Cùng với các cây trong chi Phyllanthus họ Thầu dầu như Chó đẻ thân xanh Phyllanthus niruri, Diệp hạ châu đắng Phyllanthus amarus schum, Chó đẻ răng cưa Phyllanthus urinaria, Me rừng Phyl
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hồ Thanh Thúy
KHẢO SÁT THÀNH PHẦN HÓA HỌC
CAO ETHYL ACETATE CỦA
LÁ CÂY CHÙM RUỘT
(Phyllanthus acidus (L.) Skeels)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC VẬT CHẤT
Thành phố Hồ Chí Minh - 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hồ Thanh Thúy
KHẢO SÁT THÀNH PHẦN HÓA HỌC
CAO ETHYL ACETATE CỦA
LÁ CÂY CHÙM RUỘT
(Phyllanthus acidus (L.) Skeels)
Chuyên ngành : Hóa hữu cơ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC VẬT CHẤT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS BÙI XUÂN HÀO
Thành phố Hồ Chí Minh - 2020
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ: “Khảo sát thành phần hóa học cao ethyl
acetate của lá cây Chùm ruột (Phyllanthus acidus (L.) Skeels)” do tôi thực hiện
dưới sự hướng dẫn của TS Bùi Xuân Hào, đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công
Trang 4Hóa học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy Bùi Xuân Hào đã luôn nhiệt tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành luận văn này Những bài học, những lời động viên, khích lệ của thầy không chỉ là động lực để tôi tiếp tục cố gắng mỗi khi gặp khó khăn trong quá trình nghiên cứu mà còn tiếp thêm cho tôi niềm đam mê trong nghiên cứu khoa học
Tôi xin cảm ơn quý Thầy Cô trong phòng thí nghiệm Hợp chất thiên nhiên nói riêng cũng như quý Thầy Cô khoa Hóa học – Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tâm trong công tác giảng dạy, truyền thụ cho tôi nhiều kiến thức khoa học quý báu trong thời gian học tập tại trường
Tôi xin cám ơn quý thầy cô của Phòng Sau Đại học – Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ tôi trong quá trình học tập tại trường
nghiệm Hợp chất thiên nhiên - Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
đã luôn giúp đỡ, động viên và hỗ trợ về kiến thức cũng như những kinh nghiệm thực nghiệm cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn Tôi cũng xin dành một lời cảm ơn đến gia đình đã là điểm tựa vững chắc và là nguồn động viên cho tôi trong suốt quá trình học tập của mình Cuối cùng, xin gửi những lời chúc tốt đẹp nhất đến quý thầy cô, các anh chị và các bạn
Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người!
TP Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2020
Hồ Thanh Thúy
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Đặc điểm thực vật 3
1.1.1 Giới thiệu sơ lược về họ Thầu dầu 3
1.1.2 Giới thiệu về chi Phyllanthus 4
1.1.3 Mô tả về cây chùm ruột 4
1.2 Công dụng theo dân gian và y học cổ truyền 6
1.3 Dược tính 6
1.4 Thành phần hóa học 7
1.4.1 Thành phần hóa học trong rễ cây Chùm ruột 7
1.4.2 Thành phần hóa học trong lá cây Chùm ruột 10
Chương 2 THỰC NGHIỆM 13
2.1 Hóa chất, thiết bị, phương pháp 13
2.1.1 Hóa chất 13
2.1.2 Thiết bị 13
2.1.3 Thực nghiệm 13
2.2 Nguyên liệu 13
2.3 Điều chế các loại cao 14
2.4 Phân lập một số chất hữu cơ trong cao ethyl acetate 15
2.5 Phân lập một số chất hữu cơ trong phân đoạn EA1 15
2.6 Phân lập một số chất hữu cơ trong phân đoạn EA2 16
2.7 Phân lập một số chất hữu cơ trong phân đoạn EA3 16
Trang 63.2 Khảo sát cấu trúc hợp chất TR2 22
3.3 Khảo sát cấu trúc hợp chất TR3 25
3.4 Khảo sát cấu trúc hợp chất TR4 28
