Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu về lời cầu khiến - khuyên bảo qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo trên bình diện từ
Trang 1Ngô Thị Minh Hiếu
ĐẶC ĐIỂM NGÔN TỪ CỦA LỜI CẦU KHIẾN - KHUYÊN BẢO
QUA CỨ LIỆU SÁCH CHÂM NGÔN
TRONG THÁNH KINH CỦA CƠ ĐỐC GIÁO
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020
Trang 2Ngô Thị Minh Hiếu
ĐẶC ĐIỂM NGÔN TỪ CỦA LỜI CẦU KHIẾN - KHUYÊN BẢO
QUA CỨ LIỆU SÁCH CHÂM NGÔN
TRONG THÁNH KINH CỦA CƠ ĐỐC GIÁO
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS DƯ NGỌC NGÂN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện do yêu cầu trong học tập và công việc Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 11 năm 2020
Người viết
Ngô Thị Minh Hiếu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi rất vinh hạnh được tham gia khóa học Sau Đại học, bậc Thạc sĩ tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn này là dấu mốc cuối chặng đường hai năm cùng học tập với tập thể K29 – lớp Cao học, chuyên ngành Ngôn ngữ học Để hoàn thành luận văn, song song với nỗ lực của bản thân tôi là sự hướng dẫn, hỗ trợ của thầy cô, gia đình và bạn bè
Trước hết, bằng cả tấm lòng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Dư Ngọc Ngân Trong suốt quá trình thực hiện luận văn, tôi luôn được cô hướng dẫn không chỉ bằng trách nhiệm mà còn bằng cả tấm lòng nhiệt huyết của một người thầy Những góp ý, chỉ bảo hết sức nhẹ nhàng, ân cần, tận tâm của cô đã giúp tôi hiểu biết thêm về kiến thức và giúp tôi biết khắc phục những thiếu sót của mình Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến
cô, kính chúc cô luôn dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học và công tác giảng dạy
Cảm ơn thầy cô giảng dạy lớp Cao học, ngành Ngôn ngữ học K29 đã truyền đạt kiến thức quan trọng để tôi có thể vận dụng trong quá trình học tập, nghiên cứu của mình Cám ơn thầy cô cán bộ thuộc Phòng Sau đại học đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các giáo viên đồng nghiệp trong Tổ bộ môn Ngữ văn đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình vừa dạy và làm việc tại Trường TH&THCS Tân Minh vừa tham gia học cao học tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh được thuận lợi
từ những ngày đầu nhập học cho đến lúc hoàn thành luận văn
Về phía gia đình, tôi xin cảm ơn gia đình đã tạo điều kiện về mọi mặt để tôi an tâm công tác và học tập thuận lợi nhất
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 11 năm 2020
Ngô Thị Minh Hiếu
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt và kí hiệu
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ HỮU QUAN 9
1.1 Khái niệm 9
1.1.1 Lời, lời cầu khiến, lời cầu khiến - khuyên bảo 9
1.1.2 Hành động ngôn từ 12
1.2 Những vấn đề ngữ dụng của lời cầu khiến 18
1.2.1 Hành động cầu khiến 18
1.2.2 Quan hệ liên nhân trong lời cầu khiến 22
1.3 Phương tiện và phương thức biểu hiện lời cầu khiến 23
1.3.1 Phương tiện biểu hiện lời cầu khiến 23
1.3.2 Phương thức biểu hiện lời cầu khiến 23
1.4 Sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo 24
Tiểu kết chương 1 25
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG - NGỮ PHÁP CỦA LỜI CẦU KHIẾN – KHUYÊN BẢO QUA CỨ LIỆU SÁCH CHÂM NGÔN TRONG THÁNH KINH CỦA CƠ ĐỐC GIÁO 27
2.1 Dùng phương thức thể hiện trực tiếp lời cầu khiến - khuyên bảo qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo 27
2.1.1 Dùng tổ hợp phụ từ cầu khiến HÃY, KHÁ, ĐỪNG, CHỚ + vị từ, ngữ vị từ 27
2.1.2 Dùng cấu trúc câu cầu khiến có HÃY, KHÁ, ĐỪNG, CHỚ 41
Trang 62.2 Dùng phương thức thể hiện gián tiếp lời cầu khiến - khuyên bảo qua
cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo 45
2.2.1 Dùng cấu trúc THÀ CÒN HƠN/HƠN LÀ… 45
2.2.2 Dùng cấu trúc HỄ / NẾU 47
2.2.3 Dùng cấu trúc có NHƯNG, SONG, CÒN… 51
2.2.4 Dùng cấu trúc song song (đẳng lập) 54
Tiểu kết chương 2 56
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM NGỮ DỤNG CỦA LỜI CẦU KHIẾN - KHUYÊN BẢO QUA CỨ LIỆU SÁCH CHÂM NGÔN TRONG THÁNH KINH CỦA CƠ ĐỐC GIÁO 58
3.1 Hành động cầu khiến - khuyên bảo qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo 58
3.1.1 Hành động cầu khiến – khuyên bảo trực tiếp 58
3.1.2 Hành động cầu khiến – khuyên bảo gián tiếp 59
3.2 Quan hệ liên nhân qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo 70
3.2.1 Dùng từ ngữ xưng hô 70
3.2.2 Dùng đại từ phiếm chỉ “ai” hoặc danh ngữ có từ phiếm chỉ “người nào, kẻ nào” 72
3.3 Yếu tố bổ trợ ý cầu khiến - khuyên bảo qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo 74
3.3.1 Thành phần hô ngữ (thán từ gọi + từ ngữ xưng hô) 74
3.3.2 Thành phần biểu thị nguyên nhân 77
3.3.3 Thành phần biểu thị ý giải thích 80
3.3.4 Thành phần biểu thị ý so sánh 81
Tiểu kết chương 3 83
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
CN : chủ ngữ
C – V : chủ - vị
Kí hiệu // : song song PTTTCK : phụ từ tình thái cầu khiến QHLN : quan hệ liên nhân
Tr : trang
VD : ví dụ
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là công cụ, phương tiện để con người sử dụng trong giao tiếp Từ lâu, ngôn ngữ là đối tượng được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học quan tâm tìm hiểu, khai thác ở nhiều khía cạnh Tuy nhiên, ở mỗi lĩnh vực ngôn ngữ, lại có vô số vấn đề được đề cập, khám phá và nghiên cứu Chọn một khía cạnh, một vấn đề để tìm hiểu và nghiên cứu về nó một cách khoa học, thấu đáo, toàn diện là mong muốn của nhiều người, nhiều nhà nghiên cứu Trong rất nhiều những vấn đề của ngôn ngữ học, chúng tôi đề cập đến một vấn đề liên quan đến những hành động mà ta thực hiện bằng lời nói, đó là hành động cầu khiến, thông qua lời cầu khiến Đây được xem là vấn đề quan trọng vì bất kì ngôn ngữ nào trên thế giới cũng đều sử dụng lời cầu khiến nhằm đạt hiệu quả mong muốn nhất định trong trong giao tiếp
Theo đó, chúng tôi quan tâm đến lời cầu khiến trong tiếng Việt mà đặc biệt là đi sâu vào lời cầu khiến - khuyên bảo qua một cứ liệu cụ thể để khai thác Đó là lời cầu khiến - khuyên bảo qua cứ liệu sách Châm ngôn trong
Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo (bản dịch năm 1926) Luận văn chọn nguồn cứ
liệu này, vì đây là nguồn tư liệu quý giá và đặc thù, sẽ có ích cho vấn đề nghiên cứu về lời cầu khiến trong tiếng Việt Hiện nay, để phù hợp với văn phong tiếng Việt, nhiều bản dịch mới cũng đã xuất hiện Tuy nhiên, bản dịch năm 1926 được xem là bản dịch truyền thống, có vị trí đặc biệt quan trọng và được sử dụng phổ biến, còn các bản dịch khác chỉ được xem là tài liệu tham khảo để đối chiếu và làm sáng rõ nghĩa cho bản dịch truyền thống
Từ những vấn đề trình bày trên, luận văn chọn nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm ngôn từ của lời cầu khiến - khuyên bảo qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo”
Trang 92 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lời (nói chung), lời cầu khiến (nói riêng) thuộc lĩnh vực của lời nói Đây
là vấn đề thuộc nhiều lĩnh vực của ngôn ngữ học, đặc biệt về ngữ dụng học, một phân ngành của ngôn ngữ học phát triển khá mạnh từ những năm 70 của thế kỷ XX trở lại đây Việc nghiên cứu về lời cầu khiến cũng đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm đến Xin điểm qua một số tình hình
nghiên cứu về lời cầu khiến ở nước ngoài và ở Việt Nam
2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Nhà nghiên cứu người Nhật Fukushima (1994) đã chọn tình huống có sử dụng lời cầu khiến để so sánh giữa các nền văn hoá Anh và Nhật Bản Tác giả Fukushima (1996) cũng xem xét các phát ngôn trong tiếng Anh của các đối tượng là người bản ngữ Anh quốc và Nhật Bản trong các tình huống cần biểu thức hành động ngôn từ cầu khiến Tác giả Kubota (1996) điều tra sự khác biệt trong phong cách phát ngôn được sử dụng trong việc đưa ra các lời cầu khiến và tác động của chúng đối với giao tiếp liên văn hoá Reiter (2000) phân tích tương phản của hành động cầu khiến và hành động xin lỗi trong tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha Huangfu (2012) so sánh việc sử dụng các hành động ngôn từ là lời cầu khiến trong đối tượng nói tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh và tiếng Trung Quốc Han (2013) cũng khảo sát những điểm tương đồng
