạc tươi đẹp” (Trịnh Ngọc Minh, 2003) Văn hóa Trung Hoa là một nền văn minh độc lập sừng sững tại phía Đông thế giới với một dáng vẻ riêng biệt của mình
Trước nền văn minh rực rỡ đó, Nhật Bản luôn ý thức Trung Quốc là nước láng giềng và luôn tỏ lòng kính nể Không có gì đáng ngạc nhiên nếu như người Nhật sơ khai trên một đất nước với những hòn đảo biệt lập, họ cảm nhận được những phản quan của đế quốc Trung Hoa mới bừng tình với một nhận thức mới
về cái đất nước lớn lao ở bên kia bờ biển
Trong suốt chiều dài lịch sử, sự tiếp xúc văn hóa Nhật – Trung luôn đóng vài trò quan trọng trong lịch sử trao đổi và tiếp nhận văn hóa trong tiến trình phát triển mỗi quốc gia Trung Quốc với Nhật Bản là nước láng giềng gần gũi với nhau,tình hữu nghị qua lại và sự giao lưu văn hóa giữa Trung – Nhật đã có
từ xa xưa Nhật Bản dựa trên cơ sở học tập, phát triển văn hóa tiến tiến Trung Quốc đã hình thành hệ thống văn hóa mang đậm sắc thái dân tộc mình Đồng thời, Trung Quốc cũng đã tiếp nhận, dung hòa nền văn hóa dân tộc Nhật Bản
để làm phong phú thêm nền văn hóa truyền thống của dân tộc Trung Hoa Trong quá trình giao lưu văn hóa giữa hai dân tộc Nhật – Trung, hai bên ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau, đẩy mạnh sự phát triển văn hóa Nhật Bản và các khu vực lân cận lấy văn hóa Trung Quốc làm trung tâm
Từ những vấn đề trên tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Tiếp xúc văn hóa Nhật Bản – Trung Quốc (thế kỷ VI đến đầu thế kỷ XX)” để làm luận văn tốt nghiệp của mình
Trang 102 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Tiếp xúc văn hóa Nhật Bản – Trung Quốc trong lịch sử, đặc biệt là ở giai đoạn từ thế kỷ VI đến đầu thế kỷ XX được các nhà nghiên cứu Trung Quốc, Nhật Bản và nhiều học giả nước khác trong đó có Việt Nam quan tâm nghiên cứu Dưới đây là một số công trình mà tôi đã tiếp xúc và tham khảo trong quá trình nghiên
cứu
2.1 Các nhà nghiên cứu Trung Quốc
Cuốn Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc của Ngô Vĩnh Chính và Vương
Miện Quý (1994) Ngoài các hình thái văn hóa Trung Quốc và đặc điểm của chúng, tinh hoa của văn hóa Trung Quốc tác phẩm còn đề cập đến vấn đề giao lưu văn hóa với nước ngoài, đặc biệt là giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc với Nhật Bản từ thời kỳ Tùy – Đường đến thời kỳ Tống – Nguyên – Minh – Thanh được thể hiện trong chương II: Giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc với Nhật Bản, Triều Tiên Qua đó, hai bên ảnh hưởng qua lại thúc đẩy lẫn nhau, đẩy mạnh sự phát triển văn hóa Đông Á trong đó lấy văn hóa Trung Quốc làm trung tâm
Cuốn sách Tri thức văn hóa Trung Quốc của Lý Phúc Điền và Liên Diên
Mai Văn hóa Trung Hoa với nguồn gốc lịch sử lâu đời và phát triển toàn diện và nền văn hóa đó là cái nôi của lịch sử văn minh phương Đông Cuốn sách này bao quát toàn bộ diện mạo các lĩnh vực văn hóa Trung Quốc như chữ viết, văn học, lịch sử, chính trị, kiến trúc, triết học v.v… đặc biệt là các lĩnh vực văn hóa thời
kỳ Tùy – Đường, đây là giai đoạn mà Nhật Bản tích cực giao lưu học hỏi nền văn hóa Trung Quốc, để ta thấy được người Nhật đã học hỏi, tiếp thu những thành tựu
gì từ nền văn hóa Trung Quốc
Ngoài ra có thể kể đến những tác phẩm như Sự thiết lập và tan rã của hệ
thống triều cống – Một cái nhìn khác về lịch sử quan hệ Trung – Nhật của Hách
Tường Mãn (1996) đã phân tích, nhìn nhận mối quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật
Trang 11Bản trong mối liên hệ với hệ thống triều cống kéo dài từ thời trung đại tới thời cận đại
Lịch sử văn hóa Trung Quốc (1999), tập 1 của nhiều tác giả Trung Quốc
được dịch từ bộ TRUNG QUỐC VĂN HÓA SỬ TAM BÁCH ĐỀ bởi các dịch giả: Trần Ngọc Thuận, Đào Duy Đạt, Đào Phương Chi Đây là bộ sách giới thiệu khá tường tận về lịch sử văn hóa Trung Quốc với sự đóng góp gần 100 nhà văn hóa Trung Quốc biên soạn Bộ sách gồm 309 đề mục, được chia thành tám phần Phần thứ tám: Giao lưu văn hóa; trong phần này có nhắc đến giao lưu với đất nước mặt trời mọc trong các thời kỳ lịch sử
2.2 Các nhà nghiên cứu Nhật Bản
Michio Morishima với Tại sao Nhật Bản “Thành công”? công nghiệp
phương Tây và tính cách Nhật Bản(1991) Tập hợp các bài giảng tại trường Đại
học Tổng hợp Cambridge vào năm 1981, tác giảdẫn dắt chi tiết về vấn đề mở cửa của Nhật Bản từ cải cách Taika cho đến cuộc Minh Trị Duy Tân và sau đó là chiếm đóng của đồng minh qua từng giai đoạn Qua đó, người Nhật Bản đã học những gì từ bên ngoài và hình thành nên cái riêng của dân tộc mình
Với tác phẩm Ngoại giao Nhật Bản (Sự lựa chọn của Nhật Bản trong thời
đại toàn cầu hóa) bởi nhà nghiên cứu Irie Akia Tác giả đã phân tích, so sánh để
tìm lời đáp cho câu hỏi về nền tảng tư tưởng của ngoại giao Nhật Bản thời cận đại Tác giả cũng đi sâu phân tích vai trò của Nhật Bản trên bàn cờ chính trị - thế giới, đặc biệt là mối quan hệ lịch sử với các nước châu Á
2.3 Các nhà nghiên cứu Việt Nam
Cuốn Sử Trung Quốc, tập 1 của Nguyễn Hiến Lê Cuốn sách này đã phác
thảo được diện mạo chiều dài lịch sử Trung Quốc, trình bày cặn kẽ các sự kiện lịch sử xuyên suốt cả không gian và thời gian với đầy đủ các sử liệu và chứng cứ khoa học mà còn đào sâu bản chất của nền văn minh sử ấy Cũng chính vì thế mà trong tác phẩm này, tác giả đã làm nổi bật được văn minh sử Trung Quốc trong
Trang 12cộng đồng văn hóa, có ảnh hưởng ít nhiều nét văn hóa và đậm nét Nho – Phật ở
Á Đông trong đó có Nhật Bản
Tác phẩm Nhật Bản cận đại của Vĩnh Sính được đánh giá là một quyển sách
“ngắn gọn mà đầy đủ” Tuy có tên là Nhật Bản cận đại song tác giả đã đề cập đến thời kỳ lịch sử của đất nước mặt trời mọc từ buổi đầu cho đến những năm phát triển thần kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai
Cuốn Nhật Bản – Những bài học từ lịch sử của PGS TS Nguyễn Tiến Lực,