3.5 Khảo sát cấu trúc hợp chất TR5 31
3.6 Khảo sát cấu trúc hợp chất TR6 34
3.7 Khảo sát cấu trúc hợp chất TR7 36
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40 PHỤ LỤC
Trang 7br : Broad (rộng)
quan H – C qua nhiều nối)
quan H – C qua một nối)
Trang 8Bảng 2.2 Kết quả sắc ký cột silica gel trên phân đoạn EA1 15
Bảng 2.4 Kết quả sắc ký cột silica gel trên phân đoạn EA3 17
Bảng 3.1 Dữ liệu phổ 1H-NMR và 13C-NMR của hợp chất TR1 21
Bảng 3.2 Dữ liệu phổ 1H-NMR và 13C-NMR của hợp chất TR2 23
Bảng 3.3 Dữ liệu phổ 1H-NMR và 13C-NMR của hợp chất TR3 27
Bảng 3.4 Dữ liệu phổ 1H-NMR và 13C-NMR của hợp chất TR4 30
Bảng 3.6 Dữ liệu phổ 1H-NMR và 13C-NMR của hợp chất TR5 33
Bảng 3.5 Dữ liệu phổ 1H-NMR và 13C-NMR của hợp chất TR6 36
Bảng 3.7 Dữ liệu phổ 1H-NMR và 13C-NMR của hợp chất TR7 37
Trang 9Hình 1.2 Cây Chùm ruột Hình 1.3 Lá Chùm ruột 5
Hình 3.1 Cấu trúc của hợp chất TR1 20
Hình 3.2 Cấu trúc của hợp chất TR2 23
Hình 3.3 Cấu trúc của hợp chất TR3 27
Hình 3.4 Cấu trúc của hợp chất TR4 30
Hình 3.5 Cấu trúc của hợp chất TR5 33
Hình 3.6 Cấu trúc của hợp chất TR6 35
Hình 3.7 Cấu trúc của hợp chất TR7 37
Trang 10Sơ đồ 2.2 Quy trình cô lập các hợp chất trong cao ethyl acetate 18
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Từ lâu, thảo dược và các bài thuốc dân gian đã góp phần to lớn trong sự phát triển của y học cổ truyền Đặc biệt trong cuộc sống hiện đại con người ngày càng có
xu hướng sử dụng dược liệu bởi nó ít có tác dụng phụ và phù hợp với qui luật sinh
lý của cơ thể Một số thực vật được coi là nguồn dinh dưỡng quan trọng, do đó chúng được khuyến cáo sử dụng hỗ trợ chữa bệnh
Trong hệ thực vật ở Việt Nam, Thầu dầu (Euphorbiaceae) là một họ lớn, rất đa dạng, có tới 75 chi với khoảng trên 450 loài; trong đó có 1 chi và 131 loài được coi
là đặc hữu Hầu hết các loài và chi trong họ Thầu dầu đều có chứa các hợp chất tự nhiên thuộc các nhóm triterpenoid, alkaloid, diterpenoid, diterpene ester, phorbol diterpene, flavonoid… Rất nhiều hợp chất mới có hoạt tính sinh học cao đã được phân lập và xác định, đó là những hợp chất có nhiều triển vọng ứng dụng trong công nghiệp dược Nghiên cứu các cơ sở khoa học nhằm khai thác phát triển, bảo tồn và sử dụng có hiệu quả nguồn hoạt chất sinh học từ các loài trong họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) ở Việt Nam là vấn đề ngày càng được quan tâm [1]
Cùng với các cây trong chi Phyllanthus (họ Thầu dầu) như Chó đẻ thân xanh (Phyllanthus niruri), Diệp hạ châu đắng (Phyllanthus amarus schum), Chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria), Me rừng (Phyllanthus emblica),… cây Chùm ruột (Phyllanthus acidus) đã được sử dụng từ lâu trong những bài thuốc y học cổ truyền
như lá cây chữa đau lưng, vỏ thân cây chữa suy tim, lở ngứa, ghẻ, loét, vết thương sứt da chảy máu, bột vỏ thân ngâm giấm uống chữa bệnh trĩ [2], … Ngoài ra các nghiên cứu về các hoạt tính sinh học như hoạt tính kháng khuẩn [3], khả năng chữa bệnh xơ nang [4], chữa trị tổn thương gan [5], … cũng được khảo sát
Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về cây Chùm ruột trong các lĩnh vực sinh học, hóa học Ở Việt Nam, các nghiên cứu trước đây về cây Chùm ruột chỉ tập trung ở bộ phận rễ cây, thành phần hóa học lá cây Chùm ruột được
nghiên cứu chưa đầy đủ Vì vậy tôi quyết định thực hiện đề tài “Khảo sát thành
phần hóa học cao Ethyl Acetate lá cây Chùm ruột (Phyllanthus acidus (L.)
