1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng trẻ em trong văn xuôi mai bửu minh từ góc nhìn tự sự học

207 48 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 207
Dung lượng 3,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung, vấn đề về lí thuyết tự sự học đã được các nhà nghiên cứu ứng dụng trên bình diện rộng ở nhiều thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn,…với những đặc điểm chính quan trọng thườn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Vũ Trương Thảo Sương

HÌNH TƯỢNG TRẺ EM TRONG VĂN XUÔI MAI BỬU MINH

TỪ GÓC NHÌN TỰ SỰ HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Vũ Trương Thảo Sương

HÌNH TƯỢNG TRẺ EM TRONG VĂN XUÔI MAI BỬU MINH

TỪ GÓC NHÌN TỰ SỰ HỌC

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI THANH TRUYỀN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 3

Những nội dung được trình bày trong luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Bùi Thanh Truyền

Những kết quả nghiên cứu của các tác giả khác khi sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn đầy đủ về nguồn gốc (tên tác giả, tên công trình, thời gian, hình thức công bố)

Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm nguyên tắc nghiên cứu khoa học, quy chế đào tạo, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Tác giả luận văn

Vũ Trương Thảo Sương

Trang 4

dẫn, giúp đỡ quý báu của quý thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè cùng những người thân trong gia đình Với lòng biết ơn, kính trọng sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn: Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học, Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

PGS.TS Bùi Thanh Truyền – cán bộ hướng dẫn khoa học – đã nhiệt tình chỉ dẫn, giúp đỡ, khuyến khích tôi hoàn thành luận văn này

Ban Giám hiệu, tổ Ngữ văn trường Trung học phổ thông chuyên Hùng Vương – nơi tôi công tác đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, công việc trong quá trình tôi học tập và thực hiện luận văn

Nhà văn Mai Bửu Minh đã có những gợi mở giúp tôi tháo gỡ những thắc mắc, hiểu sâu sắc hơn các tác phẩm của ông trong quá trình nghiên cứu

Gia đình, bạn bè – những người đã động viên tôi học tập, cố gắng không ngừng

để có thể hoàn thành luận văn này một cách tốt nhất

Trân trọng!

Tác giả luận văn

Vũ Trương Thảo Sương

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ TỰ SỰ HỌC VÀ HÌNH TƯỢNG TRẺ EM TRONG VĂN XUÔI MAI BỬU MINH 13

1.1 Giới thuyết chung về tự sự học 13

1.1.1 Khái niệm và lịch sử tự sự học 13

1.1.2 Đặc điểm nghiên cứu của tự sự học 17

1.2 Trẻ em – một hình tượng văn học đặc thù 19

1.2.1 Hình tượng văn học 19

1.2.2 Hình tượng trẻ em trong văn học 20

1.2.3 Đặc điểm của nghệ thuật xây dựng hình tượng trẻ em trong văn học 22

1.3 Tính khả dụng của việc tiếp cận nghệ thuật xây dựng hình tượng trẻ em trong văn xuôi của Mai Bửu Minh từ góc nhìn tự sự học 25

1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Mai Bửu Minh 25

1.3.2 Quan niệm nghệ thuật của Mai Bửu Minh 28

1.3.3 Nỗ lực đổi mới nghệ thuật tự sự qua hình tượng trẻ em của văn xuôi Mai Bửu Minh 33

Tiểu kết Chương 1 43

Chương 2 HÌNH TƯỢNG TRẺ EM TRONG VĂN XUÔI MAI BỬU MINH NHÌN TỪ CỐT TRUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TỰ SỰ 44

2.1 Hình tượng trẻ em trong văn xuôi Mai Bửu Minh nhìn từ cốt truyện 44

2.1.1 Khái lược về cốt truyện 44

2.1.2 Các kiểu cốt truyện gắn với hình tượng trẻ em trong văn xuôi Mai Bửu Minh 46

2.2 Hình tượng trẻ em trong văn xuôi Mai Bửu Minh nhìn từ điểm nhìn tự sự 71

Trang 6

Mai Bửu Minh 73

2.3 Mối quan hệ giữa cốt truyện và điểm nhìn qua hình tượng trẻ em trong văn xuôi Mai Bửu Minh 91

2.3.1 Điểm nhìn – lạ hóa cốt truyện 91

2.3.2 Cốt truyện – đa dạng, toàn diện về góc nhìn trẻ em 94

Tiểu kết Chương 2 97

Chương 3 HÌNH TƯỢNG TRẺ EM TRONG VĂN XUÔI MAI BỬU MINH NHÌN TỪ DIỄN NGÔN NGHỆ THUẬT VÀ GIỌNG ĐIỆU TỰ SỰ 100

3.1 Hình tượng trẻ em trong văn xuôi Mai Bửu Minh nhìn từ diễn ngôn nghệ thuật 100

3.1.1 Khái lược về diễn ngôn nghệ thuật 100

3.1.2 Các hình thức diễn ngôn nghệ thuật qua hình tượng trẻ em trong văn xuôi Mai Bửu Minh 102

3.2 Hình tượng trẻ em trong văn xuôi Mai Bửu Minh nhìn từ giọng điệu tự sự 124

3.2.1 Khái lược về giọng điệu tự sự 124

3.2.2 Biểu hiện giọng điệu tự sự qua hình tượng trẻ em trong văn xuôi Mai Bửu Minh 126

3.3 Mối quan hệ giữa diễn ngôn và giọng điệu qua hình tượng trẻ em trong văn xuôi Mai Bửu Minh 138

3.3.1 Diễn ngôn – kết tinh giọng điệu, kiến tạo tri thức cho trẻ 138

3.3.2 Giọng điệu – chìa khóa giải mã thông điệp của diễn ngôn 141

Tiểu kết Chương 3 144

KẾT LUẬN 146

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 150

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151 PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Tự sự học được xem là một ngành nghiên cứu văn học khá mới mẻ xuất hiện đầu tiên ở Pháp vào khoảng thời gian từ những năm 1960 – 1970 Khi vào Việt Nam, ngành nghiên cứu này tiếp tục được khai thác triệt để, thể hiện được tiềm năng

to lớn của bản thân Tự sự học được xem là một nhánh của thi pháp học, chuyên đi vào nghiên cứu những đặc điểm nghệ thuật của văn bản tự sự Chính vì vậy nghiên cứu những tác phẩm văn xuôi từ góc nhìn tự sự học là hướng tiếp cận không chỉ tập trung vào khai thác cách kể chuyện của người kể mà còn nghiên cứu về cách thức xây dựng hình tượng nhân vật thật độc đáo và đầy mới lạ

1.2 Trong chúng ta, ai cũng có cho mình một ký ức tuổi thơ rất riêng, dù đẹp hay không thì đó đều là những trang giấy đầu tiên vẽ nên cuộc đời của mỗi người Miền kí ức tuổi thơ ấy như những dòng sữa mẹ mát lành tưới táp tâm hồn trẻ nhỏ để mỗi khi nhớ về là thấy cả một bầu trời bình yên Trong lứa tuổi hồn nhiên ấy, chẳng

hề có sự tồn tại của sự so đo tính toán, chẳng có mất hay còn, chỉ còn đó những ánh mắt hồn nhiên, những câu nói ngô nghê, hóm hỉnh hay hình ảnh những cô bé, cậu bé chân đất vô tư, quên cả đất trời chạy nhảy trên những con đường… Vì những điều ấy

mà văn học viết cho thiếu nhi ra đời, đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người đọc nhỏ tuổi lẫn người đọc lớn tuổi Văn học thiếu nhi dần khẳng định được vị thế của mình và trở thành bộ phận không thể thiếu trong nền văn học Việt Nam Kí ức tuổi thơ với những bài học đầu đời được tìm thấy trong từng câu thơ, câu văn nghệ thuật, là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn con người qua năm tháng Thông qua những câu chuyện trong từng tác phẩm, các em sẽ tìm thấy những bài học nhẹ nhàng và sâu lắng mà bộ phận văn học này đem lại Mỗi câu chuyện khi viết cho thiếu nhi đều chứa đựng trong nó những bài học làm người rất quý giá

1.3 Mai Bửu Minh là nhà văn ở vùng Tây Nam Bộ có nhiều sáng tác hay dành

cho thiếu nhi Ông gắn liền cuộc đời mình với vùng quê Châu Phú, tỉnh An Giang,

đưa vào trang văn những hình ảnh chân thật, bình dị nhất của con người và cuộc sống vùng Tây Nam Bộ, đặc biệt hơn hết là hình tượng nhân vật trẻ em Nhà văn tâm sự:

“Tôi tham gia viết truyện cho thiếu nhi, trước nhất chỉ vì tôi có một tuổi thơ khá nhọc

Trang 9

nhằn với quãng thời gian vừa đi học, vừa theo cha mẹ ra đồng Bạn bè của tôi là những đứa trẻ chăn bò, ít học, suốt ngày lang thang trên những cánh đồng với những sinh hoạt rất đặc biệt mà tôi không thấy người ta đề cập tới trong sách báo… Người

ta không viết thì tôi viết” (Mai Bửu Minh, 2012) Bằng cái nhìn chân thật, Mai Bửu Minh đã xây dựng nên thế giới trẻ em trong sáng, hồn nhiên nhưng cũng chịu nhiều mất mát, thiệt thòi và bất hạnh

Hầu hết những sáng tác của nhà văn đều xoáy vào đề tài nông thôn ở vùng sông nước Tây Nam Bộ nên nhân vật thường là người nông dân với công việc đồng áng, trong đó nhiều nhất là nhân vật trẻ em Từ những cánh đồng của quê hương An Giang, Mai Bửu Minh đã “nhặt chữ”1 và viết nên gần 7.000 trang sách trong hơn 30 quyển sách đã được xuất bản, trong đó có 11 tác phẩm được tái bản và 14 giải thưởng ghi dấu những thành công đáng kể trong hơn 30 năm sáng tác của ông Những người dân vùng sông nước An Giang có lẽ còn quen thuộc hơn với 05 quyển tiểu thuyết thường

xuyên được đọc trên Đài như là Vua nói dóc, Đốm lửa trên đồng, Quê mẹ xa xưa, Đường tới hạnh phúc, Chiến công siêu phàm

1.4 Tháng 01/2018, Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật ở An Giang đã phối hợp cùng với nhóm “Gia đình Áo trắng”2 tiến hành tổ chức buổi Tọa đàm với chủ đề “Mai Bửu Minh – Người nhặt chữ trên những cánh đồng” để kỉ niệm 30 năm sáng tác với

hơn 30 đầu sách được xuất bản và đạt được nhiều giải thưởng Ông đã tạo được thế đứng nhất định cho mình trên con đường sáng tác văn học, nhất là về mảng thiếu nhi

Đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận văn, khóa luận, các bài viết về hình tượng nhân vật trẻ em Tuy vậy, tính đến nay, vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu

cụ thể về hình tượng trẻ em trong văn xuôi Mai Bửu Minh từ góc nhìn tự sự học Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi lựa chọn đề tài này để nghiên cứu trong luận văn của mình Chúng tôi muốn đi sâu làm rõ hơn những nét riêng độc đáo về cốt truyện, điểm nhìn, diễn ngôn nghệ thuật cũng như giọng điệu tự sự trong từng tác phẩm đã góp phần làm nên sự thành công trong việc xây dựng nên hình tượng trẻ em mang đặc

1 Từ dùng trong Tọa đàm “Mai Bửu Minh – Người nhặt chữ từ những cánh đồng” do những thành viên trong

Gia đình Áo trắng An Giang chủ động tổ chức

2 Nhóm nhà văn trẻ, trưởng thành dưới sự dẫn dắt của nhà văn Mai Bửu Minh, được thành lập ngày 17/10/2007

Trang 10

trưng của vùng sông nước An Giang Đây sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu về hình tượng đặc sắc này qua các tác phẩm văn xuôi của Mai Bửu Minh

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Nghiên cứu về tự sự học Việt Nam

2.1.1 Tìm hiểu về tự sự học ở Việt Nam, chúng tôi xin được điểm qua một số công trình nghiên cứu, những bài dịch thuật tiêu biểu như sau:

Cuốn sách Những vấn đề thi pháp truyện (Nguyễn Thái Hòa, 2000), nghiên cứu

lí thuyết tự sự trên những phương diện cơ bản về người kể chuyện, lời kể và giọng điệu, không gian và thời gian tự sự, các vấn đề diễn ngôn, mối quan hệ giữa thời gian

và điểm nhìn… Các vấn đề được đặt ra trong quyển sách này được xem là tư liệu nghiên cứu thiết thực cho việc tìm hiểu sâu hơn về thi pháp truyện

Hai công trình nghiên cứu lớn về Tự sự học – Một số vấn đề lí luận và lịch sử,

tập 1 (Trần Đình Sử, 2017) và tập 2 (Trần Đình Sử, 2015) được Trần Đình Sử chủ biên với nhiều bài viết đi sâu vào vấn đề này như:

+ Bài viết Tự sự học – một bộ môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng (Trần

Đình Sử, 2017, tr.8) tìm hiểu về nghệ thuật tự sự học, đồng thời khẳng định đây là lĩnh vực thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu, phê bình văn học trên thế giới

+ Vài nét về tư duy tự sự của người Việt của Vương Trí Nhàn (Trần Đình Sử,

2017, tr.141) lần nữa khẳng định rằng nghiên cứu tự sự học sẽ là phương cách tốt nhất để tìm hiểu quá trình tự nhận thức của người Việt; là nguồn vô tận để cung cấp