Sự phát triển thần kỳ khiến người ta ngỡ ngàng, khâm phục của xứ sở Mặt trời mọc ấy được phác họa chi tiết qua các sự kiện, hiện tượng cụ thể trong suốt tiến trình lịch sử Nhật Bản và từ đó để chúng tự nói lên chính giá trị lịch sử của mình
2.4 Các nhà nghiên cứu phương Tây
Cuốn Lịch sử và Văn Hóa Trung Quốc của hai tác giả W Acott Morton và
C.M Lewis (2008), đã tóm tắt những vấn đề trọng yếu trong từng giai đoạn lịch
sử triều đại Trung Quốc Đặc biệt, trong chương VII – Sự phát triển văn minh Trung Quốc nhà Tùy Đường, từ sự phát triển của nền văn minh đó đã có ảnh hưởng như thế nào đến Nhật Bản Tác phẩm của giáo sư Morton đã kết hợp lịch
sử và văn hóa theo trật tự niên đại, ông đan xen văn hóa vào những triều đại khác nhau, thường tập trung vào một hay nhiều khía cạnh khác nhau Như trong Chương VII, thơ được chọn lọc trong thời Đường, kỹ thuật trong đời Tống v.v…
Dù ít hay nhiều thì các lĩnh vực văn hóa trong các triều đại Trung Quốc cổ trung đại cũng đều ảnh hưởng đến khu vực Đông Á và Đông Nam Á trong đó có Nhật
Bản
Nhật Bản quá khứ và hiện tại (1994) của Edwin O Reischauer, đã cho ta có
cái nhìn tổng quan về Nhật Bản Những thành quả Nhật Bản đạt được hôm nay gắn liền với những khó khăn, thách thức và những thời cơ mà Nhật Bản đã nắm bắt Những cuộc mở cửa đúng thời điểm đã giúp Nhật Bản thành công
Nhà nghiên cứu George Sansom với tác phẩm A history of Japantrọn bộ 3
tập đã được dịch ra tiếng Việt luôn được các học giả trích dẫn khi nghiên cứu về
Trang 13lịch sử Nhật thời gian này Trong đó tập 1 Lịch sử Nhật Bản từ thời thượng cổ đến năm 1334 bao gồm tất cả là 21 chương đã trình bày khái quát toàn bộ sự hình thành và phát triển của đất nước mặt trời mọc qua các thời đại Đặc biệt là ở chương IV: Tác động của nền văn hóa Trung Hoa và chương VII: Sự phản ứng đối với ảnh hưởng của Trung Hoa
Cuốn Bàn về Trung Quốc của Henry Kissinger Cuốn này, đã đưa ra những
quan điểm cơ bản về sự phát triển của Trung Quốc trong giai đoạn cận – hiện đại
Là một nhà ngoại giao, một học giả nổi tiếng người Mỹ, Henry Kissimger đã trình bày những quan điểm, gốc nhìn của mình về đặc điểm tư duy, chiến lược ngoại giao của người Trung Quốc với các vấn đề liên quan đến Trung Quốc, đặc biệt là
ở chương 3: Từ đỉnh cao đến vực sâu Những thách thức từ Nhật Bản trong thời
kỳ cận đại, đã được tác giả phân tích, nhận xét khá thuyết phục
Các công trình nghiên cứu trên là những tư liệu quý có ý nghĩa quan trọng trong việc gợi ý, hướng dẫn tôi thực hiện Những tác phẩm trên cũng cho thấy sự
phong phú và đa dạng về nội dung Đề tài “Tiếp xúc văn hóa Nhật Bản – Trung
Quốc (thế kỷ VI đến đầu thế kỷ XX) là một đề tài không mới và chỉ góp phần bổ sung với nội dung khai thác sự tiếp thu văn hóa Nhật Bản – Trung Quốc quả hai giai đoạn Giai đoạn Nhật Bản tiếp nhận nền văn hóa Trung Quốc và giai đoạn Trung Quốc manh nha trong việc tiếp thu nền văn hóa Nhật Bản
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Qua sự tiếp xúc văn hóa Nhật Bản – Trung Hoa (từ thế kỷ VI đến đầu thế kỷ XX) luận văn tập trung nghiên cứu:
- Sự tiếp xúc văn hóa Nhật Bản – Trung Quốc từ thế kỷ VI đến đầu thế kỷ
X, đó là những ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa đối với Nhật Bản được thể hiện trên các lĩnh vực chính trị, giáo dục, chữ viết – văn học, nghệ thuật
và khoa học kỹ thuật
Trang 14- Sự tiếp xúc văn hóa Nhật Bản từ kỷ X đến đầu thế kỷ XX, đó là tư tưởng Zen (Trung Quốc ) được người Nhật ưa chuộng và phát triển trên tất cả lĩnh vực như chính trị, giáo dục, chữ viết – văn học, tư tưởng tôn giáo, nghệ thuật và khoa học – kỹ thuật Đặc biệt trong giai đoạn này Trung Quốc đã tiếp nhận một số lĩnh vực văn hóa tiến bộ của Nhật Bản
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: diễn ra trong phạm vi Đông Bắc Á
- Về thời gian: Sự tiếp xúc văn hóa Nhật Bản– Trung Quốc (từ thế kỉ VI
đến đầu thế kỷ XX):
+ Sự tiếp xúc văn hóa Nhật Bản – Trung Quốctừ thế kỷ VI đến đầu thế kỷ
X Đây là giai đoạn đầu tiên nước Nhật có quan hệ ngoại giao trực tiếp với triều Tùy (Trung Quốc) Và đây cũng là giai đoạn, Nhật Bản đã tích cực tiếp thu, học hỏi và chịu ảnh hưởng từ nền văn hóa Trung Hoa (đặc biệt là ảnh hưởng từ thời Đường)
+ Sự tiếp xúc văn hóa Nhật Bản – Trung Quốc từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ
XX Trong giai đoạn này, mặc dù sự giao lưu văn hóa giữa hai nước không mạnh mẽ bằng thời Đường, song sự giao lưu văn hóa cũng tương đối sôi nổi Điều đáng chú ý ở giai đoạn này là quá trình người Trung Quốc đã có bước tiếp xúc văn hóa đầu tiên với Nhật Bản
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 15đó Và hệ quả của sự tiếp xúc văn hóa Trung Hoa được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực văn hóa Nhật Bản trong thời kỳ này
- Sự tiếp xúc văn hóa Nhật Bản – Trung Quốc từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ
XX Ở giai đoạn này, Trung Quốc bước vào giai đoạn suy yếu thì Nhật Bản lại bước sang một trang mới với nền văn hóa tiến bộ vượt bậc Và việc giao lưu học hỏi văn hóa Trung Hoa không còn quan trọng với họ nữa Cái còn sót lại khiến cho việc giao lưu đó vẫn tiếp tục đó là tông phái Phật giáo hoàn toàn Trung Quốc hóa - Thiền tông (Zen) Phái Zen trong giai đoạn này, đó là phong cách, tư tưởng của Zen đã ảnh hưởng trong tất cả các lĩnh vực văn hóa Nhật Bản như chính trị, tôn giáo, nghệ thuật v.v… Điều đáng chú ý ở giai đoạn này, người Trung Quốc lần đầu tiên đã chịu từ bỏ sự độc tôn văn hóa để tiếp thu nền văn hóa tiến bộ hơn từ một đất nước trước đó từng là học trò của mình
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình tiếp xúc văn hóa Nhật Bản – Trung Quốc từ thế kỷ
VI đến đầu thế kỷ XX Cụ thể là nghiên cứu hai giai đoạn tiếp xúc văn hóa Nhật Bản – Trung Quốc: giai đoạn đầu tiên là tiếp xúc văn hóa Nhật Bản – Trung Quốc ở giai đoạn Tùy – Đường; giai đoạn thứ hai tiếp xúc văn hóa Nhật Bản – Trung Quốc sau thời Đường (Trung Quốc) đến đầu thế kỷ XX Qua hai giai đoạn tiếp xúc đó đã tác động, ảnh hưởng như thế nào đối với nền văn hóa của mỗi quốc gia