và khác biệt trong chiến lược yêu cầu được sử dụng bởi người bản ngữ tiếng Anh và tiếng Trung Quốc Tác giả còn tập trung vào ba yếu tố xã hội tương tác với nhau trong quá trình nghiên cứu: quyền lực, khoảng cách và mức độ
áp đặt (Dẫn theo Lời cầu khiến trong tiếng Anh (so sánh với tiếng Việt – bình
diện lịch sự) của Nguyễn Huỳnh Lâm, 2015)
Như vậy, vấn đề về lời cầu khiến cũng đã được một số tác giả ở ngoài nước quan tâm và nghiên cứu Các công trình này chủ yếu nghiên cứu từ góc
độ liên văn hoá, chưa đi sâu vào cụ thể một vấn đề về ngôn ngữ học và chưa khai thác cứ liệu đặc thù như lời cầu khiến – khuyên bảo trong Kinh Thánh
Trang 102.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Giai đoạn thế kỷ XX, việc nghiên cứu về câu cầu khiến một cách hệ thống dựa trên nội dung ngữ nghĩa và mối quan hệ giữa ngôn ngữ với người
sử dụng ngôn ngữ ở giai đoạn tiền dụng học còn là một mảng trống, chưa được sự quan tâm thấu đáo Đến cuối thế kỷ XX, sự ra đời và phát triển mạnh
mẽ của khuynh hướng ngữ pháp chức năng (từ thập niên 70 của thế kỷ XX) trên thế giới đã ảnh hưởng đến quan điểm nghiên cứu cú pháp trong giới Việt ngữ học
Nguyễn Văn Độ (1999) đã có khảo sát những yếu tố làm biến đổi lực ngôn trung của lời cầu khiến - thỉnh cầu trong tiếng Anh và tiếng Việt ở mức
độ quan sát so sánh về mặt cấu trúc Vũ Thị Thanh Hương (2000) đã nghiên cứu việc dùng lời cầu khiến tiếng Việt trong hội thoại Tác giả có vận dụng nguyên tắc cơ bản của Leech và sáu phương châm vào việc phân tích tư liệu
cầu khiến tiếng Việt Đào Thanh Lan (2004) trong tạp chí Khoa học, số 1, tr
13 -17, đã xem xét ý nghĩa của các động từ nên, cần, phải trong câu tiếng Việt
dựa trên các mô hình câu cầu khiến (câu có tình thái cầu và/ hoặc khiến) để xác định chúng là động từ cầu khiến khi hoạt động trong các câu có mô hình
đã nêu Nguyễn Văn Độ (2004), Ngôn ngữ, số 2, tr 30 - 40, đã nhận diện, phân loại và tìm hiểu những câu tương đồng và dị biệt của lời cầu khiến - thỉnh cầu trong tiếng Việt Nguyễn Thị Thanh Bình (2000) nghiên cứu về các phát ngôn cầu khiến nhưng chưa kết luận gì về vai trò của chúng Nguyễn Văn Khang (1996) đã có khảo sát, phân tích các phương tiện ngôn ngữ ở phương diện lịch sự trong lời cầu khiến tiếng Việt và đã có những nhận xét, khẳng định bước đầu đối với lời cầu khiến trong giao tiếp ngôn ngữ
Bùi Thị Kim Tuyến (2005) với đề tài luận văn thạc sĩ “Hành động cầu khiến trong tiếng Việt” đã vận dụng quan điểm phân loại câu theo mục đích phát ngôn – xác định mục đích giao tiếp của từng kiểu câu và những dấu hiệu hình thức điển hình tương ứng để khảo sát hành động tại lời của các phát
Trang 11ngôn, từ đó xác định phương hướng thể hiện phù hợp với hành động cầu khiến trong tiếng Việt Hà Cẩm Tâm (2005) trong luận án tiến sĩ “Lời cầu khiến bằng tiếng Anh của người Việt Nam học tiếng Anh” đã nghiên cứu nhằm xác định những sai lệch và những khó khăn của người Việt Nam học tiếng Anh trong việc hình thành lời yêu cầu trong tình huống được nghiên cứu Trần Chi Mai trong luận án tiến sĩ “Phương thức biểu hiện hành vi từ chối lời cầu khiến trong tiếng Anh” (2005) thì chỉ quan tâm nghiên cứu về lời cầu khiến ở phương diện hành vi từ chối trong ngôn ngữ Anh và đối chiếu với
tiếng Việt cũng ở phương diện này
Đào Thanh Lan (2010) trong cuốn “Ngữ pháp ngữ nghĩa của lời cầu khiến tiếng Việt” đã vận dụng quan điểm ngữ pháp chức năng để nghiên cứu
hoạt động của câu trong sự hành chức của nó, đó là lời Tác giả đi sâu nghiên cứu về lời trong mối quan hệ gắn bó với bối cảnh giao tiếp trên các cứ liệu là
những lời chứa mục đích cầu khiến từ các ấn phẩm văn học bao gồm một số truyện ngắn và một số tiểu thuyết Tuy nhiên, việc đi sâu vào chuyên biệt một vấn đề về lời cầu khiến – khuyên bảo thì chưa được khai thác cặn kẽ Nguyễn Huỳnh Lâm (2015) trong luận án tiến sĩ “Lời cầu khiến trong tiếng Anh” (so sánh với tiếng Việt – Bình diện lịch sự) chỉ dừng lại ở việc khảo sát trong phạm vi: các lời cầu khiến tiếng Anh của nhóm người Mỹ, các lời cầu khiến tiếng Anh của nhóm người Việt Nam ở các trung tâm ngoại ngữ có điểm IELTS cao (trên 7.0); các lời cầu khiến tiếng Việt của nhóm người Việt Nam
để so sánh, đối chiếu những chiến lược, phương tiện điều biến lực ngôn trung của lời cầu khiến trong các tình huống giả định
Nguyễn Huỳnh Lâm và Lee Na Yeong với bài viết “Lỗi ngữ dụng qua
lời cầu khiến của học viên người Hàn Quốc học tiếng Việt” (Bài đã đăng ở Kỷ
yếu Hội thảo liên khoa: Giảng dạy và Nghiên cứu Việt Nam học và tiếng Việt
2018, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) đã phần nào cho thấy văn hóa Hàn Quốc và văn hóa Việt Nam khá giống nhau ở việc sử dụng chiến
Trang 12lược cầu khiến Ngoài các biện pháp sử dụng chiến lược cầu khiến nêu lý do hoặc đưa ra biện pháp giải quyết vấn đề, nhằm giảm nhẹ sự áp đặt, người Hàn Quốc còn có hệ thống kính ngữ được dùng để thể hiện sự tôn kính với đối tượng đang giao tiếp với mình
Những kết quả nghiên cứu trên cho thấy hướng nghiên cứu câu cầu khiến từ góc độ ngữ pháp chức năng, ngữ dụng học hoặc kết hợp ngữ dụng học và ngôn ngữ học xã hội là hướng nghiên cứu cho nhiều kết quả khoa học,
lí thú Tuy nhiên, những kết quả cụ thể này vẫn còn chưa thật toàn diện
Như vậy, có thể thấy rằng từ trước tới nay, vấn đề về lời cầu khiến được khá nhiều công trình đề cập, nghiên cứu ở các phương diện khác nhau của lời cầu khiến trong và ngoài nước Tuy nhiên, qua tìm hiểu, chúng tôi cho rằng lời cầu khiến - khuyên bảo trên cứ liệu cụ thể và mang tính đặc thù như cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo (Tin Lành) là chưa
có ai khai thác, nghiên cứu Chúng tôi hy vọng đề tài này sẽ góp phần làm rõ thêm về vấn đề lời cầu khiến – khuyên bảo trong tiếng Việt
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu về lời cầu khiến - khuyên bảo qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo trên bình diện từ vựng- ngữ pháp và bình diện ngữ dụng nhằm góp phần làm rõ thêm về
đặc điểm ngôn từ của lời cầu khiến - khuyên bảo trong tiếng Việt Để đạt
được những mục đích trên, chúng tôi xác định các nhiệm vụ trọng tâm sau: Một là, luận văn trình bày những vấn đề lý thuyết làm cơ sở cho việc nghiên cứu lời cầu khiến - khuyên bảo qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo và giới thiệu về sách Châm ngôn trong Thánh
Kinh của Cơ Đốc giáo với tư cách là ngữ liệu của luận văn
Hai là, luận văn nghiên cứu đặc điểm từ vựng - ngữ pháp, cụ thể là phương thức, phương tiện biểu hiện lời cầu khiến - khuyên bảo trong mối
Trang 13quan hệ với bối cảnh giao tiếp qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh
của Cơ Đốc giáo
Ba là, luận văn khảo sát và trình bày về đặc điểm ngữ dụng qua một số vấn đề ngữ dụng của lời cầu khiến - khuyên bảo như hành động cầu khiến - khuyên bảo (trực tiếp và gián tiếp), quan hệ liên nhân và những yếu tố bổ trợ
để tăng cường hiệu lực ở lời cầu khiến - khuyên bảo qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm ngôn từ của lời cầu khiến - khuyên bảo qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu lời cầu khiến - khuyên bảo trong cứ liệu sách Châm ngôn (gồm 31 chương) của Thánh Kinh
Cơ Đốc giáo (bản dịch năm 1926 chủ yếu do Phan Khôi dịch)
5 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài những phương pháp, thủ pháp nghiên cứu khoa học chung như thu thập ngữ liệu, khảo sát, phân loại ngữ liệu…, luận văn chủ yếu vận dụng một
số phương pháp, thủ pháp nghiên cứu sau để thực hiện đề tài của mình:
- Phương pháp miêu tả: Luận văn dùng phương pháp miêu tả để khảo sát, phân tích, trình bày về phương thức thể hiện và một số vấn đề ngữ dụng của lời cầu khiến - khuyên bảo qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh
của Cơ Đốc giáo
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa - ngữ dụng: Luận văn dùng phương pháp phân tích ngữ nghĩa - ngữ dụng kết hợp với phân tích ngữ nghĩa - cú pháp của các biểu thức biểu đạt lời cầu khiến - khuyên bảo trong cứ liệu, chủ yếu phân tích hành động cầu khiến, hiệu lực ở lời của các lời cầu khiến - khuyên bảo thể hiện trong cứ liệu
- Thủ pháp thống kê: Luận văn dùng thủ pháp thống kê để định lượng các ngữ liệu, phân tích các kết quả thống kê, từ đó xác định đặc điểm ngữ
Trang 14nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng của lời cầu khiến - khuyên bảo qua cứ liệu sách
Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo
6 Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu vấn đề về lời cầu khiến - khuyên bảo qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo, luận văn mong muốn góp phần làm
rõ thêm những vấn đề lý thuyết về lời cầu khiến trong tiếng Việt, đặc biệt trên
bình diện ngữ dụng học
Luận văn tiến hành khảo sát, thống kê lời cầu khiến - khuyên bảo qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo để xem xét, mô tả, phân tích các đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng của nó Từ đó, luận văn có thể góp thêm ý kiến cho vấn đề dạy, học và sử dụng câu cầu khiến trong tiếng Việt nói chung cũng như việc vận dụng vào thực tiễn công tác giảng dạy của bản thân nói riêng, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng lời cầu khiến – khuyên bảo trong giao tiếp của người Việt
7 Cấu trúc của luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, phần Nội dung chính trình bày thành ba chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và những vấn đề hữu quan
Trong chương này, luận văn trình bày những vấn đề lý luận liên quan đến việc tìm hiểu về lời cầu khiến – khuyên bảo như: Khái niệm về lời, lời cầu khiến và lời cầu khiến - khuyên bảo; Lý thuyết về hành động ngôn từ và hành động cầu khiến; Lý thuyết xoay quanh những vấn đề ngữ dụng của lời cầu khiến, trong đó chú ý mối quan hệ liên nhân giữa các nhân vật giao tiếp, chủ yếu là người tạo ngôn và người thụ ngôn (người tiếp nhận văn bản Thánh Kinh) Luận văn cũng tìm hiểu những phương tiện và phương thức biểu hiện lời cầu khiến có liên quan đến đề tài Ngoài ra, luận văn cũng trình bày một số
thông tin về sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo
Trang 15Chương 2 Đặc điểm từ vựng - ngữ pháp của lời cầu khiến - khuyên bảo qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo
Ở chương này, luận văn sẽ đi vào tìm hiểu về phương thức thể hiện lời
cầu khiến - khuyên bảo qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của
Cơ Đốc giáo bao gồm phương thức thể hiện lời cầu khiến – khuyên bảo trực tiếp; phương thức thể hiện lời cầu khiến – khuyên bảo gián tiếp
Chương 3 Đặc điểm ngữ dụng của lời cầu khiến - khuyên bảo qua
cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo
Chương 3 tập trung nghiên cứu về đặc điểm ngữ dụng qua một số vấn đề ngữ dụng của lời cầu khiến - khuyên bảo như hành động cầu khiến – khuyên bảo (trực tiếp và gián tiếp); quan hệ liên nhân qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo; các yếu tố bổ trợ để tăng cường ý cầu khiến – khuyên bảo qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo như: thành phần hô ngữ, thành phần biểu thị nguyên nhân, thành phần biểu thị ý giải thích, thành phần biểu thị ý so sánh
Trang 16CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ HỮU QUAN 1.1 Khái niệm
1.1.1 Lời, lời cầu khiến, lời cầu khiến - khuyên bảo
1.1.1.1 Lời
Khái niệm về lời/ lời nói đã được nhiều tác giả quan tâm và đưa ra ý kiến
Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê (Chủ
biên), 2018 giải thích: “Lời: chuỗi âm thanh phát ra trong khi nói mang một
nội dung trọn vẹn, nhất định”; hoặc “nội dung điều nói hoặc viết ra nhằm mục
Như vậy, lời là đơn vị dùng phương tiện ngôn ngữ, gắn với một ngữ
cảnh nhất định, chứa đựng một nội dung với mục đích giao tiếp nhất định Lời
có ý nghĩa, gắn với tình huống giao tiếp, chứa một hành động ngôn từ nhất
định Chẳng hạn như: ta hiểu được nghĩa của lời “Nóng quá!” nói ra trong lúc
trong phòng không bật quạt hay máy lạnh, có mục đích đánh tiếng cầu khiến người khác bật quạt hay máy lạnh là nhờ vào ngôn cảnh của tình huống (trong
phòng)
1.1.1.2 Lời cầu khiến
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê (Chủ biên), 2018: “Cầu khiến là yêu cầu làm hay không làm việc gì”
Ví dụ: “Ăn đi!”, “Hãy nói!” là những lời cầu khiến (biểu thị ý cầu
khiến)
Trang 17Đào Thanh Lan (2010) trong công trình “Ngữ pháp ngữ nghĩa của lời
cầu khiến tiếng Việt” cho rằng: “Lời cầu khiến trước hết phải thể hiện ý nghĩa
cầu khiến tức là lời cầu khiến chứa đựng hành động cầu khiến”
Hành động cầu khiến là khái niệm tổng quát bao gồm các hành động ngôn trung có ý nghĩa “cầu” (cầu, nhờ, mời, chúc, xin,…) và các hành động ngôn trung có ý nghĩa “khiến” (yêu cầu, ra lệnh, cấm, cho phép,…) nói chung
Lời cầu khiến chứa các hành động có sắc thái “cầu” hoặc sắc thái
“khiến” đều biểu thị chung một mục đích giao tiếp là muốn người nghe thực hiện hành động mà người nói mong muốn, có đặt ra sự giả định trước về sự đánh giá của người nói đối với nội dung sự tình được truyền đạt trong lời Do
đó, nội dung tình thái cầu khiến bao gồm cả ý nghĩa hiển ngôn và ý nghĩa hàm ngôn của hành động cầu khiến
Việc phân biệt lời hỏi, lời trần thuật với lời cầu khiến có thể dựa vào hành động hỏi trực tiếp (lời hỏi) hoặc hành động trần thuật trực tiếp (lời trần thuật) hoặc ý nghĩa cầu khiến hiển ngôn được thực hiện bằng hành động cầu khiến trực tiếp (lời cầu khiến)
Vậy, hành động trực tiếp/ hiển ngôn là dấu hiệu nhận diện của một lời cầu khiến trực tiếp (lời cầu khiến chính danh) Lời cầu khiến chính danh cần đảm bảo hai tiêu chí: lời có ý nghĩa cầu khiến (hành động cầu khiến) và lời có hình thức cầu khiến
Lời có ý nghĩa cầu khiến là lời mà người nói dùng ngôn từ yêu cầu người nghe thực hiện hành động mà người nói bày tỏ Người nghe, khi nhận được lời cầu khiến sẽ dùng ngôn từ hoặc hành động đáp lại Hình thức cầu khiến là những hình thức ngôn từ đặc trưng thể hiện ý nghĩa cầu khiến, còn gọi là phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung, có thể được biểu hiện bằng phương tiện ngữ pháp và phương tiện từ vựng
Trang 18Lời chứa phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung cầu khiến biểu hiện đích ngôn trung cầu khiến trực tiếp hoặc gián tiếp thì gọi là lời cầu khiến (trực tiếp hoặc gián tiếp)
Theo quan điểm dụng học, phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung trực tiếp được chia thành hai loại: tường minh và nguyên cấp Lời ngôn hành chứa phương tiện tường minh được gọi là lời ngôn hành tường minh Còn những lời chứa lực ngôn trung được thể hiện bằng dấu hiệu đặc trưng của cấu trúc và những phương tiện hình thức đặc trưng có giá trị biểu hiện lực ngôn trung thì được gọi là lời ngôn hành nguyên cấp
Sự khác nhau giữa lời ngôn hành tường minh và lời ngôn hành nguyên cấp là ở chỗ: lời tường minh thì gọi tên hành động ngôn trung một cách cụ thể, rõ ràng, xác định còn lời ngôn hành nguyên cấp thì chỉ nêu ra hành động ngôn trung khái quát, không chỉ ra hành động ngôn trung cụ thể
Vậy, lời cầu khiến chính danh là lời có lực ngôn trung cầu khiến được biểu hiện bằng phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung cầu khiến tường minh hoặc nguyên cấp
1.1.1.3 Lời cầu khiến - khuyên bảo
Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (Chủ biên), 2018: “Khuyên bảo:
bảo với thái độ ân cần cho biết điều hay lẽ phải, điều nên làm (nói khái quát)”
Tất cả các hành động có sắc thái cầu hoặc khiến đều giống nhau ở đích
ngôn trung, nhưng mức độ của hiệu lực ngôn trung thì có khác nhau giữa
chúng Cầu kêu gọi sự thiện chí, sự tự nguyện hành động của người nghe,
khiến có vẻ áp đặt, cưỡng ép người nghe hành động Ở đây, luận văn sẽ đi vào
khảo sát giữa hai cực đó, là những hành động vừa có tính cầu vừa có tính khiến, cụ thể là lời cầu khiến - khuyên bảo
Như vậy, lời cầu khiến - khuyên bảo thường mang sắc thái “khiến” nhẹ nhàng Người phát ngôn mong muốn người nhận ngôn thực hiện hành động
Trang 19mà mình đưa ra nhưng không ép buộc mà chỉ là sự gợi ý, khuyên bảo của người phát ngôn đối với người nhận ngôn
1.1.2 Hành động ngôn từ
1.1.2.1 Khái niệm hành động ngôn từ
Nói năng là một hành động Bản chất hành động của ngôn ngữ chưa được ngôn ngữ học tiền ngữ dụng phát hiện ra Lý thuyết về hành động ngôn
từ là xương sống của ngữ dụng học
Khi tìm hiểu về lịch sử vấn đề lý thuyết hành động ngôn từ, người ta cho rằng người đặt tiền đề, đi tiên phong cho lý thuyết này là nhà triết học người
Áo (L.Wittgenstein) Ông đồng nhất hoạt động giao tiếp với hoạt động xã hội
và việc sử dụng ngôn từ (lời nói) như một hành động Đóng góp của ông chính là việc tìm ra những quy tắc nhất định khi con người sử dụng lời nói