skeels)” để tiếp tục khảo sát thành phần hóa học lá cây Chùm ruột, hy vọng nhằm
Trang 12tìm kiếm thêm các hợp chất có hoạt tính sinh học có ứng dụng cao
2 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thành phần hóa học trong cao ethyl acetate của lá cây Chùm ruột
(Phyllanthus acidus (L.) Skeels), góp phần đóng góp thêm vào danh mục các hợp
chất hiện diện trong lá cây
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn là lá cây Chùm ruột (Phyllanthus
acidus (L.) Skeels), đã được thu hái vào tháng 03 năm 2018 tại huyện Hàm Thuận
Bắc, tỉnh Bình Thuận Mẫu nguyên liệu sau khi thu hái được rửa sạch, loại bỏ phần sâu bệnh, phơi khô và xay thành bột thô
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu thành phần hóa học của lá cây Chùm ruột ở phân đoạn cao ethyl acetate
4 Nhiệm vụ đề tài
- Điều chế cao methanol thô bằng phương pháp ngâm dầm
- Dùng phương pháp chiết lỏng - lỏng để điều chế các phân đoạn cao khác nhau
- Dùng sắc ký cột cổ điển với silica gel pha thường hoặc pha đảo, kết hợp với sắc ký lớp mỏng để phân lập một số hợp chất
- Khảo sát và xác định cấu trúc các hợp chất phân lập được bằng các phương pháp phổ nghiệm hiện đại, chủ yếu là phổ cộng hưởng từ hạt nhân
5 Phương pháp nghiên cứu
- Điều chế cao thô methanol bằng kỹ thuật ngâm dầm
- Điều chế cao phân đoạn bằng phương pháp chiết phân bố lỏng – lỏng
- Phân lập các hợp chất bằng phương pháp sắc ký cột
- Xác định cấu trúc các hợp chất phân lập được bằng các phương pháp phổ nghiệm hiện đại, chủ yếu là phổ cộng hưởng từ hạt nhân
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Đặc điểm thực vật
1.1.1 Giới thiệu sơ lược về họ Thầu dầu
Trong hệ thực vật Việt Nam, Thầu dầu (Euphorbiaceae) được coi là họ lớn, giàu loài thứ tư (sau các họ Lan - Orchidaceae, Đậu - Leguminosae, Lúa - Graminae) trong số 305 họ Ở Việt Nam, họ Thầu dầu hiện đã biết có 75 chi cùng khoảng trên 450 loài và 16 thứ; trong số đó có 1 chi (Noi - Oligoceras), cùng 131 loài (chiếm 31,58% số loài của cả họ) và 9 thứ (khoảng 56,25%) được coi là đặc hữu Phần lớn các loài và thứ đặc hữu đều chỉ gặp phân bố rất hạn chế ở một vài địa phương trong cả nước Sách Đỏ Việt Nam (1996, 2007) đã ghi nhận có 5 loài của họ Thầu dầu thuộc loại quý hiếm và bị đe doạ tuyệt chủng
Các chi có số loài phong phú và đa dạng nhất trong họ Thầu dầu lần lượt là
Me (Phyllanthus), Ba đậu (Croton), Ba bét (Mallotus), Chòi mòi (Antidesma), Cỏ sữa (Euphorbia), Bọt ếch (Glochidion), Mòng lông (Trigonostemon), Rau ngót (Sauropus), Bồ cu vẽ (Breynia), Ba soi (Macaranga), Cách hoa (Cleistanthus), Thàu táu (Aporosa), Thổ mật (Bridelia), Da gà (Actephila), Tai tượng (Acalypha) và
các chi khác
Các chi có số loài được coi là đặc hữu phong phú lần lượt là:
Các dạng sống gặp ở họ Thầu dầu có thể là cỏ hàng năm, cỏ nhiều năm, bụi, bụi trườn, dây leo, gỗ nhỏ hoặc gỗ lớn Chúng phân bố khá rộng rãi ở các hệ sinh thái khác nhau từ các vùng ven biển, ruộng vườn, đồng cỏ đến các thảm cây bụi và các loại hình rừng thứ sinh hoặc nguyên sinh trên núi cao [1]
Trang 141.1.2 Giới thiệu về chi Phyllanthus