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu nghiên cứu:các sách, tạp chí, luận văn, tranh ảnh, website của các ngành khoa học có liên quan như, xã hội học, văn hóa, Nhật Bản học…
Trang 16để tìm hiểu kỹ hơn về sự tiếp xúc văn hóa Nhật Bản– Trung Quốc (từ thế kỷ VI đến đầu thế kỷ XX)
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Là một đề tài lịch sử nên trong quá trình nghiên cứu, người viết luôn giữ quan điểm và tuân thủ phương pháp lịch sử, bám sát các sự kiện lịch sử trình bày theo khung thời gian và không gian lịch sử như nó đã từng có Tuy nhiên người viết không dựa trên độc nhất phương pháp đó mà kết hợp nó với phương pháp logic nhằm rút ra được vai trò và kết quả của sự tiêp xúc văn hóa giữa hai quốc gia Nhật Bản – Trung Quố từ thế kỷ VI đến đầu thê kỷ XX
6 Đóng góp mới đề tài
Đề tài góp phần làm phong phú hiểu biết về văn hóa Nhật Bản cũng như Trung Quốcthông qua quá trình giao lưu văn hóa giữa hai nước từ thế kỷ VI đến đầu thế kỷ XX.Với luận văn này hy vọng sẽ bổ sung một phần tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành Lịch sử cũng như sinh viên ngành Đông phương học mà chủ yếu là ngành Nhật Bản học, Châu Á học
Trang 177 Cấu trúc của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo tài liệu gồm có
ba chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chương này, tác giả đã trình bày khái quát các khái niệm văn hóa, tiếp xúc
và giao lưu văn hóa để làm rõ vấn đề tiếp xúc văn hóa Nhật Bản – Trung Quốc (TK VI đến đầu TK XX) Bên cạnh những cơ sở lý luận, tác giả cũng đã liên
hệ tới thực tiễn làm rõ bản chất của sự tiếp xúc văn hóa Nhật Bản – Trung Quốc trong các thời kỳ lịch sử Đầu tiên, xuất phát từ những điều kiện tự nhiên của hai quốc gia, hai là làm rõ nguyên nhân dẫn đến sự tiếp xúc văn hóa đó và cuối cùng là chỉ ra những con đường dẫn đến tiếp xúc
Chương 2: SỰ TIẾP XÚC VĂN HÓA NHẬT BẢN – TRUNG
Trang 18Chương 3: SỰ TIẾP XÚC VĂN HÓA NHẬT BẢN – TRUNG
QUỐC (TK X – ĐẦU TK XX)
Ở chương 3, từ thời Mạc phủ Kamakura đến thời Minh Trị Duy Tân, tư tưởng Thiền tông (Trung Quốc) rất được ưa chuộng Chính vì thế mà việc giao lưu giữa hai quốc gia vẫn tiếp tục diễn ra Ảnh hưởng của phái Thiền Tông (Trung Quốc) được tác giả phân tích cặn kẽ trên các lĩnh vực văn hóa đã chịu ảnh hưởng từ nó Đặc biệt, trong chương này tác giả muốn nhấn mạnh vấn đề, lần đầu tiên người Trung Quốc sang Nhật Bản học tập, tiếp thu những nét văn hóa tiến bộ của đất nước mặt trời mọc
Trang 19CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Khái niệm văn hóa và giao lưu văn hóa
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Từ văn hoá xuất hiện từ khá sớm Lưu Hướng (khoảng 76 –6 tr CN) đã viết: “Bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng văn đức rồi sau mới dùng vũ lực Phàm dùng vũ lực để đối phó kẻ bất phục tùng, dùng văn hoá không thay đổi được thì sau đó sẽ chinh phạt” Từ văn hóa ở đây được dùng với nghĩa là giáo hoá
Trong cuốn Nhật kí trong tù (1942 – 1943), Hồ Chí Minh đã viết:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra những ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn,
ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn (Phan Quốc Anh, 2018)
Qua đó ta thấy, Hồ Chí Minh đã đề cập những khía cạnh như văn hóa do con người tạo ra, văn hóa đa dạng, văn hóa mang tính xã hội
Nhà nghiên cứu Hà Văn Tấn quan niệm: Văn hóa là hệ thống ứng xử của con
người với thiên nhiên và xã hội, trong hoạt động sinh tồn và phát triển của mình Nói khác đi, văn hóa là sản phẩm hoạt động của con người trong mối quan hệ tương tác với tự nhiên và xã hội diễn ra trong không gian, thời gian và hoàn cảnh nhất định
Theo Đại từ điển Tiếng Việt – Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam:văn hóa là (1) những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong
lịch sử: nền văn hóa các dân tộc; kho tàng văn hóa dân tộc (2) Đời sống tinh
Trang 20thần của con người: phát triển kinh tế và văn hóa; chú ý đời sống văn hóa của nhân dân (3) Tri thức khoa học, trình độ học vấn: trình độ văn hóa; học các môn văn hóa (4) Lối sống, cách ứng xử có trình độ cao: người có văn hóa; gia đình văn hóa mới (5) Nền văn hóa một thời kì lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung: văn hóa Đông Sơn; văn hóa rìu hai vai
Khái niệm văn hóa của UNESCO:
Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội của nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục
và những tín ngưỡng: văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí Chính nhờ văn hóa
mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương
án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội của bản thân
Như vậy, tùy theo từng trường hợp cụ thể, khái niệm văn hóa có thể được dùng với những phạm vi, mức độ khác nhau, nhưng đều dùng chỉ giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo nên, có ý nghĩa xây dựng góp phần ổn định, tô điểm, làm đẹp cuộc sống con người và xã hội
Trang 211.1.2 Tiếp xúc và giao lưu văn hóa
và sự vận động liên tục của văn hóa
Khái niệm acculturation được các nhà nghiên cứu ở Việt Nam dịch không thống nhất Có người dịch là văn hóa, có người dịch là đan xen văn hóa Cách dịch được nhiều người chấp nhận là giao lưu văn hóa, tiếp (xúc) và biến (đổi) văn hóa Theo GS Hà Văn Tấn, các nhà khoa học Mỹ: R Ritdiphin (R Redifield), R Linton và M Herkovits vào năm 1936 định nghĩa khái niệm này như sau: “Dưới từ acculturation, ta hiểu là hiện tượng xảy ra khi trực tiếp, gây
ra sự biến đổi mô thức (pattern) văn hóa ban đầu của một hay cả hai nhóm” Theo nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng thì thuật ngữ tiếp xúc và giao lưu văn hóa được sử dụng khá rộng rãi trong nhiều ngành khoa học xã hội như khảo