(Dẫn theo luận văn Hành động cầu khiến trong tiếng Việt của Bùi Thị Kim
Tuyến, tr.12)
Đến những năm 60 của thế kỷ XX, J.L.Austin, nhà triết học người Anh
và J.Searle là những người đi sâu vào vấn đề lý thuyết về hành động ngôn từ (speech act theory) Qua công trình nghiên cứu “How to do thing with words” J.L.Austin bày tỏ luận điểm “To say is to do something” (Nói là làm), được xuất bản năm 1962 và từ loạt bài giảng 12 chuyên đề được biên tập lại, công trình đã trở thành nền móng đầu tiên cho luận điểm về hành động ngôn từ Ông cho rằng để biểu hiện, diễn tả một hành động ngôn từ thì cần phải nói ra điều đó và làm - đi vào thực tế, thực tiễn sử dụng ngôn ngữ J.L.Austin và J.Searle tin rằng ngôn ngữ không chỉ được dùng để thông báo hoặc miêu tả cái gì đó mà nó thường được dùng để làm cái gì đó, để thể hiện các hành động Các hành động được thực hiện bằng lời gọi là hành động ngôn từ (speech act) Hành động ngôn từ chính là ý định về mặt chức năng của một phát ngôn Hành động ngôn từ nhấn mạnh bản chất của câu nói (Dẫn theo
Nguyễn Thiện Giáp (2000) trong cuốn Dụng học Việt ngữ, tr.38)
Trang 20Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Ngôn ngữ học của Nguyễn Như Ý (chủ
biên) (1998), tr.215: “Hành động ngôn từ là hành động có mục đích nhất định, thực hiện trong những điều kiện nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện trên ngữ điệu và hoàn chỉnh thống nhất về mặt cấu âm - âm học mà người nói và người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau, trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó”
Trong cuốn giáo trình “Ngữ dụng học” của Đỗ Hữu Châu và Đỗ Việt Hùng (2012), tr.64, các tác giả trình bày: “Hành động ngôn từ là hành động thực hiện khi tạo ra một phát ngôn (diễn ngôn) trong một cuộc giao tiếp Hành động ngôn từ đòi hỏi phải có điều kiện, thao tác, cách thức tổ chức thao tác và quan trọng nhất là đích như mọi hành động khác của con người có ý thức” Như vậy, có thể nói một cách khái quát: Hành động được thực hiện bằng
phương tiện ngôn từ được gọi là hành động ngôn từ
1.1.2.2 Điều kiện sử dụng hành động ngôn từ
Nguyễn Đức Dân (1998) trong Ngữ dụng học, tập một, tr.20: “Mỗi hành
động ngôn từ cần những điều kiện nhất định để nó được thực hiện Muốn nói một điều gì đó thì cần có người nghe và hiểu điều mình muốn nói.”
Mỗi hành động ở lời như chào, kể, bảo, bỏ, từ chối, sai khiến, cầu xin,
hứa, dặn dò… đều có điều kiện riêng Để đạt được hiệu quả trong giao tiếp,
người nói cần quan tâm đến các điều kiện sử dụng các hành động ngôn từ Muốn người nghe thực hiện một hành động nào đó mà người nói mong muốn thì phía người nói phải lựa chọn cách nói làm sao để người nghe không chỉ hiểu điều mình muốn nói ở bề mặt ngôn từ mà còn tri nhận được đích ngôn trung
Ví dụ: Khi yêu cầu một đứa trẻ người dân tộc làm một điều gì đó thì ta phải biết nói tiếng dân tộc của đứa trẻ ấy hoặc đứa trẻ ấy phải biết tiếng Việt thì cuộc hội thoại bằng ngôn ngữ mới được diễn ra và hành động đó mới được thực hiện Chính vì vậy mà điều kiện sử dụng hành động ngôn từ tạo lời là về
Trang 21ngữ âm, từ ngữ, ngữ pháp của một ngôn ngữ để cấu tạo nên lời nói Người nói cần phải tôn trọng về mặt ngữ âm, từ ngữ, ngữ pháp của ngôn ngữ đó Đồng thời, các phía người nói lẫn người nghe không bị hạn chế về mặt sinh lý như câm (phía người nói) và điếc (phía người nghe)
Các hành động ở lời cũng đòi hỏi những điều kiện nhất định Điều kiện
sử dụng các hành động ở lời là những điều kiện mà một hành động ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó
Theo Austin thì điều kiện sử dụng hành động ở lời là những điều kiện
thuận lợi (felicity conditions) nếu chúng được đảm bảo thì “hành động” mới
thành công, đạt hiệu quả Nếu không nó sẽ thất bại
Tuy điều kiện sử dụng của mỗi hoạt động ở lời có khác nhau nhưng vẫn
có thể tìm ra được những cái chung trong những điều kiện riêng
Searle cho rằng có bốn loại điều kiện sử dụng hành động ở lời:
a) Điều kiện nội dung mệnh đề
Đây là điều kiện có liên quan tới cấu trúc quan hệ ngữ nghĩa của nội dung mệnh đề Điều kiện này chỉ ra nội dung của hành động ở lời
b) Điều kiện chuẩn bị
Đây là điều kiện liên quan đến hiểu biết của người thực hiện hành động
về những tri thức nền của người tiếp nhận hành động, về quyền lợi, trách nhiệm, năng lực vật chất, tinh thần cũng như quyền lực của người nói đối với hành động ở lời mà mình đưa ra
c) Điều kiện tâm lí
Đây là điều kiện chỉ ra tâm lí của người thực hiện hành động ở lời thích hợp với hành động ở lời mà mình đưa ra Điều kiện tâm lí còn có nghĩa là người nói thực sự, chân thành mong đợi hiệu quả ở lời của hành động ở lời
mà mình thực hiện Nói như đinh đóng cột nghĩa là nói có sự chắc chắn, khiến
người nghe có mức độ tin cậy cao
d) Điều kiện căn bản
Trang 22Theo điều kiện này thì người nghe thực hiện một hành động ở lời nào đó khi phát ngôn ra biểu thức ngữ vi tương ứng bị ràng buộc ngay vào kiểu trách nhiệm mà hành động ở lời tạo ra biểu thức ngữ vi đó đòi hỏi
Đào Thanh Lan (2010) trong cuốn Ngữ nghĩa ngữ pháp của lời cầu khiến
tiếng Việt, tr.43 - 44 cho rằng: “Bối cảnh giao tiếp trực tiếp trong đó cả ba
nhân tố: chủ ngôn (người nói), tiếp ngôn (người nghe) và thời gian giao tiếp trực tiếp tồn tại đồng thời là điều kiện để xuất hiện hành động cầu khiến.”
Theo Vũ Thị Thanh Hương (2000) trong tạp chí Ngôn ngữ, số 10, tr 39
– 48, xét theo mức lợi/ thiệt của người phát ngôn và người nhận ngôn thì hành động cầu khiến chia thành hai nhóm: Cầu khiến cạnh tranh (thỉnh cầu, đề nghị, mệnh lệnh, nhờ vả…) và cầu khiến hoà đồng (mời mọc, rủ rê, cho phép…) Cầu khiến cạnh tranh mang tính chất một lời yêu cầu, cầu khiến hoà đồng mang tính chất một lời đề nghị
1.1.2.3 Các loại hành động ngôn từ
Trong một cuộc giao tiếp, một phát ngôn (diễn ngôn) được tạo ra thường do ba loại hành động ngôn từ Theo J.L.Austin có 3 loại hành động ngôn từ tương ứng với ba thuật ngữ sau: locutionary act, illocutionary act, perlocutionary act, tức hành động tạo lời, hành động ở lời và hành động mượn
lời (Đỗ Hữu Châu và Đỗ Việt Hùng (2012), Giáo trình Ngữ dụng học, tr.64 -
65)
Trong các loại hành động ngôn từ thì hành động ở lời là đối tượng
nghiên cứu chính của ngữ dụng học
a) Hành động tạo lời
J.L.Austin đặt tên cho hành động “nói một điều gì đó” là hành động tạo
lời (locutionary act) Có ba phương diện khác nhau của hành động này Mỗi
hành động tạo lời đã tạo ra nội dung mệnh đề và do đó, đã “có một ý nghĩa xác định”
Trang 23Nói rõ hơn, hành động tạo lời là hành động cơ sở của phát ngôn Đó là
hành động được thực hiện bởi sự vận động các cơ quan phát âm (hoặc cử động tay để tạo ra nét chữ), sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, các kiểu kết hợp từ thành câu… để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung Nhờ hành động tạo lời, chúng ta hình thành nên các biểu thức có nghĩa Đây là phần nghĩa biểu thị nội dung mệnh đề tức là phần nghĩa thực tại khách quan trong lời hay còn gọi là nghĩa sự tình (nghĩa phản ánh)
Vậy, hành động ở lời là những hành động người nói thực hiện ngay khi
nói năng nhằm gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận Nói cách khác, hành động ở lời là hành động mà đích của nó nằm ngay
trong việc tạo nên phát ngôn được nói (viết) ra Hành động ở lời chính là hành
động ngôn trung được thực hiện bằng một lực thông báo của một phát ngôn (lực ngôn trung) thể hiện mục đích giao tiếp nhất định của lời (đích ngôn trung) làm nên ý nghĩa ngôn trung Cốt lõi của hành động ngôn từ chính là hành động ở lời hay hành động ngôn trung
Hành động ở lời được thực hiện nhờ hiệu lực giao tiếp của phát ngôn Đây là loại hành động tạo nên các sắc thái giao tiếp phong phú, đa dạng Và nếu như hành động tạo lời làm nên nghĩa sự tình thì các hành động ở lời góp phần làm nên nghĩa tình thái giúp cho sự phân biệt các lời với nhau Hành
động ở lời hỏi là bày tỏ mong muốn được giải đáp điều mà người nói chưa rõ nên khác hành động ở lời hứa vì hứa là (người nói) tự ràng buộc mình vào
một hành động sẽ thực hiện trong tương lai v.v…
Trang 24Đích của hành động ở lời được gọi là đích ở lời và nếu đích đó được thoả mãn thì ta có hiệu quả ở lời
Ví dụ: - Bao giờ cậu đi Hà Nội ?
Các hành động mượn lời và ở lời đem lại cho phát ngôn những hiệu lực
nhất định Câu nói trong dân gian Việt Nam:
“Lời nói chẳng mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.”
cho thấy người Việt Nam đã ý thức được một cách cụ thể về hiệu lực của các phát ngôn trong giao tiếp, và trong mối quan hệ với nhau
c) Hành động mượn lời
Trong một tình huống cụ thể, qua cung cách nói năng khi thực hiện một hành động ở lời, người nói có thể nhằm một chủ đích, một mục tiêu nào đó cần đạt được Loại hiệu quả này của một hành động ở lời được Austin gọi là
hành động mượn lời
Thông qua hành động mượn lời trong phát ngôn, người nói tác động đến tư tưởng, tình cảm… của người tiếp nhận Với một hành động mượn lời, người nghe có thể không nhận ra ngay mặc dù hiểu được hành động tại lời Một hành động ở lời có thể có những hành động mượn lời khác nhau
Khác với hành động ở lời có ý định hay có đích, có quy ước, có thể chế
dù quy ước và thể chế của chúng không hiển ngôn, mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ vận hành chúng một cách không tự giác thì ngược lại, những hiệu quả mượn lời không thể tính toán được vì chúng không có tính quy ước
và khó tìm ra cơ chế chung
Trang 25Cả ba loại hành động: hành động tạo lời, hành động ở lời, hành động
mượn lời được thực hiện theo cách thống hợp khi tạo ra một diễn ngôn Ngữ
dụng học nghiên cứu chủ yếu hành động ở lời
1.2 Những vấn đề ngữ dụng của lời cầu khiến
1.2.1 Hành động cầu khiến
1.2.1.1 Hành động cầu khiến và ý nghĩa cầu khiến
Hành động cầu khiến là khái niệm tổng quát bao gồm các hành động
ngôn trung có ý nghĩa “cầu” (cầu, nhờ, mời, chúc, xin…) và các hành động ngôn trung có ý nghĩa “khiến” (yêu cầu, ra lệnh, cấm, cho phép…) nói chung
Cầu và khiến đều giống nhau ở đích ngôn trung, đều yêu cầu người nghe thực
hiện hành động mà người nói mong muốn Nội hàm của ý nghĩa cầu khiến bao gồm ý nghĩa cầu (cầu xin, nhờ vả, mời mọc, chúc tụng), ý nghĩa khiến (sai khiến, ra lệnh, cấm đoán) hoặc vừa cầu vừa khiến (khuyên bảo, đề nghị)
Sự khác nhau giữa cầu và khiến là ở mức độ của hiệu lực ngôn trung: nếu như cầu kêu gọi thiện chí, sự tự nguyện hành động của người nghe thì
khiến lại áp đặt cho người nghe, cưỡng ép người nghe phải hành động
Ví dụ: Lời cầu: Mẹ mua cho con quả bóng này với ạ!
Lời khiến: Cất ngay đồ chơi vào phòng! Nhanh!
Giữa hai cực đó là những hành động vừa có tính cầu vừa có tính khiến (khuyên, đề nghị…) Cho nên tập hợp các hành động trên thành hành động cầu khiến thì có phạm vi bao quát hơn khái niệm mệnh lệnh (chỉ tương ứng với khiến mà thôi)
Ý nghĩa cầu khiến của lời chính là nội dung của hành động cầu khiến
Nó là nghĩa tình thái do mục đích nói của người nói quy định, thuộc phạm vi dụng học, nó phân biệt nghĩa tình thái nhận thức vốn là tình thái của hiện thực được phản ánh trong lời lồng trong nghĩa sự tình gọi là tình thái của nội dung
sự tình Có thể phân loại hành động cầu khiến ra các tiểu loại chi tiết thể hiện mức độ cầu khiến cao hay thấp khi căn cứ vào lực ngôn trung cầu khiến
Trang 261.2.1.2 Điều kiện để có hành động cầu khiến
Như ta biết thì hành động trần thuật/ biểu hiện là thuật lại sự tình nhằm
mục đích phản ánh hiện thực khách quan qua lăng kính nhận thức của người
nói/ viết, hành động hỏi là hỏi về điều chưa biết nhằm mục đích nhận được thông tin về điều chưa biết từ phía tiếp ngôn, còn hành động cầu khiến là cầu
khiến tiếp ngôn thực hiện hành động mà chủ ngôn nói ra
Hành động hỏi hoặc cầu khiến do đặc trưng của chúng là đòi hỏi tức thì
sự hồi đáp của tiếp ngôn bằng ngôn từ (đối với hỏi) và bằng hành động hoặc ngôn từ (đối với cầu khiến) mà hành động hỏi hoặc cầu khiến chỉ xuất hiện trong bối cảnh giao tiếp trực tiếp Vì vậy, bối cảnh giao tiếp trực tiếp trong đó
cả ba nhân tố: chủ ngôn (người nói), tiếp ngôn (người nghe), thời gian giao tiếp trực tiếp tồn tại đồng thời là điều kiện để xuất hiện hành động cầu khiến Đây cũng là điều kiện tiền đề để có lời cầu khiến
1.2.1.3 Phân loại hành động cầu khiến
Cầu khiến là loại hành động ngôn từ được người nói sử dụng với mục đích để người nghe thực hiện theo chủ ý của mình Những hành động cầu khiến chủ yếu tương ứng với vị từ ngôn hành cầu khiến là: ra lệnh (ra lệnh, hãy, đi); cấm (cấm, không được); cho/ cho phép (cho/ cho phép, hãy, đi); yêu cầu (yêu cầu, hãy, đi); đề nghị (đề nghị, hãy, nào/nhé); dặn (nhé); khuyên (khuyên, nên, không nên); rủ (nhé, có, không); mời (mời, nhé, có… không); nhờ (nhờ, với); chúc (chúc, nhé); xin/ xin phép (xin/xin phép, nhé); cầu (cầu, với), nài (xin, van, lạy, với), van (van, với); lạy (lạy, với)
Khi đặt hành động cầu khiến vào mối quan hệ với tính lịch sự thì cầu khiến là loại hành động có mức độ đe doạ thể hiện cao Hành động cầu khiến
có thể có những tác động tích cực hay tiêu cực ở mức độ khác nhau cho cả hai phía người nói lẫn người nghe Dựa vào lý thuyết hành động ngôn từ và quan niệm lịch sự của J.L.Austin và H.P.Grice thì hành động cầu khiến chủ yếu được xét vào hai loại: cầu khiến cạnh tranh và cầu khiến hoà đồng
Trang 27Cầu khiến cạnh tranh là loại hành động cầu khiến với lợi ích của việc
được thực hiện thường thuộc về người nói hoặc trung hoà hoặc không thuộc
về người nghe Đó là những hành động như: ra lệnh (order), thỉnh cầu, nhờ vả (request), xin phép…
Cầu khiến hoà đồng là loại hành động cầu khiến với lợi ích của việc
được thực hiện thuộc về người nghe hoặc trung hoà hoặc không thuộc về người nói như khuyên răn, mời mọc
1.2.1.4 Hành động cầu khiến trực tiếp và hành động cầu khiến gián tiếp
Từ cách hiểu hiển ngôn là ý nghĩa được biểu thị trực tiếp bằng ngôn từ ở lời còn hàm ngôn là ý nghĩa được suy ra từ thao tác suy ý qua ngôn từ hoặc ngữ cảnh, ta có thể để phân biệt hành động ngôn trung hiển ngôn/ hàm ngôn Hành động hiển ngôn là hành động mà đích ngôn trung được biểu hiện trực tiếp bằng dấu hiệu hình thức ngôn từ đặc trưng cho nó còn gọi là phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung
Hành động hàm ngôn là hành động mà đích ngôn trung không được biểu hiện trực tiếp bằng phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung của nó mà được biểu hiện gián tiếp thông qua phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung của hành động khác (hành động dẫn nhập) tạo ra hàm ý của lời được người nghe nhận diện bằng thao tác suy ý trên cơ sở ngữ nghĩa và ngữ cảnh (bao gồm bối cảnh giao tiếp và thể chế, ước chế xã hội đã được mã hoá) Hành động gián tiếp tạo ra lời gián tiếp/ hàm ngôn
Ví dụ: Phát ngôn (1) “Anh có thể mở cánh cửa không?” trực tiếp đưa ra
một hành động hỏi về khả năng thực hiện hành động để người nghe trả lời Nếu người nghe trả lời “có” thì người nói sẽ yêu cầu người nghe thực hiện hành động mở cánh cửa Kiểu lời hỏi này khác với lời hỏi để nhằm vào sự xác
nhận về hành động như: (2) “Anh đã đóng cửa xong chưa?” Người nghe khi
trả lời chỉ cần xác nhận một trong hai khả năng “rồi” hoặc “chưa” là đủ
Trang 28Như vậy, lời hỏi (2) chỉ chứa một hành động ngôn trung hỏi nhằm mục đích ngôn trung chính là muốn người nghe trả lời cho lời hỏi, nên đó là hành động ngôn trung trực tiếp/ hiển ngôn Còn lời (1) là hỏi về khả năng thực hiện hành động tức là hành động chưa xảy ra Vì thế lời hỏi này có hàm ý: người nói muốn người nghe sẽ thực hiện hành động đó Lời hỏi này chứa hai hành động: Hành động hỏi với chức năng dẫn nhập, gọi là hành động dẫn nhập được biểu thị bằng hiển ngôn và hành động cầu khiến là hành động đích, được biểu thị bằng hàm ngôn Thực chất, cách gọi tên hành động ngôn từ trực tiếp/ gián tiếp là cách gọi tên từ phương thức biểu hiện còn cách gọi tên hành động
hiển ngôn/ hàm ngôn là cách gọi tên từ ý nghĩa được biểu hiện
Thao tác suy ý là quá trình tư duy để nhận biết được mục đích ngôn trung cuối cùng mà người nói bày tỏ trong lời
Từ góc độ dụng học, có thể gọi tên hành động cầu khiến trực tiếp có ý nghĩa cầu khiến hiển ngôn là hành động cầu khiến hiển ngôn, còn hành động cầu khiến gián tiếp có hàm ý cầu khiến (ý nghĩa cầu khiến được suy ý qua
hành động dẫn nhập khác) là hành động cầu khiến hàm ngôn Lời chứa hành động cầu khiến hàm ngôn thường có ít nhất là hai hành động: hành động có chức năng dẫn nhập thì được gọi là hiển ngôn còn hành động đích là hành
động hàm ngôn Chẳng hạn: “Anh có thể cho em mượn quyển sách này được
không?” có chứa hai hành động: hành động dẫn nhập là hành động hỏi hiển
ngôn và hành động đích là hành động cầu khiến hàm ngôn
Về nguyên tắc lý thuyết thì hoàn toàn có thể có lời mà hành động đích
được dẫn nhập qua nhiều hành động dẫn nhập Chẳng hạn: “Con có ăn hết
chén cơm cho mẹ không nào?”, ở đây người mẹ nói với con có dấu hiệu hình
thức ngôn từ là cụm từ: “có… không” (phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung hỏi) và từ con (tiếp ngôn - ngôi thứ hai), từ nào (tiểu từ tình thái cầu khiến -
phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung cầu khiến); những dấu hiệu này giúp cho
ta biết đây là lời vừa hỏi vừa cầu khiến, đồng thời chứa hai hành động ngôn
Trang 29trung dẫn nhập hiển ngôn nhằm biểu thị đích ngôn trung hàm ngôn cảnh báo
không được nói ra trong lời: con mà không ăn hết thì sẽ bị phạt
1.2.2 Quan hệ liên nhân trong lời cầu khiến
Trong phần này, luận văn sẽ tìm hiểu về mối quan hệ liên nhân (viết tắt
là QHLN) giữa các nhân vật giao tiếp, chủ yếu là người tạo ngôn và người thụ ngôn (người tiếp nhận văn bản Thánh Kinh)
Theo các nhà ngữ dụng học, QHLN có thể khảo sát trên hai trục: trục ngang, tức trục khoảng cách (distance) hay còn gọi là trục thân cận, và trục dọc, còn gọi là trục vị thế xã hội hay trục quyền uy (power)
Theo Đỗ Hữu Châu (2003) trong cuốn Cơ sở Ngữ dụng học, tr.104 -
106: “Đối với các hoạt động giao tiếp, hai trục trên chi phối đến chiến lược phát ngôn, chiến lược thụ ngôn và ảnh hưởng không nhỏ đến thang độ lịch sự Tuy nhiên, nếu như trong trục trước, QHLN có phần nổi trội và dễ quan sát, thì ở trục sau, chúng lại bị chi phối bởi nhiều đặc điểm như quyền lực, vị thế, tôn ti mà phải gắn liền với từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể mới có thể lượng giá được.”
a Trục khoảng cách: Trục này có hai cực là thân tình và xa lạ với những mức độ khác nhau Khi giao tiếp, các nhân vật giao tiếp có thể gần gũi hoặc
xa cách nhau Và khoảng cách có thể được rút ngắn hoặc kéo xa ra trong quá trình giao tiếp Vì hai cực trên trục thân cận đối xứng nhau nên thông thường trong quá trình giao tiếp, nếu người nói dịch gần lại người nghe thì người nghe cũng dịch gần lại người nói (trừ trường hợp hai nhân vật không cộng tác với nhau) và ngược lại
b Trục quyền uy: Khi giao tiếp, các nhân vật giao tiếp sẽ xác lập vị thế giao tiếp cao thấp khác nhau tùy vào địa vị xã hội Địa vị xã hội có thể do: tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ hiểu biết, kinh nghiệm sống mà có Người ở vị thế giao tiếp cao có quyền quyết định nội dung giao tiếp
Trang 301.3 Phương tiện và phương thức biểu hiện lời cầu khiến
1.3.1 Phương tiện biểu hiện lời cầu khiến
Phương tiện là hình thức vật chất cụ thể được dùng để biểu hiện ý nghĩa
mà từ vựng học, ngữ pháp học gọi là phương tiện từ vựng, phương tiện ngữ pháp; ngữ dụng học thì gọi là phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung Ngữ pháp truyền thống thường chia ra hai loại: phương tiện từ vựng và phương tiện ngữ pháp Thuật ngữ “phương tiện từ vựng” được dùng để chỉ các phương tiện do thực từ đảm nhiệm, còn “phương tiện ngữ pháp” bao gồm các phương tiện không phải do thực từ đảm nhiệm, đó là hư từ, trật tự từ và ngữ điệu Các từ
hãy, đừng, chớ theo ngữ pháp truyền thống là phụ từ cầu khiến, còn theo ngữ
pháp chức năng thì được coi là vị từ tình thái bởi chúng có các đặc trưng ngữ pháp của vị từ (động từ, tính từ); luận văn xem đây là phương tiện từ vựng - ngữ pháp và gọi là phụ từ cầu khiến hoặc phụ từ tình thái cầu khiến
1.3.2 Phương thức biểu hiện lời cầu khiến
Phương thức là cách thức dùng vật chất (ở đây là phương tiện ngôn từ)
để biểu hiện ý nghĩa của tư tưởng mà người nói muốn truyền đạt khi giao tiếp
Từ góc độ dụng học có thể gọi là phương thức biểu hiện lực ngôn trung của
phát ngôn
Hành động ngôn từ có thể được biểu hiện theo cách thức trực tiếp hoặc gián tiếp Căn cứ vào phương tiện biểu hiện mà xác định được phương thức biểu hiện Phương thức trực tiếp là phương thức dùng phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung tương ứng với đích ngôn trung cần truyền đạt Phương thức gián tiếp là phương thức thông qua hiển ngôn mà suy ý ra ý nghĩa hàm ngôn, tức là thông qua phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung này mà suy ra đích ngôn trung cần truyền đạt không tương ứng với phương tiện (Đào Thanh Lan, 2010, tr
49 - 50)
Trang 311.4 Sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo
Ở Việt Nam, mãi đến năm 1926, Kinh Thánh tiếng Việt mới được xuất bản và được phát hành Đây là bản dịch đầu tiên toàn bộ Kinh Thánh Cơ Đốc giáo (Tin Lành) sang tiếng Việt Được biết từ các nguồn tham khảo thì bản dịch sách Châm ngôn nói riêng và toàn bộ Kinh Thánh nói chung là do một nhóm học giả gồm có nhà văn Phan Khôi, ông bà Giáo sĩ William C Cadman, Giáo sĩ John D Olsen thực hiện với sự giúp đỡ của một số thành viên khác trong đó có: học giả Trần Văn Dõng, lúc đó là sinh viên Trường Cao Ðẳng Ðông Dương, học giả Tú Phúc và vài học giả khác Tuy nhiên người phiên dịch chính là nhà văn Phan Khôi
Về tên sách, “Châm ngôn” trong nguyên văn Hi-bá-lai, có tên là Mishle
Shelomoh có nghĩa là rất rộng, được dùng để chỉ: một bài diễn thuyết hay
những câu châm ngôn hay những thành ngữ Theo tiếng Hy Lạp, tên sách:
Paroimiai Salomontos (Các Châm ngôn của Sa-lô-môn Bản Việt ngữ dịch
tên theo âm Hán Việt: “châm” có nghĩa là răn, dạy; “ngôn” nghĩa là lời nói
Như vậy, “Châm ngôn” là những lời răn dạy điều gì đó
Về cấu trúc, “Châm ngôn” là một trong ba mươi chín sách trong Kinh Thánh Cựu Ước, sách này thuộc thể loại thi ca (Toàn bộ Kinh Thánh của người Cơ Đốc giáo (Tin Lành) gồm 66 sách, phần Cựu Ước (39 sách) và Tân Ước (27 sách)) Châm ngôn có 31 chương, được trình bày theo thứ tự rõ ràng, rành mạch
Về nội dung, sách “Châm ngôn” chứa đựng những câu nói dựa trên sự nghiên cứu, giải thích và kinh nghiệm của những tín hữu Cơ Đốc đi trước
(nhưng chủ yếu là của Sa-lô-môn) Sách đưa ra những lời dạy dỗ, khuyên bảo
về một điều gì đó trong cuộc sống, đem đến sự ứng dụng thực tiễn cho đời sống những người Cơ Đốc (Tin Lành) ngày nay Sách đề cập đến các đề tài
như: Sự khôn ngoan; Công bình; Kính sợ Đức Chúa Trời; Tri thức; Luân
lý; Sự thánh khiết; Chuyên cần; Tự chế; Tin cậy Đức Chúa Trời; Dâng phần
Trang 32mười; Cách sử dụng tiền bạc; Lòng yêu thương người nghèo; Giữ gìn lời nói; Khoan dung kẻ thù; Chọn bạn; Tránh người đàn bà xấu nết; Khen ngợi người
nữ tài đức; Dạy con; Trách kẻ biếng nhác… Có thể nói, sách Châm ngôn
không chỉ có mục đích răn dạy những điều thuộc về tôn giáo mà còn đưa ra những quy tắc trong đời sống hằng ngày Sách này nhằm giúp người nhận ngôn nắm bắt được ý nghĩa của những câu nói dạy về sự khôn ngoan và những chân lý ẩn chứa trong chúng, những bài học nằm khuất dưới bề mặt ngôn từ hết sức nhẹ nhàng mà sâu sắc
Về hình thức, sách Châm ngôn thuộc thể loại thi ca, trình bày ngắn gọn dưới dạng những câu tục ngữ hoặc những câu nói có vần điệu, dễ thuộc, dễ nhớ và dễ chia sẻ Ngôn từ trong sách Châm ngôn đã được chắt lọc, suy gẫm khá công phu và mang tính đặc thù
Trong bài viết Trích Phụ Nữ Tân Văn, số 74 (1930), Phan Khôi có nói:
“Nếu từ miệng mình nói ra, muốn nói thế nào thì nói, miễn có lý là được;
nhưng khi thuật lời người đời xưa, thì phải nói y theo lời người đời xưa; bằng chẳng vậy, nhiều khi sẽ thành ra mình vu cho người đời xưa Lời của người thường còn như vậy, huống chi lời Kinh Thánh đã được nhìn là lời của Đức Chúa Trời.”
Tóm lại, sách Châm ngôn là bộ sưu tập những câu châm ngôn răn dạy về khôn ngoan, phù hợp với mọi hoàn cảnh đời sống con người Từ nội dung đến hình thức, cách dùng ngôn từ diễn đạt khi chuyển dịch toàn bộ Kinh Thánh (nói chung) và sách Châm ngôn (nói riêng) sang tiếng Việt (bản dịch năm 1926) khá phù hợp, sát với bản gốc và ngôn từ mang tính đặc thù với Thánh Kinh cho nên bản dịch này đã có một vị trí vững chãi trong lòng tín hữu
người Cơ Đốc (Tin Lành) cho đến ngày nay
Tiểu kết
Chương 1 đã đề cập đến những vấn đề lý thuyết cơ sở giúp cho việc tìm hiểu đặc điểm ngôn từ của lời cầu khiến – khuyên bảo qua cứ liệu sách Châm
Trang 33ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo Trước hết, đó là những khái niệm
về lời, lời cầu khiến và lời cầu khiến – khuyên bảo Chương 1 cũng trình bày
lý thuyết về hành động ngôn từ, lý thuyết được xem là xương sống của ngữ dụng học và qua đó, nắm được cốt lõi của hành động ngôn từ chính là hành động ở lời hay hành động ngôn trung
Tiếp theo, chương 1 cũng đi vào tìm hiểu về những vấn đề lý thuyết thuộc ngữ dụng học của lời cầu khiến như: hành động cầu khiến, vấn đề liên quan đến quan hệ liên nhân trong lời cầu khiến để hiểu đặc điểm ngữ nghĩa của lời cầu khiến - khuyên bảo qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo Đó là những phát ngôn mang sắc thái “khiến” nhẹ nhàng Người phát ngôn mong muốn người nhận ngôn thực hiện hành động mà mình đưa ra nhưng không ép buộc mà chỉ là sự gợi ý, khuyên bảo của người phát ngôn đối với người nhận ngôn Đồng thời, luận văn cũng nhận biết được mục đích ngôn trung cuối cùng mà người nói bày tỏ trong lời cầu khiến – khuyên bảo qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo
Ngoài ra, chương 1 cũng đi vào tìm hiểu về những vấn đề lý thuyết về phương tiện, phương thức thể hiện lời cầu khiến - khuyên bảo Luận văn sử dụng những phương tiện từ vựng - ngữ pháp là các phụ từ cầu khiến hoặc phụ
từ tình thái cầu khiến hãy, khá, đừng, chớ Qua đó luận văn khái quát phương
thức thể hiện lời cầu khiến - khuyên bảo gồm có phương thức trực tiếp và phương thức gián tiếp nhằm biểu hiện lực ngôn trung của phát ngôn mà người nói muốn truyền đạt khi giao tiếp Bên cạnh đó, luận văn cũng tham khảo các nguồn tư liệu để hiểu biết về nội dung, hình thức cũng như mục đích của tác giả khi viết sách Châm ngôn thông qua bản dịch Kinh Thánh truyền thống năm 1926
Trang 34CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG – NGỮ PHÁP CỦA LỜI CẦU KHIẾN - KHUYÊN BẢO QUA CỨ LIỆU SÁCH CHÂM NGÔN
TRONG THÁNH KINH CỦA CƠ ĐỐC GIÁO
Nằm trong bộ tuyển tập về những lời giáo huấn đạo đức và tôn giáo gồm 31 chương, các lời cầu khiến - khuyên bảo qua cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo không chỉ liên quan đến những vấn đề về tôn giáo mà còn liên quan đến thực tế hàng ngày Khảo sát cứ liệu về các lời cầu khiến - khuyên bảo trong sách Châm ngôn, chúng tôi thấy các phát ngôn này sử dụng những phương thức từ vựng – ngữ pháp khá đa dạng
2.1 Dùng phương thức thể hiện trực tiếp lời cầu khiến – khuyên bảo qua
cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo
2.1.1 Dùng tổ hợp phụ từ cầu khiến HÃY, KHÁ, ĐỪNG, CHỚ + vị từ, ngữ vị từ
Dùng phụ từ cầu khiến là phương thức được sử dụng khá nhiều trong cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo Các phụ từ cầu khiến thường xuất hiện trong các lời cầu khiến - khuyên bảo mà chúng tôi thu
thập được là nhóm bao gồm những phụ từ như hãy, khá, đừng, chớ
2.1.1.1 Phụ từ “chớ”
“Chớ: phụ từ, biểu thị ý khuyên ngăn dứt khoát.” (Hoàng Phê, 2018)
Chúng tôi nhận thấy phụ từ “chớ” trong các phát ngôn cầu khiến -
khuyên bảo trong sách Châm ngôn có khi xuất hiện riêng, có khi xuất hiện đồng thời với các phụ từ cầu khiến khác trong cùng một phát ngôn Đây là phương tiện tình thái cầu khiến nhằm thể hiện ý nghĩa cầu khiến - phủ định, với ý cầu khiến khuyên răn những điều không nên làm
(1) Chớ từ chối làm lành cho kẻ nào xứng đáng,
Miễn là tay con có quyền làm điều ấy
(Châm ngôn 3:27)
(2) Chớ tha sửa phạt trẻ thơ;
Trang 35Dầu đánh nó bằng roi vọt, nó chẳng chết đâu
Khi con đánh nó bằng roi vọt,
Ắt giải cứu linh hồn nó khỏi âm phủ
(Châm ngôn 23:13-14)
(3) Chớ làm chứng vô cớ nghịch kẻ lân cận mình;
Con há muốn lấy môi miệng mình mà phỉnh gạt sao?
(Châm ngôn 24:28)
(4) Chớ lìa bạn mình, hay là bạn của cha mình;
Trong ngày hoạn nạn chớ đi đến nhà anh em mình:
Một người xóm giềng gần còn hơn anh em xa
(Châm ngôn 27:10)
(5) Chớ lập mưu hại kẻ lân cận con,
Vì người ăn ở bình an bên con
(Châm ngôn 3:29)
(6) Chớ nói vào lỗ tai kẻ ngu muội;
Vì nó sẽ khinh dể sự khôn ngoan của các lời con
(Châm ngôn 23:9)
Ở đây, chúng tôi nhận thấy “chớ” đóng một vai trò quan yếu trong việc
biểu đạt thái độ của chủ ngôn về vấn đề nào đó đang được đề cập đến trong
phát ngôn Phát ngôn chứa “chớ” thường giả định hành động mà người nói đề
cập ở thời điểm nói là chưa hề xảy ra - cần ngăn chặn kịp thời những hành động đó, hoặc đã xảy ra và cần rút kinh nghiệm, cần dừng hành động đó lại vì người phát ngôn đã đoán trước được một hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra nếu không chấm dứt hoặc ngừng hành động đó lại Chẳng hạn:
Châm ngôn (3:27) khuyên không nên từ chối làm việc thiện cho những người cần giúp đỡ khi mình có khả năng; Châm ngôn (23:13-14) thể hiện lời khuyên không nên bỏ qua sự dạy dỗ, kỷ luật con cái, cần thiết thì có thể dùng roi vọt để sửa dạy để cho con trẻ tốt hơn; Châm ngôn (24:28), (3:29) khuyên
Trang 36không vô cớ làm chứng hại người láng giềng, không dối trá; không rắp tâm hại người sống yên ổn bên cạnh ta, tin cậy ta; Châm ngôn (27:10) khuyên người nghe không nên đánh mất mối quan hệ với bạn của mình và bạn của cha mình vì trong ngày khó khăn, hoạn nạn thì những người anh em xa không bằng láng giềng gần
Châm ngôn (23:9) khuyên không nên phí lời nói với người dại dột, vì họ
sẽ không hiểu lời lẽ của người khôn ngoan, vì vậy ta cần lựa chọn người để góp ý Phát ngôn này giống như lời khuyên trong câu sau:
Đừng mang đàn gảy tai trâu,
Kẻ khờ đâu biết tìm cầu hiền nhân
Các phát ngôn cầu khiến - khuyên bảo có “chớ” thể hiện sắc thái lời khuyên dứt khoát, mạnh mẽ Vì vậy, khi tiếp nhận phát ngôn có “chớ”, người
tiếp ngôn thường tích cực thực hiện theo điều khuyên ấy Tuy có sắc thái dứt khoát, mạnh mẽ nhưng ở các phát ngôn này, lời cầu khiến không hề có tính ép buộc mà chỉ là sự gợi ý, khuyên bảo của chủ ngôn đối với tiếp ngôn
Tần số xuất hiện của phụ từ “chớ” ở cứ liệu sách Châm ngôn trong Thánh Kinh của Cơ Đốc giáo khá cao so với các phụ từ cầu khiến chuyên dụng khác Ngoài những phát ngôn cầu khiến – khuyên bảo mà “chớ” xuất hiện độc lập thì phụ từ này còn xuất hiện đồng thời cùng với các phụ từ khác
như phụ từ “hãy, đừng, khá”
2.1.1.2 Phụ từ “đừng”
“Đừng” là phụ từ dùng làm phương tiện biểu thị ý khuyên ngăn, bảo
không nên
Theo Chu Thị Thùy An (2002) trong Câu cầu khiến tiếng Việt thì phụ từ
“đừng” được sử dụng rất linh hoạt, nó có thể tham gia vào các cấu trúc cầu khiến, biểu đạt hành động ngôn từ: yêu cầu, khuyên bảo, đề nghị, thỉnh cầu, dặn dò
Trang 37Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê (Chủ biên), 2018
giải thích: “Đừng (thường dùng có ý kèm ý phủ định): Tự ngăn mình không
làm việc gì đó, không để cho việc gì đó diễn ra.”
Trong cứ liệu, phụ từ “đừng” thường không đứng riêng lẻ trong phát ngôn mà có sự kết hợp song song, đối ứng với phụ từ “chớ” trong cùng một
phát ngôn:
(7) Chớ phân bì với kẻ hung dữ,
Cũng đừng chọn lối nào của hắn;
Vì Đức Giê-hô-va gướm ghiếc kẻ gian tà;
Nhưng kết tình bậu bạn cùng người ngay thẳng
(Châm ngôn 3:31-32)
(8) Chớ vào trong lối kẻ hung dữ,
Và đừng đi đường kẻ gian ác
(Châm ngôn 4:14)
(9) Chớ ăn bánh của kẻ có mắt gian ác,
Và đừng tham muốn những món ngon của hắn
Cũng đừng ganh ghét những người hung dữ;
Vì kẻ làm gian ác sẽ không được thiện báo,
Và đèn kẻ hung dữ sẽ tắt đi
(Châm ngôn 24:19-20)
(12) Chớ bóc lột kẻ nghèo, bởi vì họ nghèo,
Cũng đừng hà hiếp người khốn khổ nơi cửa thành;
(Châm ngôn 22:22)
Trang 38Nét chung của “chớ” và “đừng” là yêu cầu người tiếp ngôn không tiến
hành hoặc ngừng tiến hành một hành động, một trạng thái nào đó Các Châm ngôn như: (3:31-32), (4:14), (23:6), (24:1), (24:19-20) trong cứ liệu khuyên không phân bì, không ganh tỵ với sự thành công, thịnh vượng của kẻ hung bạo, gian ác, những kẻ kém chân thành và cũng không nên cộng tác với họ Châm ngôn (22:22) là lời khuyên chân thành đừng ức hiếp kẻ nghèo và kẻ khốn khổ vì họ đã gặp nhiều bất hạnh
Ở đây, phụ từ “chớ” và “đừng” mang ý nghĩa phủ định, chúng xuất hiện
cùng nhau trong cùng một phát ngôn nên có sự cộng hưởng để tạo nên nét nghĩa tình thái mạnh cho cả phát ngôn Một phát ngôn với hai lần ý cầu khiến
- phủ định là nhằm mục đích nhấn mạnh, có tính thuyết phục cao đối với
người tiếp ngôn, và như vậy các phát ngôn cầu khiến - khuyên bảo nhằm nhấn
mạnh hơn sắc thái ngăn cản hành động của người phát ngôn đối với người nhận ngôn, nhằm yêu cầu người nhận ngôn thực hiện một cách triệt để vấn đề
mà người phát ngôn mong muốn
Bên cạnh những nét chung thì giữa “chớ” và “đừng” cũng có những nét
sắc thái riêng trong sự biểu hiện của chính bản thân chúng
“Đừng” có nét nghĩa tình thái chi phối ở mức độ trung hoà trong khi
“chớ” thể hiện sự dứt khoát nên nét nghĩa tình thái chi phối của “chớ” mạnh hơn “đừng”, người phát ngôn đoán trước được một hậu quả nghiêm trọng có
thể xảy ra nếu không chấm dứt hoặc ngừng hành động đó lại Tuy nhiên, các
phát ngôn có “chớ” và “đừng” có tính chất khuyên bảo nên nghiêng về sắc
thái “cầu” hơn là “khiến”
“Chớ” có thể kết hợp với các phụ từ: nên, hề, năng (bước chân) trước
khi kết hợp với vị từ, ngữ vị từ để tạo thành cụm phụ từ: ví dụ các Châm ngôn
sau: “… chớ hề bán nó đi” (23:23); “…Chớ năng bước chân đến nhà kẻ lân cận con…” (25:17); “Chớ nên nói…” (24:29)
Trang 392.1.1.3 Phụ từ “hãy/ khá”
Chu Thị Thùy An trong Câu cầu khiến tiếng Việt cho rằng phụ từ “hãy”
có thể tùy thuộc vào cách sử dụng hay trong tình huống giao tiếp cụ thể Hãy
có thể biểu đạt hành động ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, thỉnh cầu, nhờ vả…
Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê (Chủ biên), 2018:
Hãy: Từ biểu thị ý yêu cầu có tính chất mệnh lệnh hoặc thuyết phục,
động viên nên làm việc gì đó, nên có thái độ nào đó
Khá (từ cũ, dùng phụ trước động từ): Từ biểu thị ý yêu cầu, thuyết phục làm việc gì; như hãy
“Hãy/ khá” chính là phương tiện biểu thị tình thái cầu khiến với ý khẳng định Trong các châm ngôn dùng“hãy/ khá”, người nói thể hiện thái độ
nghiêng về sự khuyên bảo và thúc giục, kêu gọi, mong muốn người nghe thực hiện hành động mà người nói cho là cần thiết
(13) Hãy tôn tặng sự khôn ngoan, thì sự khôn ngoan sẽ thăng con lên,
Làm cho con được vinh hiển, khi con hoài niệm đến
(Châm ngôn 4:8)
(14) Hãy dang xa khỏi mặt kẻ ngu muội,
Con sẽ chẳng tìm được môi khôn ngoan nơi nó
(Châm ngôn 14:7)
(15) Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo;
Dầu khi nó trở về già, cũng không hề lìa khỏi đó
(Châm ngôn 22:6)
(16) Hãy chuyên lòng về sự khuyên dạy,
Và lắng tai nghe các lời tri thức
(Châm ngôn 23:12)
(17) Hãy mở miệng mình binh kẻ câm,
Và duyên cớ của các người bị để bỏ
(Châm ngôn 31:8)
Trang 40(18) Hãy ráng biết cảnh trạng bầy chiên con,
Và lo săn sóc các đàn bò của con;
Vì sự giàu có không lưu tồn mãi mãi,
Và mũ triều thiên há còn đến đời đời sao?
(Châm ngôn 27:23-24)
(19) Hãy nghe lời khuyên dạy, và tiếp nhận sự giáo hối,
Để con được khôn ngoan trong lúc cuối cùng
(Châm ngôn 19:20)
(20) Khá mở miệng con, xét đoán cách công bình,
Và phân xử phải nghĩa cho người buồn thảm và nghèo nàn
(Châm ngôn 31:9)
(21) Khá cẩn thận giữ tấm lòng của con hơn hết,
Vì các nguồn sự sống do nơi nó mà ra
(Châm ngôn 4:23)
Qua khảo sát các phát ngôn cầu khiến có sử dụng “hãy/ khá”, chúng tôi
nhận thấy những phát ngôn này nhằm khuyến khích, thúc giục người nghe nên bắt tay vào thực hiện và cần tiếp tục kiên trì thực hiện dài lâu để đem lại hiệu quả tốt nhất Phát ngôn có “hãy/ khá” dùng để đề nghị, thúc giục, khuyến khích những hành động như: quý trọng sự khôn ngoan (4:8); giáo dục con cái biết cách sống (22:6); khuyến khích phải nghe lời khuyên dạy và các lời tri thức (23:12), (19:20); thúc giục hành động lên tiếng bênh vực người cô thế, không phương tự vệ, phán xét công minh, bảo đảm công lý cho người bất hạnh (31:8), (31:9); nhắc nhở phải biết chăm lo đời sống gia đình (27:23 - 24); nhấn mạnh giữ gìn đời sống trong sạch (4:23)
Phát ngôn (14:7) dùng “hãy” nhưng nội dung lại là lời khuyên, lời kêu gọi nhằm mục đích yêu cầu dừng lại một hành động:
“Hãy dang xa khỏi mặt kẻ ngu muội,
Con sẽ chẳng tìm được môi khôn ngoan nơi nó.”