BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Trương Thị Tuyết Hạnh QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG HỢP TÁC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trương Thị Tuyết Hạnh
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
KĨ NĂNG HỢP TÁC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trương Thị Tuyết Hạnh
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
KĨ NĂNG HỢP TÁC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
Mã số: 8140114
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
TS HUỲNH LÂM ANH CHƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu điều tra, kết quả nghiên cứu không trùng lắp với các công trình nghiên cứu đã công bố của các tác giả khác
Tác giả
Trương Thị Tuyết Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến các thầy cô giáo của Khoa Khoa học Giáo dục và Phòng Sau Đại học đã tận tình giảng dạy, hỗ trợ cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Tôi xin đặc biệt cám ơn sự giúp đỡ chỉ bảo quí báu của TS Huỳnh Lâm
Anh Chương, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, tạo điều kiện, chỉ dẫn tôi thêm
nhiều kiến thức về khoa học quản lí giáo dục cũng như giúp đỡ cho tôi rèn luyện
kĩ năng nghiên cứu khoa học trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin trân trọng cám ơn Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 7, Ban giám hiệu các trường Mầm Non công lập trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành việc thu thập và xử lí thông tin phục vụ quá trình nghiên cứu
Xin cám ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã làm điểm tựa giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Do khả năng và điều kiện nghiên cứu còn hạn chế, trong luận văn này không tránh khỏi thiếu sót, tôi kính mong nhận được sự chỉ dẫn và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và đồng nghiệp cho luận văn hoàn thiện hơn
Xin chân thành cám ơn tất cả !
Tác giả luận văn
Trương Thị Tuyết Hạnh
Trang 5
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG HỢP TÁC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON 10
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 10
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 10
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 12
1.2 Những khái niệm cơ bản 15
1.2.1 Hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non 15
1.2.2 Quản lí hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non 21
1.3 Lí luận về hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non 22
1.3.1 Mục tiêu giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non 22
1.3.2 Nội dung giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non 23
1.3.3 Hình thức giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non 27
1.3.4 Phương pháp giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non 29
Trang 61.3.5 Các điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất và nguồn lực khác
sử dụng để giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường
mầm non 30
1.3.6 Kiểm tra – đánh giá KNHT của trẻ 5 - 6 tuổi tại trường mầm non 31
1.4 Lí luận về quản lí hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non 33
1.4.1 Phân cấp quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi tại trường mầm non 33
1.4.2 Chức năng quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi tại trường mầm non 33
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi tại trường mầm non 42
1.5.1 Các yếu tố chủ quan 42
1.5.2 Các yếu tố khách quan 43
Kết luận Chương 1 45
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG HỢP TÁC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON C Ô N G L Ậ P QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 47
2.1 Khái quát về địa bàn khảo sát thực trạng 47
2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng và cách thức xử lí số liệu 51
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 51
2.2.2 Nội dung khảo sát thực trạng 51
2.2.3 Mẫu nghiên cứu thực trạng 51
2.2.4 Phương pháp khảo sát 52
2.2.5 Mô tả các công cụ nghiên cứu 52
2.2.6 Quy ước xử lí thông tin 54
2.3 Thực trạng về hoạt động giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh 55
Trang 72.3.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lí, giáo viên về tầm quan
trọng của hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non 55 2.3.2 Thực trạng việc xác định mục tiêu hoạt động giáo dục kĩ năng hợp
tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non công lập tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh 56 2.3.3 Thực trạng thực hiện nội dung hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác
cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non công lập tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh 58 2.3.4 Thực trạng sử dụng hình thức hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác
cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố
Hồ Chí Minh 60 2.3.5 Thực trạng sử dụng phương pháp hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác
cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố
Hồ Chí Minh 62 2.3.6 Thực trạng về kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác
cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố
Hồ Chí Minh 65 2.4 Thực trạng quản lí hoạt động giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh 67 2.4.1 Thực trạng công tác lập kế hoạch hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác
cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố
Hồ Chí Minh 67 2.4.3 Thực trạng công tác chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch hoạt động giáo
dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh 75 2.4.4 Thực trạng công tác kiểm tra – đánh giá việc thực hiện kế hoạch hoạt
động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh 78
Trang 82.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng của các yếu tố đến việc thực hiện hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non công lập
Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh 81
2.6 Đánh giá chung về thực trạng 84
2.6.1 Ưu điểm 84
2.6.2 Hạn chế 84
2.6.3 Nguyên nhân của những hạn chế 85
Kết luận Chương 2 86
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG HỢP TÁC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 87
3.1 Những nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lí hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh 87
3.1.1 Bảo đảm tính mục tiêu 87
3.1.2 Bảo đảm tính thực tiễn 87
3.1.3 Bảo đảm tính hệ thống và đồng bộ 88
3.1.4 Bảo đảm tính cần thiết và khả thi 88
3.2 Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh 89
3.2.1 Biện pháp 1: Chỉ đạo giáo viên biên soạn giáo án giáo dục kĩ năng hợp tác theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm 89
3.2.2 Biện pháp 2: Tổ chức cho giáo viên làm đồ dùng dạy học để đáp ứng yêu cầu kĩ năng hợp tác cho trẻ 98
3.2.4 Biện pháp 4: Chỉ đạo giáo viên tăng cường phối hợp với Cha mẹ trẻ trong công tác kiểm tra – đánh giá hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác 107
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 111
Trang 93.4 Khảo nghiệm và thực nghiệm mức độ nhận thức tính cần thiết và khả thi của biện pháp quản lí hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại
trường mầm non được đề xuất 113
3.4.1 Khảo nghiệm 113
3.4.2 Thực nghiệm 121
Kết luận Chương 3 132
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 133
TÀI LIỆU THAM KHẢO 137 PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Các chữ viết tắt Nội dung đầy đủ
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô trường mầm non công lập năm học 2019 – 2020 48Bảng 2.2 Tổng số học sinh các trường mầm non công lập năm học 2019 –
2020 48Bảng 2.3 Trình độ của đội ngũ CBQL giáo dục các trường MN công lập
năm học 2019 - 2020 49Bảng 2.4 Trình độ của đội ngũ giáo viên các trường mầm non công lập
năm học 2019 - 2020 50Bảng 2.5 Mô tả mẫu điều tra bằng bảng hỏi 51Bảng 2.6 Kết quả khảo sát về mức độ đồng ý của việc xác định mục tiêu
GD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7 56Bảng 2.7 Mức độ thực hiện và mức độ ĐƯYC của việc thực hiện nội dung
GD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7 58Bảng 2.8 Mức độ thực hiện và mức độ ĐƯYC của việc sử dụng các hình