cổ học, dân tộc học, xã hội học, văn hóa học v.v Những ngành khoa học có đối tượng nghiên cứu là con người và xã hội, nhân văn
Như vậy, giao lưu là tiếp xúc văn hóa là sự vận động thường xuyên của
xã hội, gắn bó với tiến bộ xã hội nhưng cũng gắn bó với sự phát triển của văn hóa, là sự vận động thường xuyên của văn hóa
Một hoạt động có ý nghĩa đặc biệt đối với giao lưu văn hoá là trao đổi kinh tế Giữa các cộng đồng sống trên các địa bàn khác nhau thuờng có sự trao đổi nguyên liệu hoặc sản phẩm với nhau mà sau này là sự trao đổi hàng hoá
Sự trao đổi kinh tế thuờng được tiến hành bằng những cuộc tiếp xúc tập thể hay
Trang 22cá nhân tại các điểm quy định trên đuờng biên giới giữa lãnh thổ của các cộng đồng
Kinh tế là nhân tố quyết định, là cơ sở của các hình thức tiếp xúc và giao lưu văn hóa Các hình thức giao lưu: do quan hệ tôn giáo, hôn nhân; do sự thiên
di, di cư của các tộc người
1.2 Con đường tiếp xúc văn hóa Nhật Bản – Trung Quốc (tk VI đến đầu tk XX)
Giao lưu văn hoá Nhật Bản – Trung Quốc là hết sức phong phú, sâu sắc
có nguồn gốc từ rất xa xưa Trong trật tự của văn hóa truyền thống Đông Á, Nhật Bản, Triều Tiên là hai nước nằm trên ngoại vi và Trung Quốc là trung tâm
Chomulangma nối liền Fuji, nước sông Hoàng Hà chảy tới Edô” Mối giao lưu giữa hai nước Trung - Nhật, theo văn tự ghi chép đã có hơn 2000 năm lịch
sử
“Sau cuộc canh tân của Yamato, chính phủ Nhật Bản liên tục cử sứ thần tới nhà Đường (Trung Quốc) Mới đầu mỗi lần chỉ khoảng một trăm người Đến đầu thế kỷ III, số người tăng lên rất nhiều, có tới vài trăm Trong đó
có đại sứ, phó sứ, lưu học sinh, tăng nhân, thầy thuốc, thương nhân và thủy thủ Vì đều là các sứ thần được cử tới nhà Đường, nên có tên là “Khiển Đường sứ” (Chu Hữu Chí, 2013)
1.2.1 Điều kiện tự nhiên của Trung Quốc
Trung Quốc là một nước lớn ở phía Đông Châu Á, là trung tâm văn minh cổ kính của thế giới và phương Đông cổ đại Lãnh thổ Trung Quốc vừa rộng, vừa có địa hình đa dạng và khá phức tạp Nhìn chung, địa hình Trung Quốc cao ở phía Tây, thấp dần về phía đông có các bình nguyên châu thổ phì nhiêu, các hệ thống sông lớn chảy ra Thái Bình Dương Ngày nay Trung Quốc chiếm 6,5% diện tích
Trang 23thế giới, 25% diện tích châu Á (9,6 triệu km2) đứng thứ ba sau Liên Bang Nga, Canada, có diện tích tương đương châu Âu
Trung Quốc có khoảng 500 dòng sông lớn nhỏ, thuận theo hướng nghiêng của địa hình chảy về hướng Đông Có hai dòng sông lớn Hoàng Hà và Trường Giang, Hoàng Hà dài 5464km ở phía Bắc (đây là con sông hung dữ); Trường Giang dài 5800km ở phía Nam (có tên gọi là sông Dương Tử) Từ xa xưa con sông này đã là tuyến giao thông huyết mạch trong lãnh thổ Trung Quốc nối liền phương Bắc và phương Nam Lưu vực hai dòng sông này là tuyến giao thông huyết mạch trong lãnh thổ Trung Quốc, nối liền những nền văn minh lớn nhất, có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong lịch sử loài người còn tiếp tục phát triển đến ngày nay
Các nước thời thượng cổ có một nền văn minh rực rỡ thì Trung Hoa sống cách biệt hơn cả gần như không tiếp xúc với các nền văn minh khác Trung hoa
là một khối gần tròn, ba phía Bắc, Tây, Nam là núi cao, đồng cỏ và sa mạc, phía Đông nhìn ra Thái Bình Dương mênh mông; nó như quay lưng lại với các nước văn minh ở Trung Á, Tây Á, sống một đời sống riêng biệt Nó tuy có bờ biển dài đấy, nhưng ở miền Bắc, bờ biển thấp, lầy, lại thiếu đảo ở gần, nên người Trung Hoa thời cổ không muốn mạo hiểm ra khơi; còn ở miền Nam (sau này lần lần mới thuộc về Trung Hoa) thì bờ biển lại không bằng phẳng, khí hậu xấu, giông tố nhiều, không có gì là khuyến khích họ cả Tóm lại núi và biển gần như ngăn chặn ảnh hưởng của các nền văn minh Tây Á, không cho ảnh hưởng tới Trung Hoa, và trong thời thượng cổ, ít nhất là tới đầu kỷ nguyên Tây lịch, dân tộc Trung Hoa sống cách biệt với các dân tộc văn minh khác
Kết thúc Hán Sở tranh hùng, nhà Hán đã thống nhất nước Trung Hoa từ Bắc vào Nam và phát triển đất nước theo chiều ngược lại Với triết lí thực dụng, nền văn minh Trung Hoa tập trung vào chính trị - xã hội, tạo nên một thiết chế của quân chủ mà tiêu biểu là hệ thống quan niệm “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của Khổng giáo Nền văn minh Trung Hoa đã đóng góp cho nhân loại không
Trang 24ít những phát minh lớn trong khoa học kỹ thuật (kim nam châm, nghề in,nghề làm giấy, chế tạo thuốc súng và trong đời sống văn hóa (chữ viết, Nho giáo, nghệ thuật hội họa, y học…)
Các nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán trong đó có Nhật Bản đều có mối liên hệ “đồng văn” Ở đó sự thống nhất quốc gia dựa trên cơ sở văn học chính trị chứ không phải bằng kinh tế thị trường
Nhưng sự cách biệt đó cũng chỉ là tương đối, Trung Hoa chỉ biệt lập chứ không cách biệt hẳn với các nước khác và lịch sử Trung Hoa không thể nào tách biệt hẳn với lịch sử các nền văn minh khác ở châu Á Có sự trao đổi văn minh lẫn nhau, đôi khi đứt đoạn nhưng không bao giờ tuyệt hẳn Nền văn minh nào từ xưa tới nay cũng như vậy hết; mà trong lịch sử Trung Hoa, sự giao thiệp giữa dân tộc Trung Hoa theo nông nghiệp và các dân tộc du mục ở phía Bắc và phía Tây là những yếu tố quan trọng nhất
Nền văn minh Trung Hoa đã phát sáng do những người làm nông nghiệp vùng Trung nguyên, lưu vực sông Hoàng Hà, đã hỗn dung với văn hóa của cư dân
du mục phương Bắc và Tây Bắc
1.2.2 Điều kiện tự nhiên của Nhật Bản
Nhật Bản là một quần đảo xinh đẹp nằm ở phía Đông Châu Á, với 4000 hòn đảo lớn nhỏ uốn theo hình cánh cung từ đông bắc xuống Đông Nam dài hơn 3900km, có tổng diện tích là 377815km2 Trong đó có bốn hòn đảo lớn Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushu
Do địa hình trải dài với khí hậu bốn mùa rõ rệt nên ở Nhật có thảm thực vật phong phú, hoa trái tươi tốt quanh năm, phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp Lãnh thổ Nhật Bản gồm 70% đồi núi, 30% đồng bằng nhưng chỉ có 15% đất đai trồng trọt và chăn nuôi được Tài nguyên khoáng sản hầu như không có Đó cũng là yêu tố tạo nên bản tính cần cù của người Nhật