Các loài thực vật thuộc chi Phyllanthus, họ Thầu Dầu phân bố chủ yếu hầu
hết ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Ở Việt Nam có 44 loài, các loài được chú
ý hơn cả là Chó đẻ thân xanh (Phyllanthus niruri), Diệp hạ châu trắng (Phyllanthus
amarus schum), Chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria), Chùm ruột (Phyllanthus acidus), Me rừng (Phyllanthus emblica)…
Các cây thuộc chi Phyllanthus là loại cây đơn tính; lá kép, kiểu mọc so le
hoặc mọc đối; hoa nhỏ, mọc tập trung dạng hình cốc, có màu trắng, màu xanh lục hoặc trắng xanh Quả có dạng thùy nang, thường có cuống dài [6]
Hình 1.1 Một số loài thuộc chi Phyllanthus
1.1.3 Mô tả về cây chùm ruột
1.1.3.1 Giới thiệu chung [7]
Phyllanthus distichus Muell-Arg
Tên thường gọi: cây tầm ruột, chùm ruột, chùm guột, tầm ruộc, mak nhôm
Tên nước ngoài: Stargoose-berry, country gooseberry (Anh), phyllanthe bifaríe (Pháp)
Trang 15Hệ thống phân loại:
Bộ (Ordor): Thầu dầu (Euphorbiaceae)
Họ (Family): Thầu dầu (Euphorbiaceae)
Chi (Genus): Phyllanthus
Loài (Species): Acidus
1.1.3.2 Mô tả thực vật
Chùm ruột là loại cây nhỏ, thân nhẵn, thường cao từ 2-9 m Cành non có màu lục nhạt, cành già có vỏ màu xám mang nhiều sẹo do lá cũ để lại, thân nhẵn Lá mềm, mỏng, mặt trên màu xanh nhạt, mặt dưới màu nhạt hơn, dài 4-5 cm, rộng 18-
20 mm, phía cuống tù hay hơi tròn, đầu phiến nhọn Lá kép mọc so le, có cuống dài,
lá chét mỏng, gốc tròn, đầu nhọn, gân lá rõ ở cả hai mặt, lá kèm có răng
Hoa mọc thành xim đơm nhị lệ trên những cành gầy nhỏ, dài 6-15 cm, tụ thành từng cụm 4-7 hoa trên những mấu tròn, ở kẽ những lá đã rụng Hoa nhỏ màu
đỏ, hoa cái và hoa đực ở cùng một cây, hoa đực có đài 4 răng, 4 nhị, rời Hoa cái có
4 lá đài, bầu 4 ô
Quả mọng, có khía, khi chín màu vàng nhạt, vị chua, hơi ngọt, ăn được [6]
1.1.3.3 Nguồn gốc và phân bố:
Cây Chùm ruột có nguồn gốc ở Madagasca, sau di nhập vào nhiều nước vùng châu Á, châu Phi…Ở Việt Nam, cây được trồng tương đối phổ biến ở các tỉnh phía nam Trong khi đó, ở miền Bắc một số nhà trồng để làm cảnh, quả thường ít và chua
Ngoài ra, cây mọc hoang và được trồng ở Lào, phân bố ở nhiều nơi vùng nhiệt đới châu Á (Malaysia, India, Indonesia, Philippines và ở đảo Mangat)
Trang 16Thường mọc hoang và được trồng ở miền Nam để ăn quả Có mọc và được trồng ở Lào [7], [8]
1.2 Công dụng theo dân gian và y học cổ truyền
Quả được dùng để ăn sống hoặc nấu canh cho mát, giải nhiệt chữa được chứng nhức đầu Những bộ phận khác, nhân dân có dùng nhưng thường để chữa ngoài da
Lá giã với hột tiêu đắp lên những chỗ đau ở hông và ở háng [7]
Rễ có độc tính, thường được nhân dân Malaysia dùng để xông chữa nhức đầu
và ho, nhân đảo Javar dùng chữa hen (với liều rất nhỏ) Tại Ấn Độ, vỏ rễ thường được dùng để đầu độc Người bị ngộ độc nhức đầu, ngây ngất, chết với những triệu chứng đau bụng mạnh [7]
Quả chùm ruột có vị chua, tính mát, có tác dụng giải nhiệt và làm se Lá và rễ
có tính nóng, làm tan ứ huyết, tiêu độc, tiêu độc, sát trùng, có tác dụng chống độc đối với nọc rắn độc Rễ và hạt có tác dụng tẩy [6]