đề tài và cốt truyện cho sáng tác

+ Bài viết bàn về Tự sự học không ngừng mở rộng và phát triển của Trần Đình

Sử (Trần Đình Sử, 2015, tr.7) Tác giả đã dẫn ra lịch sử nghiên cứu về tự sự học qua các giai đoạn từ thời cổ đại, đầu thế kỉ XIX cho đến nay Ngoài ra, bài viết còn cho thấy được tự sự học là khuynh hướng tìm tòi mới theo hướng mở, “một phương tiện hùng mạnh để biểu đạt và lí giải thế giới, góp phần hữu ích vào việc phê bình và giảng dạy văn học” (tr.17)

+ Bài nghiên cứu Dẫn luận về tự sự học của Susanna Onega và J.A García Landa do Lê Lưu Oanh và Nguyễn Đức Nga dịch và tóm lược (Trần Đình Sử, 2015,

Trang 11

tr.18) Đây là công trình dịch thuật tổng quan về tự sự học với các bài viết giới thiệu

về tự sự học, cấu trúc trần thuật của tự sự học, các trường phái nghiên cứu tự sự học

ở phương Tây: cổ điển và hiện đại

+ Tự sự học: tên gọi, lược sử và một số vấn đề lí thuyết của Lê Thời Tân (Trần

Đình Sử, 2015, tr.60) bao gồm các nội dung lược sử về tự sự học, một số vấn đề lí thuyết của tự sự học hiện đại

+ Lí thuyết tự sự học của Mieke Bal của Nguyễn Thị Ngọc Minh (Trần Đình Sử,

2015, tr.79) góp phần giới thiệu lí thuyết tự sự học ở nhiều phương diện, cung cấp những lí thuyết hữu hiệu giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc về tự sự học

+ Bàn về Một vài thuật ngữ thông dụng trong kể chuyện của giáo sư Đặng Anh

Đào (Trần Đình Sử, 2015, tr.169) bao gồm các thuật ngữ tiêu biểu như người kể chuyện, điểm nhìn, tiêu điểm, ngôi kể, giọng kể,…

Năm 2018, Trần Đình Sử và đồng nghiệp tiếp tục tái bản và cập nhật cuốn Tự

sự học – Lí thuyết và ứng dụng, dày 640 trang, chia làm ba phần Phần một: Tự sự

học kinh điển Phần hai: Tự sự học hậu kinh điển Phần ba: Tự sự học ứng dụng và phụ lục: thuật ngữ tự sự học, tập trung làm rõ các nội dung cơ bản của tự sự học, một

ngành nghiên cứu văn học hiện đại, bao gồm những phạm trù và khái niệm cơ bản của tự sự học kinh điển và hậu kinh điển và việc ứng dụng tại một số nước như Nga, Trung Quốc, Việt Nam

Những công trình nghiên cứu trên đã bước đầu giới thiệu sơ lược về cơ sở hình thành tự sự học ở Việt Nam ở những cấp độ khác nhau, nhưng nhìn chung khá chi tiết và chuyên sâu, giúp người quan tâm tới tự sự học có thể hình dung về quá trình phát triển cũng như mục đích nghiên cứu của ngành này Các nhà nghiên cứu tập trung khai thác các yếu tố cơ bản khi nghiên cứu văn học; xác định những thuật ngữ trong tự sự học và cách chọn dùng khái niệm này; giới thiệu những vấn đề cơ bản của

lý thuyết tự sự học hiện đại đặc biệt là những phương diện về trần thuật trong tác phẩm văn học Tuy nhiên, qua những bài nghiên cứu trên có thể nhận ra rằng việc nghiên cứu tự sự học là hết sức phức tạp trong các hình thức của văn học Vì vậy mà càng về sau hình thức này càng trở thành đối tượng chủ yếu của tự sự học Việc tìm hiểu khái quát về lịch sử phát triển, xác định những thuật ngữ khoa học, khái niệm

Trang 12

hợp lý cũng là cơ sở để ghi nhận những cố gắng ban đầu của các nhà nghiên cứu lý luận Đây sẽ là những tài liệu hữu ích đối với những ai quan tâm và muốn ứng dụng

tự sự học để nghiên cứu các hiện tượng văn học cụ thể

2.1.2 Trong quá trình khảo sát những công trình nghiên cứu vấn đề lí thuyết về

tự sự học ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy việc vận dụng tự sự học để tìm hiểu tác phẩm văn học đã được triển khai khá rộng rãi Sau đây, chúng tôi xin được giới thiệu một số luận văn, bài báo tiêu biểu đã thành công với lí thuyết này:

- Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại của Thái Phan

Vàng Anh (2010) Bàn về giọng điệu, tác giả đã có cái nhìn bao quát ở thể loại tiểu thuyết để chỉ ra được những phương diện đặc sắc làm nên giọng điệu riêng của thể loại văn xuôi Việt Nam đương đại như giọng điệu triết lí, giọng điệu trào phúng, giễu nhại và giọng điệu vô âm sắc

- Người kể chuyện với điểm nhìn bên trong của Thái Phan Vàng Anh (2011)

Trong bài viết, tác giả cho rằng “điểm nhìn” là cơ sở tất yếu để phân biệt hai yếu tố tác giả và người kể chuyện Khi sáng tác tác phẩm, tác giả không còn là trung tâm câu chuyện, mất đi hoàn toàn vai trò chính yếu của mình khi tổ chức truyện Trong khi đó, người kể chuyện lại có thể hoàn toàn mang điểm nhìn của chính tác giả

- Người kể chuyện và mối quan hệ giữa người kể chuyện với tác giả của Cao

Kim Lan (2012) Tác giả đã vận dụng lí thuyết tự sự học để nghiên cứu về mối quan

hệ giữa tác giả và người kể chuyện trong từng tác phẩm cụ thể

- Điểm nhìn của chủ thể trần thuật trong truyện ngắn Nam Cao trước 1945 của

Phạm Thị Lương (2013) Bài viết của tác giả đã chỉ ra bốn điểm nhìn chính của chủ thể trần thuật trong tác phẩm là điểm nhìn bên trong, điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn phức hợp và điểm nhìn đơn tuyến

Nhìn chung, vấn đề về lí thuyết tự sự học đã được các nhà nghiên cứu ứng dụng trên bình diện rộng ở nhiều thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn,…với những đặc điểm chính quan trọng thường hay được tập trung khai thác, đó là giọng điệu trần thuật, điểm nhìn của chủ thể trần thuật, người kể chuyện,… Từ góc nhìn tự sự học, những công trình nghiên cứu này đã đưa ra những đánh giá một cách toàn diện khi soi chiếu từng góc cạnh của một tác phẩm văn học để thấy được những giá trị nội

Trang 13

dung, tư tưởng cũng như giá trị thẩm mỹ của tác phẩm văn học đó Người đọc sẽ cảm nhận được những điều mới mẻ, tinh nguyên còn ẩn sâu trong từng trang giấy sẫm màu, chứa đựng biết bao cung bậc cảm xúc trữ tình của nhà văn

2.2 Nghiên cứu về văn xuôi của Mai Bửu Minh

Khi bàn về cuộc đời và quá trình sáng tác văn học của Mai Bửu Minh, có rất nhiều những đánh giá, nhận định cũng như công trình nghiên cứu đề cập đến Sau đây là những ý kiến nhận xét cũng như đánh giá được ghi nhận trên các bài báo về văn xuôi của ông

Trên báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Lưu Ngọc khi bàn về văn xuôi của

Mai Bửu Minh, trích trong bài Số phận con người trong tập truyện ngắn Đêm khó quên có viết: “Truyện của Mai Bửu Minh có duyên dí dỏm, nhẹ nhàng Mỗi truyện

để lại một ấn tượng cho người đọc phán quyết tiếp theo Văn chương trau chuốt, ngôn ngữ phù hợp đối tượng nhân vật Chất Nam Bộ và chất dân gian xen kẽ với nhau từ đầu đến cuối truyện Mỗi truyện đều có vấn đề đặt ra nhưng tựu trung nhất vẫn là con người Mai Bửu Minh muốn nhắn gửi: hạnh phúc mỗi số phận là trách nhiệm không chỉ người cầm bút” (Lưu Ngọc, 1992)

Về tác phẩm Quê mẹ xa xưa, Cát Đằng nhận xét: “Tiểu thuyết Quê mẹ xa xưa

đã miêu tả nét đẹp của một vùng quê thanh bình, trù phú và ấm áp tình người được tái hiện sinh động qua từng trang sách, đưa độc giả bước vào cuộc sống nhiều tình người với nhân vật chính Với tác phẩm mới này, nhà văn Mai Bửu Minh tiếp tục đưa độc giả đến vùng quê Châu Phú, An Giang trù phú và ấm áp tình người Quê hương

là mạch đề tài quen thuộc trong sáng tác của ông nhưng luôn tạo được cảm xúc mới

mẻ bởi cách viết đa dạng, hình ảnh phong phú và vốn sống dày dặn của tác giả […] Truyện còn khắc họa tính cách của từng nhân vật, tạo ra những mâu thuẫn, xung đột

hợp lý Có thể nói Quê mẹ xa xưa vừa giàu chất thơ, vừa ấm áp tình người, để lại

những cảm xúc và ấn tượng đẹp trong lòng người đọc” (Cát Đằng, 2016a)

Tiếp nối những tác phẩm viết về vùng đất và con người miền Tây Nam Bộ, trên

báo Cần Thơ Online, Cát Đằng cũng đã từng nhận xét tác phẩm Hạnh phúc đơn sơ

của Mai Bửu Minh là “câu chuyện tình yêu chiếm trọn cảm tình của độc giả bởi sự mộc mạc, chân thành và đầy tính nhân văn” (Cát Đằng, 2016b)

Trang 14

Nguyễn Kim Nương đi sâu vào đánh giá, khám phá thế giới nội tâm con người

trong tác phẩm “Đôi tay” để thấy rõ những thay đổi trong suy nghĩ, nhìn thấu đáo về

số phận con người: “Truyện ngắn Đôi tay của Mai Bửu Minh, thoạt đầu trần thuật

theo điểm nhìn bên ngoài để miêu tả một cụ già đang khó nhọc đi tìm cái ăn […] dần dần chuyển vào bên trong nhân vật Ngòi bút của tác giả nhập hẳn vào ông Thủ, khám phá tâm trạng tiếc nuối, “nghẹn ngào, uất ức” khi hồi tưởng lại những ngày xa xưa, những ngày mà môi trường thiên nhiên chưa bị cái “văn minh” của loài người hủy hoại…” (Nguyễn Kim Nương, 2005, tr.58)

Không chỉ có những bài báo đánh giá về văn xuôi Mai Bửu Minh mà năm 2018, Đinh Xuân Thu đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Văn học Việt Nam

nghiên cứu về sáng tác của nhà văn với đề tài Đặc điểm tiểu thuyết Mai Bửu Minh

Luận văn này tập trung nghiên cứu đặc điểm nổi bật về phương diện nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Mai Bửu Minh thông qua ba tác phẩm tiểu thuyết tiêu biểu là

Đường tới hạnh phúc (2015), Quê mẹ xa xưa (2016) và Hạnh phúc đơn sơ (2017)

Công trình nghiên cứu đã khẳng định được sự đóng góp đáng ghi nhận của nhà văn cũng như nhấn mạnh phong cách sáng tác độc đáo của nhà văn này

2.3 Nghiên cứu về đề tài thiếu nhi trong văn xuôi Mai Bửu Minh từ góc nhìn

ngày thong dong chăn bò được thể hiện trong các tác phẩm Vua nói dóc, Đốm lửa trên đồng, Chiến công siêu phàm, giúp người lớn như được “một vé trở về tuổi thơ”,

sống lại những ký ức êm đềm nơi miền sông nước” đầy bình dị, phóng khoáng và đậm chất miền Tây (Trúc Pha, 2018)

Trang 15

Đánh giá cao những nét tiêu biểu trong tác phẩm viết cho thiếu nhi, Trần Hoàng

Vy trong bài viết Mai Bửu Minh và những tác phẩm viết cho thiếu nhi trên báo Bình

Thuận Online cũng đã nhấn mạnh: “Không ngoại lệ, những tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi của Mai Bửu Minh, ngoài những chức năng truyền thống như thẩm mỹ, giải trí, truyện còn góp phần giáo dục một cách nhẹ nhàng về tình cảm, lối sống cho các em […] Nhà văn đang khai thác những kỷ niệm tuổi thơ mà ai ai cũng đã từng trải qua Để thời gian “ngoái lại” chiêm nghiệm và trải lòng mình cùng chia sẻ với các bạn đọc nhỏ tuổi là điều đáng quý và trân trọng” (Trần Hoàng Vy, 2016)

Phú Hảo Hiếu trong bài viết Chú chó tinh khôn cũng đã có những đánh giá về

tác phẩm của Mai Bửu Minh: “Hơn hai chục năm cầm bút, cuộc chạy việt dã cho thiếu niên nhi đồng cũng như cho tuổi trẻ, cây bút này đã gặt hái được những thành

công: Tặng phẩm Nxb Kim Đồng với tác phẩm Một miền quê, giải khuyến khích cuộc thi sáng tác văn học Tuổi trẻ của Nxb Thanh Niên và Hội Nhà văn với tác phẩm Hắn

và tôi và nhiều giải thưởng về truyện ngắn […] Văn học thiếu nhi được đặc biệt quan

tâm trong sự nghiệp giáo dục thiếu niên nhi đồng của nước nhà Mai Bửu Minh có sở trường mảng văn chương này, đó là thế mạnh của người có tâm có tình thực hiện nghĩa vụ công dân cầm bút Một niềm hạnh phúc!” (Phú Hảo Hiếu, 2004, tr.34)