Là một đảo quốc cách xa đại lục (cách Trung Quốc 700km, Cách Triều Tiên 180km), Nhật Bản phát triển độc lập cho đến thời cận đại hầu như không
Trang 25bị các đế chế hùng mạnh xâm phạm Sự biệt lập tương đối đó giúp người Nhật tiếp thu những thành tựu văn hóa bên ngoài để xây dựng nền văn hóa dân tộc độc đáo của mình
Nhật Bản là một phần khu vực của văn minh Trung Hoa Đó là các khu vực Đông Á quây quần xung quanh Trung Hoa từng chịu sự thống trị của nền văn hóa đã phát triển từ thời cổ đại tại các đồng bằng Bắc Trung Hoa
Trong các vùng tương đối biệt lập của thế giới văn minh Trung Hoa này, Nhật Bản thời kỳ này đã là địa điểm đặc biệt nhất, Nhật Bản là một nước có biển bao bọc tứ phía Và vùng biển nằm giữa Nhật Bản và Trung Hoa, quê hương của nền văn minh Đông Á Nhật Bản nằm cách đại lục Trung Hoa bởi một eo biển khá rộng (khoảng độ 700 cây số) và có nhiều sóng lớn, khoảng cách từ Kyushu đến Triều Tiên, cũng vào khoảng 180km, tức là gấp ba lần eo biển Dover giữa Anh và Pháp Ngày xưa, khi kỹ thuật thuật đóng tàu và ngành hàng hải còn đang thô sơ, thì sự giao thông giữa Nhật và Trung Hoa đại lục càng có nhiều ý nghĩa trong sự hình thành, phát triển văn hóa Nhật Bản Bởi vậy, Nhật Bản trong quá khứ đã là một nước trong vùng văn minh Đông Á xuất phát từ Bắc Trung Quốc, nhưng ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Nhật Bản không trực tiếp và có tầm ảnh hưởng sâu rộng như ở Việt Nam hoặc Triều Tiên, hai nước kế cận liền sông liền núi với Trung Quốc
Cũng nhờ sự cách li địa lý nói trên mà Nhật Bản không bao giờ bị dính vào vó ngựa xâm lăng Trung Quốc (ngoại trừ hai lần xâm lược của Nguyên – Mông vào cuối thế kỷ XIII và khi nhìn lại lịch sử tiếp thu văn hóa Trung Quốc của Nhật Bản thì ta có cảm tưởng gần như Nhật Bản có thể điều chỉnh mức độ tiếp thu văn hóa Trung Quốc theo nhu cầu và hoàn cảnh của mình
1.2.3 Nguyên nhân tiếp xúc
Trang 26Sự phát triển của văn hóa Nhật Bản nói riêng và của bất kỳ nền văn hóa nào, nói chung không bao giờ là quá thuần nhất, bởi các dân tộc liên tục có những cuộc tiếp xúc văn hóa dù tự giác hay tự phát Trường hợp Nhật Bản khi tiếp xúc với Triều Tiên hay Trung Hoa có những đặc điểm bởi đó là xứ sở của các hòn đảo sống gần như biệt lập so với thế giới bên ngoài, nhất là kỹ nghệ hàng hải chưa phát triển Chính sự cô độc trong mối giao cảm văn hóa mà so với Triều Tiên, Trung Quốc, trình độ văn minh của Nhật Bản lúc đó thấp hơn
Về mặt xã hội, đó là sự tồn tại của chế độ thị tộc khá phổ biến Khi những quan
hệ đầu tiên của Nhật Bản hình thành với các nước lân bang qua buôn bán và nhất là chiến tranh và nhất là chiến tranh người Nhật đã nhận ra rằng bên cạnh
họ là những quốc gia có trình độ phát triển cao hơn và “Không có gì đáng ngạc nhiên nếu người Nhật sơ khai trên một đất nước với những hòn đảo biệt lập của
họ cảm nhận được những phản quang của đế quốc Trung Hoa mới và bừng tỉnh với một nhận thức mới nói về đất nước lớn lao bên kia bờ biển” (Edwin O
Reischauer, 1994)
Trong buổi đầu giao tiếp với Trung Hoa, những vay mượn diễn ra rất chậm chạp và không tự giác qua con đường Triều Tiên Mãi cho đến gần cuối thế kỷ thứ VI thì trong qua trình du nhập các yếu tố của văn hóa Trung Hoa vào Nhật Bản nhộp nhịp hơn Sự thật này chỉ có thể giải thích bởi lý do:
Một là, dân tộc Nhật lúc ấy mới đạt được một trình độ văn hóa cho phép họ nhận thức ra và có đủ khả năng tiếp nhận các nhân tố ngoại lai là một cách nhanh chóng và có ý thức
Hai là, mọi giá trị văn hóa tự nó đều có nhu cầu và khả năng lan tỏa hay bành trướng, nhất là khi chúng đạt trình độ cao Trong thời kỳ đó, ở Trung Hoa thời nhà Đường đã tạo ra một chế độ phong kiến đạt cực thịnh, vì vậy khả năng lan tỏa của nó ra xung quanh dễ dàng hơn
Trang 271.2.4 Những con đường tiếp xúc văn hóa Nhật Bản – Trung Quốc
trong lịch sử
Giao lưu văn hoá Nhật Bản – Trung Quốc là hết sức phong phú, sâu sắc
có nguồn gốc từ rất xa xưa Cũng như Việt Nam, nhiều di sản văn hóa của Nhật Bản vào thời cổ đại đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của Trung Quốc
Lịch sử giao lưu văn hóa Nhật – Trung, được sử liệu Trung Quốc ghi lại, đặc biệt là phần nói về “Oa nhân” (wajin: người lùn) trong Ngụy thư đông di truyện (một phần của bộ Tam quốc chí, gọi tắt là Ngụy chí oa nhân truyện hay Ngụy chí, biên soạn trước năm 297 sau CN)
“Con đường giao lưu văn hóa Trung Quốc và các khu vực khá đa dạng và phong phú Con đường phái sứ thần là con đường là con đường được ghi lại trong lịch sử các nước, Korean, Việt Nam, Nhật Bản đã từng phái sứ thần đến Trung Quốc” (Nguyễn Văn Hồng, 2003)
Những thợ thủ công đi lại cũng đóng góp khá nhiều trong công cuộc giao lưu văn hóa
Vào thế kỷ III - II tr CN, Nhật Bản đã có giao lưu với Trung Quốc Các loại lúa nước, kỹ thuật canh tác và đồ sắt, đồ đồng cùng kỹ thuật chế tạo đã được truyền sang Nhật Bản Vào thời Tam quốc, năm 238, Nữ hoàng Yamatai sai sứ đến Lạc Dương và trong 10 năm, hai nước trao đổi sứ giả đến 10 lần
Do chiến tranh loạn lạc, nhiều người Trung Quốc di dân sang Nhật Họ đem theo kỹ thuật ươm tơ, dệt lụa, kỹ thuật làm đồ sứ Văn hóa Trung Quốc, qua Silla (Triều Tiên) được truyền bá vào Nhật Bản vào khoảng thế kỉ III – VII
Từ thời cổ đại, Nhật Bản là một dân tộc ham học hỏi và hiểu biết Thời kì Nam - Bắc triều (420 – 589), Thiên hoàng sai sứ sang Trung Quốc đón thợ may, thợ thủ công đem về
Năm 1223, người Nhật Katokiyomasa đã vào Nam Tống học cách chế tác
đồ sứ, sau về nước phát hiện đất tốt ở seto và đã mở lò gốm Tống ở Nhật Năm
Trang 281513, thợ gốm Shouzui vào Minh đem về nhiều đất cao lanh về và mở lò gốm
sứ ở saga nung sứ trắng
Năm 1235, Yasaburo vào Nam Tống học dệt gấm đoạn và sau đó mở lò gốm Hakata
Thời Minh Vạn Lịch có thợ dệt tơ lụa sang Nhật truyền nghề dệt sa lụa,