thức GD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7 60Bảng 2.9 Mức độ thực hiện và mức độ ĐƯYC của sử dụng các phương
pháp GD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7 62Bảng 2.10 Mức độ thực hiện và mức độ ĐƯYC của việc kiểm tra, đánh giá
GD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7 65Bảng 2.11 Mức độ thực hiện và mức độ ĐƯYC của công tác lập kế hoạch
HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường MN công lập Quận 7 67Bảng 2.12 Mức độ thực hiện và mức độ ĐƯYC của công tác tổ chức việc
thực hiện kế hoạch HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường MNCL Quận 7 72
Trang 12Bảng 2.13 Mức độ thực hiện và mức độ ĐƯYC của công tác chỉ đạo việc
thực hiện kế hoạch HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7 75Bảng 2.14 Mức độ thực hiện và mức độ ĐƯYC của công tác kiểm tra –
đánh giá việc thực hiện kế hoạch HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7 78Bảng 2.15 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc thực hiện HĐGD
KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7 81Bảng 3.1 Mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lí HĐGD
KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non 115Bảng 3.2 So sánh các công việc trước thực nghiệm và đề xuất thực nghiệm
bồi dưỡng về HĐGD KNHT theo hình thức chia sẻ chuyên môn
từ đồng nghiệp qua các lần sinh hoạt chuyên môn hàng tháng 125Bảng 3.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm qua các tiêu chí đối với CBQL
và GV 127
Trang 13DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của
HĐGD KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi 55Biểu đồ 3.1 Biểu đồ thể hiện điểm trung bình giữa tính cấp thiết và tính khả
thi của các biện pháp 119
Trang 14ý tưởng được đưa ra trao đổi và chịu sự phản biện cẩn thận thì chúng thường được sàng lọc và cải tiến Kĩ năng này rất cần thiết cho con người ở thế kỉ XXI hiện nay
và tương lai Hợp tác đã trở thành chìa khoá giúp học sinh nói chung và đặc biệt là trẻ mầm non (MN) nói riêng mở ra những cánh cửa để khám phá thế giới KNHT là
cơ sở giúp trẻ có kết quả học tập tốt ở trường tiểu học, là hành trang quan trọng giúp trẻ thành công trong cuộc sống ở tương lai Do đó, trẻ rất cần sự quan tâm và trang
bị từ khi còn là trẻ 5 – 6 tuổi Về thực tiễn, trẻ thường dễ bị rơi vào tình trạng mâu thuẫn khi có nhu cầu hợp tác (HT) nhưng chưa có kĩ năng thực hiện HT hoặc HT với nhau không có kết quả Các bậc cha mẹ hiện nay thường quan niệm lứa tuổi trẻ
5 - 6 tuổi là tuổi ăn, chơi, ngủ nên chưa cần trang bị cho trẻ kĩ năng nêu trên Khi trẻ đến tuổi vào trường phổ thông sẽ bị hụt hẫng, khó hòa nhập và thích nghi với môi trường học tập mới vì chưa được trang bị KNHT từ khi còn ở tuổi mẫu giáo
Trong những năm gần đây, HT đã trở thành một phương pháp dạy học được giáo viên sử dụng trong các cấp, bậc học và là một trong những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của người học; phù hợp với xu thế dạy học hiện đại và phát triển con người mới, năng động, sáng tạo theo 4 trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI “Học để biết; học để làm; học để cùng chung sống; học để làm người” Hiện nay, việc phát triển KNHT từ trong trường học đã trở thành một xu thế giáo dục trên thế giới Đặc biệt
ở bậc học mầm non vấn đề hợp tác được đề cập trong mục tiêu của lĩnh vực phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội thuộc Chương trình giáo dục mầm non hiện hành ban hành kèm theo Thông tư số: 01/VBHN-BGDĐT ngày 24 tháng 01 năm 2017
Trang 15của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) về ban hành chương trình giáo dục mầm non cũng đã xác định: “Có một số kĩ năng sống: tôn trọng, hợp tác, thân thiện, quan tâm, chia sẻ” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2017) Và trong Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi được ban hành ở Thông tư số 23/2010/TT-BGDĐT ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) trong đó Chuẩn 11 đã đưa ra chỉ
số đánh giá “Trẻ thể hiện sự hợp tác với bạn bè và mọi người xung quanh” (Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi, 2010) Vì vậy, KNHT là một trong những nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực tình cảm và quan hệ xã hội cần rèn cho trẻ để chuẩn bị vào lớp Một để hình thành và phát triển nhân cách sau này cho trẻ Trên thực tế, ngành giáo dục mầm non (GDMN) nói chung và GDMN tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã rất quan tâm tới phát triển và giáo dục các kĩ năng xã hội nhất là KNHT cho trẻ mầm non, đặc biệt ở giai đoạn trẻ 5 – 6 tuổi là giai đoạn trẻ cần được trang bị các kĩ năng nền tảng để chuẩn bị vào lớp 1 Tuy nhiên việc phát triển các KNHT chưa được quan tâm đầy đủ Giáo viên khó khăn và lúng túng trong việc lựa chọn các nội dung cũng như hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng này cho trẻ
Việc giáo dục KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi có vai trò quan trọng Đây chính là thời điểm giúp trẻ hoàn thiện những thành tựu phát triển tâm lí suốt thời kì mẫu giáo Mặt khác là sự chuẩn bị tích cực cho trẻ đủ điều kiện để làm quen dần với các hoạt động học tập và cuộc sống ở trường phổ thông, để trẻ bước vào lớp 1 với sự tự tin, thích nghi nhanh chóng với môi trường giáo dục mới thì việc chuẩn bị sẵn sàng
về mặt tâm lí đến học tập ở trường tiểu học là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của giai đoạn giáo dục mẫu giáo Trẻ bước vào trường học, ngoài mặt tâm lí, vốn tri thức nhất định về thế giới xung quanh thì phải có các chuẩn mực hành vi đạo đức, kĩ năng cần thiết giúp trẻ gia nhập vào tập thể lớp, tìm được vị trí của mình trong tập thể đó, có ý thức trách nhiệm trong các hoạt động Nếu như hiệu quả của hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác (HĐGD KNHT) phụ thuộc trực tiếp vào người hướng dẫn
- người dạy và người học thì việc quản lí nó chính là đường hướng, là kim chỉ nam
để hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác được phát triển và thực sự có ích Chất lượng, hiệu quả giáo dục KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tùy thuộc vào nhiều yếu tố gia
Trang 16đình, nhà trường và xã hội Đặc biệt phụ thuộc trực tiếp vào quản lí của các nhà quản lí trong trường mầm non Vì vậy, để HĐGD KNHT mang lại hiệu quả, có chất lượng, đi đúng đường thì cần có một la bàn tốt – đó chính là biện pháp và chiến lược quản lí hoạt động này là vô cùng quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết Thực tiễn, công tác quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non nói chung và các trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
đã có những thành tích đáng kể như đã triển khai các chuyên đề bồi dưỡng cho giáo viên về tổ chức hoạt động thảo luận nhóm cho trẻ trong trường mầm non nhưng vẫn còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ và chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay Cụ thể nội dung chủ yếu của HĐGD KNHT chỉ được lồng ghép trong hoạt động dạy học, điều kiện, phương tiện chưa hỗ trợ tích cực Bên cạnh đó, các chức năng quản lí HĐGD KNHT như việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra – đánh giá chưa được quan tâm đúng mức, chưa gắn kết được vai trò của gia đình, nhà trường, xã hội trong việc quản lí hoạt động này Tổng quan các công trình nghiên cứu cấp độ luận văn thạc sĩ thuộc lĩnh vực quản lí giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng trong Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lí hoạt động giáo dục, quản lí hoạt động giáo dục đạo đức, quản lí hoạt động giáo dục thể chất, quản lí hoạt động giáo dục kĩ năng tự bảo
vệ nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi này
Xuất phát từ tính cấp thiết về mặt lí luận và thực tiễn của HĐGD KNHT và
quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường MN nêu trên, đề tài: “Quản lí hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh” được lựa chọn để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc tìm hiểu lí luận quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường MN, đánh giá thực trạng quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động này, tác giả đề xuất một số biện pháp quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục HĐGD KNHT cho trẻ
Trang 175 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; góp
phần giáo dục toàn diện nhân cách cho trẻ 5 – 6 tuổi
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường
mầm non
Đối tượng nghiên cứu: Quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường
mầm non công lập Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
4 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Tuy nhiên, công tác này vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập trong công tác lập kế hoạch,
tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra – đánh giá chưa phù hợp với yêu cầu của thực tiễn giáo dục mầm non Nếu hệ thống hóa được cơ sở lí luận và khảo sát - đánh giá đúng thực trạng thì sẽ đề xuất được các biện pháp quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường MN mang tính cần thiết và khả thi thì sẽ hình thành, phát triển KNHT phù hợp với trẻ 5 – 6 tuổi góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại các trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu, tổng hợp cơ sở lí luận về HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi và quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non
Khảo sát, đánh giá thực trạng về quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
Đề xuất các biện pháp quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 186.1.2 Phạm vi về đối tượng quản lí
Nghiên cứu HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường MN bao gồm mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp, kiểm tra – đánh giá, điều kiện, nhà giáo dục và trẻ 5 – 6 tuổi
Nghiên cứu công tác quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường MN tiếp cận theo các chức năng quản lí
6.2 Phạm vi về địa bàn nghiên cứu
Tại 6 trường mầm non công lập/ 17 trường mầm non công lập trên địa bàn Quận 7,: MN 19/5, MN Tân Hưng, MN Sương Mai, MN Khu Chế Xuất Tân Thuận,
MN Tân Quy, MN Hoa Sen
6.3 Phạm vi về thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: năm 2020
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
7.1.1 Tiếp cận hệ thống – cấu trúc
Tiếp cận quan điểm hệ thống - cấu trúc trong nghiên cứu đề tài này là nghiên cứu HĐGD KNHT như một hệ thống bao gồm: mục tiêu, nội dung, chủ thể, khách thể, hình thức, phương pháp, các điều kiện Các thành tố này có quan hệ biện chứng với nhau, HĐGD KNHT là một HĐGD, có mối liên hệ với các HĐGD khác cho trẻ
ở trường MN và chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 HĐGD KNHT trong trường MN có mối liên hệ với HĐGD KNHT của gia đình và xã hội Quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 –
6 tuổi tại các trường MN được phân cấp từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở, Phòng đến trường MN, là một nội dung của quản lí trường MN
7.1.2 Tiếp cận lịch sử - logic
Tiếp cận quan điểm lịch sử - logic trong nghiên cứu đề tài này là xem xét phân tích HĐGD KNHT và quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường MN trong một quá trình phát sinh, phát triển, vận động của nó Và xem xét mối liên hệ giữa lí luận và thực tiễn để tìm những biện pháp hiệu quả cho công tác quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi
Trang 197.1.3 Tiếp cận thực tiễn
Tiếp cận quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu đề tài này là khảo sát, đánh giá thực trạng HĐGD KNHT và quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7, TP Hồ Chí Minh Từ đó, tác giả luận văn đề ra các biện pháp quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường MN công lập Quận 7,
TP Hồ Chí Minh Những kết quả nghiên cứu có thể vận dụng vào thực tiễn HĐGD KNHT và quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường MN
7.2 Các phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu, tài liệu trong và ngoài nước, các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở, Phòng có liên quan đến HĐGD KNHT và quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường MN nhằm hệ thống cơ sở lí luận, định hướng cho việc thiết kế công cụ nghiên cứu và quá trình điều tra thực tiễn Từ đó, tác giả rút ra các kết luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích: sử dụng phương pháp này nhằm thu thập thông tin về thực trạng và biện pháp quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường MN công lập Quận 7, TP Hồ Chí Minh
Nội dung:
- Khảo sát thực trạng HĐGD KNHT và quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường MN công lập Quận 7, TP Hồ Chí Minh sử dụng Phiếu hỏi số 1 (Xem Phụ lục 1) Mẫu khảo sát trình bày ở Chương 2
- Khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường MN công lập Quận 7, TP Hồ Chí Minh sử dụng Phiếu hỏi số 2 (Xem Phụ lục 3) Mẫu khảo sát trình bày ở Chương 3
Đối tượng: khảo sát: 6 Hiệu trưởng, 12 Phó Hiệu trưởng chăm sóc giáo dục,
18 tổ trưởng chuyên môn và 108 giáo viên dạy lớp 5 – 6 tuổi của 6 trường mầm non
Trang 20công lập / 17 trường mầm non công lập trên địa bàn Quận 7: MN 19/5, MN Tân
Hưng, MN Sương Mai, MN Khu Chế Xuất Tân Thuận, MN Tân Quy, MN Hoa Sen
Công cụ:
- Phiếu hỏi số 1 được thiết kế gồm 2 phần: Phần 1 sử dụng để hỏi GVMN nhằm làm rõ thực trạng HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi và Phần 2 sử dụng để hỏi CBQL Phòng GD&ĐT, Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng chăm sóc giáo dục, Tổ trưởng chuyên môn tại các trường mầm non (Xem Phụ lục 1)
- Phiếu hỏi số 2 được thiết kế trên việc đề xuất một số biện pháp quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi nhằm khảo sát tính cần thiết và khả thi của từng biện pháp (Xem Phụ lục 2)
Cách thực hiện:
- Bước 1: Soạn Phiếu hỏi
- Bước 2: Đánh giá độ tin cậy
- Bước 3: Phát và thu Phiếu hỏi
- Bước 4: Phân tích thông tin thu thập được
- Thời gian khảo sát: tháng 5 năm 2020 đến tháng 7 năm 2020
* Phương pháp phỏng vấn
Mục đích: sử dụng phương pháp này nhằm thu thập thông tin chi tiết hơn, làm
rõ hơn thông tin thu nhận từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Tìm hiểu về đối tượng nghiên cứu để làm minh chứng và bổ sung vào kết quả nghiên cứu thực trạng Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7
Nội dung: Phiếu phỏng vấn gồm 3 phần: Phần 1 Thực trạng HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; Phần 2 Thực trạng quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; Phần 3 Biện pháp quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 21Đối tượng: 12 CBQL và 12 giáo viên dạy lớp 5 – 6 tuổi của 6 trường mầm non công lập / 17 trường mầm non công lập trên địa bàn Quận 7: MN 19/5, MN Tân Hưng, MN Sương Mai, MN Khu Chế Xuất Tân Thuận, MN Tân Quy, MN Hoa Sen Công cụ: Sử dụng Phiếu phỏng vấn (bút vấn) với các đối tượng nêu trên (Xem Phụ lục 2)
Cách thực hiện:
- Bước 1: Soạn Phiếu Phỏng vấn
- Bước 2: Đánh giá độ tin cậy
- Bước 3: Phát và thu Phiếu Phỏng vấn
- Bước 4: Phân tích thông tin thu thập được
Thời gian: Từ tháng 7 năm 2020 đến tháng 9 năm 2020
* Phương pháp quan sát và nghiên cứu hồ sơ
Mục đích: sử dụng phương pháp nhằm mục đích thu thập thông tin về mức độ thường xuyên thực hiện các hình thức GD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi và xác định những kết quả đạt được và các hạn chế, bất cập trong thực hiện các hình thức GD KNHT
Nội dung: quan sát HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi được thể hiện trong hoạt động dạy học, hoạt động vui chơi và mọi lúc mọi nơi của trẻ 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non công lập ở Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu hồ sơ chuyên môn của giáo viên: các loại hồ sơ sổ sách theo qui định, các tư liệu giảng dạy mà giáo viên thu thập được để phục vụ dạy học, phục vụ việc tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên
Đối tượng: Quan sát trực tiếp GV tổ chức các HĐGD KNHT và nhận xét của BGH về các hoạt động giáo dục KNHT và các loại hồ sơ của giáo viên
Công cụ: Phiếu quan sát (Xem Phụ lục 4)
Thời gian: từ tháng 5 năm 2020 đến tháng 7 năm 2020
* Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp này được sử dụng nhằm khẳng định tính khả thi và hiệu quả của một biện pháp quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non Quá trình thực nghiệm được trình bày trong Phần 3.4 (Xem phụ lục 5)
Trang 227.2.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng lí thuyết về toán thống kê để xử lí số liệu thu thập được thông qua phần mềm SPSS 21 phân tích thực trạng, kết quả thực nghiệm được trong quá trình nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, danh mục các bảng, luận văn dự kiến gồm có 03 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ
5 – 6 tuổi tại trường mầm non
Chương 2 Thực trạng quản lí hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non công lập Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 23Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG HỢP TÁC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
TẠI TRƯỜNG MẦM NON
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hợp tác giúp cho con người có thể giải quyết một cách hiệu quả những vấn
đề xảy ra trong cuộc sống Kĩ năng này cần được rèn luyện ngay từ tuổi mầm non Chính vì thế, việc hình thành KNHT của con người được rất nhiều nhà tâm lí – giáo dục nghiên cứu và quan tâm Trải qua quá trình phát triển của lịch sử giáo dục trên thế giới cũng như trong nước đã xuất hiện nhiều tư tưởng nghiên cứu về vấn đề này
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Hợp tác có vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển loài người Nó thúc đẩy
sự phát triển của tư duy, là cơ sở của nhận thức xã hội và là phương tiện để hợp tác
và giải quyết các vấn đề trong cuộc sống
Đầu thế kỉ XX, nhà giáo dục Mỹ, John Dewey cho rằng quá trình dạy học nên
hướng vào người học cần đảm bảo cho người học phân tích những kinh nghiệm của mình, khuyến khích người học biết tự chủ động, tự chịu trách nhiệm nhiều hơn thay
vì việc xử lí những sự việc, sự kiện theo lời nói của thầy Quan điểm của John Dewey cho thấy rằng việc giáo dục KNHT cho người học là vấn đề phù hợp với xu thế thời đại, người học phải chủ động trong việc tìm ra kiến thức, kinh nghiệm cho bản thân mà không chờ đợi truyền thụ kiến thức một cách thụ động vào người dạy Người học chủ động tham gia vào hoạt động có những biểu hiện của KNHT với bạn
bè (Dewey, 2008)
Theo Macarenko (1888 - 1939) một nhà giáo dục Xô Viết (Liên Xô cũ) tiếp nối quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng “Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Ông coi giáo dục tập thể không chỉ là một nội dung giáo dục, mà coi tập thể là môi trường, phương tiện giáo dục nhằm hình thành ở thế hệ trẻ ý thức tinh thần tập thể, tinh thần trách nhiệm, hợp tác, tính kỉ luật, tính tổ chức thói quen sống, lao động, học tập (Bùi Minh Hiền (chủ biên) & Nguyễn Quốc Trị, 2016)
Trang 24Bước sang cuối thế kỉ XX, lĩnh vực hợp tác thu hút được khá nhiều sự quan
tâm của các nhà nghiên cứu R.Cousinet - nhà giáo dục người Pháp đã chú ý đến việc hình thành KNHT cho người học bằng các phương pháp, biện pháp dạy học tích hợp Ông cho rằng: giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh được tự do chọn bạn để học nhóm hay giải tán nhóm Học tập theo nhóm tránh được sự lười biếng vì học sinh sẽ cảm thấy xấu hổ với bạn khi bỏ dở công việc hay khi không biết làm việc Chính nhờ sự thay đổi này mà người học có những quan điểm, những nhận định xã hội khi nhận xét về bạn mình và được nghe bạn mình nhận xét về những hành động của mình, từ đó người học sẽ tích lũy thêm các kinh nghiệm xã hội (Hendric, 1995)
Từ năm 1930 đến năm 1940, Kurt Lewin đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cách cư xử trong nhóm và xây dựng lí thuyết cơ sở về học tập theo hướng phát triển hợp tác Và Morton Deutsch dựa trên thuyết của Kurt Lewin đã đề ra lí thuyết
về các tình huống hợp tác và tranh đua Lí thuyết này về sau được coi là nền tảng quan trọng đưa đến hàng loạt những nghiên cứu và các cuộc tranh luận sau này (Deutsch, 1990)
Năm 1961, Muzafer Sherif đã tiến hành những nghiên cứu nổi tiếng của ông tại ba trại hè, trong đó ông đã thiết kế sự tranh đua liên nhóm hết sức sôi nổi và nghiên cứu sự nỗ lực của các thành viên mỗi nhóm Qua hình thức trại hè các em học sinh có nhiều cơ hội để cùng hợp tác, giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm cho nhau trong học tập cũng như trong sinh hoạt (Johnson, D.W & Johnson, T R., 1991)
Khởi đầu các công trình nghiên cứu của mình về học hợp tác, từ năm
1975-1991 hai tác giả D Johnson và R Johnson đã cho xuất bản cuốn “Học cùng nhau và học độc lập” Các tác giả đã chỉ ra và phân tích những yếu tố cơ bản của học hợp tác bao gồm: sự phụ thuộc tích cực, sự tương tác đối mặt, sự có trách nhiệm cá nhân, sự lĩnh hội và sử dụng các kĩ năng nhóm nhỏ và liên cá nhân, sự nhận xét nhóm Các tác giả cũng phân tích được vai trò và mối quan hệ trong ba mô hình học tập: hợp tác, tranh đua và cá nhân (Johnson, D.W, & Johnson, T.R., 1991) Họ cho rằng: sự hợp tác của trẻ chỉ được hình thành bằng cách tổ chức nhóm Sự hợp tác phụ thuộc
Trang 25vào sự tích cực tham gia của các thành viên trong nhóm Mỗi người chỉ có thể thành công khi mọi người trong nhóm cùng thành công
Theo quan điểm của Vưgotxky thì “quy luật phát sinh xã hội của các dạng hành vi cấp cao Bất kỳ chức năng nào trong sự phát triển văn hóa của trẻ đều xuất hiện hai lần ở bình diện tâm lí; lúc đầu như một phạm trù mang tính tập thể, phạm trù tâm lí bên ngoài, sau đó như là một phương tiện của hành vi cá nhân, một phạm trù tâm lí bên trong” (Huỳnh Văn Sơn, 2009, tr 561) Có thể hiểu rằng trình độ hiện tại là các chức năng tâm lí đã đạt độ chín muồi mà trẻ có thể tự giải quyết nhiệm vụ không cần sự giúp đỡ của người khác, còn vùng phát triển gần gồm các chức năng tâm lí chưa chín, trẻ muốn hoàn thành nhiệm vụ khi có sự hợp tác, giúp đỡ của người khác Đứa trẻ cần có kinh nghiệm xã hội chung nhất khi hợp tác với bạn, để sau đó đích đến là trẻ có được kinh nghiệm riêng cho bản thân mà không cần đến sự trợ giúp của người khác
Như vậy, một số công trình nghiên cứu trên thế giới đã quan tâm đến việc giáo dục KNHT ở học sinh nhằm hình thành cho trẻ những kĩ năng cơ bản giúp trẻ thích ứng và thành công trong cuộc sống tương lai Những công trình này về tên gọi
có đôi chút khác nhau nhưng nội hàm dạy học hợp tác đều lấy quan hệ nhóm giữa học sinh với học sinh làm trung tâm để phát triển các mối quan hệ hợp tác giữa con người với con người; vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện, vừa là môi trường để dạy học có hiệu quả hơn Nhưng nhìn chung, phần lớn các công trình nghiên cứu trên thế giới về giáo dục KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi còn hạn chế cả về số lượng, nội dung
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, trên cơ sở nghiên cứu, phân tích lí luận và thực tiễn Việt nam, một số nhà Tâm lí - Giáo dục học đã đề cập đến sự hợp tác của trẻ Trong lĩnh vực tâm lí học trẻ em trước tuổi đi học được các nhà tâm lí học, giáo dục học Việt Nam rất quan tâm Nếu như trong những thập niên 70 của thế kỷ XX các tác giả chủ yếu nghiên cứu về những đặc điểm tâm lí trẻ, bước sang thập kỷ 80 trở lại đây các hoạt động của trẻ được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn
Tác giả Lê Xuân Hồng với Những kĩ năng sư phạm mầm non - Tập 2 đã nghiên cứu những cách thức, biện pháp phát triển những kĩ năng cần thiết cho trẻ
Trang 26mầm non, trong đó có KNHT (Lê Xuân Hồng, 2000) Theo đó, tác giả cho rằng cần thúc đẩy KNHT của trẻ bằng cách giúp trẻ học cách hòa nhập với những trẻ khác Theo Đào Thanh Âm đã viết “giúp trẻ thiết lập mối quan hệ với bạn cùng tuổi
ở trẻ 5 - 6 tuổi” (Đào Thanh Âm, 2002) Vì khi trẻ thiết lập mối quan hệ với bạn cùng tuổi sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi giúp trẻ có những biểu hiện của KNHT, trẻ đồng tuổi sẽ có những đặc điểm tâm sinh lí tương đồng với nhau, dễ gần gũi với nhau, dễ gia nhập vào nhóm chơi, có những hành động, hành vi gần giống nhau nên trẻ dễ dàng hợp tác với bạn hơn trong trò chơi
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đề cập vấn đề giáo dục trẻ trong nhóm bạn bè; tâm
lí học trẻ em trước tuổi đi học; tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non (từ lọt lòng đến
6 tuổi) đã phân tích cụ thể bản chất xã hội của trò chơi, cấu trúc, đặc điểm hoạt động chơi của trẻ em Tác giả chỉ ra rằng bản chất xã hội của trò chơi trẻ em là một trong những phương pháp phát triển KNHT cho trẻ mầm non (Nguyễn Ánh Tuyết et all, 2014)
Tác giả Liêm Trinh với quyển sách “Rèn luyện nhân cách cho trẻ” cho rằng: cần rèn luyện tính hợp tác của trẻ qua việc bày tỏ sự quan tâm, chia sẻ với người khác những gì mình có và tôn trọng ý kiến của người khác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao (Liêm Trinh, 2007)
Tác giả Phan Trọng Ngọ, Đinh Thị Tứ tác giả của sách Tâm lí học trẻ em lứa tuổi Mầm non (Đinh Thị Tứ & Phan Trọng Ngọ, 2007, tr 172-183) cũng đề cập đến vấn đề “Các khía cạnh ảnh hưởng của bạn đến sự phát triển của trẻ: vai trò của bạn ngang hàng đối với trẻ, sự tương tác với bạn ngang hàng phát triển ở trẻ em các mô hình kĩ năng xã hội cơ bản, phát triển các ứng xử với bạn và người xung quanh” Điều này có thể hiểu rằng bạn bè ngang hàng là những tác nhân củng cố hành vi xã hội được lặp lại ở trẻ em Bạn bè ngang hàng là chuẩn để trẻ so sánh hành vi xã hội của mình, và là tấm gương phản chiếu và điều chỉnh hành vi của trẻ em
Trong “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi”, tích cực hợp tác là một trong những nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực tình cảm - quan hệ xã hội cần rèn cho trẻ 5 - 6 tuổi để chuẩn bị vào lớp một Và ở Bộ chuẩn này cũng đưa ra các chỉ số thể hiện sự hợp tác với bạn bè và mọi người xung quanh như: lắng nghe ý kiến của mình với
Trang 27người khác, trao đổi ý kiến với người khác, thể hiện sự thân thiện, đoàn kết với bạn
bè, chấp nhận sự phân công của nhóm bạn và người lớn, sẵn sàng thực hiện nhiệm
vụ đơn giản cùng người khác (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010)
Tác giả Vũ Thị Nhân cho rằng KNHT là một kĩ năng sống quan trọng cần giáo dục cho trẻ, trên cơ sở xác định bản chất của KNHT trong Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi và ý nghĩa giáo dục của nó đối với trẻ 5 - 6 tuổi, tác giả đã đề cập đến KNHT và các giai đoạn hình thành KNHT của trẻ 5 - 6 tuổi (Vũ Thị Nhân, 2018)
Bàn về vấn đề quản lí giáo dục KNHT cho học sinh, trên cơ sở lí luận về quản lí sự phối hợp giữa giáo viên và cán bộ quản lí trong công tác giáo dục kĩ năng sống (trong đó có kĩ năng hợp tác) cho học sinh tiểu học, tác giả Huỳnh Lâm Anh Chương cho rằng đây là vấn đề cần thiết cho cán bộ quản lí, đặc biệt là hiệu trưởng nhà trường Để đảm bảo mục tiêu giáo dục KNHT cho học sinh thì cần có sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục, trong đó GV và cán bộ quản lí là hai lực lượng chính Tuy nhiên, sự phối hợp này không diễn ra tự phát mà cần được tổ chức theo định hướng hệ thống, dưới tác động chủ đạo của cán bộ quản lí giáo dục Theo đó, tác giả đề xuất các nhóm biện pháp quản lí giáo dục kĩ năng sống, bao gồm: Nâng cao nhận thức cho GV và cán bộ quản lí về những kiến thức và kĩ năng phối hợp trong công tác giáo dục kĩ năng sống cho học sinh; Ban hành các quy định về nhiệm
vụ, quyền lợi của giáo viên và cán bộ quản lí trong công tác giáo dục kĩ năng sống;
Tổ chức xây dựng kế hoạch và chương trình giáo dục kĩ năng sống cụ thể; Chỉ đạo giáo vi phối hợp với cán bộ quản lí thực hiện đúng tiến độ kế hoạch giáo dục; Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch của giáo viên và cán bộ quản lí (Huỳnh Lâm Anh Chương, 2015)
Đối với vấn đề quản lí giáo dục kĩ năng sống (bao gồm KNHT) cho trẻ em 5 – 6 tuổi trong các trường mầm non, Công Thị Hồng Điệp tiến hành nghiên cứu khảo sát tại các trường MN quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội và đưa ra kết quả: Thực trạng công tác giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em trong các trường mầm non được đánh giá ở mức độ khá tốt Hiện tại nhà trường đã thực hiện các nội dung quản lí giáo dục kĩ năng sống như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường mầm non Các yếu tố ảnh hưởng đến
Trang 28quản lí giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em trong các trường mầm non được xác định bao gồm: Yếu tố thuộc về gia đình và yếu tố thuộc về môi trường; Yếu tố thuộc về cán bộ quản lí trường mầm non; Yếu tố thuộc về giáo dục mầm non Tác giả khẳng định để nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em trong các trường mầm non, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lí giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường: Khảo sát kĩ năng sống hiện có của trẻ em mẫu giáo 5 - 6 tuổi
và lập kế hoạch giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em; Tổ chức giáo dục kĩ năng sống theo chương trình giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi phù hợp với bối cảnh hiện nay; Tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên kiến thức, kĩ năng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trường MN; Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch giáo dục kĩ năng sống cho trẻ MN; Tổ chức tốt sự phối hợp giữa các bộ phận trong nhà trường tham gia giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em (Công Thị Hồng Điệp, 2017)
Kết quả nghiên cứu của các tác giả nêu trên đã đề cập đến sự cần thiết của việc giáo dục KNHT nhằm góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách cho trẻ Các tác giả cũng đã nhấn mạnh vị trí của KNHT trong vai trò rèn luyện, hình thành nhân cách cho trẻ mầm non nói riêng cũng như cho học sinh nói chung Tuy nhiên việc quản lí hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường mầm non vẫn còn là khoảng trống ít người nghiên cứu, đa số các tác giả nghiên cứu quản lí hoạt động giáo dục kĩ năng sống là phần nhiều
Tóm lại, quản lí HĐGD KNHT cho HS nói chung, trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng là một trong những hướng nghiên cứu về quản lí GD Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước như trình bày, đã có nhiều đóng góp trong việc xây dựng cơ sở lí luận
về HĐGD KNHT và quản lí HĐGD KNHT cho HS Đây chính là nền tảng quý báu
để tác giả luận văn tiến hành nghiên cứu đề tài này
1.2 Những khái niệm cơ bản
1.2.1 Hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non
(1) Kĩ năng hợp tác của trẻ 5 – 6 tuổi
Trang 29Kĩ năng
Trong lịch sử nghiên cứu các vấn đề về kĩ năng, có nhiều tác giả trong và ngoài nước đã đưa ra những quan niệm khác nhau về kĩ năng Có hai khuynh hướng
cơ bản sau:
Khuynh hướng thứ nhất: xem xét kĩ năng nghiêng về mặt kĩ thuật của thao tác,
của hành động hay hoạt động Có các tác giả như: V.A.Kruchetxki, A.V.Petrovxki, V.S.Cudin, A.G.Covaliop, Trần Trọng Thuỷ…
V.A.Kruchetxki cho rằng “Kĩ năng là phương thức thực hiện hành động đã được con người nắm vững từ trước” (Vưgotxki, 1996, tr 78) Theo ông, kĩ năng được hình thành bằng con đường luyện tập, kĩ năng tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà trong cả những điều kiện đã thay đổi
Khi bàn về kĩ năng, tác giả Trần Trọng Thuỷ cũng cho rằng “kĩ năng là mặt kĩ thuật của hành động, con người nắm được các hành động tức là có kĩ thuật hành động, có kĩ năng” (Trần Trọng Thủy, 1978)
Khuynh hướng thứ hai: xem xét kĩ năng nghiêng về mặt năng lực hành động
của con người Theo quan niệm này, kĩ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt, sáng tạo và có mục đích Đại diện cho khuynh hướng này có các tác giả như N.D Levitov, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành…
Levitov quan niệm “kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hành động phức tạp bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” (Nguyễn Thanh Bình, 2007, tr 29) Theo ông, người có kĩ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Levitov cho rằng, để hình thành kĩ năng, con người không chỉ nắm lí thuyết về hành động mà phải biết vận dụng vào thực tiễn
Theo từ điển Giáo dục học “kĩ năng là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ”(Bùi Hiền et all, 2000, tr 220)
Trang 30Tác giả Huỳnh Văn Sơn (2009) quan niệm “kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã
có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kĩ năng không chỉ đơn thuần về mặt kĩ thuật của hành động mà còn là biểu hiện năng lực của con người” (Huỳnh Văn Sơn, 2009)
Từ những khái niệm kĩ năng nêu trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm kĩ năng:
“Kĩ năng là khả năng của con người vận dụng một cách có hiệu quả những tri thức, kinh nghiệm đã có phù hợp với những điều kiện nhất định để đạt được mục đích của mình”
Hợp tác
Từ điển Tiếng Việt có nêu: “hợp tác là chung sức, giúp đỡ nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó nhằm đạt mục đích chung” (Hoàng Phê, 1994, tr 330)
Theo Từ điển Tâm lí học định nghĩa: “hợp tác là hai hoặc nhiều hơn hai bộ phận trong một nhóm làm việc cùng nhau theo một cách thức sao cho cùng nhau tạo
ra một kết quả chung” (Vũ Dũng, 2000, tr 356)
C Mác định nghĩa: “hình thức lao động của nhiều người làm việc bên nhau và với nhau trong cùng một quá trình sản xuất hay trong các quá trình sản xuất khác nhau, nhưng liền với nhau theo kế hoạch gọi là hợp tác” (Vũ Dũng, 2000, tr 176)
Kĩ năng hợp tác
Như vậy có thể hiểu: “hợp tác là quá trình tương tác xã hội trong đó con người chung sức, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó nhằm đạt được mục đích chung”
Từ khái niệm “kĩ năng” và “hợp tác” chúng tôi hiểu “kĩ năng hợp tác” như
sau: “kĩ năng hợp tác là khả năng của con người vận dụng một cách có hiệu quả
những tri thức, kinh nghiệm đã có về hợp tác để giúp đỡ nhau nhằm hoàn thành một mục đích chung”
Trang 31Kĩ năng hợp tác của trẻ 5 - 6 tuổi
“Kĩ năng hợp tác của trẻ 5 - 6 tuổi là khả năng của trẻ 5 – 6 tuổi vận dụng một cách có hiệu quả những tri thức, kinh nghiệm đã có về hợp tác để giúp đỡ nhau nhằm hoàn thành một mục đích chung”
Dựa vào cách phân loại các giai đoạn hình thành kĩ năng của tác giả Vũ Thị Nhân (2018) theo chúng tôi với trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi để hình thành kĩ năng hợp tác cần trải qua các giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: Phát triển các mối tương quan
Ở đầu lứa tuổi này, trẻ năng động hơn và kiên trì hơn so với các lứa tuổi trước, chúng thể hiện khả năng giao tiếp tích cực và đa dạng với các bạn bè cùng lứa Điều này tạo nên điều kiện tiên quyết tự nhiên cho sự hình thành các mối tương quan và phát triển KNHT ở trẻ Trẻ có nhu cầu giao tiếp mạnh mẽ với các bạn cùng chơi trong các trò chơi chung, có hứng thú tích cực với các bạn cùng chơi, có thiên hướng mở rộng phạm vi giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi, tính tích cực trong giao tiếp và tần số giao tiếp tăng lên
Trẻ quan tâm nhiều hơn đến các cơ sở của việc giao tiếp và điều chỉnh các mối tương quan Những khái niệm về chuẩn mực đạo đức được hình thành, trẻ phân biệt
rõ ràng hơn những hành vi tốt xấu; chúng có khái niệm về cái ác, cái thiện và có thể ứng xử nhờ vào kinh nghiệm cá nhân
Trong quá trình hoạt động chung, trẻ độ tuổi này thường tích cực hướng tới các điều lệ Chính điều này giúp trẻ duy trì mối tương quan ổn định với bạn bè, hướng tới quyền bình đẳng và sự công bằng
Giai đoạn thứ 2: Hình thành, phát triển kĩ năng hợp tác
Ngoài nhu cầu giao tiếp tích cực, từ lứa tuổi 5 – 6 tuổi xuất hiện thiên hướng phối hợp hoạt động đa dạng với các bạn cùng lứa tuổi Trẻ tích cực hướng sự chú ý của người khác tới mình, mong muốn chia sẻ với bạn bè kiến thức, ý tưởng, cảm nhận, ý kiến… của mình
Trẻ so sánh bản thân với các bạn, bắt đầu đánh giá bản thân trên quan điểm, uy tín của bản thân trước các bạn, mong muốn được công nhận, khen ngợi những ưu điểm của mình Trẻ quan tâm hơn tới bạn cùng chơi, hướng tới nhận thức những
Trang 32cảm nhận, trạng thái, hành động, ý định của các bạn, có mong muốn đánh giá những hành vi, hành động, trạng thái của các bạn trên cơ sở lĩnh hội những khái niệm đạo đức
Trong quá trình phối hợp với các bạn khi chơi, trẻ thể hiện bản thân với những biểu hiện đa dạng: lắng nghe, chia sẻ, tranh luận, ra lệnh, dỗ dành… Những biểu hiện này diễn ra một cách bản năng nhất, tạo nên sự giải phóng không giới hạn, sự
tự do không theo khuôn mẫu Chính bạn bè cùng trang lứa giúp trẻ bộc lộ bản năng,
cá tính của trẻ (Vũ Thị Nhân, 2018)
Nói chung, 5 – 6 tuổi là thời kì trẻ có khả năng tìm kiếm các mối tương quan với bạn bè để từ đó thiết lập quan hệ bạn bè trong từng nhóm chơi Trong khi phối hợp với các bạn cùng chơi trong nhóm trẻ có những biểu hiện về KNHT một cách ngẫu nhiên và tự nhiên nhất Bầu không khí chung của các trò chơi ở 5 – 6 tuổi chứa đựng các nhân tố của KNHT
(2) Hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non
“HĐGD kĩ năng hợp tác cho trẻ mầm non nói chung và trẻ 5 – 6 tuổi nói
riêng là những hoạt động có chủ đích, có kế hoạch do các chủ thể giáo dục thiết kế
và tổ chức thông qua những cách thức phù hợp, nhằm hình thành và phát triển cho trẻ các kĩ năng hợp tác của cá nhân trẻ vào các tình huống hợp tác khác nhau trong cuộc sống, phù hợp đặc điểm phát triển lứa tuổi, đáp ứng với mục tiêu GD toàn diện của GDMN”
Từ khái niệm trên, HĐGD KNHT cũng như các HĐGD khác trong nhà trường đều là các hệ thống và được tạo thành bởi các nhân tố sau:
- Chủ thể giáo dục KNHT: GV dạy lớp 5 – 6 tuổi là chủ thể đóng vai trò chủ
đạo trong HĐGD KNHT
- Khách thể giáo dục KNHT: trẻ 5 – 6 tuổi vừa là đối tượng giáo dục vừa là
chủ thể tự giáo dục
- Mục đích, nhiệm vụ giáo dục: nhằm hình thành và phát triển cho trẻ KNHT
của cá nhân vào các tình huống hợp tác khác nhau trong cuộc sống, phù hợp đặc điểm phát triển lứa tuổi, đáp ứng với mục tiêu GD toàn diện của GDMN
Trang 33- Nội dung giáo dục: Theo chương trình Giáo dục Mầm non năm 2016 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra nội dung giáo dục KNHT trong lĩnh vực phát triển lĩnh vực tình cảm - quan hệ xã hội như sau: “Mạnh dạn bày tỏ ý kiến của mình; mối quan hệ giữa hành vi của trẻ và cảm xúc với người khác; lắng nghe ý kiến của người khác, sử dụng lời nói, cử chỉ, lễ phép, lịch sự; tôn trọng, hợp tác, chấp nhận; quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ bạn; nhận xét và tỏ thái độ với hành vi “đúng”- “sai”,
“tốt”-“xấu”” Và trong kết quả mong đợi của chương trình Giáo dục mầm non có nêu về KNHT trong lĩnh vực phát triển tình cảm - quan hệ xã hội như sau: “Biết chờ đến lượt; biết lắng nghe ý kiến, trao đổi, thỏa thuận, chia sẻ kinh nghiệm với bạn; biết tìm cách giải quyết mâu thuẫn (dùng lời, nhờ sự can thiệp của người lớn, chấp nhận nhường nhịn)” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016)
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi với các chuẩn và chỉ số nhằm phát triển KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi và hỗ trợ thực hiện chương trình Giáo dục mầm non, nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục, chuẩn bị tâm thế cho trẻ năm tuổi vào lớp Một Nội dung của giáo dục KNHT được thể hiện
ở Chuẩn 11: Trẻ thể hiện sự hợp tác với bạn bè và mọi người xung quanh gồm các chỉ số: Lắng nghe ý kiến của người khác; Trao đổi ý kiến của mình với các bạn; Thể hiện sự thân thiện, đoàn kết với bạn bè; Chấp nhận sự phân công của nhóm bạn và người lớn; Sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác
- Phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức giáo dục: là cách thức, phương
tiện, hình thức hoạt động của nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm thực hiện
những nhiệm vụ giáo dục KNHT và đạt tới mục đích giáo dục KNHT đã định
- Kết quả giáo dục: là kết quả tổng hợp của toàn bộ HĐGD KNHT Tham gia
vào HĐGD KNHT còn có những điều kiện giáo dục bên ngoài (gia đình và xã
hội), những điều kiện bên trong (môi trường sư phạm)
Những nhân tố của HĐGD KNHT có mối quan hệ thống nhất, tác động biện chứng với nhau đồng thời những nhân tố này còn có mối quan hệ mật thiết, biện chứng với môi trường bên ngoài và môi trường bên trong Khi một nhân tố thay đổi
sẽ kéo theo sự thay đổi của các nhân tố khác
Trang 341.2.2 Quản lí hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non
(1) Quản lí
Quản lí theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng (Nxb Giáo dục, 1998) là: Tổ
chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan
Theo tác giả Trần Kiểm, Quản lí là tác động có hướng đích của chủ thể, dựa trên nhận thức những quy luật khách quan của hệ quản lí đến các quá trình đang
diễn ra nhằm đạt mục đích đặt ra một cách tối ưu” (Trần Kiểm, 2004)
Còn tác giả Nguyễn Thành Vinh, quản lí là quá trình tác động có chủ định, hướng đích của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm tạo ra các hoạt động hướng tới đạt mục đích chung của tổ chức dưới sự tác động của môi trường”
(Nguyễn Thành Vinh, 2012)
Từ những ý chung của các định nghĩa trên và xét quản lí với tư cách là một
hành động thì “Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí
lên đối tượng quản lí nhằm đạt được mục tiêu đề ra.”
(2) Quản lí hoạt động giáo dục
Quản lí giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích,
có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lí đến cả các mắt xích của
hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu
của xã hội (Nguyễn Kì & Bùi Trọng Tuân, 1984)
Quản lí giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lí nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,…một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội (Trần Kiểm, 2016)
Quản lí giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan quản lí giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học – giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra (Nguyễn Thị Mỹ Lộc et al, 2015)
Trang 35Tóm lại, theo tác giả “Quản lí giáo dục là quá trình tác động có mục đích của
chủ thể quản lí giáo dục đến các đối tượng quản lí trong hệ thống giáo dục nhằm thực hiện mục đích chung của hệ thống giáo dục.”
(3) Quản lí hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non
Từ các khái niệm quản lí và hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác trên, “Quản lí
HĐGD KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi tại trường mầm non là sự tác động có định hướng,
có kế hoạch của chủ thể quản lí trường mầm non lên HĐGD KNHT nhằm đạt được mục tiêu giáo dục KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi”
Từ khái niệm cho thấy:
Chủ thể quản lí gián tiếp là các CBQL của Phòng GD&ĐT Chủ thể trực tiếp quản lí HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường MN là các cán bộ quản lí bao gồm: hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn trong trường MN
Đối tượng quản lí: HĐGD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi trong trường mầm non Mục đích quản lí: nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục KNHT, hình thành KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi, hình thành khả năng hợp tác trong các tình huống trong cuộc sống
1.3 Lí luận về hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non
1.3.1 Mục tiêu giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non
Mục tiêu giáo dục là dự kiến trước mô hình nhân cách của người được giáo dục; có vai trò định hướng cho sự vận động và phát triển của các thành tố khác của HĐGD, từ đó định hướng cho sự vận động và phát triển của toàn bộ HĐGD Mục tiêu giáo dục được thực hiện bằng những nhiệm vụ giáo dục cụ thể Trong hệ thống giáo dục, có mục tiêu giáo dục chung cho toàn hệ thống và mục tiêu giáo dục riêng cho từng cấp học, bậc học
Mục tiêu giáo dục mầm non nhằm phát triển toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một (Luật Giáo dục, 2019) Và cụ thể hơn trong Chương trình giáo dục
Trang 36mầm non hiện hành thì mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016)
Mục tiêu GD KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi nhằm giúp trẻ thích ứng và làm chủ các tình huống hợp tác trong cuộc sống hàng ngày Mục đích GD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi có vai trò định hướng cho sự vận động và phát triển của các thành tố cấu trúc khác của hoạt động GD KNHT
GD KNHT giúp hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ Các mối quan hệ
xã hội mà trẻ tham gia càng phong phú, đa dạng, càng góp phần hoàn thiện nhân cách của trẻ Sự kết hợp và phối hợp các hoạt động giữa các trẻ trong nhóm chơi là tạo ra những mối quan hệ xã hội hết sức độc đáo và điển hình Vì vậy, khi tham gia vào các hoạt động chung, mỗi trẻ bằng hoạt động giao tiếp của mình đã tích cực chiếm lĩnh các mối quan hệ xã hội Về thực chất, đây là nền tảng của quá trình phát triển nhân cách
GD KNHT cho trẻ là tạo cơ hội cho trẻ được chơi và rèn luyện các kĩ năng khác Khi được cùng chơi với nhau trong nhóm, trẻ sẽ có cơ hội tiếp xúc, học hỏi lẫn nhau; trẻ biết thỏa thuận với nhau, biết lắng nghe, chia sẽ với bạn
GD KNHT cho trẻ là giúp trẻ bước vào cuộc sống xã hội Thông qua hoạt động với các bạn trong nhóm, trẻ tự tìm kiếm sự hoàn thiện của những quan hệ giữa con người với con người, giúp trẻ có những kinh nghiệm về quan hệ đạo đức, trách nhiệm và giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau hướng đến mục tiêu chung
1.3.2 Nội dung giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non
Có 5 lĩnh vực giáo dục trẻ mầm non (đặc biệt trẻ 5 – 6 tuổi) là: phát triển thể chất, phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển thẩm mĩ, phát triển tình cảm – kĩ năng xã hội Trong lĩnh vực phát triển tình cảm - kĩ năng xã hội gồm có
Trang 37nội dung phát triển tình cảm và phát triển kĩ năng xã hội Trong nội dung phát triển
kĩ năng xã hội có phát triển kĩ năng hợp tác Như vậy, giáo dục KNHT là 1 nội dung
cụ thể trong nội dung giáo dục mầm non
Trong giáo dục KNHT gồm những nội dung giáo dục là: “lắng nghe ý kiến của người khác, sử dụng lời nói, cử chỉ, lễ phép, lịch sự; Tôn trọng, hợp tác, chấp nhận; Yêu mến, quan tâm đến người thân trong gia đình; Quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ bạn; Nhận xét và tỏ thái độ với hành vi “đúng” - “sai”, “tốt” - “xấu” Thực hiện được một số quy định ở lớp, gia đình và nơi công cộng: Biết lắng nghe ý kiến, trao đổi, thoả thuận, chia sẻ kinh nghiệm với bạn; Biết tìm cách để giải quyết mâu thuẫn (dùng lời, nhờ sự can thiệp của người khác, chấp nhận nhường nhịn).” (Bộ Giáo dục
và Đào tạo, 2016) Và được thể hiện bằng các tiêu chí là:
Chỉ số 48 Lắng nghe ý kiến của người khác;
Lắng nghe là một kĩ năng cần thiết khi học ở bất kì môi trường học tập nào Không những thế, lắng nghe còn là một kĩ năng cực kì quan trọng giúp cá nhân thiết lập mối quan hệ bạn bè trong khi chơi và duy trì mối quan hệ tốt đẹp với bạn bè, thầy cô và những người xung quanh Khi hoạt động hợp tác trong nhóm, các cá nhân phải chú ý lắng nghe lời giải thích, hướng dẫn để biết tổ chức cách hoạt động theo nhóm hiệu quả, trong khi hoạt động chung phải biết lắng nghe ý kiến của các thành viên trong nhóm, để tránh những mâu thuẫn, xung đột, những bất đồng ý kiến xảy ra trong khi chơi Lắng nghe để xác định những điểm giống và khác, những điểm đồng ý và những điểm không tán thành với các bạn Từ đó, cá nhân có nhu cầu trao đổi ý kiến, những suy nghĩ riêng của mình với các thành viên trong nhóm Chỉ số 49 Trao đổi ý kiến của mình với các bạn;
Trong hoạt động hợp tác, các cá nhân phải có kĩ năng trao đổi ý kiến của mình với các bạn để cùng thống nhất về mục đích, mục tiêu của hoạt động hướng tới kết quả cuối cùng cần đạt của cả nhóm Có kĩ năng trao đổi ý kiến (hay còn gọi là thảo luận) để thống nhất nội dung và kế hoạch thực hiện những công việc chung, cùng trao đổi ý kiến để tìm kiếm phương tiện thực hiện hoạt động, bầu nhóm trưởng, trao đổi để hướng tới sự đồng thuận của các thành viên Khi có kĩ năng trao đổi ý kiến với nhau các cá nhân sẽ hiểu được giá trị của sức mạnh tập thể, biết đặt lợi ích của
Trang 38tập thể lên trên sở thích và những mối quan tâm riêng của bản thân (Nguyễn Thị Hòa, 2015)
Chỉ số 50 Thể hiện sự thân thiện, đoàn kết với bạn bè;
Sự thân thiện, đoàn kết với bạn bè rất cần trong hoạt động hợp tác vì trong khi hoạt động hợp tác trẻ phải có sự quan sát, đánh giá hoạt động của các bạn và giúp
đỡ, chia sẻ, thân thiện, đoàn kết khi bạn gặp khó khăn, hoặc nhờ bạn hỗ trợ nếu cần Trong khi hoạt động chung, trong khi chơi chung trong nhóm, các cá nhân cần ý thức về trách nhiệm của mình với nhiệm vụ chung, chủ động hoàn thành nhiệm vụ riêng của mình Ngay khi hoàn thành phần việc của mình, biết đặt nó trong tiến độ chung, quan sát sự hài hòa giữa phần việc của mình với phần việc của các bạn, sẵn sàng giúp đỡ các bạn khác khi họ gặp khó khăn, hoặc chưa hoàn thành công việc Trong quá trình hoạt động, phải thân thiện, đoàn kết với các bạn, chia sẻ nguyên liệu chơi… Giúp đỡ, chia sẻ những kinh nghiệm, thông tin đem lại sự thoải mái, cởi mở, tinh thần đoàn kết ở trẻ, giúp trẻ hiểu nhau hơn, thân thiết hơn, hạn chế những xung đột, mâu thuẫn Điều đó giúp cho trẻ đi đến mục đích dễ dàng hơn, kết quả công việc trở nên tốt đẹp hơn
Chỉ số 51 Chấp nhận sự phân công của nhóm bạn và người lớn;
Để hoạt động hợp tác trở nên công bằng và hiệu quả thì các cá nhân cần có kĩ năng phân công công việc hợp lí cho nhau và chấp nhận sư phân công công việc của nhóm Trong nhóm luôn có sự đa dạng về kĩ năng và nhân cách giữa các thành viên Khi tham gia hoạt động cùng nhau, phải biết tự đánh giá khả năng riêng của bản thân mình cũng như sở thích, nguyện vọng và khả năng của các bạn trong nhóm, từ
đó đưa ra những ý kiến phù hợp nhất với việc phân công các phần việc cụ thể cho từng bạn, đảm bảo sự công bằng và phát huy được khả năng, điểm mạnh của các thành viên trong nhóm
Chỉ số 52 Sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010)
Kĩ năng sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác rất quan trọng trong quá trình hợp tác, nó phản ánh rõ nét bản chất của hoạt động hợp tác Để hoàn thành nhiệm vụ cần nhận thức được rõ mục đích của hoạt động chung, hệ thống các
Trang 39hành động cá nhân, các hành động phối hợp, điều chỉnh hành vi của các thành viên tham gia trong mối tương quan của hoạt động, so sánh kết quả hành động với mục tiêu đặt ra
Có các cách thức khác nhau trong việc sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ cùng người khác trong quá trình chơi Điều này phụ thuộc vào cấu trúc của nhiệm vụ chơi:
Sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ cùng người khác theo kiểu “mục tiêu - kết quả”: Mỗi trẻ sẽ tự hoàn thành nhiệm vụ của mình trong tổng thể nhiệm vụ chung một cách độc lập Trong quá trình hoàn thành nhiệm vụ, nhiệm vụ cá nhân sẽ trở thành một phần của kết quả cuối cùng Sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ cùng người khác
“mục tiêu kết quả” thường biểu hiện trong nhóm hạt nhân (theo cặp)
Sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ cùng người khác theo kiểu “dây chuyền sản xuất”: Trẻ sẽ hoàn thành nhiệm vụ lần lượt Tức là, kết quả của một nhiệm vụ được hoàn thành bởi một đứa trẻ này sẽ là đối tượng cho hoạt động của đứa trẻ khác Điều này đòi hỏi sự tương tác giữa các trẻ
Sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ cùng người khác theo kiểu “phối kết hợp”: Trẻ sẽ lên kế hoạch công việc và thực hiện công việc theo cặp trước để hoàn thành một phần công việc, sau đó sẽ phối hợp cùng nhau để đạt được kết quả cuối cùng Sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ cùng người khác kiểu “phối kết hợp” diễn ra khi trẻ có kinh nghiệm trong việc thực hiện thực hiện hai kiểu phối hợp hành động “mục tiêu - kết quả” và “dây chuyền sản xuất”
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, xung đột là hiện tượng tất yếu xảy ra trong hoạt động chung, vì thế, trẻ phải có kĩ năng giải quyết xung đột để cuộc chơi được tiếp tục Mỗi trẻ phải có khả năng tự kiềm chế, phục tùng những quy định chung, biết giải quyết mâu thuẫn một cách hòa bình, trên cơ sở tôn trọng và nhường nhịn lẫn nhau (Vũ Thị Nhân, 2016)
Dựa vào các tiêu chí này, giáo viên sử dụng để thực hiện GD KNHT cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non Như vậy, giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ đã được đưa vào nội dung Chương trình giáo dục mầm non và Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 - 6 tuổi
Trang 40Qua đó, chúng ta thấy được tầm quan trọng và sự cần thiết của việc giáo dục kĩ năng này với trẻ 5 - 6 tuổi
1.3.3 Hình thức giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non
(1) Giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non thông qua hoạt động học
Hình thức tổ chức dạy học tại trường mầm non có đặc điểm riêng, khác với nhà trường phổ thông Việc dạy học cho trẻ được tiến hành ở nhiều nơi, mọi lúc Dạy học được tiến hành ngay trong cuộc sống hàng ngày Cô giáo dạy trẻ các tri thức vệ sinh, an toàn, hành vi văn hóa trong sinh hoạt, dạy trẻ nói, hát, múa Cô dạy trẻ trong các trò chơi, trong các cuộc đi dạo, đi tham quan Các hình thức trên đây của trẻ 5 - 6 tuổi là rất cần thiết và quan trọng Tuy nhiên các hình thức đó rất phân tán, tri thức mà trẻ lĩnh hội được rời rạc và không có hệ thống Bởi vậy, hình thức dạy học trong “tiết học” – hay còn gọi là “giờ học” vẫn giữ vai trò quan trọng trong
sự phát triển trí tuệ, kĩ năng của trẻ
Giờ học là hình thức học tập bắt buộc chung cho cả lớp Thời gian dành cho giờ học trong chế độ sinh hoạt hàng ngày được quy định Giờ học được tiến hành dưới sự chỉ đạo sư phạm của giáo viên là người tổ chức quá trình hoạt động, truyền thụ cho trẻ những tri thức theo chương trình, giải thích và hệ thống hóa các tri thức
đã có, tổ chức các hoạt động trực tiếp cho trẻ, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo khác nhau
và củng cố tri thức đã học được Thông qua các hoạt động phát triển nhận thức, thể chất, ngôn ngữ, thẩm mĩ và tình cảm xã hội, giáo viên tổ chức các hoạt động cho trẻ nhằm đạt được mục tiêu của KNHT
Trong giờ học, giáo viên giúp trẻ nắm vững kĩ năng, kĩ xảo của hoạt động học tập, vui chơi; rèn luyện sự chú ý bền vững, tính tập trung tư tưởng, sự nỗ lực ý chí làm cho hoạt động được tập trung hơn và có tổ chức hơn Giờ học có tổ chức một cách hệ thống kích thích sự hứng thú và đảm bảo cho sự phát triển trí tuệ Do vậy, giờ học tại trường mầm non, đặc biệt là ở lớp mẫu giáo có tầm quan trọng trong việc chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ thông