Năm 2006, P.A.Meléndez và cộng sự đã công bố kết quả cho thấy dịch chiết
methanol của cây Chùm ruột có hoạt tính kháng vi khuẩn E.coli và S.aureus bằng
việc sử dụng phương pháp “Disc diffusion” (phương pháp đĩa khuếch tán) [3]
Năm 2007, Marisa Sousa và các cộng sự đã công bố dịch chiết từ cây chùm ruột và các hợp chất được phân lập từ dịch chiết này có ảnh hưởng đến sự điều tiết ion chloride ở đường hô hấp, đây là một phương pháp điều trị tiềm năng cho bệnh
xơ nang [4]
Năm 2011, Jain và cộng sự đã nghiên cứu dịch chiết ethanol của hoa, quả cây Chùm ruột có hoạt chất bảo vệ gan thông qua việc đo nồng độ các men gan aspartate transaminase (AST), alanine transaminase (ALT), alkaline phosphate (ALP) và lipid peroxidase (LPO) [5]
Trang 17Năm 2012, Charkraborty và cộng sự đã đánh giá nghiên cứu dịch chiết xuất của lá cây Chùm ruột cho thấy có các hoạt tính kháng viêm và giảm đau [10]
Năm 2014, W B Tania và cộng sự nghiên cứu khả năng chống oxy hóa của dịch chiết methanol lá cây Chùm ruột bằng phương pháp sử dụng DPPH (2,2-
26 μg/mL [11]
Cũng trong năm 2014, Jun-Jiang và cộng sự đã công bố kết quả dịch chiết
ethyl acetate của lá cây Chùm ruột có khả năng chống virus viêm gan B (HBV) với
Năm 2015, Suci Nar Vikasari và các cộng sự đã nghiên cứu thành công hiệu quả lợi tiểu của dịch chiết xuất ethanol của lá cây Chùm ruột ở chuột cái Wistar [13]
1.4 Thành phần hóa học
Thành phần hóa học trong các bộ phận của cây Chùm ruột như rễ, lá đã được nghiên cứu như sau:
1.4.1 Thành phần hóa học trong rễ cây Chùm ruột
và B (2) có khung sườn serquiterpenoid loại norbisabolane gắn các phân tử đường
glucose và mannosamine-N-acetate [14]
Năm 2014, Jun-Jiang và cộng sự đã phân lập thêm 19 hợp chất mới thuộc khung sườn norbisabolane (tương ứng với cấu trúc ký hiệu từ 2 – 21), cùng với hai hợp chất phyllanthusol A và B đã được xác định cấu trúc Trong đó, hai hợp chất
R 1 R 2
1 H OH
2 H H
Trang 18phyllantacidoide S (20) và T (21) chứa khung sườn rất khác biệt so với các hợp chất được phân lập trước đây, với hợp phần tricyclo[3.1.1.1] có trong cấu trúc của chúng [12]
Trang 19Cũng năm 2014, nhóm nghiên cứu Nguyen T T và cộng sự đã phân lập được các hợp chất phenylbutanoid và diphenylheptanoid, trong đó có một hợp chất
Trang 20Trong năm 2017, Dương Thúc Huy và cộng sự đã phân lập được hai hợp chất
diterpenoid từ rễ cây Chùm ruột, gọi là Phyllane A (25) và Phyllane B (26) [16]
Năm 2018, Dương Thúc Huy và cộng sự đã phân lập được ba hợp chất mới từ
dịch chiết ethanol của rễ cây Chùm ruột mọc ở tỉnh Bình Thuận là glochidonol (27), 1-lupene (28), spruceanol (29) [17]
1.4.2 Thành phần hóa học trong lá cây Chùm ruột
Năm 2010, J Chaweewan đã phân lập được các hợp chất kaempferol (30), adenosine (31), 4-hydroxybenzoic acid (32), hypogallic acid (33), caffeic acid (34)
được phân lập từ cao n-butanol của lá cây Chùm ruột [18]
R 1 R 2
(29)
Trang 21(30) (31)
Năm 2016, Nguyễn Mạnh Cường và cộng sự đã phân lập được bốn hợp chất
từ phân đoạn ethyl acetate của cao methanol lá cây Chùm ruột, đó là kaempferol
-arabinopyranoside (37) [19]
Năm 2019, nhóm nghiên cứu của tác giả Võ Hữu Cảnh và cộng sự đã phân lập
được hợp chất mới 29-norlupane-1b-hydroxy-3,20-dione (38) cùng với mười chất
[20]
Trang 22(38) (39)
Năm 2020, Thuc-Huy Duong và cộng sự đã phân lập được một hợp chất
diterpenoid mới là phyllane C (43), cùng với ba hợp chất đã biết là ovoideal E (44), spruceanol (29) và fluacinoid B (45) từ lá cây Chùm ruột [21]
Trang 23Chương 2 THỰC NGHIỆM
2.1 Hóa chất, thiết bị, phương pháp
2.1.1 Hóa chất
- Dung môi: n-hexane, chloroform, ethyl acetate, acetone, methanol, ethanol,
n-butanol (Chemsol, Việt Nam)
- Máy cô quay chân không (Heidopl)
- Đèn soi UV: bước sóng 254/ 365 nm (spectroline ENF-240 C/FE, USA)
- Cân phân tích (Sartorious BL 210S)
- Máy cộng hưởng từ hạt nhân (Bruker Avance) tần số 500 MHz cho phổ
- Máy cộng hưởng từ hạt nhân (BRUKER AVANCE III) tần số 400 MHz (đối
Thuốc Thành phố Hồ Chí Minh
2.1.3 Thực nghiệm
- Sử dụng các phương pháp chiết xuất, trích ly để điều chế các loại cao
- Sử dụng các kĩ thuật sắc ký phân lập một số hợp chất có trong các cao phân đoạn
- Sử dụng phương pháp phổ nghiệm, chủ yếu là phổ NMR để xác định cấu trúc của các hợp chất phân lập được
2.2 Nguyên liệu
Mẫu nguyên liệu dùng trong nghiên cứu trong luận văn là lá cây Chùm ruột
(Phyllanthus acidus (L.) Skeels), đã được thu hái vào tháng 03 năm 2018 tại huyện
Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận
Trang 24Mẫu cây đã được Thạc sĩ Hoàng Việt, trường Đại học Khoa học Tự nhiên
TPHCM nhận danh tên khoa học là “Phyllanthus acidus”, họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae)
Mẫu nguyên liệu được rửa sạch, loại bỏ sâu bệnh, phơi khô, rồi xay thành bột mịn (25 kg bột khô)
2.3 Điều chế các loại cao
Bột lá cây Chùm ruột được ngâm dầm trong methanol ở nhiệt độ phòng Dịch chiết methanol được đem thu hồi dung môi ở áp suất thấp thu được cao methanol (991 gam)
Cao methanol thô được phân tán vào nước và chiết lỏng – lỏng lần lượt với
các dung môi n-hexane, chloroform, ethyl acetate, n-butanol, cô quay các dịch chiết thu được cao n-hexane (250 gam), cao chloroform (300 gam), cao ethyl acetate (25 gam) và cao n-butanol (81,5 gam) Quy trình thực hiện được tóm tắt theo sơ đồ 2.1
Sơ đồ 2.1 Quy trình điều chế các loại cao của lá cây chùm ruột
Bột lá cây chùm ruột
(25 kg)
Ngâm dầm với methanol
ở nhiệt độ phòng
Cao methanol thô (991 gam)
Cô quay ở áp suất thấp
Methanol thu hồi
- Phân tán vào nước
- Chiết lỏng – lỏng lần lượt với dung môi hexane, chloroform,
ethyl axetate, n-buthanol
- Cô quay thu hồi dung môi
Cao hexane
(250 gam)
Cao chloroform (300 gam)
Cao ethyl axetate (25 gam)
Cao n-buthanol
(81,5 gam)
Trang 252.4 Phân lập một số chất hữu cơ trong cao ethyl acetate
Thực hiện SKC 25 gam cao ethyl acetate giải ly với hệ dung môi lần lượt C:Me với độ phân cực tăng dần (từ tỉ lệ 100:2 đến 1:1) Dịch giải ly qua cột được hứng vào các lọ, theo dõi quá trình giải ly bằng SKLM Những lọ cho kết quả SKLM giống nhau được gộp chung thành một phân đoạn Kết quả thu được 7 phân đoạn (EA1 – EA7), được trình bày trong bảng 2.1
Bảng 2.1 Kết quả sắc ký cột silica gel trên cao ethyl acetate