đã thúc đẩy nghề dệt ở phía Tây Kyoto phát triển Thời Nguyên đến Minh, thợ khắc in là Du Lương Phố, Trần Mạnh Vinh cùng 30 người trước sau sang Nhật, phát triển nghề in và mở rộng nghề in sách
Con đường phái học sinh sang du học
Như đã biết, các phái đoàn Nhật Bản đến Trung Quốc mang những học sĩ giỏi nhất được phái đi học và có tác dụng nhất định trong công cuộc phát triển văn hóa Nhật Bản Thời Đường Makoto Yoshi học ở Trung Quốc 19 năm đã mang về Nhật nhiều sách
Thời kì này, Thiên hoàng đã mười lăm lần tổ chức cho học sinh đi du học
ở Trung Quốc Thời Thiên hoàng Gensho (715 - 724) có tới 500 người, trong
đó có những lưu học sinh ở lại học tập đến 30 năm Những chuyến đi như vậy rất nguy hiểm và tốn kém Nhiều tàu bị đắm, nhiều người bị chết Nội dung và phạm vi học tập rất sâu rộng: họ nghiên cứu lễ nghi, văn vật, điển chương, chế
độ, ngôn ngữ, văn tự, phong tục của Trung Quốc và trở thành những người truyền bá văn hóa và giữ vai trò quan trọng trong cải cách ở Nhật Bản
Dưới thời Minh Trị Duy Tân, nhiều thanh niên Trung Quốc sang Nhật Bản
du học Trong thời kỳ này người Trung Quốc sang Nhật khá đông và trở thành lực lượng thúc đẩy tư tưởng cải cách duy tân
Con đường tôn giáo là một con đường giao lưu văn hóa quan trọng
Những tín đồ tôn giáo qua bao nguy hiểm vì đức tin tôn giáo đi lấy kinh sách Vào thời Đường (Trung Quốc) đã phái cao tăng đi lấy kinh như Pháp Hiển, Huyền Trang, Nghĩa Tịnh v.v… Những nhà sư từ Ấn Độ, Trung Á, đã có công lao trong việc giao lưu văn hóa Gajin (688 – 783) người Giang Tô, Dương
Trang 29Châu từng được cao tăng Nhật mới sang trước sau đến 11 năm, 6 lần qua Nhật
Ở Nara ông xây dựng chùa truyền bá đạo Phật và trở thành một nhà cao tăng truyền bá thành công và có ảnh hưởng lớn trong đại Phật ở Nhật
Thời nhà Tùy (589 – 618), Thiên hoàng sai sứ sang Trung Quốc rước kinh Phật, được Tùy Dưỡng Đế tiếp đãi ân cần Đến thời nhà Đường (618 – 907), giao lưu Nhật Bản – Trung Quốc ngày càng khăng khít, trao đổi văn hóa càng
mở rộng Văn hoá thời Đường du nhập vào Nhật Bản bằng hai con đường: thứ nhất, do người Nhật trực tiếp học tập và truyền bá; thứ hai, do người Trung Quốc mang tới Nhật
Từ thời Tống, Minh nhiều đoàn Cao Tăng Trung Quốc sang Nhật Những
sư tăng Nhật như Kukai, Dosho, Chiho, Chiran, Chiyu, Gempongoài việc đưa kinh Phật vào Nhật còn truyền bá nhiều văn hóa Trung Quốc sang Nhật Đó là những người có công lớn trong việc truyền bá giao lưu văn hóa Trung Hoa tại Nhật
Con đường buôn bán của các thương nhân
Thời Tống, những nhà buôn đem vào Nhật nhiều sách vở Thời Tokugawa
đóng cửa nhưng cho phép thương nhân Hà Lan và Trung Quốc vào buôn bán Những thương nhân Trung Quốc cứ theo đúng kỳ vào cảng Trường Kỵ đem hàng hóa vào Nhật trong đó có nhiều sách vở có liên quan đến kinh học, văn học, lịch sử, y dược v.v…
Trang 30Tiểu kết chương một
Vấn đề giao lưu văn hóa mang tính quy luật tự nhiên của văn hóa trên dòng lịch sử Nhìn lại lịch sử, chúng ta sẽ thấy, những thời kỳ đất nước cường thịnh, đầy sức sống đều là thời kỳ đất nước mở cửa và đi lại giao lưu bình thường Và giao lưu văn hóa mang tính chất ảnh hưởng lẫn nhau Sự tiếp thu ảnh hưởng hầu như không phải là từ một phía, nhưng cũng có khi, có quốc gia này ảnh hưởng quốc gia khác nhiều hơn
Về mặt văn hóa Nhật Bản là con đẻ của nền văn minh Trung Hoa còn hơn
là các nước Bắc Âu đối với nền văn hóa Địa Trung Hải Lịch sử bành trướng của nền văn minh Trung Hoa với các dân tộc man di ngoài phạm vi của họ Nhưng, vì nước Nhật có vị trí biệt lập hơn đối với cái gốc của nền văn minh đối với tất cả các dân tộc khác cho nên nền văn minh vay mượn có nhiều khả năng hơn để phát triển theo những đường hướng mới mẻ và chuyển thành mô hình văn minh khác biệt
Chính sự biệt lập đã khiến Nhật Bản trở thành một dân tộc có một ý thức cao về mình, người Nhật luôn luôn ý thức một cách mạnh mẽ rằng họ là người Nhật và tất cả các dân khác là người ngoại quốc.Cũng chính sự biệt lập cũng
đã làm cho họ ý thức một cách đau đớn về sự khác biệt giữa họ với các dân tộckhác và đồng thời cho họ một mặc cảm hoàn toàn không có cơ sở về tính ưu việt của họ Vì thế để chứng minh tính ưu việt đó, họ đã không ngừng theo dõi những diễn tiến trên thế giới bên ngoài, đánh giá và cân nhắc ảnh hưởng của trào lưu và xu hướng chính đối với Nhật Bản Người Nhật biết trào lưu nào thắng thế thì họ có khuynh hướng chấp nhận, học hỏi, nghiên cứu để bắt kịp trào lưu đó, không thể mất thời cơ Như đời Đường ở Trung Quốc là trung tâm của văn hóa và học thuật ở Đông Á, triều đình Nhật đã gửi nhiều đoàn học giả
và sư tăng qua Trung Quốc để học hỏi tất các lĩnh vực về chính trị, văn học, tôn giáo, v.v…
Trang 31CHƯƠNG 2 SỰ TIẾP XÚC VĂN HÓA NHẬT BẢN – TRUNG QUỐC (
TK VI – ĐẦU TK X) 2.1 Về chữ viết, văn học
Về chữ viết
Nhật Bản cũng giống như Việt Nam, Triều Tiên đều chịu ảnh hưởng của nền văn minh Trung Quốc Đó là sự vay mượn chữ Hán, một loại hình văn tự vuông của Trung Quốc Sau một thời gian vay mượn chữ Hán thì cả ba nước lại tạo ra cho mình một loại hình văn tự riêng dựa trên cơ sở chữ Hán theo yêu cầu riêng cho phù hợp với đặc trưng ngôn ngữ của từng nước Từ thế kỷ IV, chữ Hán được truyền vào Nhật Bản bởi các tăng lữ từ Triều Tiên và Trung Quốc khi đưa Phật giáo vào Nhật Chữ Hán trong thời kỳ này trở thành quốc tự của nước này, nó không những là công cụ truyền đạt tri thức vào Nhật Bản mà còn là cơ sở của nền học thuật mới và các thiết chế mới
“Đến thế kỷ thứ V thì hệ thống văn tự của Trung Quốc đã được biết đến ở Nhật Nhưng sự vay mượn từ văn hóa đại lục thực sự được người Nhật ý thức
rõ rệt là từ thế kỷ thứ VII, thời kỳ mở đầu bằng nền văn hóa Asuka (593 – 710)” (Lương Duy Thứ, Phan Thu Hiền và Phan Nhật Chiêu, 1996)