Trong truyện ngắn Hắn và tôi, cũng trích trong tập truyện Đêm khó quên, Duy

Vũ trong bài viết của mình cũng đã đưa ra nhận xét: “Tôi cũng rất thích truyện ngắn

Hắn và tôi, ở tác phẩm này nhà văn Mai Bửu Minh sử dụng thủ pháp phân thân nhân

vật giữa “tôi” (là mình) và “hắn” là cái tiêu cực như một hình ảnh đen tối ẩn nấp khuất lấp một cách đầy ám ảnh bên trong bản thể con người, nhân vật “hắn” mơ hồ không

cụ thể nhưng suy cho cùng lại rất chân thật, rất thực tế trong đời sống xã hội, tôi cho đây là cách sáng tạo hình ảnh nhân vật lạ mà rất hay và lôi cuốn độc giả từ đầu trang cho đến cuối truyện” (Duy Vũ, 2018, tr.91) Cũng trong truyện ngắn này, Nguyễn

Kim Nương trong cuốn Truyện ngắn An Giang 1975-2000 – những thành tựu chủ yếu cũng đánh giá: “Ở truyện ngắn Hắn và tôi, Mai Bửu Minh đã xê dịch điểm nhìn

trần thuật gần như liên tục để nhận diện “hắn” và “tôi” – hai “nhân vật” xấu – tốt đối nghịch nhau có khi tồn tại trong cùng một con người – đang giằng co, đấu tranh rất quyết liệt để giành phần thắng về mình Đặt điểm nhìn bên trong nhân vật để thấy rõ

Trang 16

lý tưởng tốt đẹp của một kỹ sư trẻ đang xông xáo bước vào đời… rồi phải nhìn từ bên ngoài để quan sát cuộc sống của con người có lý tưởng cao đẹp ấy Tác giả đã đặt điểm nhìn thật sâu bên trong nhân vật để xem xét sự xung đột tinh thần của nhân vật mỗi lần đấu tranh tư tưởng để bảo vệ cái tốt, để quan sát quá trình biến đổi tính cách của nhân vật qua các biến cố cuộc đời…” (Nguyễn Kim Nương, 2005, tr.59-60)

Lê Anh với bài viết Họ viết gì trong sách? khi đề cập đến truyện dài Chiến công siêu phàm đã khẳng định: “Nhà văn Mai Bửu Minh đã dựng lên một câu chuyện về

“siêu anh hùng” nhí đậm chất miền Tây Bộ ba Bi, Bo, Thảo có chuyến phiêu lưu truy tìm tung tích bọn trộm phá hoại làng xóm Bên cạnh hành trình mang yếu tố trinh thám hồi hộp, còn có một hành trình khác, đó là hành trình trưởng thành của Bo Từ chú bé nhút nhát, luôn bị anh bắt nạt, Bo đã học cách phân biệt đúng sai, biết đứng

về phía người yếu thế, bảo vệ công lý Tác phẩm đã giúp độc giả nhỏ tuổi hiểu hơn văn hóa, con người của vùng đất này thông qua những câu chuyện hóm hỉnh và rất đời thường” (Lê Anh, 2017)

Mai Bửu Minh trong bài tham luận của mình đọc tại Hội nghị về Văn học thiếu nhi, cũng đã từng có những trăn trở: “Nếu ai đó xem nhẹ văn học thiếu nhi là không

những có lỗi với người viết cho văn học thiếu nhi mà còn có tội với các em, những thế hệ công dân Việt Nam sau này” (Mai Bửu Minh, 2012) Đáp lại những suy tư ấy, Trần Tùng Chinh cũng đã có một bài báo với đề tài “Thế giới nghệ thuật trong một

số sáng tác tiêu biểu viết cho thiếu nhi của nhà văn Mai Bửu Minh”, khảo sát qua ba

truyện dài tiêu biểu là Đốm lửa trên đồng (1999, tái bản 2015), Quê mẹ xa xưa (2016)

và Vua nói dóc (2006, tái bản 2016) Bài nghiên cứu này đã đi sâu tìm hiểu về thế

giới nghệ thuật trong sáng tác dành cho thiếu nhi của Mai Bửu Minh từ quan điểm nghệ thuật về con người; không gian và thời gian; chi tiết và nghệ thuật trần thuật trong sáng tác của ông (Trần Tùng Chinh, 2018, tr.6-21)

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu, đánh giá về văn xuôi Mai Bửu Minh chỉ là những bài báo có ý kiến đánh giá chung Bên cạnh đó, cũng mới có tác giả Đinh

Xuân Thu tìm hiểu về Mai Bửu Minh với luận văn Đặc điểm tiểu thuyết Mai Bửu

Minh (qua ba tác phẩm Đường tới hạnh phúc, Quê mẹ xa xưa và Hạnh phúc đơn sơ)

Như vậy, hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào tiến hành khảo sát, nhận xét sâu

Trang 17

về hình tượng trẻ em trong văn xuôi Mai Bửu Minh từ góc nhìn tự sự học Luận văn này sẽ là công trình thứ hai tìm hiểu về Mai Bửu Minh, nhưng sẽ là đề tài đầu tiên đánh giá, khai thác chuyên sâu, cụ thể về hình tượng trẻ em trong các tác phẩm viết

về thiếu nhi của nhà văn

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của người nghiên cứu khi thực hiện luận văn này là làm sáng tỏ các đặc điểm của hình tượng trẻ em trong văn xuôi Mai Bửu Minh từ góc nhìn tự sự học Luận văn sẽ chỉ ra những biểu hiện cơ bản của cốt truyện, điểm nhìn tự sự được vận dụng cũng như khai thác các yếu tố của diễn ngôn và giọng điệu tự sự, làm tiền đề để nghiên cứu hiệu quả nghệ thuật trong văn xuôi của nhà văn Từ đó, luận văn sẽ bình luận, đánh giá phong cách nghệ thuật của Mai Bửu Minh, khẳng định những thành công và đóng góp của tác giả trên tiến trình phát triển của văn học vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và văn học hiện đại Việt Nam nói chung

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát, phân tích hình tượng trẻ em trong văn xuôi Mai Bửu Minh Từ việc chọn hình tượng trẻ em làm đối tượng nghiên cứu, người viết hướng đến các đặc điểm truyện thiếu nhi của Mai Bửu Minh từ góc nhìn

tự sự học Luận văn sẽ giúp cho người đọc có cái nhìn tổng quát, sâu sắc hơn về những cái hay, cái đẹp trong văn xuôi của ông

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Để làm rõ mục đích, nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu, luận văn tập trung khảo sát một số tác phẩm văn xuôi tiêu biểu đã được xuất bản, gồm:

- Truyện dài Chuyện tình nhà thơ lớp, Nxb Kim Đồng, 2003, tái bản 2006

- Truyện dài Hạt bụi đời, Nxb Đồng Nai, 1993 Nxb Kim Đồng, tái bản 2006

- Truyện dài Khả năng đặc biệt, Nxb Kim Đồng, 2014

- Truyện dài Đốm lửa trên đồng, Nxb Kim Đồng, 1999 Nxb Văn hóa - Văn

nghệ, tái bản 2015

- Tiểu thuyết Đường tới hạnh phúc, Nxb Văn hóa – Văn nghệ, 2015

- Tiểu thuyết Quê mẹ xa xưa, Nxb Văn hóa - Văn nghệ, 2016

Trang 18

- Truyện dài Vua nói dóc, Nxb Văn hóa - Văn nghệ, 2016

- Truyện dài Chiến công siêu phàm, Nxb Kim Đồng, 2017

- Truyện dài Cô bé mộng mơ, Nxb Kim Đồng, 2017

- Tiểu thuyết Hạnh phúc đơn sơ, Nxb Văn hóa – Văn nghệ, 2017

- Truyện dài Thành Messi, Nxb Kim Đồng, 2019

4 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài Hình tượng trẻ em trong văn xuôi Mai Bửu Minh từ góc

nhìn tự sự học, chúng tôi đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu sau: 4.1 Vận dụng lý thuyết tự sự học

Vận dụng lí thuyết này để khảo sát, xây dựng những luận điểm về cách xây dựng hình tượng nhân vật trẻ em trong văn xuôi Mai Bửu Minh

4.2 Phương pháp tiếp cận hệ thống

Để triển khai luận văn, chúng tôi đặt truyện thiếu nhi của Mai Bửu Minh trong

hệ thống truyện của nhà văn và hệ thống truyện thiếu nhi Việt Nam thời đổi mới Điều này giúp chúng tôi có cái nhìn rõ nét hơn về đặc điểm riêng trong truyện viết về hình tượng trẻ em của nhà văn

4.3 Phương pháp loại hình

Phương pháp loại hình giúp chúng tôi xem xét sáng tác của nhà văn từ góc độ loại hình văn xuôi nghệ thuật Cụ thể khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi luôn quan tâm đến những đặc trưng nghệ thuật của thể loại tự sự để tìm ra những đặc điểm chất liệu, cấu trúc, quy trình kiến tạo diễn ngôn trong truyện thiếu nhi Mai Bửu Minh

4.4 Phương pháp phân tích - tổng hợp

Trong quá tình thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng một số dẫn chứng được trích ra từ tác phẩm của tác giả để minh họa cho nhận xét, lập luận của mình Vì vậy, trong suốt quá trình thực hiện, chúng tôi vận dụng phương pháp phân tích để làm sáng

tỏ các ý đã được nêu ở các chương

4.5 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu nhằm chỉ ra những nét chung

và nét độc đáo riêng của Mai Bửu Minh so với các nhà văn cùng viết cho thiếu nhi

4.6 Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Trang 19

Đối tượng miêu tả trong truyện thiếu nhi Mai Bửu Minh là thiếu nhi – một trong những đối tượng đặc biệt trong văn chương và ngoài đời thực Do vật, khi thực hiện

đề tài, chúng tôi kêt hợp với phương pháp của các ngành khoa học khác như: văn hóa học, giáo dục học và tâm lí học để có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn đối tượng

5 Đóng góp mới của luận văn

- Luận văn phác thảo khá đầy đủ, chi tiết về các phương diện xây dựng hình tượng nhân vật trẻ em trong văn xuôi Mai Bửu Minh từ góc nhìn tự sự học Đồng thời, gián tiếp khẳng định vị trí, chỗ đứng của tác giả này trên văn đàn văn học Việt Nam đương đại

- Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm đến lí thuyết

tự sự và các sáng tác của Mai Bửu Minh

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình của tác giả, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, phần nội dung chính của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Khái lược về tự sự học và hình tượng trẻ em trong văn xuôi Mai Bửu Minh Luận văn nhấn mạnh ở ba điểm: nêu ra giới thuyết chung về tự sự học, khái

lược về hình tượng trẻ em – một hình tượng văn học đặc thù cũng như chỉ ra được tính khả dụng của việc tiếp cận nghệ thuật xây dựng hình tượng trẻ em trong văn xuôi của Mai Bửu Minh từ góc nhìn tự sự học

Chương 2: Hình tượng trẻ em trong văn xuôi Mai Bửu Minh nhìn từ cốt truyện

và điểm nhìn tự sự Trọng tâm của chương này là tìm hiểu các dạng thức biểu hiện

của cốt truyện cũng như những biểu hiện về điểm nhìn tự sự nổi bật trong văn xuôi của Mai Bửu Minh

Chương 3: Hình tượng trẻ em trong văn xuôi Mai Bửu Minh nhìn từ diễn ngôn nghệ thuật và giọng điệu trần thuật Dựa vào ngôn ngữ nghệ thuật và nhịp điệu xây

dựng cấu trúc thế giới hình tượng nhân vật, luận văn đi sâu nghiên cứu về đặc điểm diễn ngôn nghệ thuật và các giọng điệu tự sự trong văn xuôi của Mai Bửu Minh

Trang 20

Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ TỰ SỰ HỌC VÀ HÌNH TƯỢNG TRẺ EM

TRONG VĂN XUÔI MAI BỬU MINH

Tự sự học (Narratology) là lĩnh vực có nguồn tri thức rộng lớn, tính thực tiễn

cao, đem lại nhiều kết quả khả quan trong nghiên cứu văn học Là phương thức phản

ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vi con người, tự sự học trở thành một

bộ môn nghiên cứu đặc thù của lý luận văn học (Cao Thị Hồng, 2016), lấy nghệ thuật

tự sự làm đối tượng để lý giải những hình tượng văn học, trong đó có trẻ em - hình tượng văn học đặc thù Trong thực tế sáng tác và tiếp nhận văn học, Mai Bửu Minh

đã có cách giải mã hình tượng này theo ý đồ riêng và người đọc cũng dễ dàng nhận

ra thông qua những quan niệm nghệ thuật của ông Nhà văn thể hiện sâu sắc ý thức của mình trong việc miêu tả trẻ em gắn với những biến đổi mô hình nghệ thuật về con người, được cụ thể hóa trong từng kiểu nhân vật

1.1 Giới thuyết chung về tự sự học

1.1.1 Khái niệm và lịch sử tự sự học

Tự sự học là một thuật ngữ xuất hiện rất sớm ở phương Tây Khởi nguồn của tự

sự học có thể được xem là bắt đầu từ Aristotle với công trình Thi pháp học (Poetics) Năm 1969 trong cuốn sách Ngữ pháp Câu chuyện mười ngày, T.Todorov đã đề xuất tên gọi Tự sự học - Narratology/ Narratologie Từ đó, ngành lí luận về tự sự dần trở

thành vấn đề quan trọng trong nghiên cứu văn học với nhiều nhận định được ra đời

Trong cuốn Tự sự học – giới thiệu về lí thuyết tự sự của Mieke Bal (1985), bà định

nghĩa: “Tự sự là một thái độ văn hóa và nghiên cứu tự sự cũng là một quan điểm văn hóa” (Trần Đình Sử, 2015, tr.80) Với J.Miller, nhà giải cấu trúc Mĩ (1993) nhận định:

“Tự sự là cách để ta đưa các sự việc vào một trật tự, và từ trật tự ấy mà chúng có một

ý nghĩa Tự sự là cách tạo nghĩa cho sự kiện, biến cố” (tr.12) Ở Việt Nam, Trần Đình

Sử trong quyển Tự sự học – Lí thuyết và ứng dụng khi tìm hiểu về tự sự học cũng đã

nêu rõ: “Tự sự là hoạt động dùng một phương tiện kí hiệu biểu nghĩa nhất định (ngôn ngữ, điệu bộ, hình ảnh…), kể một chuyện (sự kiện) cho người khác xem, nghe, nhìn

nhằm gửi một thông điệp, tư tưởng […] Với hàm nghĩa đó, tự sự bao gồm một phạm

vi rất rộng lớn các hoạt động giao tiếp của con người.” (Trần Đình Sử, 2018, tr.69) Như vậy, đối với các khái niệm, các học giả đều nhìn nhận khái niệm tự sự là một hoạt động có tính chất nhận thức Hiểu đơn giản nhất thì tự sự là việc kể chuyện, “sự

Trang 21

kể lại một câu chuyện” cho có đầu có đuôi, có nguyên nhân, kết quả, hướng đến mục đích thể hiện ý nghĩa chung cho toàn bộ hệ thống đơn vị cấu thành nên nó

Vào khoảng đầu thế kỉXX, tự sự học dần phát triển và tạo dựng được vị thế của

mình khi cho ra đời của công trình Hình thái học truyện cổ tích (V.I.Propp) Tuy chưa

có một hệ thống khái niệm công cụ hoàn chỉnh về lí thuyết tự sự học, nhưng khi đề cao vấn đề “thủ pháp” trong nghiên cứu văn học, các nhà nghiên cứu đã khai thác

được nhiều phương diện cơ bản như: kết cấu văn bản tự sự, truyện kể và cốt truyện (Suizet và fabula), thời gian của truyện kể Nhưng tự sự học hiện đại được nhiều học

giả thống nhất là được bắt đầu từ trường phái hình thức Nga với những tên tuổi tiêu biểu như V.Shklovski (1893-1984), B.Tomachevski (1890-1957)… đã chỉ ra một hệ thống lí thuyết hoàn chỉnh về mặt kĩ thuật và các dạng thức tự sự nhằm cung cấp công

cụ giải mã tác phẩm cho người đọc Thực chất đây là một nhánh của thi pháp học cấu

trúc Trong bài viết Tình hình nghiên cứu truyện ngắn hiện thực Việt Nam 1932-1945

từ góc nhìn tự sự học (2016), Phạm Thị Lương đã nhận định: Năm 1966, “số đặc biệt của Tạp chí Truyền thông đã có ảnh hưởng rất lớn và được xem là một “kênh” mở

đầu cho việc nghiên cứu vào lĩnh vực này” Quyển tạp chí ấy ghi nhận các bài báo tiêu biểu của R.Barthes, Lévi-Strauss, G.Genette, T.Todorov và nhiều người khác Những nhà nghiên cứu này lập nên chuyên ngành tự sự học cấu trúc với việc tìm hiểu cấu trúc tự sự của văn bản Hệ hình tự sự học kinh điển nghiên cứu cấu trúc của

truyện, mối quan hệ của các sự kiện, diễn ngôn tự sự và các yếu tố như: người kể chuyện, điểm nhìn, ngôi kể, giọng điệu… Lĩnh vực này gần như chỉ dừng lại ở việc

miêu tả các yếu tố hình thức của cấu trúc tự sự trong sự tĩnh tại, khép kín

Sau tự sự học kinh điển, tự sự học hậu kinh điển ra đời gắn liền với nhiều đại diện tiêu biểu như T.Todorov (hậu kì), R.Barthes, G.Prince… Tự sự học hậu kinh điển tiếp tục hoàn thiện những thành tựu đã có đồng thời cũng kế thừa và mở rộng hơn Tự sự học không còn là một hiện tượng đơn lẻ mà dần trở thành một nhóm lí thuyết có quan hệ chặt chẽ với nhau Có thể kể tới một số công trình nghiên cứu đáng

lưu ý của hệ hình tự sự học hậu kinh điển như: Story and Discourse: Narrative Structure in Fiction and Film (Seymour Chatman, 1978); bài nghiên cứu mang tên A new point of view on “point of view” Coming to terms: the narrative of rhetoric in fiction and film (1990) (Một cách nhìn mới về điểm nhìn Đi đến thuật ngữ: Tự sự

học tu từ trong tiểu thuyết và phim) Đây là bài viết tiếp tục nghiên cứu vấn đề lí thuyết tự sự học của Seymour Chatman Ngoài ra, nhiều bài viết của các học giả

Trang 22

nghiên cứu khá kĩ lưỡng, độc đáo về từng phương diện cụ thể của tự sự học như The art of first person (Nghệ thuật của ngôi thứ nhất) (Alyce Miller, 1999); The art of third person (Nghệ thuật của ngôi thứ ba) (Lynna Williams, 1999); Point of view

(Điểm nhìn) (Valerie Miner, 1999) Như vậy, tự sự học đã vượt qua được những tính

chất lí thuyết để trở thành phân ngành có tính ứng dụng cao, tạo ra được một “bước ngoặt tự sự” (narrative run) (Phạm Ngọc Lan, 2019) trong nghiên cứu Văn học

Trước khi hệ thống lí thuyết tự sự được giới thiệu vào Việt Nam, Nguyễn Thái

Hòa đã có công trình Những vấn đề thi pháp truyện (2000), nghiên cứu tự sự dựa trên

những phương diện cơ bản như người kể chuyện, lời kể và giọng kể, không gian và thời gian tự sự, các vấn đề về diễn ngôn, mối quan hệ giữa thời gian kể và điểm nhìn… Phạm Thị Lương cũng đã nhắc đến việc ứng dụng lí thuyết thời gian tự sự của G.Genette của Nguyễn Thái Hòa: “Cũng trong công trình này, tác giả đã nhắc đến

thuật ngữ người đọc hàm ẩn và người kể hàm ẩn – là những thuật ngữ mà các học giả

nghiên cứu lí thuyết tự sự rất quan tâm và tìm cách lí giải Đây là một công trình gần như đề cập rất nhiều đến những vấn đề của lí thuyết tự sự sau này”3 Với sự lí giải sắc sảo, chặt chẽ, Nguyễn Thái Hòa đã đem đến cho người đọc một tư liệu nghiên cứu thực sự thiết thực cho những ai nghiên cứu về thi pháp của truyện nói chung và nghệ thuật tự sự nói riêng

Nhắc đến lĩnh vực tự sự học ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu không thể nào không nhắc đến tên Trần Đình Sử - một trong những người đầu tiên đưa tự sự học

giới thiệu vào nước ta Ông đã khẳng định trong báo cáo đề dẫn Tự sự học không ngừng mở rộng và phát triển của mình rằng tự sự học vẫn là ngành nghiên cứu còn

non trẻ, xuất hiện và phát triển vào khoảng những năm 60 của thế kỉ XX ở Pháp nhưng đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của báo giới và các nhà nghiên cứu

Trong Hội thảo về Tự sự học lần thứ nhất được tổ chức tại Trường Đại học Sư phạm

Hà Nội năm 2001, tự sự học đã để lại nhiều ấn tượng và đánh dấu sự có mặt của mình trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam Nhiều bài tham luận trong Hội thảo đã được

Trần Đình Sử và các cộng tác viên tập hợp, in thành sách với tựa đề Tự sự học - Một

số vấn đề lí luận và lịch sử (2003) Quyển sách tập hợp những bài viết của các tác giả

trong và ngoài nước về việc tìm hiểu những tính chất mang tính nhận định chung về vấn đề nghiên cứu tự sự học ở Việt Nam và những quan điểm của họ về lí thuyết này

3 Bài báo đã dẫn.

Trang 23

Từ sau Hội thảo về Tự sự học lần thứ nhất, nhiều công trình dịch thuật, nghiên cứu tiêu biểu về tự sự học xuất hiện như: Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỉ XX (I.P.Ilin và E.A.Tzurganova

và ctv., (Lại Nguyên Ân, Đào Tuấn Ảnh dịch, 2003); Cấu trúc văn bản nghệ thuật

(Iu.M.Lotman (Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thủy dịch), 2004);

Thi pháp văn xuôi (Tzetan Todorov (Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm dịch), 2011); Lý luận văn học - Những vấn đề hiện đại (Lã Nguyên, 2012) Bên cạnh đó, nhiều bài

viết nghiên cứu về những vấn đề tự sự học cũng được đăng tải trên các Tạp chí như:

Tiếp cận G.Genette qua một vài khái niệm trần thuật (Lê Phong Tuyết, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 8, 2005); Người kể chuyện trong văn xuôi, (Lê Phong Tuyết, Tạp chí Văn học nước ngoài, số 5, 2008); Mối quan hệ giữa người kể chuyện và tác giả (Cao Kim Lan, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 8, 2009)

Như vậy, sau khi xuất hiện tại Việt Nam, tự sự học đã phát triển ngày một lớn mạnh và có những biến đổi phức tạp Tiếp nối sự thành công của Hội thảo lần thứ nhất và để có những định hướng đúng đắn trong việc tiếp cận lĩnh vực này, Trần Đình

Sử đã tiến hành Hội thảo về Tự sự học lần thứ hai năm 2008 Ông đã viết bài tham luận Tự sự học không ngừng mở rộng và phát triển để nhấn mạnh sự quan tâm và những đánh giá sâu sắc của mình về lĩnh vực này Bên cạnh đó, một số công trình lí thuyết tự sự học tiếp tục được nghiên cứu, dịch và giới thiệu đến bạn đọc như: Giới thiệu lí thuyết tự sự của Mieke Bal (Nguyễn Thị Ngọc Minh, 2008); Dẫn luận về Tự

sự học của Susanna Onega và J.A.Garcia Landa (Lê Lưu Oanh và Nguyễn Đức Nga, 2008); Tự sự học: tên gọi, lược sử và một số vấn đề lí thuyết (Lê Thời Tân, 2008)

Trong những năm gần đây, các học giả còn tập trung nhiều vào hướng nghiên cứu diễn ngôn tự sự Năm 2010, bài nghiên cứu mang tính ứng dụng cao của Hoàng

Tố Mai về Diễn ngôn gián tiếp tự do trong truyện ngắn Cá sống của Nguyễn Ngọc Thuần được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9 Năm 2011, Nguyễn Thị Ngọc Minh giới thiệu đến bạn đọc bản dịch Một số định nghĩa và quan điểm nghiên cứu diễn ngôn (Mills Sara) (Tạp chí Văn học nước ngoài, số 8) Năm 2013, được xem

là năm xuất hiện khá nhiều công trình, bài viết dịch thuật và nghiên cứu về diễn ngôn

Có thể kể đến một số công trình, bài viết tiêu biểu như: Trần thuật học như là khoa học phân tích diễn ngôn trần thuật (V.I Chiupa) (Lã Nguyên dịch); Phân tích diễn ngôn, một số vấn đề lý luận và phương pháp (Nguyễn Hòa), 22 định nghĩa về diễn ngôn (nhiều tác giả); Các lí thuyết diễn ngôn hiện đại: kinh nghiệm phân loại (O.F

Trang 24

Rusakova) do Lã Nguyên dịch, đăng trên: http://phebinhvanhoc.com.vn Trên đây là một số công trình hữu dụng cho những nhà nghiên cứu khi quan tâm đến những phương diện quan trọng của lí thuyết tự sự

Như vậy, điểm qua một vài công trình dịch thuật, nghiên cứu về tự sự học ở Việt Nam, có thể thấy tự sự học càng ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng trong nghiên cứu văn học ở nước ta Với những thành tựu nhất định, nghiên cứu tự

sự học vẫn đảm bảo tính thời sự, đặt ra những vấn đề tranh luận đầy sôi nổi Việc tìm hiểu và ứng dụng lí thuyết tự sự học không chỉ giúp người đọc khám phá được cấu trúc nội tại của tác phẩm mà còn chỉ ra được những đóng góp khá quan trọng của nhà văn trong vai trò là người sáng tạo, người kể chuyện khá thú vị

Như vậy trước nhu cầu nghiên cứu về lĩnh vực tự sự học, cũng như nghiên cứu những đặc sắc về giá trị nội dung và nghệ thuật trong những tác phẩm văn xuôi của

Mai Bửu Minh, chúng tôi mạnh dạn đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu đề tài Hình tượng trẻ em trong văn xuôi Mai Bửu Minh từ góc nhìn tự sự học

1.1.2 Đặc điểm nghiên cứu của tự sự học

Tự sự học là lĩnh vực có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nghiên cứu văn học của nhiều quốc gia, mở ra những hướng tiếp cận tác phẩm một cách khách quan, khoa học Tự

sự học xuất phát từ các nguyên tắc lí thuyết trong nghiên cứu văn bản văn học, khám phá cách tạo nghĩa của các yếu tố nghệ thuật tự sự Tự sự học hiện đại manh nha hình thành từ cuối thế kỉ trước Nhưng cho đến nay có thể chia làm ba thời kì: Tự sự học trước chủ nghĩa cấu trúc, tự sự học cấu trúc chủ nghĩa và tự sự học hậu cấu trúc chủ nghĩa để tìm hiểu rõ về những đặc điểm nghiên cứu tự sự

Thứ nhất, thời kì trước chủ nghĩa cấu trúc: Tự sự học chủ yếu nghiên cứu cấu

trúc các thành phần và chức năng của tự sự như: cốt truyện, nhân vật, điểm nhìn

Có thể kể đến công trình của B.Tomasepxki (1925) nghiên cứu các yếu tố của tự sự như đơn vị mô-tip và phân loại các mô-tip Nhà nghiên cứu V.Shklovski phân biệt tích truyện với truyện kể, phân tích sự tương quan để tìm hiểu ý nghĩa của truyện V.Propp nghiên cứu cấu trúc và chức năng hành động tự sự trong truyện cổ tích (1928) gắn với việc tạo thành tiến trình của truyện Từ những năm 20 của thế kỉ trước, Bakhtin đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tác giả và nhân vật, ngôn từ trần thuật và tính đối thoại của nó Họ trở thành những người mở đường cho tự sự học hiện đại

Thứ hai, thời kì cấu trúc chủ nghĩa nghiên cứu chủ yếu là bản chất của ngôn ngữ và ngữ pháp tự sự Mở đầu cho thời kỳ này là công trình Dẫn luận phân tích tác

Trang 25

phẩm tự sự (1968) của R.Barthes và trong sách S/Z (1970); T.Todorov có Ngữ pháp Câu chuyện mười ngày Tiêu biểu cho giai đoạn nghiên cứu này là G.Genette với

tuyên bố: “Mỗi câu chuyện là sự mở rộng của một câu - chủ yếu là vị ngữ động từ” R.Barthes cũng tán thành quan điểm đó Mục đích của chủ nghĩa cấu trúc là nghiên cứu bản chất ngôn ngữ, bản chất ngữ pháp của tự sự nhằm tìm một cách đọc tự sự mà không cần đối chiếu giản đơn tác phẩm tự sự với hiện thực khách quan Mặc dù không phủ nhận được mối quan hệ văn học với đời sống, nhưng họ đã góp phần làm sáng tỏ bản chất biểu đạt và giao tiếp của tự sự Song, sự lạm dụng mô hình ngôn ngữ học đã làm cho tự sự học gặp khó khăn, và chính Todorov cũng vấp phải thất bại, bởi ông chỉ quan tâm ngữ pháp tự sự hơn là văn bản tự sự

Thứ ba, thời kì hậu cấu trúc chủ nghĩa là một hướng nghiên cứu mở đối với

người đọc, coi tự sự học gắn liền với kí hiệu học và siêu kí hiệu học, lấy văn bản làm

cơ sở và ý nghĩa tác phẩm được biểu hiện qua hình thức tự sự (J.Coquet) Tư tưởng này gắn với việc phân tích ý thức hệ của M.Bakhtin Giai đoạn này, tự sự học quan tâm đến quá trình tiếp nhận của người đọc, mối quan hệ giữa tự sự và ngữ cảnh xã hội, nhìn thấy đằng sau điểm nhìn một lập trường quan điểm xã hội thẩm mĩ nhất định Đặc điểm của lí thuyết tự sự hiện nay tuy cũng coi trọng phân tích hình thức nhưng không tán thành việc sao phỏng giản đơn các mô hình của ngôn ngữ học Tổng quan quá trình phát triển của lí thuyết tự sự, nhà lí luận tự sự Mĩ Gerald Prince chia tự sự học làm ba nhóm theo ba loại hình:

1/ Nhóm thứ nhất là những nhà tự sự học chịu ảnh hưởng của các nhà hình thức chủ nghĩa Nga như V.Propp, trong số này có Greimas, ông đã giản lược số chức năng của Propp xuống con số 20 và làm nổi bật lô-gic tự sự Các tác giả khác như Todorov, Barthes, Friedman, Souriau chú ý tới cấu trúc của câu chuyện được kể, đi tìm mẫu

cổ của tự sự, chức năng của biến cố và qui luật tổ hợp, lô-gic phát triển và loại hình cốt truyện Khi cực đoan nhất họ cho rằng tác phẩm tự sự không bị chi phối bởi chất liệu Một câu chuyện có thể kể bằng văn học, điện ảnh, ba lê, hội họa đều được, do

đó bỏ qua hoặc không đi sâu vào đặc trưng biểu đạt của chất liệu

2/ Nhóm thứ hai lấy G.Genette làm tiêu biểu đã xem nguồn gốc của tự sự là dùng ngôn ngữ nói hay viết mà biểu đạt, cho nên vai trò của người trần thuật được coi là quan trọng nhất Họ chú ý lớp ngôn từ của người trần thuật với các yếu tố cơ bản như điểm nhìn, giọng điệu Đây là nhóm đông nhất thu hút nhiều nhà nghiên cứu như Dolezel, Micke Bal

Trang 26

3/ Nhóm thứ ba đại diện là Gerald Prince và Seymour Chatman, họ coi trọng phương pháp nghiên cứu tổng thể, hay dung hợp J.Culler cũng thuộc phái này, ông coi trọng cả cấu trúc sự kiện lẫn cấu trúc lời văn

Như vậy, có thể thấy lí thuyết tự sự học đã trải qua một quá trình hình thành, phát triển từ rất sớm, qua nhiều giai đoạn khác nhau Với nội dung là nghiên cứu cấu trúc văn bản tự sự và những vấn đề liên quan, tự sự học đã dần khẳng định được vai trò quan trọng của mình là một ngành khoa học nghiên cứu về văn học

ra được, đều có thể trở thành hình tượng nghệ thuật Theo Lại Nguyên Ân trong cuốn

150 thuật ngữ Văn học thì “Hình tượng văn học là dạng hình tượng nghệ thuật thể

hiện bằng chất liệu ngôn từ nghệ thuật; cũng gọi là hình tượng ngôn từ” (Lại Nguyên

Ân, 2003, tr.150), còn theo Phương Lựu trong Lý luận văn học nhận định “là sản

phẩm của sự khái quát hoá từ đời sống, hình tượng nghệ thuật là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” (Phương Lựu, 1977, tr.27) Hình tượng văn học tái hiện lại đời sống con người nhưng không sao chép nguyên si mà có sự chọn lọc, dụng công qua cách nhìn của nhà văn khi sáng tạo nghệ thuật

Hình tượng văn học được xác định là hình thức cơ bản để miêu tả con người trong tác phẩm đồng thời mang chức năng quan trọng là truyền cho các ngôn từ một một tính toàn vẹn và những giá trị tự tại của hình tượng, thể hiện tư tưởng nghệ thuật cũng như cá tính sáng tạo của tác giả Người nghệ sĩ xây dựng hình tượng nhân vật không giống với những nhà khoa học, không dùng những khái niệm trừu tượng hay diễn đạt trực tiếp ý nghĩ, tình cảm của mình qua khái niệm, định nghĩa Nhà văn cắt nghĩa và nhận thức về những giá trị hiện hữu của đời sống, đồng thời thể hiện tư

Trang 27

tưởng, tình cảm, quan điểm của mình trong từng khía cạnh thông qua hình tượng Vì vậy mà hình tượng văn học trở thành yếu tố khá quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của một tác phẩm văn học Từ đó biến nhân vật trở thành hình tượng Hình tượng văn học luôn là phương tiện hữu hiệu về hình thức để người nghệ

sĩ bộc lộ tư tưởng và phong cách nghệ thuật của mình Người đọc tham gia vào quá tình tiếp nhận tác phẩm, thông qua hình tượng sẽ bắt đầu suy nghĩ, trăn trở và tìm ra những trải nghiệm thú vị cho riêng mình, tự mình tìm thấy tiếng nói đồng điệu trong từng tác phẩm mà người nghệ sĩ muốn truyền đạt, lựa chọn được cho mình những bài học và lối sống đúng đắn theo thời gian Một tác phẩm văn học đến được với tâm hồn độc giả, có sức sống bền vững qua thời gian khi người nghệ sĩ tạo dựng được thế

giới biết nói từ thực tại Chính vì những điều ấy, hình tượng văn học không chỉ là một thế giới sống mà còn là một thế giới biết nói

Không phải tác phẩm nào khi sáng tác cũng có hình tượng văn học, không phải nhân vật nào trong tác phẩm cũng đều trở thành hình tượng Để trở thành hình tượng thì nhân vật ấy phải có tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình Tức nhân vật

ấy phải có tính khái quát cao mang đậm nét khái quát của tầng lớp, giai cấp mà mình đại diện và bối cảnh xã hội mà nhân vật ấy xuất hiện cũng là bối cảnh điển hình của một vùng, một nơi nhất định trong thời điểm nhất định Hình tượng văn học trở thành thước đo giá trị tài năng của nhà văn và là tiêu chí đánh giá giá trị của mỗi thời kì văn học “Một nhà văn không thành thực không bao giờ là nhà văn có giá trị Nhưng không phải cứ thành thực là trở nên nghệ sĩ Nhưng nghệ sĩ không thành thực chỉ là

một người thợ khéo tay thôi” (Thạch Lam, 1938)

1.2.2 Hình tượng trẻ em trong văn học

Văn học viết cho thiếu nhi và viết về thiếu nhi là một vấn đề đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới Văn học viết cho trẻ em được hình thành từ những năm đầu 20 của thế kỉ XX nhưng thực sự phát triển và trở thành một bộ phận của văn học Việt Nam

từ sau Cách mạng tháng tám 1945 Từ những ngày đầu được hình thành, văn học thiếu nhi như là một “bông hoa nhỏ” trong vườn hoa đang rực sắc, thường đưa trẻ em đến với thế giới đầy mơ mộng với hình ảnh của hoàng tử, công chúa, ông Bụt, bà Tiên, thế giới bao la đầy kì vĩ của trăng sao, hoa lá, muông loài,… Những hình ảnh này đã đi sâu vào tiềm thức của trẻ qua những câu chuyện cổ tích, lời ca dao hay

Trang 28

những câu chuyện thần thoại từ lời kể ngọt ngào của mẹ, những lời ru nhẹ nhẹ bên vành nôi của bà Các em đã được vun vén ngay từ thuở còn thơ về một thế giới non

tơ màu hồng, về cuộc sống công bằng, hạnh phúc mà ở đó trẻ em luôn tự do tung tăng bay nhảy với những kỉ niệm, kí ức tuổi thơ không thể nào quên được

Trong xã hội phong kiến Trung đại, hình tượng trẻ em lại không phải là đối tượng được văn học lưu tâm Giai đoạn này lực lượng vua, quan, nho sĩ tiến bộ luôn

bị tâm niệm bởi lễ giáo đạo đức phong kiến hà khắc cùng những định kiến như văn

dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí Giai cấp phong kiến dạy trẻ phải ngoan ngoãn, lễ phép, tuân theo đạo đức phong kiến qua Tam tự kinh, Minh đạo gia huấn… Họ tổ chức đời

sống gia đình theo tôn ti trật tự nên có cái nhìn nghiệt ngã đối với phụ nữ và khắt khe với trẻ con Khi tư tưởng phương Tây lan đến Việt Nam với sự hình thành của chữ Quốc ngữ, người viết dần có ý thức sáng tác cho trẻ em như những tác phẩm của Nam Cao, Ngô Tất Tố, Tô Hoài,… Họ viết nhiều hơn về cuộc sống gia đình, về hình tượng trẻ em nhưng chủ yếu khai thác hình ảnh những trẻ em bất hạnh, không đi sâu khai thác thế giới nội tâm của trẻ nên chưa đủ hình thành trào lưu viết cho trẻ em Điển hình như nhóm tác giả của Tự lực văn đoàn thường đề cập đến hình ảnh của những đứa trẻ sống ở thành thị nhưng lời văn lại chưa bật lên được số phận và những nét khác biệt về cuộc đời của bọn trẻ Đối với nhóm tác giả của văn học hiện thực phê phán thì đi sâu khai thác cuộc sống khó khăn, khốn khổ của những đứa trẻ sinh ra ở

vùng nông thôn nghèo, tự bươn chải, lo toan cuộc sống như Từ ngày mẹ chết, Trẻ con không được ăn thịt chó… của Nam Cao; là câu chuyện Hai cái bụng, Bữa no đòn…

của Nguyễn Công Hoan Để góp phần “tô hồng” lại cuộc sống, một số cây bút hiện thực khác lại viết theo lối đồng dao, mượn chuyện loài vật để giáo dục, giúp cho trẻ

em kiếm tìm những bài học cuộc sống Là hình ảnh của chú Dế Mèn trong Dế Mèn phiêu lưu kí hay Đám cưới Chuột của Tô Hoài Tác giả đưa các em thoát khỏi cuộc

sống lầm than hiện tại, bước chân vào thế giới ngọt ngào, tươi mới hơn bằng giọng văn hóm hỉnh, tinh nghịch pha chút trữ tình của mình

Đến những năm kháng chiến chống Mĩ, hình tượng trẻ em chỉ được nhắc đến như những người công dân nhỏ tuổi, có tình yêu bé bỏng đối với Tổ quốc, tiêu biểu

là hình ảnh những em bé liên lạc gan dạ, luôn mạnh mẽ của Tố Hữu với Lượm, Phước ơi…; là Trần Đăng Khoa với tập thơ dành cho thiếu nhi mang tên Góc sân và khoảng trời hay những bài đồng dao của Võ Quảng, Phạm Hổ… Hình tượng trẻ em dần bị

biến thành những “người lớn thu nhỏ”, chưa thấy rõ được sự tự nhiên, vô ưu, vô lo

Trang 29

của chính mình Sau năm 1975, khi đất nước dần bước sang thời bình, văn học tiến hành đổi mới toàn diện, trong đó nhân vật trẻ em được tìm hiểu ở nhiều phương diện hơn trước Văn xuôi thiếu nhi Việt Nam hiện đại tiến hành tìm tòi, đổi mới trong cách

tiếp nhận trẻ em Nhân vật trẻ em trở thành “trung tâm điểm” của bộ phận văn học

này Các em trở thành chất liệu thẩm mĩ khá độc đáo, mới lạ trong cách nhìn quy chiếu về hồi ức tuổi thơ của tác giả; là những người mang thân phận, ẩn chứa nhiều thông điệp qua việc miêu tả tính cách của các em Vì vậy khi viết về trẻ em, viết cho trẻ em, nội dung của những tác phẩm thường rất trong sáng, hồn nhiên phù hợp với đặc điểm, tư duy của trẻ nhỏ Các em được nhìn nhận, khám phá và miêu tả tinh tế một cách đa chiều, không còn mang lí tưởng hóa anh hùng một chiều như thời văn

học trước 1975 Đó là những câu chuyện tự truyện của Phùng Quán trong Tuổi thơ

dữ dội hay Tuổi thơ im lặng của Duy Khán; là Búp sen xanh của Sơn Tùng… Các tác

giả còn đi sâu vào thế giới nội tâm của trẻ, những rung động đầu đời đáng yêu, những

va vấp trước cuộc sống như Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, Kính vạn hoa của Nguyễn Nhật Ánh, Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của Nguyễn Ngọc Thuần… Nó

lí giải tại sao trong thời buổi hiện đại ngày nay, khi người lớn dần chuyển sang những vấn đề mang tính thế sự, phi lí, hiện sinh,… thì tác phẩm của nhà văn vẫn mở ra một thế giới tươi nguyên, rộn ràng và thuần khiết

Trong mạch chảy của văn học thiếu nhi, Mai Bửu Minh cũng đã có cách nhìn nhận rất tài tình khi xây dựng hình tượng trẻ em Hình tượng này song hành cùng tác giả trong khá nhiều tác phẩm, góp phần làm nên những nét mới trẻ trung, tươi tắn, đầy sức sống Mối quan tâm lớn nhất của tác giả là đặt trẻ em trong quan hệ gia đình, bạn bè, làng xóm Văn xuôi Mai Bửu Minh vẫn có xung đột, mâu thuẫn nhưng những điều ấy được khai thác và xử lí cho phù hợp với tâm lí trẻ thơ Đặc biệt, ông còn làm bật những nét khác biệt đặc sắc trong hình tượng nhân vật bé trai và bé gái của mình Trong thế giới nhân vật của Mai Bửu Minh, trẻ em chiếm một vị thế vô cùng quan trọng, thể hiện một ánh nhìn đa chiều và được đặt trong nhiều mối quan hệ khác nhau với những vấn đề về đời sống khá nghiêm túc Mai Bửu Minh thể hiện rõ ngoại hình, tính cách, tâm lí khác biệt của nhân vật trẻ em Đồng thời, ông còn gửi gắm những thông điệp mang tính giáo dục đến với các bạn nhỏ giúp cho trẻ có được vốn sống quý giá trong quá trình hình thành tư duy, nhận thức của chính mình

1.2.3 Đặc điểm của nghệ thuật xây dựng hình tượng trẻ em trong văn học

Trang 30

Khi nói về những yếu tố làm nên sức hấp dẫn của văn học thiếu nhi trên báo Văn nghệ Thái Nguyên, Hà Thị Kim Yến (2018) cho rằng: “Có thể nói, đặc điểm nổi bật của trẻ con là hồn nhiên và ngây thơ Vì vậy, trước hết, sức hút của văn học viết cho thiếu nhi phải luôn luôn thể hiện được sự hồn nhiên, ngây thơ của trẻ” Nhận định trên đặt ra một vấn đề cấp thiết khi sáng tác những tác phẩm văn học cho trẻ em, nhà văn phải “nhìn bằng đôi mắt trẻ thơ”, đặt cảm xúc, tâm hồn của mình vào thế giới của trẻ nhỏ một cách thật tự nhiên, mang được những nét hồn nhiên, trong trẻo thì tác phẩm đó mới được yêu thích Sức tưởng tượng của các em rất đa dạng, phong phú, đôi khi người lớn không bao giờ hình dung hết được Chính vì vậy, khi tạo dựng tác phẩm, nhà văn phải thực sự nói được bằng chính tiếng nói của các em Đó là cách mà nhà văn hạnh phúc khi “được sống lại… tuổi thơ của mình và hòa đồng tâm hồn với tuổi thơ hôm nay, miền xanh thẳm của văn chương và cội nguồn trong trẻo của đời người” (Ma Văn Kháng, 2006) Khi viết truyện cho thiếu nhi, người sáng tác luôn phải sử dụng khả năng tư duy linh hoạt, thay đổi nghệ thuật viết cho thật điêu luyện, thể hiện sự gần gũi với cuộc sống xung quanh các em, góp phần nuôi dưỡng, thanh lọc những tâm hồn thơ bé Nhà văn cần nỗ lực đi sâu vào cuộc sống trẻ thơ, tạo dựng ngôn từ bằng chính cách nghĩ, “phải viết ra bằng ngôn ngữ của các em thì các em mới

dễ hiểu, dễ thuộc và ghi nhớ lâu bền” (Bùi Thanh Truyền, 2009, tr.15)

Mảng văn học dành cho thiếu nhi đã vượt qua những khó khăn bước đầu để khẳng định được sự cập nhật, không lệch pha với đời sống văn học Việt Nam đương đại Để viết ra được những câu chuyện thú vị về thế giới trẻ thơ, tác giả phải thật am hiểu về “thế giới tuổi xanh”, khám phá đời sống hiện thực ẩn sâu bên trong tâm lí từng lứa tuổi Từ đó cho thấy cái tâm, cái tầm và trách nhiệm của người cầm bút khi sáng tạo ra những trang viết hình thành nên tính cách, nuôi dưỡng tâm hồn và chấp cánh xây dựng ước mơ cho các em Khi xây dựng hình tượng này, tác giả phải sáng tạo ra những câu chuyện dí dỏm, hài hước với từng lời thoại ngây ngô, ngôn ngữ sinh động mới cuốn hút được trẻ Hình tượng trẻ em phải gắn liền với những công việc cụ thể cùng những hình ảnh đời thường quen thuộc như con vật, cây cối, muông thú…

để khơi gợi được những suy nghĩ đơn giản mà đầy triết lí, thấm thía về cuộc sống hàng ngày Văn học thiếu nhi hiện hiện nay mang đến sự mới mẻ, đậm tính thời sự với nhiều đề tài về thành thị, nông thôn, tình bạn, xúc cảm giới tính của tuổi mới lớn, quan hệ giữa người lớn và trẻ em,… Ở đó có sự “kết hợp giữa hiện thực với kì ảo, phi lí và có lí, ngôn ngữ vừa hồn nhiên, thơ trẻ vừa triết lí hóm hỉnh kiểu trẻ con, dung

Trang 31

lượng gọn nhẹ, hình thức trình bày bắt mắt, chiến lược quảng bá bài bản của nhà xuất bản và nhà văn,…” (Bùi Thanh Truyền, 2015) Bên cạnh những đề tài truyền thống như đề tài lịch sử, kháng chiến văn học thiếu nhi tìm đến với những đề tài mới gắn với cuộc sống mới, con người mới Các nhà văn khai thác hình tượng trẻ em trong nhiều mối quan hệ như gia đình, nhà trường, đất nước gắn với những cảm xúc đầu đời của tuổi mới lớn, những mặt trái của cuộc sống mới dưới góc nhìn trẻ nhỏ Đứng trước những thay đổi liên tục trong hệ thống đề tài, nhà văn phải nỗ lực tìm kiếm sự mới mẻ, thể hiện khả năng tư duy và sáng tạo của mình Họ phải cho ra đời những phong cách nghệ thuật đa dạng, độc đáo góp phần làm nên sự phong phú

về sắc thái biểu đạt trong từng tác phẩm Nhà văn khi xây dựng hình tượng trẻ em thường lựa chọn những chi tiết cụ thể, đơn giản, dễ hiểu lồng ghép vào đó những câu chuyện mang tính giáo dục Thế giới trẻ thơ là thế giới của cây cỏ, hoa lá, chim muông… - nơi mà chính các em có thể thoải mái sẻ chia, giãi bày cảm xúc của bản thân Nhờ vào đó, người đọc có thể dễ dàng nhận ra những giọng văn hoàn toàn khác biệt nhau, rất đặc trưng như Phạm Hổ, Trần Đăng Khoa, Tô Hoài, Nguyễn Nhật Ánh, hay Quế Hương Vì vậy, khi viết truyện cho thiếu nhi, dù tác giả có khai thác những vùng thẩm mỹ quen thuộc thì “mỗi tác phẩm vẫn có sức hút, có khả năng “mời gọi” của riêng mình” (Tạ Minh Thủy, 2016)

Khi xây dựng hình tượng trẻ em, văn học thiếu nhi Việt Nam luôn đề cao tính thống nhất về tư tưởng cũng như phương pháp sáng tác tác phẩm Tô Hoài khẳng định: “Nội dung một tác phẩm viết cho thiếu nhi bao giờ cũng quán triệt vấn đề xây dựng đức tính con người Nói thì thừa, cần nhắc lại và thật giản dị, một tác phẩm chân chính có giá trị đối với tuổi thơ là một tác phẩm tham dự mạnh mẽ vào sự nghiệp nên người của bạn đọc ấy” Như vậy, nhà văn khi xây dựng hình tượng trẻ em luôn đề cao chức năng giáo dục qua những bài học được tạo dựng từ những câu chuyện gây hứng thú cho cả trẻ em lẫn người lớn Các tác giả, dù là trẻ em hay các nhà văn lớn tuổi, họ đều “nhìn con người, nhìn cuộc đời bụi bặm của chúng ta bằng con mắt trong veo và ngơ ngác của trẻ con” (Trần Đăng Khoa) Bọn trẻ sẽ bỏ qua hết những vặt vãnh, lo toan đời thường để trở về với sự hồn nhiên vốn có, dù đôi lúc cũng tự hóa mình thành những “ông cụ non” hay “bà cụ non” Với tâm huyết dành cho thiếu nhi, các tác giả trong đó có Mai Bửu Minh đã sáng tạo ra những tác phẩm phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ Dung lượng tác phẩm thường rất ngắn gọn, thể hiện sự

Trang 32

giản dị trong sáng và ngôn từ chân chất, đan xen các yếu tố hài hước đó là biểu hiện của sự thấu hiểu hình tượng trẻ em của các nhà văn

1.3 Tính khả dụng của việc tiếp cận nghệ thuật xây dựng hình tượng trẻ em trong văn xuôi của Mai Bửu Minh từ góc nhìn tự sự học

1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Mai Bửu Minh

1.3.1.1 Cuộc đời

Mai Bửu Minh – một nhà văn, nhà báo gắn liền cuộc đời mình với vùng quê sông nước An Giang Ông sinh ngày 02/01/1961 tại làng Vĩnh Thạnh Trung, quận Châu Phú, tỉnh Châu Đốc; nay là thị trấn Cái Dầu, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang Nơi đây, tác giả đã có một tuổi thơ trọn vẹn đắm mình ở vùng đất phương Nam, hòa mình vào cảnh sinh hoạt nông thôn và đời sống người nông dân Nam Bộ Công việc chăn bò phụ giúp gia đình bồi đắp tâm hồn nhạy cảm cho nhà văn thả sức khám phá những cánh đồng mênh mông của quê mình, thậm chí đôi chân bùn đất ấy của ông còn có cả những chuyến phiêu lưu, khám phá những điều thú vị nơi vùng biên giới Việt Nam – Campuchia với những cánh đồng bạt ngàn dưới dãy Thất Sơn Bảy Núi Học hết phổ thông, Mai Bửu Minh trở thành sinh viên khóa 2 trường Cao đẳng Lâm nghiệp (trực thuộc Bộ Lâm nghiệp) Ông luôn tích cực tham gia các hoạt động khi học tập tại trường, luôn nhiệt tình, hết lòng vì tập thể trong vai trò là một lớp trưởng, một Ủy viên Ban chấp hành của Đoàn trường Là một kĩ sư Cơ khí Lâm nghiệp tốt nghiệp ra trường năm 1984 nhưng Mai Bửu Minh lại được phân công về lâm trường trồng rừng vùng phèn chua ở Bảy Núi, Tri Tôn với chức trưởng phòng

Kế hoạch Kĩ thuật, kiêm Bí thư Chi đoàn Lâm trường Chính sự nhiệt tình, năng nổ trong các hoạt động của bản thân nên ông đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam khi vừa bước vào tuổi 26 Vào năm 1983, Mai Bửu Minh được kết nạp vào Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai và đến năm 1987, ông được kết nạp vào Hội Văn học Nghệ thuật An Giang Sau đó, đến khoảng tháng 1 năm 2006, Mai Bửu Minh vinh dự được kết nạp trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam

Sau khi Lâm trường giải thể, Mai Bửu Minh rời khỏi ngành Lâm nghiệp, chuyển công tác về công ty Kinh doanh Tổng hợp huyện Châu Phú Sau đó, ông về làm việc

ở ngành Văn hóa của huyện Từ năm 1998 đến năm 2005, tác giả được giao nhiệm

vụ làm Trưởng đài truyền thanh huyện Châu Phú, tỉnh An Giang Thời gian sau, ông chuyển hẳn công tác về Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật An Giang, làm chuyên viên văn phòng Đến khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2009, Mai Bửu Minh

Trang 33

làm Phó Tổng biên tập (quyền Tổng Biên tập) tạp chí Thất Sơn Ông được giao phụ

trách Gia đình Áo trắng An Giang, trực tiếp mở trại sáng tác trẻ trên tạp chí Thất Sơn

Từ những năm 2009 đến năm 2011, nhà văn được đề cử làm Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh An Giang Đến tháng 6 năm 2011, nhà văn đảm nhận chức vụ Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh An Giang, phụ trách thêm Phân đội phó Phân đội Văn học Việt Nam khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

1.3.1.2 Sự nghiệp sáng tác

Xuất thân trong một gia đình trung nông, tuổi thơ Mai Bửu Minh thường gắn liền với những cánh đồng bạt ngàn, con kinh, con rạch và bao trò chơi tuổi nhỏ của vùng nông thôn Đó chính là nguồn cảm hứng vô tận để nhà văn sáng tác và lựa chọn những mảnh ghép cho cuộc đời mình Ông thường viết về những đề tài, những câu chuyện gần gũi với cuộc sống thường ngày; những trải nghiệm một thời đã qua về vùng nông thôn Châu Phú nên thơ; những nhân vật nông dân chân chất chính hiệu của vùng Nam Bộ… Tất cả đều là những hình ảnh chân thật, bình dị của con người

và cuộc sống vùng Tây Nam Bộ, đặc biệt hơn hết là hình ảnh của trẻ em Chính vì sự gần gũi ấy nên những tác phẩm của ông khi xuất bản đều được độc giả yêu quý đón nhận Nhà văn tâm sự: “Tôi tham gia viết truyện cho thiếu nhi, trước nhất chỉ vì tôi

có một tuổi thơ khá nhọc nhằn với quãng thời gian vừa đi học, vừa theo cha mẹ ra đồng Bạn bè của tôi là những đứa trẻ chăn bò, ít học, suốt ngày lang thang trên những cánh đồng với những sinh hoạt rất đặc biệt mà tôi không thấy người ta đề cập tới

trong sách báo… Người ta không viết thì tôi viết” (Mai Bửu Minh, 2012) Bằng chính

cái nhìn tinh tế, Mai Bửu Minh đã xây dựng nên những nhân vật trẻ thơ mang nét trong sáng, hồn nhiên nhưng cũng chịu nhiều mất mát và bất hạnh Những cô bé, cậu

bé vùng nông thôn nghèo hiện ra trong tác phẩm đều được tác giả miêu tả với tất cả tấm lòng bao dung, cái nhìn ấm áp và nhân hậu của mình

Với những trải nghiệm cũng như những hiểu biết về đời sống nông thôn, cùng với những năm tháng đi học ở trường Cao đẳng Lâm nghiệp (1979-1983) và trở về công tác ở Lâm trường Bảy Núi từ năm 1984 đến năm 1988, Mai Bửu Minh đã hình thành thêm vốn sống, tạo ra nhiều chất liệu cuộc sống để đưa vào tác phẩm của mình Vậy nên khi sáng tác, Mai Bửu Minh đã quay trở lại với những kí ức ám ảnh thời mà ông đã rong ruổi trên những cánh đồng tứ giác bằng cảm xúc mới mẻ, cách viết đa dạng cùng hình ảnh phong phú và vốn sống dày dặn của mình Trong suốt những năm tháng sống ở vùng quê hương thân yêu, ông đã tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm

Trang 34

từ đời sống, sách vở vào việc sáng tác Tác giả tạo dựng nên những bức tranh đời sống đầy lung linh, giàu màu sắc thẩm mĩ và mang đậm giá trị tư tưởng

Ngay từ khi còn học phổ thông, Mai Bửu Minh đã tích cực tham gia các hoạt động tập thể và thậm chí còn xây dựng một tờ báo tường riêng cho lớp với các nội dung được thay đổi hàng tuần, đặc biệt với chuyên mục “Thơ Xây dựng” Khi vào trường Cao đẳng Lâm nghiệp, nhà văn tiếp tục thành lập nhóm sáng tác văn học nghệ thuật, biên tập và cho in trên tập thơ văn của trường Trong khoảng thời gian này, nhà văn còn thử tài sáng tác về các ca khúc ngành Lâm nghiệp Những ca khúc này đã

được hầu hết các khóa của trường tập hát vào hội diễn văn nghệ như Bài ca Lâm nghiệp, Lời Bác sáng tình ta, Cô gái ngành Lâm, Em tôi – Cô gái trồng rừng, Áo trắng của anh,… Đặc biệt, Đài phát thanh Đồng Nai đã dàn dựng các bài hát Lời Bác sáng tình ta, Áo trắng của anh và Cô gái ngành Lâm để tham gia Hội diễn văn nghệ

quần chúng tỉnh Lâm Đồng Phần trình diễn đã xuất sắc đạt huy chương Vàng Trong khoảng thời gian này, nhà văn vẫn làm thơ, viết truyện ngắn, viết báo và được đăng trên nhiều báo và tạp chí Mai Bửu Minh sáng tác thơ văn và viết báo khá nhiều Những tác phẩm của ông thường được chọn in trên khoảng hơn 50 tờ báo ở Hà Nội như Quân đội Nhân dân, báo Tiếng nói Việt nam, Giáo dục và Thời đại, Phụ nữ Việt Nam, Nhà báo và Công luận, Tạp chí Nhà văn, Tạp chí Văn nghệ Quân đội… và một

số tạp chí khác trong nước Ngoài ra, phần lớn các báo và tạp chí văn học nghệ thuật của 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cũng đã sử dụng những tác phẩm của ông Với hơn 30 năm tham gia sáng tác, Mai Bửi Minh đã được trao tặng nhiều giải thưởng Văn học có uy tín và được sự yêu mến đón nhận của độc giả gần xa

Đến khoảng năm 1993, Mai Bửu Minh tập trung đầu tư vào việc sáng tác truyện dài, tiểu thuyết với các bút danh như Mai Bửu Minh, Mai Bửu Hoàng Dương, Mai Hoàng, Vĩnh Châu Gần đây, nhà văn còn gặt hái được thành công cho bản thân trên con đường sáng tác Văn học trong lĩnh vực tiểu thuyết, tiêu biểu là giải III giải thưởng Văn học đề tài Nông nghiệp – Nông dân – Nông thôn do Bộ Nông nghiệp Phát triển

Nông thôn và Hội nhà văn xét tặng cho tác phẩm Đường tới hạnh phúc trong giai

đoạn 2010-2015 Trong quá trình sáng tác, nhà văn đã khám phá ra thế giới sâu bên trong, đầy bí ẩn của con người, lật xới tung những tầng đáy sâu của tâm lí, tư tưởng,

và tâm linh của con người Dù vậy, nhà văn vẫn đặt niềm tin ở con người, dùng ngòi bút để chỉ rõ cho con người trong cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, thức tỉnh ý thức tự vấn hướng tới sự hoàn thiện bản thân Và dường như tất cả sự tâm niệm ấy,

Trang 35

nhà văn gửi gắm trọn vẹn vào nhân vật trẻ em của mình Thế giới ấy hồn nhiên lắm, ngây thơ lắm và cần có sự định hướng rõ ràng khi chỉ mới là những mầm non mới nhú Mai Bửu Minh tâm niệm rằng viết cho thiếu nhi hay mấy cũng chỉ là “nhà văn trẻ con” nên chẳng mấy người thèm viết cho thiếu nhi Có cái gì đó phũ phàng và thiếu bình đẳng khi nhìn nhận văn học thiếu nhi với các mảng văn học khác Và, nghĩ như vậy không chỉ có lỗi với người viết cho thiếu nhi mà còn có tội với các em, với những thế hệ công dân Việt Nam sau này Vì vậy đến với những tác phẩm văn xuôi của Mai Bửu Minh, người đọc như sống lại với hồi ức tuổi nhỏ, được nhìn thấy những nét tính cách thuần khiết qua từng kiểu nhân vật Bên cạnh đó, một số thông điệp nghệ thuật thể hiện qua nhân vật trẻ em sẽ thể hiện được thái độ, tình cảm của tác giả, giúp người đọc cảm nhận được sự thú vị của hình tượng nhân vật này

1.3.2 Quan niệm nghệ thuật của Mai Bửu Minh

1.3.2.1 Quan niệm về nghề văn

Khi tham gia vào quá trình sáng tác văn học, mỗi nhà văn đều nhận ra rằng nghề văn cũng là một nghề - nghề kiếm sống như bất cứ nghề nào khác Nhưng nghề này

là một nghề lương thiện, được làm những gì mình thích, tạo ra những sản phẩm văn học thể hiện tài năng của chính mình Với thiên chức là người cầm bút, nhà văn phải ghi dấu lại những hiện thực đời sống, tham gia góp nhặt những bước đi của lịch sử vào văn học, từ đó nhận thức rõ về những gì đã qua trong cuộc đời Nhà văn bước vào nghề văn không qua con đường chính quy, không được đào tạo qua các giáo trình liên quan tới báo chí văn chương hay âm nhạc Ông sáng tác những tác phẩm văn học

vì đam mê của chính bản thân mình và đôi khi chấp bút để phần nào trang trải cuộc sống còn khó khăn Theo Duy Vũ (Đài phát thành truyền hình An Giang) trong bài

viết Cảm nhận – cảm tác văn chương nhà văn Mai Bửu Minh (2018) thì nhà văn từng

tâm sự, thời điểm ông sáng tác “ngòi bút như là cần câu cơm” Điều này đôi khi không hẳn đúng với nhân cách sống của Mai Bửu Minh bởi mỗi khi Đài phát thanh sử dụng tác phẩm đưa vào phát sóng, ông đều không bao giờ nhận thù lao nhuận bút Nhà văn cho rằng khi tác phẩm của mình được truyền bá sẽ mang lại sự cộng hưởng lớn, khích

lệ tinh thần, gieo mầm lan tỏa sự yêu thích cho thế hệ trẻ tỉnh nhà say mê văn học nghệ thuật, báo chí truyền thông để từ đó tạo nên những hạt giống quý “tài năng còn trong lá ủ”4 Chính điều đó đã đem lại niềm vui sống gắn bó với nghiệp cầm bút của

4 Bài báo đã dẫn

Trang 36

ông cho đến tận bây giờ Nhà văn mong muốn được giãi bày hết tất cả những nghĩ suy, trăn trở về cuộc sống cho người đọc để khi cầm quyển sách trên tay sẽ không cảm thấy hoài, thấy phí vì mất thời gian vào những trang sách vô bổ

Bước chân vào nghề, Mai Bửu Minh đã nhận ra rằng viết lách không phải nghề chính của ông, mà chuyên ngành học và nghề của ông được đào tạo là kỹ sư Cơ khí Lâm nghiệp Điều đó khiến cho người yêu văn chương Mai Bửu Minh càng quý phục ông trong câu chuyện dài với nhiều bước ngoặt thăng trầm về cuộc đời và sự nghiệp của tác giả, từ một kỹ sư Cơ khí Lâm nghiệp trở thành nhà báo (Trưởng đài huyện Châu Phú) đến nhà văn (Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh An Giang) Nhà văn

đã từng rất vui mừng khi nhận những đồng tiền nhuận bút đầu tiên nhưng ông luôn ý thức được rằng nghề viết văn là một nghề hết sức nghiêm túc Ông tâm niệm: “Đơn giản, đó là một nghề thuộc diện lao động trí óc và không mong gì làm giàu từ cái nghề này” và “tôi viết khi tôi thấy mình cần viết… Cái gì trong cuộc sống này mà tôi

đã trải qua, đã chứng kiến, đã quan tâm… khiến tôi phải nghĩ suy, trăn trở và tìm cách thể hiện… bằng cách VIẾT”5 Khi sáng tác truyện cho thiếu nhi, ông hết lòng bồi đắp tâm hồn ngây thơ của trẻ bằng cái nhìn điềm tĩnh để giúp các em nuôi dưỡng tâm hồn, hình thành những tình cảm thiêng liêng đối với quê hương, nhất là vùng sông nước Tây Nam Bộ Nguyễn Nhật Ánh cũng từng cho rằng: “Là một nhà văn chuyên tâm viết cho thanh thiếu niên, tôi nghĩ công việc của tôi là giúp cho các bạn đọc trẻ

giàu có cảm xúc hơn, qua đó sống tốt hơn” (Dẫn theo Hiện tượng Nguyễn Nhật Ánh)

Xuất phát từ những quan niệm nghiêm túc, đúng đắn trong nghề viết văn nên Mai Bửu Minh đã tạo được chỗ đứng cho mình trong nền Văn học Việt Nam Bên cạnh đó, nhờ vào những kinh nghiệm trong sáng tác, ông còn tổ chức điều hành nhiều hoạt động của Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật An Giang và đạt kết quả cao

1.3.2.2 Quan niệm về nhà văn

Mai Bửu Minh quan niệm rằng khi nghề văn là một nghề kiếm sống như bất kì nghề nào khác thì người viết văn trước hết cũng là người lao động Chỉ khác ở chỗ,

họ là người lao động nghệ thuật mà thôi Cuộc sống của người nghệ sĩ cũng giống như bất cứ người bình thường nào, nhưng đặc biệt khác thường khi họ còn nhiệm vụ cao cả là “chiều lòng các bạn nhỏ” Nhưng quan trọng hơn hết người nghệ sĩ luôn thể

5 Trích từ bài phỏng vấn tác giả Mai Bửu Minh do chúng tôi thực hiện, xin xem thêm trong toàn văn bài viết

phần Phụ lục 1, PL 1

Trang 37

hiện được bản lĩnh, lập trường và nhân cách của chính mình Chính cái nhìn giản dị

mà chân thực ấy đã khiến cho nhà văn Mai Bửu Minh không hề giấu giếm về cuộc sống của bản thân khi xây dựng hình tượng trong từng tác phẩm của mình như một bức chân dung tự họa về quãng đời khốn khó mà ông đã trải qua Ông ghi lại những

kỉ niệm thuở ấu thơ, cả những câu đùa mỉa mai của các bạn đồng nghiệp khi nhận xét

về mình Không tổ điểm, không cần cường điệu, mà ông cứ đem sự thật ra để kể Đối với Mai Bửu Minh, cái khó là làm sao giữ cho tâm mình đừng bao giờ trượt ngã trước những biến cố của cuộc sống thường nhật

Mai Bửu Minh không chỉ nhìn thấy ở người nghệ sĩ vẻ đẹp chân chất, đời thường

mà ông còn trân quý những tâm hồn đầy tài năng Ở Mai Bửu Minh, tài năng người nghệ sĩ được ông rất coi trọng, song ông không coi đó là siêu phàm bởi vì theo ông trong bất cứ nghề nào thì cũng có những người tài giỏi, chứ không cứ riêng gì nghề viết Điều đó cũng đặt ra cho nhà văn một yêu cầu, đó là phải có óc quan sát, bởi khi lăn lộn vào cuộc sống thực tế, nhà văn sẽ chỉ là một người viết đơn thuần mà không phải là nhà văn nếu chỉ nhìn sự vật bằng con mắt của người bình thường Công việc sáng tác đòi hỏi người nghệ sĩ phải thực sự nghiêm túc và tâm huyết với chính đứa con tinh thần của mình Với những người lựa chọn nghiệp viết lách thì tác phẩm chính

là thước đó cho sự thành công của họ “Thật ra, người làm nghệ thuật nào cũng thương

và tâm huyết với đứa con tinh thần của mình Không có tác phẩm nào nhất, mỗi quyển sách, vần thơ, nốt nhạc đều là tiếng lòng của nghệ sĩ, mong được tỏ bày và mong đâu

đó có cùng sự rung cảm Từ đó, có thể góp chút suy tư, trăn trở trước cuộc sống, khơi

dậy những đức tính tốt đẹp về sự lạc quan, niềm tin Đường tới hạnh phúc để mỗi

người chọn lựa cách sống ngày càng tốt đẹp hơn”- Mai Bửu Minh bộc bạch (Trúc Pha, 2018) Vậy nên, theo nhà văn, dù có khó khăn, có chịu cực khổ hay vật lộn với

sự mệt mỏi và cả sự biếng nhát luôn chực chờ thì cũng phải viết Sống thế nào, thấy thế nào, nghĩ thế nào và yêu thế nào thì viết thế ấy vậy Mai Bửu Minh còn hay động viên tất cả những nhà văn trẻ hãy viết, hãy giữ lửa sáng tác, phải tạo ra được “đứa con riêng” lưu lại dấu ấn của bản thân mình trước cuộc đời Đó là cách sống đích thực của một người nghệ sĩ chân chính Nhà văn khi sáng tác phải luôn có ý chí, không ngừng khát vọng, không bao giờ được bằng lòng với chính mình mà phải luôn cố gắng phấn đấu, nỗ lực hết mình để vượt qua

Đối với những nhà văn trẻ ở An Giang, Mai Bửu Minh không chỉ là một nhà

văn của thế hệ trước mà còn là một người anh, một người bạn đồng hành Gia đình

Trang 38

Áo trắng An Giang gọi ông là “cánh chim trắng đầu đàn” Trong suốt những năm hoạt

động ở Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh An Giang, nhà văn đã dốc hết tâm sức của mình

để chỉ dạy cho những nhà văn trẻ, đọc từng bản thảo, chỉ từng câu văn và định hướng con đường phát triển cho những người trẻ đam mê Ông thường tham mưu cho cấp trên đề ra các quyết sách để Hội hoạt động thích hợp, tạo điều kiện để người trẻ được thỏa sức sáng tác, đam mê sáng tạo trong lĩnh vực văn học nghệ thuật Chính vì vậy

mà điển hình là ông đã khởi xướng tập hợp những bạn trẻ yêu văn thơ thành lập Gia đình Áo trắng An Giang vào tháng 10/2007, mở thêm trang “Sáng tác trẻ” trên tạp

chí Thất Sơn, khuyến khích sự tham gia nhiệt tình từ các cây bút trẻ, tiềm năng đang

là học sinh, sinh viên còn ngồi trên ghế nhà trường thỏa sức cảm tác văn chương Từ

đó, số lượng các cây bút trẻ gia nhập vào Hội Văn học Nghệ thuật An Giang ngày càng hùng hậu với chất lượng đáng kể, thể hiện tinh thần đổi mới một cách mãnh liệt Qua đó, liên tục nhiều năm liền, An Giang được Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Trung ương biểu dương đánh giá cao, là một trong những Hội Văn học Nghệ thuật hoạt động hiệu quả của khu vực đồng bằng sông Cửu Long Có thể khẳng định rằng trong suốt cuộc đời mình, ông không chỉ là người thắp lên ngọn lửa nhiệt huyết trong văn chương mà còn là người truyền lửa đáng kính Nhà văn luôn là một người viết có tâm và có tầm, luôn sẵn sàng hi sinh bản thân mình làm bệ đỡ cho hậu thế được vươn lên trổ tài, cống hiến tài năng của mình cho xã hội

1.3.2.3 Quan niệm về con người trong văn học

Mai Bửu Minh sau nhiều năm kinh nghiệm trong nghề, trải qua nhiều hoàn cảnh, chứng kiến biết bao nhiêu số phận, gặp gỡ nhiều con người, đã thu nạp vào suy nghĩ những mối quan hoài khôn nguôi về con người Đây là đối tượng mà nhà văn quan niệm có nhiều sự phức tạp, có nhiều vẻ ấn giấu mà ông cần khám phá Đi sâu vào thế giới nhân vật trong văn xuôi của Mai Bửu Minh, người đọc sẽ phần nào hiểu rõ hơn những quan điểm nghệ thuật về con người mà nhà văn muốn gửi gắm Mai Bửu Minh quan niệm: “Con người trong văn học phải có nét riêng thật riêng, không lẫn, không giống bao nhân vật khác trong tác phẩm của mình, nhân vật trong tác phẩm của tác giả khác […] và mỗi nhân vật có một số phận riêng, một cuộc đời riêng mà tác giả

Trang 39

muốn cho người đọc kính yêu, quí mến; hay căm ghét, lánh xa Con người trong tác phẩm tạo được nét riêng, tạo nên ấn tượng khiến độc giả nhớ hoài”6

Mỗi tác phẩm của Mai Bửu Minh là một câu chuyện khác nhau về tình người, tình đời nhưng chung nhất vẫn là những con người với tâm hồn trẻ thơ hồn nhiên và giàu tình cảm; là những đứa trẻ với trí tưởng tượng bay bổng, luôn muốn tham gia khám phá thế giới tự nhiên; là những con người nông dân Nam Bộ thu nhỏ thể hiện

rõ nét những tính cách đặc trưng của con người vùng sông nước đầy cương trực, trọng nghĩa, khinh tài, cương trực và yêu ghét rõ ràng Sống giữa đất trời thiên nhiên Nam

Bộ vừa có sông có núi, với những đồng ruộng bao la cò bay thẳng cánh, tình yêu dành cho quê hương, cho thiên nhiên vùng quê này luôn chảy tràn trong trái tim của những đứa trẻ Mai Bửu Minh đã lắng nghe tâm hồn mình, thấu hiểu những trái tim nhạy cảm của bạn bè đồng trang lứa thuở thiếu thời để tự tin đi vào sâu trong những ngóc ngách tâm hồn bọn trẻ vùng nông thôn nghèo một cách đầy thuyết phục Chính tình cảm nhân hậu tự nhiên đến mức bản năng của những người Nam Bộ giàu tình cảm đã đưa đến những cách ứng xử rất đẹp, đầy nghĩa khí của nhân vật Tuy vậy, khi xây dựng hình tượng trẻ em, tác giả vẫn quan niệm thể hiện những gì là thật nhất, đẹp nhất: “Và tôi viết nhiều tác phẩm là nhân vật thiếu nhi, mà là thiếu nhi thời tôi đã sống vì tuổi thơ của tôi khá nhọc nhằn và là khoảng thời gian để lại dấu ấn sâu sắc khó phai trong tâm hồn mình… Tôi sinh ra trong một gia đình nông dân nên tôi muốn lưu giữ cả tuổi thơ của mình gắn liền với một vùng nông thôn và bao con người nông dân hiền lành, chất phác, chuyên làm chuyện đồng áng”7 Đối với những cái xấu, cái

ác, với những quyền thế bất công, dù còn là trẻ con nhưng bọn chúng đã sớm ý thức được sự đúng đắn, có suy nghĩ tích cực và những hành động rất đáng khen Người đọc dường như rất tâm đắc với những tính cách của trẻ con mà nhà văn đã xây dựng,

đó cũng là cách ông đặt ra quan niệm về con người trong tác phẩm, nhất là quan niệm

về trẻ em Truyện thiếu nhi của ông mang đậm tính giáo dục, thể hiện niềm tin mãnh liệt của ông đối với con người, vào thế hệ trẻ của vùng đất phương Nam hào sảng Với các nhân vật thiếu nhi đầy cá tính, Mai Bửu Minh đã tạo ra được một thế giới nhân vật thể hiện rõ quan niệm nghệ thuật về con người của mình Từ chính cuộc sống của một nhà văn, trước hết là một người nông dân thực thụ, với những trải

6 Bài phỏng vẫn đã dẫn, PL 3-4

7 Bài phỏng vấn đã dẫn, PL 4

Trang 40

nghiệm của cả một thời tuổi thơ vất vả, ông đã khắc họa được các nhân vật như thể viết về chính cuộc đời mình, chất tự truyện từ vốn sống niên thiếu nhọc nhằn in đậm trong từng nhân vật truyện Nhưng nếu không có sự tiếp cận thân thiết, sự gần gũi gắn bó với đời sống người nông dân Nam Bộ, hiểu họ như hiểu chính mình, hẳn nhân vật thiếu nhi Nam Bộ trong các tác phẩm tiêu biểu của Mai Bửu Minh sẽ thiếu sức sống, thiếu hẳn cốt cách đặc trưng của vùng đất phương Nam nói chung và của miền quê Châu Phú xa xưa mà thân thuộc của ông nói riêng Những nhân vật từ rãnh đất luống cày của mênh mông đồng ruộng nồng mùi phân bò, đẫm mùi rơm rạ bước vào trang sách và từ trang sách sống động ấy bước vào tâm trí người đọc để chiếm lĩnh hoàn toàn lòng yêu mến của họ, nhất là độc giả thiếu nhi Chính nhờ quan điểm nghệ thuật về con người này mà nhân vật thiếu nhi của nhà văn đã có được sắc thái riêng, không hề trộn lẫn với những nhân vật thiếu nhi khác trong dòng chảy của truyện thiếu nhi Nam Bộ như của Đoàn Giỏi, của Nguyễn Quang Sáng… và sau này là của Võ Diệu Thanh, Trần Tùng Chinh – những gương mặt trẻ triển vọng có khá nhiều sáng tác gắn với nhân vật thiếu nhi ở vùng đất rừng phương Nam này Người Nam Bộ qua hình ảnh thu nhỏ của những đứa trẻ đã thể hiện rõ nét quan điểm về con người trong sáng tác của Mai Bửu Minh, mang đến những ý tưởng thú vị và sáng tạo mới mẻ Nhờ đó mà người đọc có dịp soi chiếu lại cuộc đời mình, hồi nhớ lại những kỉ niệm tuổi thơ thi vị, lạ lùng mà vô tình chúng ta đã cất quá kĩ trong kí ức của chính mình

1.3.3 Nỗ lực đổi mới nghệ thuật tự sự qua hình tượng trẻ em của văn xuôi Mai Bửu Minh

Khi được hỏi về việc sáng tác cho đối tượng người đọc nhỏ tuổi, Nguyễn Nhật

Ánh từng chia sẻ trong Tủ sách văn học mới lớn và 4 năm trưởng thành: “Viết cho

trẻ em, tôi luôn quan niệm không nên viết quá nặng nề Nhà văn phải là trụ đỡ tinh thần của các em, giúp các em yên tâm và vui sống” (Anh Vân, 2005) Cũng viết về

đề tài trẻ em, với những đồng cảm sâu sắc về đối tượng này như cách nói của Nguyễn

Nhật Ánh, trong bài tham luận đọc tại Hội nghị Trại sáng tác Văn học Thiếu nhi, Mai

Bửu Minh cũng từng phát biểu: “Nếu ai đó xem nhẹ văn học thiếu nhi là không những

có lỗi với người viết cho văn học thiếu nhi mà còn có tội với các em, những thế hệ công dân Việt Nam sau này” (Mai Bửu Minh, 2012) Vì vậy, nhà văn luôn nỗ lực đổi mới nghệ thuật tự sự, thể hiện sự sáng tạo của mình trong xây dựng hình tượng nhân vật, đặc biệt là hình tượng nhân vật trẻ em Ông đặt chủ thể trẻ em của mình dưới những góc nhìn về văn hóa, môi trường sinh thái và tiếng nói về giới

Ngày đăng: 29/04/2021, 15:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w