(gam)
Sắc ký
2.5 Phân lập một số chất hữu cơ trong phân đoạn EA1
SKC silica gel trên phân đoạn EA1 (1,102 gam) bằng hệ dung môi H:Ea 6:1
Dịch giải ly qua cột được hứng vào các lọ, theo dõi quá trình giải ly bằng SKLM Những lọ cho kết quả SKLM giống nhau được gộp chung thành một phân đoạn Kết
Bảng 2.2 Kết quả sắc ký cột silica gel trên phân đoạn EA1
Trang 26Phân đoạn EA1.2 (182 mg) được tiến hành sắc kí cột silica gel, giải ly với hệ dung môi H:Ea 5:1 thu được hợp chất TR1 (8 mg)
Phân đoạn EA1.4 (200 mg) được tiến hành sắc ký cột silicagel, giải ly với hệ dung môi H:Ea 1,5:1 thu được hợp chất TR2 (10 mg)
2.6 Phân lập một số chất hữu cơ trong phân đoạn EA2
SKC silica gel trên phân đoạn EA2 (1,254 gam) bằng hệ dung môi H:Ea 3:1
Dịch giải ly qua cột được hứng vào các lọ, theo dõi quá trình giải ly bằng SKLM Những lọ cho kết quả SKLM giống nhau được gộp chung thành một phân đoạn Kết
Bảng 2.3 Kết quả sắc ký cột silica gel trên phân đoạn EA2
Phân đoạn EA2.3 (160 mg) được tiến hành sắc kí cột silica gel, giải ly với hệ dung môi H:C:Ea:Ac 3:3:2:1 thu được hợp chất TR3 (15 mg)
Phân đoạn EA2.4 (191 mg) được tiến hành sắc kí cột silica gel, giải ly với hệ dung môi H:C:Ac 1:5:1 thu được hợp chất TR4 (20 mg)
Phân đoạn EA2.5 (155 mg) được tiến hành sắc kí cột silica gel, giải ly với hệ dung môi H:Ea:Ac 5:1:2 thu được hợp chất TR5 (25 mg)
2.7 Phân lập một số chất hữu cơ trong phân đoạn EA3
Sắc ký cột silica gel trên phân đoạn EA3 (8,831 gam) bằng hệ dung môi H:Ea
1,25:1 Dịch giải ly qua cột được hứng vào các lọ, theo dõi quá trình giải ly bằng SKLM Những lọ cho kết quả SKLM giống nhau được gộp chung thành một phân
Trang 27đoạn Kết quả thu được thu được 4 phân đoạn nhỏ (EA3.1 EA3.4), được trình bày trong bảng 2.4
Bảng 2.4 Kết quả sắc ký cột silica gel trên phân đoạn EA3
Phân đoạn EA3.2 (197 mg) được tiến hành sắc kí cột silica gel, giải ly với hệ dung môi H:Ea:Ac 5:1:3 thu được hai hợp chất là TR6 (17 mg) và TR7 (72 mg).
Trang 28Sơ đồ 2.2 Quy trình cô lập các hợp chất trong cao ethyl acetate
Cao ethyl acetate (25 gam)
Sắc ký cột Giải ly: C:Me
Trang 29Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khảo sát cấu trúc hợp chất TR1
Hợp chất TR1 (8 mg) thu được được từ phân đoạn EA1.2 của cao ethyl acetat
với các đặc điểm như sau:
- Dạng bột vô định hình màu trắng, tan tốt trong dung môi chloroform
- Không hấp thụ UV, sắc ký lớp mỏng cho một vết duy nhất khi hiện hình
BIỆN LUẬN CẤU TRÚC
6.0 Hz) lần lượt là H-23, H-24, H-25, H-26, H-28, H-29 và H-30, tín hiệu của hai proton không tương đương của nhóm methylene ở vùng từ trường cao ghép cặp với
giúp xác định hợp chất TR1 có khung sườn 13,27-cycloursane Ngoài ra trong phổ
với hằng số ghép lần lượt là 11.5 Hz và 5.5 Hz chứng tỏ proton này phải ghép cặp
Trang 30với hai proton (H-2a và H-2b) lần lượt với J aa = 11.5 Hz và J ae = 5.5 Hz, do đó proton H-3 phải ở vị trí trục hay nhóm -OH ở vị trí xích đạo
đó giúp xác định vị trí của nhóm -OH gắn với C-3 Ngoài ra, phổ HMBC còn cho
chất TR1
nhóm methylene này phải liên kết với carbon tứ cấp Trên phổ HSQC cho thấy hai
của nhóm methylene này
của hợp chất TR1 với tài liệu tham khảo [17] đã xác định được cấu trúc hoá học của
Hình 3.1 Cấu trúc hoá học của hợp chất TR1
Trang 31Hình 3.2 Một số tương quan HMBC của hợp chất TR1 Bảng 3.1 Dữ liệu phổ 1 H-NMR và 13 C-NMR của hợp chất TR1
Trang 32Hợp chất TR2 (10 mg) thu được được từ phân đoạn EA1.4 của cao ethyl
acetat với các đặc điểm như sau:
- Dạng bột vô định hình màu trắng, tan tốt trong dung môi chloroform
- Không hấp thụ UV, sắc ký lớp mỏng cho một vết duy nhất khi hiện hình bằng
H:Ea:Ac 5:1:2)
Trang 33 BIỆN LUẬN CẤU TRÚC
(3H, s), 0.97 (3H, s), 0.94 (3H, s), 0.87 (6H, s), 0.86 (3H, s), 0.79 (3H, s) giúp
khẳng định TR2 là một hợp chất triterpene thuộc khung sườn olean-12-ene
TR2, trong đó có một tín hiệu carbon olefin tứ cấp tại δC 146.2, một tín hiệu carbon
15.6 đặc trưng cho hợp chất triterpene thuộc khung sườn olean-12-ene
Từ các dữ liệu đã được nêu, kết hợp so sánh với dữ liệu NMR của hợp chất olean-12-en-3β,15α-diol [22] cho thấy sự tương đồng giữa hai hợp chất Do đó, cấu
trúc của hợp chất TR2 được đề nghị là olean-12-en-3β,15α-diol
Hình 3.3 Cấu trúc hoá học của hợp chất TR2
Trang 35Hợp chất TR3 (15 mg) thu được được từ phân đoạn EA2.3 của cao ethyl
acetat với các đặc điểm như sau:
- Dạng bột màu vàng, tan tốt trong dung môi DMSO
- Hấp thụ UV, sắc ký lớp mỏng cho một vết duy nhất khi hiện hình bằng
BIỆN LUẬN CẤU TRÚC
với hai nhóm thế ở các vị trí 1,4 do có các tín hiệu cộng hưởng của hai proton nhân
J = 8.5 Hz, H-3 và H-5) Ngoài ra, phổ 1H-NMR còn cho thấy các mũi đôi cộng
Trang 36hưởng của hai proton tương ứng nhân thơm ghép cặp meta δH 6.44 (1H, d, J = 2.5
3.86 (3H, s)
có hai tín hiệu carbon trùng nhau, bốn tín hiệu cộng hưởng của carbon thơm gắn
Trên vòng A, phổ HMBC cho thấy tương quan giữa proton H-6 cộng hưởng
có các nhóm thế ở vị trí 1, 2, 3, 5 Trên vòng B, phổ HMBC cho thấy tương quan
giúp khẳng định lại vòng B có các nhóm thế ở vị trí 1, 4
của hợp chất TR3 với hợp chất kumatakenin [23] thấy có sự tương đồng, vì vậy, đề
Trang 37nghị cấu trúc của hợp chất TR3 là kumatakenin
(5,4'-dihydroxy-3,7-dimethoxyflavone)
Hình 3.4 Cấu trúc hoá học của hợp chất TR3
Hình 3.5 Một số tương quan HMBC của hợp chất TR3 Bảng 3.3 Dữ liệu phổ 1 H-NMR và 13 C-NMR của hợp chất TR3
Vị trí
carbon
Loại carbon
Trang 38Vị trí
carbon
Loại carbon
Hợp chất TR4 (20 mg) thu được được từ phân đoạn EA2.4 của cao ethyl
acetat với các đặc điểm như sau:
- Tinh thể màu vàng, tan tốt trong dung môi acetone
Trang 39Phổ 1H-NMR của TR4 cho thấy một tín hiệu proton của nhóm -OH kiềm nối ở
hai nhóm thế ở các vị trí 1,4 do có các tín hiệu cộng hưởng của hai proton nhân
J = 9.0 Hz, H-3 và H-5) Ngoài ra, phổ 1H-NMR còn cho thấy các mũi đôi cộng
chứa thêm một vòng benzene mang các nhóm thế ở vị trí 1, 2, 3 ,5
có các nhóm thế ở vị trí 1, 4
của hợp chất TR4 với hợp chất kaempferol [24] thấy có sự tương đồng, vì vậy, đề
Trang 40Hình 3.6 Cấu trúc hoá học của hợp chất TR4
Hình 3.7 Một số tương quan HMBC của hợp chất TR4 Bảng 3.4 Dữ liệu phổ 1 H-NMR và 13 C-NMR của hợp chất TR4