Việc tiếp nhận chữ Hán chắc chắn là dấu mốc trong lịch sử nước Nhật và hướng cho sự phát triển sau này Vì rõ ràng uy tín ngôn ngữ, chữ viết và văn học Trung Quốc là áp đảo và tiếng Nhật trừ khi phải nói chuyện thông thường hàng ngày, đã bị đẩy lùi đến chỗ không được dùng nữa Điều đó đã xảy ra Không một học giả nào, không thầy tu nào, không viên quan trong triều nào và
kể cả không có thư lại hoặc kế toán nào mà lại làm ăn được nếu không biết đọc được chữ Hán và viết được một câu chữ Hán
Trong cải cách Taika, Nhật Bản chưa có hệ thống chữ viết riêng của mình
mà còn dùng chữ Hán (Trung Quốc) Họ tiếp nhận chữ Hán qua các thầy tăng
Trang 32Triều Tiên và Trung Quốc đưa Phật giáo vào Nhật Bản trong khoảng thời gian
Chữ Hán là văn tự khác với tiếng Nhật nên việc sử dụng chữ Hán để ghi tiếng Nhật gặp nhiều khó khăn cho nên chữ Hán chỉ được sử dụng hạn chế trong các văn bản cổ của Trung Quốc Nhưng khi muốn ghi âm của một từ Nhật thì
họ buộc phải dùng chữ Hán làm ký hiệu ngữ âm, không cần đến nghĩa
Chữ Hán của Trung Quốc được sử dụng đầu tiên trong nước Nhật là dùng
để viết tên người và tên địa phương Việc lựa chọn chữ Hán để biểu thị các âm tiết của Nhật, lúc đầu có thể là do cá nhân nghĩ ra Sau đó chữ viết ngữ âm của Nhật Bản dần dần tiến tới thống nhất
Trước hết chúng ta thử xem đã áp dụng chữ Hán và chữ kama như thế nào trong quyển Kojiki (Cổ sử ký – năm 712 s CN), một trong những cuốn sử đầu tiên ở Nhật Bản Tiếng Nhật trong sách Kojiki tổng hợp cách đọc kundoku và chữ viết kana
Phần chữ Hán trong sách viết trong biến thể của kambun (Hán – Văn), và đọc theo lối Kundoku 訓読 (huấn – độc, tức là cách đọc chữ Hán theo âm Nhật,bất chấp âm chữ Hán và thứ tự câu văn bằng chữ Hán), Nếu Kundoku
là cách đọc bất chấp âm chữ Hán, ngược lại chữ Kana 仮名 (giả - danh)
Trang 33trong sách lại là cách viết chỉ mượn âm của chữ Hán nhưng bất chấp nghĩa của chữ Hán Vì hai yêu tố âm (phonetic) và nghĩa (sematic) của một chữ Hán là linh hồn của chữ Hán đó, nếu tách rời hai yếu tố âm và nghĩa như trong trường hợp kundoku và kana trong Kijiki, có thể nói chữ Hán không còn là chữ Hán như ở trong tiếng tàu nữa Trên cơ sở của kundoku và kana, tiếng Nhật đã được cải tiến và phát triển cho đến ngày nay (Vĩnh Sính, 1993)
Việc sáng tạo ra văn tự kana là do đại sư Kukai, người sáng lập ra phái Chân Ngôn Tông ở Nhật Bản Tóm lại người Nhật vay mượn chữ Hán trong quá trình hình thành chữ viết của họ nhưng không dùng chữ Hán, họ không suy nghĩ như người Trung Quốc, không nhất thiết phải rập khuôn theo lối mòn của văn hóa Trung Hoa
đã thực sự đi trước cả Trung Quốc và thế giới” (RC Bowring, 1995)
Các tập thơ chữ Hán đầu tiên, người Nhật có lẽ bắt đầu làm thơ chữ Hán
từ giữa thế kỷ thứ VII thời Thiên Hoàng Tenmu giai đoạn triều đình Nhật Bản còn đóng đô ở vùng Omi và là lúc văn hóa Trung Quốc là mẫu mực của đời sống chính trị và văn hóa Nhật Bản… Lúc đó, thi nhân viết Hán Thi là tầng lớp quí tộc cung đình Về sau, bước qua thời Trung Cổ, họ là tăng nhân phái Ngũ Sơn, đến thời cận đại, lớp người này là những nhà Nho đứng bên trong hoặc bên ngoài Mạc Phủ, cuối cùng là tầng lớp văn nhân và quân nhân
Trang 34Tuyển tập thơ ca đầu tiên, đó là tập Manyoshu (Vạn Diệp tập), có khoảng 4.5000 bài thơ Nhật từ thế kỉ IV đến thế kỉ VIII Sách được hoàng thành vào năm 767, mang đậm dấu ấn của văn hóa Trung Quốc Manyoshu hầu như quy
tụ vào trong nó mọi tâm hồn trên bờ cõi Phù Tang, từ Thiên hoàng cho đến nông dân Nhật Bản từ thời cổ đại cho đến năm 760 được coi là Kinh Thi của Nhật Bản
Bên cạnh đó, Nhật Bản cũng có những tập thơ thuần chữ Hán mà sớm nhất
là Kaifuuso (Hoài phong tảo, 751)1, do một số văn nhân soạn
Trước đó, các nhà thơ Hán thi tiêu biểu là Otomo no Oji (648 – 672) Otsu
no Oji (663 – 686), hai ông hoàng trước sau cùng chịu một số phận hẩm hiu vì chuyện tranh chấp quyền bính trong nội bộ gia đình các thiên hoàng, nhà thơ quí tộc Nagaya no Ogimi, một người cũng chung cảnh ngộ vì bị xử hình sau
khi bị kết tội mưu phản
Sau đây là một bài thơ chúc hạ của hoàng tử Otomo nhan đề Thị Yến ca tụng ân đức vua cha, Thiên Hoàng Tenji, đã thống nhất đất nước, làm cho Nhật Bản trở thành một thứ Tiểu Trung Hoa Thơ sau có đăng trong Kaifuuso và thường được xem như bài Hán Thi tối cổ của người Nhật:
Hoàng minh quang nhật nguyệt,
Đế đức tải thiên địa
1 Tảo nghĩa là rong nhưng trong văn chương cũng dùng để chỉ những gì đẹp đẽ (văn tảo, từ tảo, lệ tảo)
Trang 35Tam tài tịnh thái xương, Vạn quốc biểu thần nghĩa
Vua sáng như nhật nguyệt,
Lòng nhân dày đất trời
Trên dưới đều yên ổn, Vạn nước xin làm tôi
(Nguyễn Nam Trân, 2017)
Hoàng tử Otsu, con Thiên Hoàng Tenmu, có bài thơ viết lúc lâm chung được truyền tụng, còn Nagaya từng du học nhà Đường và đã có thơ trong Toàn Đường Thi rồi Trong Kaifuuso, được suy định do Omi no Mifune (722 – 785) soạn ra, gồm 117 bài của 64 nhà thơ, ngoài sự có mặt của các vị này còn có các nhà thơ khác như Thiên hoàng Mommu (697 – 707) với ba bài ngự chế, các công khanh Fujiwara no Fuhiki và ba người con của ông là Umagai, Fusasaki
(681 – 737), Maro
Thơ Kaifuuso phần lớn là thơ ngũ ngôn là loại thơ có ngay trước khi loại
thơ cận thể ra đời vào cuối thời Lục Triều
Sau Kaifuuso, từ cuối thời Nara cho đến đầu thời Heian, Hán thi hưng thịnh trở lại sau một giai đoạn khá lặng lẽ Vào tiền bán thế kỷ thứ IX, dưới đời hai Thiên hoàng Saga (809 – 823) và Thiên hoàng Junna (823 – 833), có ba tập thơ chữ Hán soạn theo sắc chiếu là Ryounshinshu (Lăng Vân Tập), Bunka Shuureishu (Văn Hoa Tú Lệ Tập) và Keikokushu (Kinh Quốc Tập) Thi nhân Hán thi tiêu biểu của giai đoạn này ngoài các vị Thiên hoàng và những nhà đại quí tộc như Fujiwara no Fuyutsugu, còn có các quan bậc trung hay thấp như Kose no Shikihito, Ono no Minemori (777 – 830) hay Kuwahara no Haraka
Trang 36(789 – 825) v.v… Điều đó chứng tỏ bên cạnh giới quí tộc đã có một tầng lớp trí thức quan lại ra đời
Sau giai đoạn nói trên thì thơ chữ Hán đã bớt đi ảnh hưởng vì văn hóa một triều đình nhà Đường đầy biến loạn không còn được trọng vọng như xưa, nhất
là ý thức độc lập dân tộc của Nhật Bản đã lên cao Dù vậy, điều đó không có nghĩa là trong những triều đại sau, Nhật Bản không quay lại tham khảo Trung Quốc mỗi khi phải đương đầu với các thử thách mới
Thời Thiên hòang Saga, ngoài chính Thiên hoàng còn có một tên tuổi đáng được nhắc đến trong lãnh vực Hán Thi như Kobo Daishi tức cao tăng Kuukai (774 – 835) mà thơ và lý luận về thơ ông đã học ở Trung Quốc được chép lại trong mười quyển Seireishuu (Tính Linh Tập) và Bunkyô Hifuron (Văn Kính
Bí Phủ Luận)
Sau đây xin trích dẫn một bài thơ mà tác giả là thiên hoàng Saga, chép trong Bunka Shuurei shu (Văn Hoa Tú Lệ Tập) nhan đề Hà Dương Hoa:
Tam xuân nhị nguyệt Hà Dương huyện,
Hà Dương tùng lai phú ư hoa, Hoa lạc năng hồng phục năng bạch, Sơn băng tần hạ vạn điều tà
(trong Hà Dương thập vịnh) Hoa huyện Hà Dương
Tháng hai xuân đã đến Hà Dương, Huyện tiếng từ xưa lắm sắc hương
Cơn giông núi xuống xô cành ngã, Vạn cánh hoa rơi trắng lẫn hường
Trang 37(Nguyễn Nam Trân, 2017)
Hà Dương là tên một huyện bên Trung Quốc, nằm ở phía bắc Hoàng Hà Trong bài này, thiên hoàng Saga so sánh vùng Yamazaki gần Kyoto nơi ông có
ly cung với huyện Hà Dương, lại ví dòng sông Yodo chảy qua Kyoto với Hoàng
Hà Huyện Hà Dương là nơi Phan Nhạc, thi nhân đời Tấn, từng làm huyện lệnh
và cho trồng nhiều đào Trong bài này, hồng là đào và bạch là lý
Ta thấy vào thời điểm này, sự vay mượn ở đây hầu như tuyệt đối qua việc
chuyển nguyên cảnh vật Trung Quốc sang Nhật
Sau thời Thiên hoàng Saga, ở triều đình Nhật Bản, có hiện tượng “ chuyên môn hóa ” trong việc làm thơ chữ Hán Không còn thấy có nhà thơ chữ Hán
nào xuất thân từ cửa quí tộc Fujiwara nữa
Lối mô phỏng kiểu thiên hoàng Saga còn biểu lộ ra dưới một dạng khác, không phải mô phỏng nội dung nhưng là mô phỏng hình thức, ví dụ trường hợp bài Ức Quy Sơn “ Nhớ về núi Kameyama” của hoàng tử Kaneaki (914 – 987) được ghi lại trong Honcho Monzui Nó rập khuôn Ức Giang Nam “ Nhớ Giang Nam ” của Bạch Cư Dị :
Ức Quy Sơn (nhị thủ, đệ nhất thủ)
(giảo Giang Nam khúc thể)
Ức Quy Sơn,
Ức Quy cửu vãng hoàn
Nam khê dạ vũ hoa khai hậu, Tây lĩnh thu phong diệp lạc gian
Khởi bất ức Quy Sơn
Trang 38Nhớ Quy Sơn (Kameyama)
(bắt chước điệu Giang Nam)
Nhớ Quy Sơn
Lâu lắm không về thăm núi cũ, Khe Nam mưa đến hoa đua nở Non Tây theo gió lá thu rơi, Lúc đó, làm sao lòng chẳng nhớ!
(Nguyễn Nam Trân, 2017)
Đường thi và thi ca Nhật Bản thời Heian:
Nhà Đường (618 - 907) bên Trung Quốc đã có gần 300 năm lịch sử thi ca xán lạn Giai đoạn Thịnh Đường ở vào thời điểm tương xứng với triều đại Nara (710 – 784) Lúc bấy giờ, giao lưu giữa hai nước đã đạt đến đỉnh cao Ngay cả trong Toàn Đường Thi, tập thơ vĩ đại soạn theo sắc chiếu của hoàng đế Khang
Hi nhà Thanh quy tụ 49.000 bài thơ của hơn 2.200 người2 có thấy tên hai nhà thơ Nhật là sư Abe no Nakamar và Nagaya no Okimi Abe ở Trường An có kết bạn với Lý Bạch, Vương Duy… khi về nước bị bão dạt xuống Giao Châu , trở thành quan Thứ Sử Lý Bạch ngỡ bạn chết, có làm một bài thơ ai điếu10 Sau Abe về lại Trung Quốc và chết bên ấy Còn Nagaya là cháu thiên hoàng Tenmu, mắc tội mưu phản phải tự tử, hiện nay di tích phủ đệ cũ vẫn còn Có thuyết cho
2Matsuura Tomohisa (Tùng Phố, Hữu Cữu), Nohon jôdai Kanshibun ronkô (Nhật Bản
thượng đại Hán thi văn luận khảo), Kenbun Shuppan, Tôkyô, 2004 Dịch giả: Nguyễn Nam Trân
Trang 39rằng thi phẩm bằng thơ chữ Hán tối cổ Kaifuuso (Hoài phong tảo) nói trên là
do ông (hay nhóm văn nhân chơi với ông) soạn
Cuối thế kỷ thứ IX thì loại waka sáng tác với đề tài từ một câu thơ cũ gốc chữ Hán hay từ một câu trong ba tập thơ của ba đời (tam đại tập12) để ra đề gọi
là kudai waka (cú đề hòa ca) rất thịnh hành Bài Mitsuki no tsugomori (tối cuối tháng ba, bẻ hoa tử đằng trong mưa) của vương tử Ariwara no Narihira (825-880), một trong Lục Ca Tiên và là người đứng vào hàng chú của Chisato, thoát dịch như sau:
Dầm mưa hái nhánh tử đằng,
Những lo xuân hết, khôn ngăn tháng ngày
Tuy không nhắc đến câu xuất đề, người ta nghĩ ngay tới hai câu cuối trong bài thất tuyệt cũng của Bạch Cư Dị nhan đề “Đề Từ Ân Tự”:
Từ Ân xuân sắc kim triêu tận, Tận nhật bồi hồi ỷ tự môn
Trù trướng xuân qui, lưu bất đắc,
Tử đằng hoa hạ tiệm hoàng hôn
Sáng nay xuân sắc Từ Ân hết, Dựa cửa chùa, trọn ngày bâng khuâng
Buồn nỗi xuân qua khôn níu lại,
Tử đằng bên dưới bóng chiều dâng
(Nguyễn Nam Trân, 2017)
Hai thí dụ vừa đưa ra lấy từ Kokinshu là một tập thơ waka viết bằng quốc
âm chứ ở những tập thơ khác như Ryounshu (Lăng vân tập, 814)
Trang 40hay Keikokushu (Kinh quốc tập, 827) là những thi tập chữ Hán thì ảnh hưởng
của thơ Đường còn rõ nét hơn nữa
Dẫu sao, sinh hoạt ngôn ngữ của trí thức Nhật Bản thời đó có tính cách nhị trùng: họ vừa biết làm thơ quốc âm kana vừa biết làm thơ thuần túy Hán văn.Trong thi tập chữ Hán đầu tiên Kaifuuso (Hoài phong tảo, 751) có 64 nhà thơ thì một số đã có bài trong Manyoshu là tập thơ quốc âm, ví dụ hoàng tử Otsu, vương tử Nagaya, các ông Otomo no Tabito, Fujiwara no Umakai,
Kasuga no Kurabito Ono Họ đều là những nhà thơ trứ danh
Nhưng “cú đề waka” còn có thể hiểu trường hợp thơ xuất đề không phải câu thơ Hán mà là một câu thơ của Manyoshu (hay một trong tam đại tập), được
chọn làm cơ sở để soạn một bài thơ chữ Hán
Theo Murakami Tetsumi, sách Shinsen Manyoshu (Tân soạn Vạn diệp tập) (vốn có nguồn gốc không rõ ràng, được in ra vào năm 1694 nhưng có ghi lời tựa viết năm 893 và 913 cho hai quyển thượng và hạ) mà một bản còn giữ lại ở Đại Học Kyoto, có chép câu thơ xuất đề là bài thơ thu3Okuyama ni nổi tiếng của Sarumarudayu:
Núi sâu rẽ lối lá phong, Tiếng nai kêu để chạnh lòng sầu thu
Bài thơ chữ Hán “làm ra từ câu xuất đề kana chép trong sách đó như sau:
Thu sơn tịch tịch diệp linh linh,
Mi lộc minh âm số xứ linh
3 Có liên quan đến cuộc tranh luận chung quanh bài Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư