Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả thực hiện nghiên cứu “Tự điều chỉnh cảm xúc của người làm công tác trợ giảng” trên số lượng 23 NLCTTG ở chi nhánh quận 9 và 37 NLCTTG ở c
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những tài liệu sử dụng, dữ liệu và kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu này và được trình bày trong luận văn là trung thực; đồng thời chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
TP.HCM, ngày 01 tháng 09 năm 2020
Tác giả luận văn
Trần Thị Trúc Mai
Trang 4Tôi xin chân thành biểu lộ lòng biết ơn sâu sắc đến:
* TS Võ Thị Tường Vy, người hướng dẫn khoa học cho tôi hoàn thành
luận văn này Cô có bề dày kinh nghiệm cùng với lòng yêu nghề đã tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này
* Ban quản lý trung tâm Anh ngữ ILA VIETNAM tại cơ sở quận 9 và quận Thủ Đức, các Anh/Chị làm công tác văn phòng của trung tâm ILA VIETNAM, các đồng nghiệp tại trung tâm ILA VIETNAM đã giúp đỡ và tạo
mọi điều kiện trong suốt thời gian tôi học tập nghiên cứu để có thể hoàn thành
* Các Anh/Chị làm công tác trợ giảng tại ILA VIETNAM đã nhiệt tình
tham gia vào quá trình nghiên cứu, đã cung cấp những ý kiến thực tế trong công việc hằng ngày, đã giúp tôi thu thập số liệu và tiến hành khảo sát thực trạng tại ILA VIETNAM Hơn nữa các bạn luôn sẵn sàng đóng góp những thiếu sót của tôi khi thực hiện luận văn
* Các tác giả Võ Thị Tường Vy, Nadia Garnefski, Vivian Kraaij, Philip Spinhoven và Simona Prosen đã cho phép tôi sử dụng thang đo điều chỉnh cảm
xúc, thang đo sự hài lòng trong công việc đo lường của nghiên cứu
* Gia đình, người thân, bạn bè đã luôn bên cạnh tôi, cùng tôi chia sẻ
những khó khăn, động viên, khích lệ và hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Xin chân thành cám ơn!
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 LÝ LUẬN VỀ TỰ ĐIỀU CHỈNH CẢM XÚC 7
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu tự điều chỉnh cảm xúc ở nước ngoài 7
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu tự điều chỉnh cảm xúc ở trong nước 13
1.2 Cơ sở lý luận nghiên cứu về tự điều chỉnh cảm xúc 17
1.2.1 Khái niệm cơ bản 17
1.2.2 Đặc điểm công việc của người làm công tác trợ giảng 29
1.2.3 Những đặc điểm tâm lý của người làm công tác trợ giảng dưới góc độ tự điều chỉnh cảm xúc 29
1.2.4 Biểu hiện tự điều chỉnh cảm xúc của người làm công tác trợ giảng 35
1.2.5 Tiêu chí đánh giá tự điều chỉnh cảm xúc của người làm công tác trợ giảng 42
1.2.6 Mối liên hệ giữa các yếu tố liên quan đến tự điều chỉnh cảm xúc của người làm công tác trợ giảng tại ILA VIETNAM 46
Tiểu kết chương 1 51
Chương 2 THỰC TRẠNG TỰ ĐIỀU CHỈNH CẢM XÚC CỦA NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC TRỢ GIẢNG TẠI ILA VIETNAM 52
2.1 Thể thức và phương pháp nghiên cứu TĐCCX của NLCTTG 52
2.1.1 Tổ chức nghiên cứu 52
2.1.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 52
Trang 6ILA VIETNAM 61
2.2.1 Thực trạng tự điều chỉnh cảm xúc của người làm công tác trợ giảng ở mặt biểu hiện chung 61
2.2.2 Thực trạng tự điều chỉnh cảm xúc của người làm công tác trợ giảng ở mặt nhận thức 62
2.2.3 Thực trạng tự điều chỉnh cảm xúc của người làm công tác trợ giảng ở mặt hành vi 71
2.3 Mối liên hệ giữa các yếu tố liên quan đến tự điều chỉnh cảm xúc của người làm công tác trợ giảng tại ILA VIETNAM 81
2.3.1 Yếu tố bên trong chủ thể 81
2.3.2 Yếu tố bên ngoài chủ thể 85
Tiểu kết chương 2 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC
Trang 7Trung tâm Anh ngữ ILA VIETNAM : ILA
Người làm công tác trợ giảng : NLCTTG
Các buổi tập huấn cho giáo viên : PD (Professional Development)
Mô hình trí tuệ cảm xúc xã hội : ESI (Model of Emotional Social
Lớp Jumpstarts cho học sinh 4 – 5.5 tuổi : Lớp K
Lớp Juniors cho học sinh 6 – 10 tuổi : Lớp J
Lớp Seniors cho học sinh 11 – 17 tuổi : Lớp S
Lớp IELTS cho học sinh trên 17 tuổi : Lớp luyện thi chứng chỉ IELTS
Trang 8Bảng 1.2 Tiêu chí đo TĐCCX và tiêu chí đo TĐCCX của NLCTTG 44
Bảng 2.1 Bảng các items TĐCCX ở 9 mặt nhận thức 55
Bảng 2.2 Bảng các items TĐCCX ở 5 mặt hành vi 56
Bảng 2.3 Bảng phương án trả lời sẵn và điểm số cho 7 tình huống TĐCCX ở 5 mặt hành vi 56
Bảng 2.4 Bảng quy gán điểm số cho các câu trả lời 57
Bảng 2.5 Bảng mức độ biểu hiện TĐCCX ở mặt nhận thức và mặt hành vi 57
Bảng 2.6 Bảng kiểm định độ tin cậy của thang đo TĐCCX của NLCTTG 58
Bảng 2.7 Bảng nội dung câu hỏi phỏng vấn 59
Bảng 2.8 Bảng khái quát về khách thể 60
Bảng 2.9 Bảng TĐCCX chung ở hai mặt nhận thức và hành vi 62
Bảng 2.10 Bảng TĐCCX của NLCTTG ở 9 mặt nhận thức 63
Bảng 2.11 Bảng TĐCCX ở mặt tự trách trong suy nghĩ 65
Bảng 2.12 Bảng TĐCCX ở mặt chấp nhận cảm xúc 65
Bảng 2.13 Bảng TĐCCX ở mặt nghiền ngẫm cảm xúc 66
Bảng 2.14 Bảng TĐCCX ở mặt tái tập trung vào suy nghĩ tích cực 67
Bảng 2.15 Bảng TĐCCX ở mặt tái tạo kế hoạch trong suy nghĩ 67
Bảng 2.16 Bảng TĐCCX ở mặt tái đánh giá tích cực 68
Bảng 2.17 Bảng TĐCCX ở mặt diễn giải lại bằng cách thay đổi góc nhìn 69
Bảng 2.18 Bảng TĐCCX ở mặt suy nghĩ bi kịch 69
Bảng 2.19 Bảng TĐCCX ở mặt trách người khác trong suy nghĩ 70
Bảng 2.20 Bảng TĐCCX của NLCTTG ở 5 mặt hành vi 71
Bảng 2.21 Bảng TĐCCX ở mặt chấp nhận tình huống nảy sinh cảm xúc và đối đầu với chính cảm xúc 73
Bảng 2.22 Bảng TĐCCX ở mặt né tránh tình huống gây ra cảm xúc tạm thời 74 Bảng 2.23 Bảng TĐCCX ở mặt làm giảm nhẹ tình huống 74
Trang 9Bảng 2.25 Bảng TĐCCX ở mặt kiềm chế phản ứng cảm xúc 76
Bảng 2.26 Bảng 7 tình huống TĐCCX qua 5 mặt hành vi 77
Bảng 2.27 Bảng tương quan giữa TĐCCX với yếu tố đồng cảm và yếu tố hài lòng trong công việc 81
Bảng 2.28 Bảng so sánh TĐCCX theo giới tính 81
Bảng 2.29 Bảng so sánh TĐCCX theo nhân cách 82
Bảng 2.30 Bảng so sánh TĐCCX theo tuổi 82
Bảng 2.34 Bảng so sánh sự đồng cảm ở NLCTTG đảm nhận lớp K 83
Bảng 2.35 Bảng sự hài lòng trong công việc của NLCTTG tại ILA 84
Bảng 2.36 Bảng so sánh TĐCCX theo tôn giáo 85
Bảng 2.37 Bảng so sánh tiếng Anh và học vấn theo thâm niên 85
Bảng 2.38 Bảng so sánh TĐCCX của NLCTTG theo tiếng Anh 86
Bảng 2.39 Bảng so sánh thâm niên và nhân cách theo cấp lớp dạy 86
Bảng 2.40 Bảng so sánh TĐCCX của NLCTTG ở cấp lớp K,J 87
Bảng 2.41 Bảng so sánh TĐCCX của NLCTTG ở cấp lớp S 88
Trang 10Biểu đồ 2.1 TĐCCX chung của NLCTTG (n=60) 61
Biểu đồ 2.2 TĐCCX của NLCTTG ở 9 mặt nhận thức (n=60) 62
Biểu đồ 2.3 TĐCCX của NLCTTG ở 5 mặt hành vi (n=60) 71
Biểu đồ 2.4 TĐCCX ở 5 mặt hành vi qua 7 tình huống 78
Biểu đồ 2.5 Biểu đồ điểm trung bình TĐCCX ở lớp K,J 87
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 31/01/2012, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quyết định số 448/QĐ-UBND về phê duyệt Đề án “Phổ cập và nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh cho học sinh phổ thông và chuyên nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 - 2020” Hai trong năm nhiệm vụ chính của Đề án là:
Phấn đấu tất cả học sinh phổ thông từ lớp 1 đến lớp 12 đều được học tiếng Anh trong nhà trường với chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu sử dụng thực tế trong xã hội theo từng cấp độ tương ứng với lớp học và chuẩn quốc tế Cụ thể đạt các bậc trình độ như sau: tốt nghiệp tiểu học đạt cấp độ A1; tốt nghiệp trung học cơ sở đạt cấp độ A2; tốt nghiệp trung học phổ thông đạt cấp độ B1
Đảm bảo học sinh khối mầm non 5 tuổi được làm quen với tiếng Anh trước khi vào lớp 1
Trong quá trình triển khai thực hiện, sử dụng giáo viên hiện có và lưu ý tăng thêm giáo viên bản ngữ Đối với quyết định của Đề án, ILA là một trung tâm dạy tiếng Anh có uy tín lâu năm tại Việt Nam và ILA có thể đáp ứng các nhu cầu của Đề án này cho việc đào tạo môn tiếng Anh cho học sinh các cấp trên toàn quốc ILA chủ yếu giảng dạy tiếng Anh với chất lượng cao cho học sinh từ khối mầm non đến THPT Hình thức tổ chức lớp học gồm một giáo viên bản xứ
và một người làm công tác trợ giảng (NLCTTG) quốc tịch Việt Nam, cùng chịu trách nhiệm quản lý lớp, cùng tham gia hỗ trợ dạy tiếng Anh cho học sinh ILA
Đề án chú trọng chất lượng dạy môn tiếng Anh, trong đó vai trò và nhiệm vụ truyền thụ kiến thức của giáo viên là điều cấp thiết nhất hiện tại để ILA đầu tư nghiêm túc Ngoài chất lượng dạy kiến thức, dạy các kỹ năng của môn tiếng Anh, chúng ta không thể bỏ qua mối quan hệ tương tác trong công việc giảng dạy của giáo viên, trong việc học của học sinh NLCTTG ngoài nhiệm vụ gắn kết học sinh và giáo viên bản xứ (là những thầy cô sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ) còn có nhiệm vụ liên lạc chặt chẻ với phụ huynh học sinh, với
Trang 12nhà trường và ILA NLCTTG thường xuyên tương tác với học sinh, hỗ trợ các
em trong việc học và thực hành tiếng Anh, cho nên sự gắn bó giữa NLCTTG với học sinh là gần gũi và thân thiết nhất Vì vậy, giữa mối tương tác hai bên sẽ xuất hiện nhiều cung bậc cảm xúc, họ cần phải hiểu về bản thân mình đang ở cảm xúc nào, làm thế nào điều chỉnh cảm xúc cho phù hợp nhằm đem lại mối quan hệ thuận lợi trong lúc dạy học sinh nói chung và đáp ứng yêu cầu về chất lượng giảng dạy theo chuẩn của ILA nói riêng
Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong đợi kết quả đem lại ý nghĩa thực tiễn của việc tự điều chỉnh cảm xúc của NLCTTG tại ILA Quá trình nghiên cứu này đưa ra câu trả lời cho câu hỏi vậy tự điều chỉnh cảm xúc của NLCTTG phục
vụ cho công việc dạy tiếng Anh tại lớp và đem lại kết quả cho học sinh như thế nào Tuy rằng đề tài về cảm xúc đã được nhiều tác giả nghiên cứu từ nhiều năm trước nhưng chính tại ILA cảm xúc là một khái niệm còn xa lạ, không nhiều người quan tâm đến Đối với đội ngũ NLCTTG, việc thiết lập mối quan hệ thân thiện, tích cực hỗ trợ cho học sinh học tập là nhiệm vụ thiết yếu Điều này yêu cầu NLCTTG phải luôn kiểm soát cảm xúc nhằm tác động tích cực lên mối quan
hệ với học sinh Trên thực tế công việc cho thấy, không phải lúc nào NLCTTG cũng tự điều chỉnh tốt cảm xúc của mình trong công việc Có thể nói, tự điều chỉnh cảm xúc của NLCTTG là việc hiện nay cần được quan tâm đúng mực nhằm đem lại hiệu quả công việc nhất ILA rất chú trọng tạo dựng mối quan hệ tốt giữa NLCTTG và học sinh Một trong các yếu tố giúp hình thành mối quan
hệ tốt giữa học sinh và NLCTTG phần lớn xuất phát từ NLCTTG NLCTTG phải tự điều chỉnh cảm xúc của mình trong công tác giáo dục học sinh tại ILA
Xuất phát từ những lý do trên nên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Tự điều
chỉnh cảm xúc của người làm công tác trợ giảng tại ILA VIETNAM”.
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng tự điều chỉnh cảm xúc của NLCTTG tại ILA,
đề tài đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao khả năng tự điều chỉnh cảm xúc của NLCTTG tại ILA
Trang 133 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý luận về tự điều chỉnh cảm xúc của NLCTTG
Tìm hiểu thực trạng tự điều chỉnh cảm xúc của NLCTTG tại ILA
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu có 60 NLCTTG đang công tác tại trung tâm Anh ngữ ILA VIETNAM cơ sở TPHCM (chi nhánh ở quận 9 và quận Thủ Đức) Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả thực hiện nghiên cứu “Tự điều chỉnh cảm xúc của người làm công tác trợ giảng” trên số lượng 23 NLCTTG ở chi nhánh quận 9 và 37 NLCTTG ở chi nhánh quận Thủ Đức
4.2 Đối tƣợng nghiên cứu
Tự điều chỉnh cảm xúc của người làm công tác trợ giảng tại ILA VIETNAM
5 Giả thuyết nghiên cứu
Tự điều chỉnh cảm xúc của NLCTTG tại ILA cơ sở TPHCM đạt ở mức trung bình, trong đó có sự khác biệt trong tự điều chỉnh cảm xúc của NLCTTG được đào tạo từ chuyên ngành tiếng Anh và NLCTTG theo học từ các chuyên ngành khác
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng tự điều chỉnh cảm xúc của NLCTTG hiện tại đang công tác ở ILA VIETNAM
Trang 14NLCTTG cố định, hiện đang làm việc tại 2 chi nhánh
7 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Quan điểm tiếp cận
7.1.1 Quan điểm hoạt động – nhân cách
Giảng dạy tiếng Anh là một hoạt động nghề nghiệp, tự điều chỉnh diễn ra
và hình thành trong quá trình hoạt động của NLCTTG, trong quá trình tương tác giữa NLCTTG và học sinh ở nhiều lứa tuổi khác nhau Hoạt động nghề nghiệp yêu cầu NLCTTG phải có những phẩm chất và năng lực nhất định để đáp ứng được từng yêu cầu của công việc Do đó khi nghiên cứu vấn đề tự điều chỉnh cảm xúc của NLCTTG là nghiên cứu thêm về hoạt động nghề nghiệp và một số đặc điểm nhân cách của NLCTTG
7.1.2 Quan điểm thực tiễn
NLCTTG là người đang làm công tác giáo dục tại trung tâm Anh ngữ, trên từng giờ dạy của NLCTTG phải đảm bảo chất lượng nội dung lý thuyết và thực hành cho học sinh học môn tiếng Anh tại các cơ sở của trung tâm Bản chất công việc luôn đòi hỏi NLCTTG phải có đủ năng lực và phẩm chất đáp ứng với yêu cầu về chất lượng giảng dạy và chất lượng mối quan hệ thân thiện với học sinh của trung tâm ILA Bên cạnh đó, NLCTTG còn là cầu nối với nhiều thành phần nhân sự khác tương tác về công việc với nhau như giáo viên nước ngoài, nhân viên giáo vụ, học sinh các lớp, phụ huynh học sinh và nhân viên của bộ phận khác tại trung tâm Vậy thực tế những yêu cầu nói trên đòi hỏi một NLCTTG phải tự điều chỉnh cảm xúc như thế nào trong các mối quan hệ xung quanh Đó
là vấn đề rất cần được quan tâm để NLCTTG có thể làm tốt công việc của mình tại trung tâm ILA
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Đặt nền tảng nghiên cứu cho đề tài, tác giả cần thực hiện một số nghiên cứu như thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp và trình bày về cảm xúc, về tự điều chỉnh cảm xúc ở NLCTTG
Trang 15Phương pháp nghiên cứu này gồm các giai đoạn như phân tích, tổng hợp,
hệ thống hóa những cơ sở lý thuyết cũng như có sự tham khảo những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước trên cơ sở các công trình đã được công bố, sách báo… nhằm lựa chọn những khái niệm và công cụ nghiên cứu, xây dựng cơ
sở lý luận cho đề tài và định hướng nghiên cứu thực tiễn
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Là phương pháp thu thập dữ liệu từ mẫu đã chọn trong đó sử dụng công cụ chính là bảng hỏi nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu Phương pháp này sử dụng bảng hỏi với một hệ thống câu hỏi được soạn thảo dựa trên mục đích nghiên cứu Trong đó chúng tôi có tham khảo mô hình Trí Tuệ Cảm Xúc Thuần Năng Lực Chỉnh Sửa EI 97 của John D Mayer và Peter Salovey Tham khảo mô hình trí tuệ cảm xúc – xã hội của Bar-On Ngoài ra chúng tôi còn tìm hiểu nghiên cứu của Nadia Garnefski, là tác giả của công cụ đo lường CERQ và CERQ-k cho chiến lược điều chỉnh cảm xúc ở người lớn và trẻ em Thiết kế bảng hỏi với mục đích xác lập trước, tập trung cho việc thu được kết quả nghiên cứu thực trạng tự điều chỉnh cảm xúc của NLCTTG Với nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng bảng hỏi được thiết kế và gởi đến NLCTTG tại ILA Bảng hỏi được phân chia thiết kế theo từng giai đoạn cụ thể như sau:
Lần 1 thực hiện: chuẩn bị và bắt đầu thiết kế bảng hỏi
Lần 2 thực hiện: Phát phiếu và làm thử nghiệm trên 10 NLCTTG, sau đó có những hiệu chỉnh, bổ sung và hoàn thiện hơn bảng hỏi
Lần 3 thực hiện: Khảo sát chính thức với bảng hỏi hoàn thiện
Sử dụng bảng hỏi nhằm khai thác được số liệu cho việc đánh giá, mô tả thực trạng TĐCCX của NLCTTG Sau đó xử lý số liệu dựa trên các công cụ khoa học về thống kê mô tả và đưa ra kết quả kiểm nghiệm phù hợp
7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Tổ chức buổi hẹn với 10 NLCTTG, lấy ý kiến về những yếu tố ảnh hưởng đến TĐCCX của NLCTTG Thu nhận thông tin từ khách thể về việc TĐCCX
Trang 16trong công việc Hỗ trợ cho phương pháp điều tra bằng bảng hỏi có thêm thông tin phân tích thực tiễn đối với TĐCCX của NLCTTG
7.2.2.3 Phương pháp xử lý toán thống kê
Phương pháp sử dụng toán phổ biến với phần mềm hỗ trợ SPSS (Statistical Package for the Social Sciences) Phần mềm dùng để phân tích thống kê mô tả, kiểm định sự tin cậy của thang đo, so sánh độ khác nhau của các biến phân loại, tập hợp kết quả bằng bảng bằng biểu đồ , …
Luận văn sử dụng phối hợp các phương pháp cùng nhau, nhằm đem lại kết quả nghiên cứu thật sự hữu ích và giúp cho NLCTTG tại ILA hiểu xác thật thực trạng tự điều chỉnh cảm xúc của mình trong công việc
Trang 17Chương 1 LÝ LUẬN VỀ TỰ ĐIỀU CHỈNH CẢM XÚC 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu tự điều chỉnh cảm xúc ở nước ngoài
Một số nhà nghiên cứu tâm lý như Daniel Golman, James J Gross, Oliver
P John, John D Mayer, Peter salovey, Reuven Bar-On… nghiên cứu về “Cảm xúc” trên nhiều khía cạnh lý thuyết và ứng dụng khác nhau Trong đó, yếu tố
“điều chỉnh cảm xúc” tạo ra nhiều sự hứng thú và được nghiên cứu lồng ghép ở các chủ đề lớn như trí tuệ cảm xúc, trí tuệ xã hội, giáo dục trí tuệ cảm xúc Luận
văn này xin nêu lên các nghiên cứu có liên quan đến TĐCCX dưới các chủ đề
như trí tuệ cảm xúc, khả năng kiểm soát cảm xúc, điều chỉnh cảm xúc, khảo sát
trí tuệ cảm xúc, phát triển năng lực cảm xúc
- Năm 2002, Ralph Adolphs, Simon Baron-Cohen và Daniel Tranel cùng nghiên cứu đề tài “ Suy giảm nhận thức về cảm xúc xã hội dưới tác động của tổn thương hạch hạnh nhân” (Impaired Recognition of Social Emotions following Amygdala Damage) Các tác giả nghiên cứu nhận thức về những trạng thái biểu hiện cảm xúc khác nhau trên toàn khuôn mặt và chỉ ở vùng mắt, trong đó có liên quan đến những cảm xúc cơ bản (như vui vẻ, giận dữ) và cảm xúc xã hội (như tội lỗi, ngưỡng mộ, thích tán tỉnh) Nghiên cứu chứng minh liệu sự suy giảm nhận thức cảm xúc xã hội xuất hiện dựa vào quá trình nhận diện cả khuôn mặt hay chỉ qua vùng mắt Giả thuyết đặt ra là nhận thức cảm xúc xã hội lệ thuộc vào hạch hạnh nhân Nghiên cứu tiến hành đưa ra các kích thích giống nhau cho 30 chủ thể (16 người tổn thương bên trái, 14 người tổn thương bên phải) Các tác giả còn nghiên cứu thêm 2 trường hợp tổn thương hạch hạnh nhân 2 bên (ở một phụ nữ 34 tuổi mắc chứng không sợ hãi và một người mắc bệnh viêm não gây ra
do virus HSV gây lở loét) Nghiên cứu thực hiện bằng cách sử dụng bộ tranh do Baron-Cohen thiết kế (Baron-Cohen at al ,1997,2001), bao gồm những tranh khuôn mặt thể hiện các dạng cảm xúc cơ bản và phức tạp Khách thể được yêu cầu ráp và nối giữa hình các khuôn mặt và từ vựng chỉ cảm xúc (Ralph Adolphs,
Trang 18Simon Baron-Cohen và Daniel Tranel, 2002) Kết quả thu được là hạch hạnh
nhân của con người chuyên thực hiện những kích thích với những ý nghĩa xã hội phức tạp, có ảnh hưởng đến nhận thức cảm xúc – điều chỉnh cảm xúc của cá nhân So sánh giữa những trường hợp về kiểm soát não và trường hợp có tổn
thương ở hạch hạnh nhân về nhận thức cảm xúc xã hội thì trường hợp người có tổn thương não có biểu hiện suy giảm hơn Họ còn có biểu hiện về sự suy giảm trong nhận thức cảm xúc xã hội hơn so với nhận thức cơ bản Dựa vào 2 hình thức tiến hành tác động vào sự nhận thức cảm xúc (cơ bản và phức tạp) đối với
toàn khuôn mặt và đối với chỉ riêng vùng mắt, nghiên cứu còn cho thấy: chủ thể
có tổn thương hạch hạnh nhân một bên cũng thao tác gần giống với những chủ thể có kiểm soát tổn thương não trong nhận định cảm xúc cơ bản Đối với nhận thức cảm xúc phức tạp thì chủ thể có tổn thương hạch hạnh nhân một/hai bên đều thể hiện kém hơn chủ thể có kiểm soát tổn thương não Qua đó cho thấy thao
tác của tất cả các nhóm chủ thể nhìn trên toàn khuôn mặt với từ vựng chỉ các
cảm xúc phức tạp đều không tốt bằng việc nhận định cảm xúc cơ bản (Ralph Adolphs, Simon Baron-Cohen and Daniel Tranel, 2002)
- Đến năm 2003, Peter Torrerdell và David Holman cùng nghiên cứu đề tài
“Điều chỉnh cảm xúc trong vai trò của dịch vụ khách hàng: đánh giá một mô hình cảm xúc lao động” (Emotion Regulation in Customer Service Roles:
Testing a Model of Emotional Labor) Nghiên cứu trên 18 nhân viên chăm sóc
khách hàng của một trung tâm trả lời điện thoại (13 nữ và 5 nam) trực thuộc 1
ngân hàng tài chính, độ tuổi từ 22 đến 54 Khách thể đánh giá tỷ lệ về điều chỉnh
cảm xúc, về sự kiện xảy ra, về cảm xúc xảy ra và cảm nhận được, về sự hài lòng,
về sự thể hiện trên 537 tình huống Trước khi bắt đầu nghiên cứu khách thể trả lời 2 bảng câu hỏi trên 537 tình huống nhằm đo lường đặc tính trên cá nhân và trên nhóm từ mô hình điều chỉnh cảm xúc Phân tích với nhiều mức độ đã hỗ trợ
nhiều khía cạnh của mô hình nhưng tập trung chủ yếu vào mục tiêu điều chỉnh
cảm xúc cho tổ chức (Peter Torrerdell và David Holman, 2003) Mục đích của
nghiên cứu này là sử dụng mô hình điều chỉnh cảm xúc để khai thác xem nhân
Trang 19viên chăm sóc khách hàng kiểm soát cảm xúc như thế nào thông qua các loại công việc khác nhau suốt một khoảng thời gian; và để xem từ việc điều chỉnh cảm xúc này thì các hệ quả ngay tức thì và ngắn hạn sẽ diễn ra như thế nào Phương pháp được sử dụng là phương pháp theo dõi theo thời gian – viết hồi ký (Peter Torrerdell và David Holman, 2003) Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với cảm xúc trong công việc, khách thể nhìn chung thể hiện cảm xúc tích cực hơn là
họ cảm thấy Trong nghiên cứu này tập trung vào việc khách thể sử dụng sự điều chỉnh cảm xúc như thế nào để tạo ra các biểu hiện cảm xúc cho dù họ có cảm nhận thật sự như thế nào Nhân viên có cảm nhận cảm xúc tích cực hơn khi khách hàng và đồng nghiệp có tâm trạng vui vẻ Nhân viên có điểm số cao ở trí thông minh cảm xúc thì thường có dùng chiến lược tái tập trung tích cực Nhân viên nữ có mức điều chỉnh cảm xúc tiêu cực và hành động bề mặt cao hơn nam (Hochschild, 1983; Parkinson, 1991; Pugh, 2001; Rafaeli & Sutton, 1987, 1990; Sutton, 1991; Tsai, 2001) Nghiên cứu đã đưa ra một số kiến nghị cho tổ chức làm công việc dịch vụ rằng trong các mối quan hệ từ đồng nghiệp và khách hàng trên phương diện cảm xúc lao động thì chính niềm đam mê của cá nhân giúp duy trì tốt đẹp các mối quan hệ cho dù họ có ít khả năng kiểm soát cảm xúc Công
trình nghiên cứu này muốn gởi một thông điệp đến mọi người là điều chỉnh cảm
xúc là nền tảng cốt lõi để hiểu cảm xúc lao động theo hướng tập trung vào nhân viên Tuy là không phải mọi sự điều chỉnh cảm xúc trong công việc đều được
thực hiện trong nhiệm vụ của cảm xúc lao động (Parrott, 1993) (Peter Torrerdell and David Holman, 2003)
- Vào năm 2005, Reuven Bar On là tác giả của mô hình trí tuệ cảm xúc – xã hội (The Bar-On Model of Emotional – Social Intelligence ESI) Mô hình trí tuệ cảm xúc – xã hội đưa ra 5 thành tố chính yếu như: (1) khả năng nhận ra, hiểu được, diễn đạt được cảm xúc, (2) khả năng hiểu người khác đang cảm nhận như
thế nào và kết nối với người khác, (3) khả năng kiểm soát và điều khiển cảm xúc,
(4) khả năng tiếp ứng những thay đổi, điều chỉnh và giải quyết những vấn đề của
cá nhân và của những việc mang bản chất xã hội, (5) khả năng tạo lập cảm xúc
Trang 20tích cực và tự tạo động lực Xuất phát từ nghiên cứu về mô hình trí tuệ cảm xúc – xã hội của Bar-On, một công cụ đo lường được phát triển, gọi là EQ-i Đây là công cụ đo tự thuật về hành vi trí tuệ cảm xúc và xã hội nhằm ước lượng trí tuệ cảm xúc – xã hội (Reuven Bar-On, 2005) Bar-On đã cho ứng dụng mô hình và thang đo EQ-i trên nhiều cuộc nghiên cứu ở khoảng 22,971 người của 7 quốc gia trên toàn thế giới Thang đo EQ-i được áp dụng theo 4 hướng nghiên cứu chính: sức khỏe thể chất, tương tác xã hội ở trường học, tương tác xã hội ở nơi công sở,
sự hài lòng của cá nhân (Bar-On, 1997b, 2001, 2003, 2004, 2005; Bar-On, et al., 2005; Krivoy et al., 2000) Nghiên cứu của nhiều tác giả sau đây được nêu lên
trong luận văn này bởi vì có liên quan đến nhân tố khả năng kiểm soát và điều
khiển cảm xúc, là yếu tố đóng góp quan trọng cho thang đo EQ-i, cụ thể như sau:
Bar-On tiến hành một nghiên cứu đối với 448 sinh viên đại học ở Nam
Mỹ Kết quả từ ESI cho thấy có sự khác biệt giữa sinh viên thành công và không thành công trong học tập (Swart, 1996) Nghiên cứu này cho thấy sinh viên nào càng thành công trên giảng đường thì sinh viên đó mạnh về trí tuệ cảm xúc – xã
hội hơn Đặc biệt hơn là khả năng quản lý cảm xúc của cá nhân, khả năng có thể
đánh giá cảm giác và giải quyết vấn đề đều là yếu tố quan trọng giúp cá nhân thành công trong học vấn (Bar-On, 1997)
James Parker và cộng sự đã nghiên cứu và phân tích 667 học sinh trung học phổ thông người Canada, kết quả cho thấy có sự quan hệ ở mức vừa giữa ESI và sự thể hiện ở mặt học thuật Điều này có nghĩa là có ít nhất 17% sự thể hiện ở mặt học thuật có liên quan đến chức năng của trí tuệ cảm xúc – xã hội
Mô hình Bar-On còn có thể xác định những học sinh nào thể hiện tốt ở học thuật
và cả những học sinh nào có khó khăn ở học thuật (James Parker, 2004)
Một nghiên cứu của Bar -On có dùng thang đo EQ-i trên mẫu cỡ 2,514 lính mới tại lực lượng phòng vệ Do Thái, họ được thực hiện trắc nghiệm EQ-i Khách thể chia làm các nhóm có hồ sơ sức khỏe ổn định, hơi có vấn đề sức khỏe Kết luận chung qua các nghiên cứu trên cho thấy: khả năng tự nhận thức của bản
thân, khả năng quản lý cảm xúc và căng thẳng, khả năng giải quyết vấn đề của
Trang 21cá nhân, khả năng duy trì sự lạc quan là những thành tố có liên quan về mặt ý nghĩa thống kê với sức khỏe thể chất của chúng ta Lực lượng lính mới được tuyển dụng thuận lợi nhờ có sự áp dụng thang đo EQ-i (Reuven Bar-On, 2005)
Từ những nghiên cứu trên của Bar-On và các đồng nghiệp đã nói lên rằng
sự đóng góp hữu ích của ESI và thang đo EQ-i đối với lĩnh vực nghề nghiệp là khả năng nhận thức và chấp nhận bản thân, là khả năng quan tâm đến cảm nhận/
bận tâm/ nhu cầu của người khác, là khả năng quản lý cảm xúc, là khả năng sắp
xếp hợp lý với thực tế, là khả năng sắp đặt tích cực (Reuven Bar-On, 2005)
- Đến năm 2006, tác giả Nadia Garnefski và cộng sự nghiên cứu đề tài
“Chiến lược điều chỉnh cảm xúc ở mặt nhận thức và những vấn đề liên quan đến
cảm xúc ở trẻ em từ 9-11 tuổi - Sự phát triển một công cụ” (Cognitive emotion regulation strategies and emotion problems in 9-11 –year-old children - The development of an instrument) (Nadia Garnefski, Carolien Rieffe, Francine Jellesma, Mark Meerum Terwogt, Vivian Kraaij, 2006) Nghiên cứu này tập trung vào đo lường sự lo buồn, nổi sợ, sự lo lắng của trẻ em ở các trường tiểu học Mục đích nghiên cứu này là phát triển công cụ đo lường điều chỉnh nhận thức cảm xúc CERQ-k của trẻ 9-11 tuổi từ công cụ CERQ trước đó bằng cách cải thiện sự diễn đạt lại để áp dụng cho trẻ em, đồng thời kiểm tra một số đặc điểm đo lường tâm lý bằng cách đo lường sự nhất quán nội tại của 9 tiểu thang
đo Tham gia nghiên cứu là 717 trẻ em (394 bé trai, 323 bé gái), 9 đến 11 tuổi, từ
11 trường tiểu học công ở một thị trấn của Hà Lan (Nadia Garnefski, Carolien Rieffe, Francine Jellesma, Mark Meerum Terwogt, Vivian Kraaij, 2006) Phương pháp sử dụng công cụ thang đo nhận thức cảm xúc CERQ-k Các em được hướng dẫn điền các bảng hỏi khảo sát trong giờ học chính thức ở trường Kết quả từ nghiên cứu cho thấy phần lớn trẻ dùng chiến lược nhận thức suy nghĩ
về nhận định trong tương lai và lên kế hoạch nhưng trẻ ít dùng chiến lược tự trách/ trách người khác và suy nghĩ bi kịch So sánh giữa các chiến lược điều chỉnh cảm xúc ở mặt nhận thức và các vấn đề cảm xúc ở trẻ thì nếu trẻ càng sử dụng nhiều chiến lược như tự trách/ trách người khác/ suy nghĩ bi kịch thì trẻ
Trang 22càng dễ bộc lộ triệu chứng của cảm xúc lo buồn Nếu trẻ sử dụng nhiều chiến lược “nhận định mới” thì những triệu chứng của các vấn đề cảm xúc dần giảm bớt Ngoài ra, theo giới tính thì các bé gái thường có biểu hiện lo sợ và lo lắng nhiều hơn bé trai (Nadia Garnefski, Carolien Rieffe, Francine Jellesma, Mark Meerum Terwogt, Vivian Kraaij, 2006)
- Vào năm 2019, JeannineTurner và Margareta Thomson nghiên cứu trên giáo viên với đề tài “Vai trò của cảm xúc đối với các buổi tập huấn nghề cho giáo viên: tham gia chương trình trải nghiệm nghiên cứu cho giáo viên (RET)” (The Role of Emotions in Teachers’ Professional Development: Attending a Research Experience for Teachers (RET) Program) (Margareta M Thomson và
Jeannine E Turner, 2019) Đây là nghiên cứu về cảm xúc, động cơ, thay đổi
trong công tác dạy học ở lớp của giáo viên, trong đó có sự ảnh hưởng từ chương trình tập huấn nghề vào mùa hè cho giáo viên trong 6 tuần- (PD – Professional Development – buổi tập huấn cho giáo viên) Cuộc điều tra tiến hành trên giáo viên, những người có tham gia vào chương trình RET (chương trình trải nghiệm nghiên cứu cho giáo viên), tại Mỹ Tham gia nghiên cứu này gồm có 52 nữ và 15 nam Khách thể chia làm 2 nhóm, nhóm giáo viên tiểu học (51%), nhóm giáo viên THCS –THPT (49%) (Margareta M Thomson và Jeannine E Turner,
2019) Mục đích nghiên cứu này là điều tra những cảm xúc nảy sinh ở giáo viên,
có sự kết nối với động cơ và sự trải nghiệm của giáo viên dưới sự giúp đỡ của
PD (Margareta M Thomson và Jeannine E Turner, 2019) Giáo viên được yêu cầu làm khảo sát trên mạng và phỏng vấn qua điện thoại về các trải nghiệm tham gia chương trình Cả hai nhóm khách thể đều cảm thấy tự tin hơn so với trước khi tham gia chương trình Những giáo viên mô tả cảm xúc tích cực về RET trước khi tham gia cũng giữ mức cảm xúc tích cực như vậy sau khi tham gia Nhóm giáo viên cấp học lớn tự tin hơn so với cấp học nhỏ khi tham gia chương trình Giáo viên có cảm xúc tích cực có được nhiều sự thay đổi tốt hơn cho dạy
học Do vậy cho thấy cảm xúc đóng vai trò quan trọng cho sự tham gia của giáo
viên vào chương trình RET, đồng thời nó cũng làm thay đổi tư duy và cách thức
Trang 23dạy học có nghiên cứu khoa học Từ nghiên cứu đã chỉ ra mối tương quan giữa cảm xúc và động cơ đối với trải nghiệm từ buổi tập huấn, và cách dạy học đã có
sự điều chỉnh (Margareta M Thomson và Jeannine E Turner, 2019)
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu tự điều chỉnh cảm xúc ở trong nước
Việt Nam cũng có những tác giả nghiên cứu trên đề tài cảm xúc như trí tuệ cảm xúc, biểu hiện cảm xúc, ứng dụng cảm xúc trên các lĩnh vực Luận văn xin nêu lên các nghiên cứu khác nhau về chủ đề cảm xúc như khảo sát trí tuệ cảm xúc (trong đó khả năng kiểm soát và điều khiển cảm xúc là một trong 5 thành tố
của mô hình trí tuệ cảm xúc), điều chỉnh cảm xúc, phát triển năng lực cảm xúc
- Năm 2009, tác giả Đỗ Thị Nga – trường Cao đẳng Sư phạm Bình Phước-
đã nghiên cứu đề tài “Đặc điểm trí tuệ cảm xúc của sinh viên Sư phạm mầm non” (Trường hợp nghiên cứu sinh viên hệ Trung học Sư phạm mầm non khối K10 trường Cao Đẳng Sư Phạm Bình Phước năm 2008) (Đỗ Thị Nga, 2009) Tác giả đặt vấn đề cho công trình nghiên cứu là người giáo viên mầm non có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức điều khiển các dạng hoạt động như vui chơi, học tập, lao động tự phục vụ, … Thông qua đó giáo viên có thể giáo dục xúc cảm và hình thành trí tuệ cảm xúc cho trẻ mầm non (Đỗ Thị Nga, 2009) Tác giả điều tra trên 113 sinh viên nữ khóa 10 ngành Sư phạm Mầm Non Tác giả sử dụng công cụ trắc nghiệm Trí Tuệ Cảm Xúc (Self Scoring Emotional Intelligence Tests) của Daniel Goleman Với công cụ này tác giả phân tích các đặc điểm của trí tuệ cảm xúc như (1) khả năng nhận biết các xúc cảm bản thân ở các sinh viên, (2) khả năng phản ứng một cách độc lập đối với các xúc cảm của bản thân ở sinh viên, (3) biểu hiện cách sống hướng nội hay hướng ngoại của sinh viên Kết quả, cho thấy có rất ít sinh viên xếp loại cao và thấp cho mức độ biểu hiện khả năng nhận biết và thấu hiểu các xúc cảm bản thân Phần lớn sinh viên cho kết quả ở mức độ biểu hiện trung bình, chiếm 87,3% Đối với khả năng phản ứng một cách độc lập đối với các cảm xúc của bản thân ở sinh viên, cũng cho thấy sinh viên biểu hiện ở mức trung bình, chiếm tỷ lệ 91,8% Ở đặc điểm thứ ba cho thấy, không nhiều sinh viên có biểu hiện khả năng sống hướng ngoại
Trang 24cao Sinh viên có biểu hiện kiểu sống hướng ngoại ở mức độ trung bình Vì vậy các em thường mang tính rụt rè, không tin tưởng vào chính mình và khó có được những phản ứng xúc cảm mang tính trí tuệ (Đỗ Thị Nga, 2009).
- Đến năm 2012, trên tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm TPHCM, tác giả Trần Thị Thu Mai và tác giả Lê Thị Ngọc Thương đã nghiên cứu đề tài “Khả năng kiểm soát cảm xúc của học sinh ở một số trường trung học phổ thông tại
Các tác giả cùng nghiên cứu và phân tích mức độ kiểm
thành phố Hồ Chí Minh”
soát cảm xúc của học sinh trung học phổ thông Trong đó có phân tích các yếu tố
ảnh hưởng đồng thời thực hiện những biện pháp thử nghiệm nhằm giúp học sinh kiểm soát cảm xúc của mình Trong nghiên cứu này các tác giả tập trung thu thập
dữ liệu vào các khía cạnh nghiên cứu như khả năng kiểm soát cảm xúc của học sinh ở các loại cảm xúc xấu hổ/sợ hãi/giận dữ; mức độ kiểm soát cảm xúc giận dữ/xấu hổ/sợ hãi thông qua các nhóm biểu hiện; mức độ biểu hiện giải tỏa cảm xúc của học sinh qua các nhóm biểu hiện; khả năng kiểm soát cảm xúc của người khác; khả năng kiểm soát cảm xúc theo yếu tố khối lớp, giới tính, hệ học;
sự khác biệt ý nghĩa về khả năng kiểm soát cảm xúc giận dữ/sợ hãi/xấu hổ theo các yếu tố khối lớp, hệ học; tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến khả năng kiểm soát cảm xúc của học sinh thông qua các nhóm yếu tố Khách thể gồm có 360 học sinh (148 nam và 212 nữ) khối lớp 10 và 11 của 2 trường công lập và 2 trường dân lập tại TPHCM Sau khi tiến hành các bước nghiên cứu, kết quả cụ thể theo nhóm biểu hiện như sau: Nhóm hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp công kích và nhóm hành vi dịch chuyển sự công kích, hầu hết học sinh kiểm soát
ở mức khá Nhóm biện pháp kiểm soát cảm xúc và nhóm biểu hiện đáp trả không mang tính công kích, học sinh kiểm soát ở mức trung bình Nhóm biểu hiện tổ chức mô và cơ quan nội tiết và nhóm giọng nói, học sinh thể hiện mức dao động
từ trung bình đến khá Nhóm biểu hiện về khả năng kiểm soát của người khác, học sinh kiểm soát ở mức trung bình
Từ kết quả nghiên cứu, các tác giả đã đưa ra biện pháp kiểm soát tích cực đối với cảm xúc giận dữ Sau khi thử nghiệm biện pháp này, nhận thấy học sinh
Trang 25có những bước tiến đáng kể trong việc nhận ra những suy nghĩ tự phát mang tính
tiêu cực, nhận thức sai lệch, niềm tin chưa hợp lý, để từ đó tự điều chỉnh cảm xúc
trong cuộc sống Ngoài ra các tác giả còn đề xuất một số ý kiến nhằm mang lại hiệu quả trong việc giáo dục, rèn luyện khả năng kiểm soát cảm xúc của học sinh, xuất phát từ phía bản thân học sinh, từ gia đình, từ trường học – tổ chức Tâm lý học đường, từ những chuyên viên Tâm lý học đường (Trần Thị Thu Mai
là khác nhau Trí tuệ cảm xúc của sinh viên chịu sự ảnh hưởng từ yếu tố chủ quan và cả khách quan Trong đó nguyên nhân từ việc giáo dục của gia đình có ảnh hưởng mạnh nhất, kế đến là nguyên nhân từ nhu cầu nâng cao trí tuệ cảm xúc và nguyên nhân từ hoàn cảnh sống của sinh viên (Trần Thị Thu Mai, 2013)
Trang 26- Năm 2013, tác giả Võ Thị Tường Vy đã nghiên cứu thực trạng điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn Tâm lý ở TPHCM Nghiên cứu tiến hành thông
qua mô tả trải nghiệm xúc cảm và các diễn biến xúc cảm cũng như cách điều
chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn Tâm lý Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
này là mô tả thực trạng điều chỉnh xúc cảm của người làm tham vấn Tâm lý ở TPHCM Cùng tham gia hỗ trợ nghiên cứu có 75 người làm công tác tham vấn tại TPHCM Phương pháp sử dụng là dùng bảng hỏi nhằm đánh giá mức độ điều chỉnh xúc cảm trên tiêu chí nhận thức và hành vi điều chỉnh xúc cảm Tác giả thu thập dữ liệu tập trung vào 6 xúc cảm như lo lắng, buồn, bực bội, sợ hãi, thất vọng, bối rối và một dạng khác là xúc cảm không mong muốn Nghiên cứu cho thấy loại xúc cảm “lo lắng, buồn, bực bội, bối rối” là loại mà các nhà tham vấn tâm lý thường trải nghiệm trong công việc Trong đó xúc cảm lo lắng được biểu hiện thường xuyên nhất, rồi đến xúc cảm buồn và bối rối Đối với xúc cảm không mong muốn, nhà tham vấn thường xử lý bằng cách nghĩ tới vai trò của mình và cố gắng tách mình ra khỏi nỗi buồn để có thể suy nghĩ vấn đề của thân chủ theo một cách chuyên nghiệp nhất; hoặc là nhà tham vấn cố gắng chú ý cao
độ đến vấn đề của thân chủ để mình không bị cuốn theo xúc cảm không mong muốn xảy ra Ngoài ra, nhà tham vấn cần đến sự hỗ trợ của người giám sát để sự việc không ảnh hưởng đến quyền lợi của thân chủ Nhìn chung người làm công tác tham vấn phải biết điều chỉnh xúc cảm của mình nhưng nhiều trường hợp họ không thể tự xoay sở với xúc cảm không mong muốn mà họ phải có sự hỗ trợ của các buổi giám sát Như vậy họ mới có thể làm chủ được xúc cảm và suy nghĩ
để luôn ở thế chủ động trong công tác của mình (Võ Thị Tường Vy, 2013)
Các tác giả trên đã thu được nhiều kết quả nghiên cứu trên cảm xúc và TĐCCX Quả thật TĐCCX đem lại nhiều hữu ích, có ý nghĩa lớn cho công việc của chúng ta ở nhiều lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên TĐCCX là một khái niệm còn rất xa lạ ở NLCTTG tại ILA nên chúng tôi mong rằng ở nghiên cứu này sẽ đem lại một bài học hữu hiệu cho NLCTTG thông qua sự học hỏi từ những nghiên cứu trên
Trang 271.2 Cơ sở lý luận nghiên cứu về tự điều chỉnh cảm xúc
1.2.1 Khái niệm cơ bản
sợ hãi, chấp nhận–ghê tởm, ngạc nhiên–mong chờ Sự pha trộn như vậy được gọi
là bắt cặp đôi Chúng ta có thể tiếp tục cách này và đếm cho hàng trăm thuật ngữ chỉ cảm xúc bằng cách pha trộn hai hoặc nhiều cảm xúc lại với mức độ và cường
độ khác nhau Ví dụ niềm vui và chấp nhận được pha thành cảm xúc yêu thương, ghê tởm và giận dữ thành hận hay thù địch (Robert Plutchik, 2001)
Cảm xúc thể hiện sự đồng cảm (Empathy)
Theo nhận định của Bariso ta thấy, Nhà tâm lí học E.B Tichener đã đặt ra thuật ngữ đồng cảm vào năm 1920, để chỉ sự “cảm nhận bên trong”, một thuật
Trang 28ngữ mà các nhà lý thuyết dùng để chỉ năng lực nhận biết kinh nghiệm chủ quan của người khác Theo lý thuyết của Titchener đồng cảm bắt nguồn từ kiểu bắt chước cảm xúc thể chất của người khác, sự bắt chước mà sau đó gợi lên chính cảm xúc của bản thân mình
Cảm xúc thể hiện sự thấu cảm (Sympathy)
Paul Ekman cho rằng thấu cảm vượt lên cả khả năng thấu hiểu và chia sẻ cảm xúc với người khác, nó thật sự thôi thúc chúng ta hành động, cố gắng giúp
đỡ hết mức trong khả năng cho phép của bản thân (Bariso, 2018)
Nghiên cứu nêu lên đặc điểm “tính lây lan cảm xúc” (Emotional Contagion) vì nó phù hợp với NLCTTG Sự lây lan cảm xúc là khuynh hướng tự động bắt chước và đồng bộ về sự biểu lộ của nét mặt, về giọng nói, về điệu bộ và
sự di chuyển từ một người khác bởi thế chúng ta có cùng chung cảm xúc Việc lây lan cảm xúc này tương đối tự động, không có chủ tâm, không thể kiểm soát, phần lớn không có sự nhận biết quen thuộc (Elaine Hatfield, John T Cacioppo and Richard L Rapson, 1994) Chúng ta phát và thu nhận cảm xúc như sự trao đổi ngầm về tâm lý, được thực hiện ở mức độ tinh tế và không thể cảm nhận được Ví dụ một người bán hàng cho chúng ta ấn tượng là họ chẳng biết gì về ta, chẳng ưa thích gì chúng ta, hoặc họ rất quý trọng chúng ta (Daniel Goleman, 2007)
Cơ chế của lây lan cảm xúc
- Cơ chế truyền cảm xúc là việc xử lý thông tin có ý thức
Cá nhân tưởng tượng ra họ cảm thấy như thế nào khi đặt mình ở vị trí của người khác và sau đó chia sẻ cảm nhận của họ (Bandura, 1969; Stotland, 1969)
Cơ chế này được xem là quyết định đặc biệt đối với sự lây lan cảm xúc khi cá nhân yêu thương, yêu thích, chia sẻ mục tiêu của mình (Elaine Hatfield, John T Cacioppo và Richard L Rapson, 1994)
- Cơ chế những phản ứng cảm xúc có ý thức và không có ý thức
Ví dụ, nếu một người cha có thói quen đánh con khi đi làm về trong điều kiện thời tiết nóng bức, người mệt mỏi, buồn bực thì ngay lập tức dấu hiệu lên
Trang 29cơn cáu gắt của người cha sẽ dẫn đến sự kinh sợ của đứa con (Justin Aronfreed, 1970) Nổi giận làm cho những đứa con nổi cơn thịnh nộ theo (đó là sự lây lan cảm xúc cơ bản) Khi người cha say rượu nổi giận mà làm cho các con cảm thấy
sợ hãi (đó là sự lây lan tiêu cực hoặc bổ túc cho nhau) Nếu người cha say rượu nổi giận và các con biểu lộ cảm xúc sợ chung chung, cảm giác là có cái gì đó không ổn (phản ứng này nói lên cả người cha và các con đều cảm nhận tiêu cực, nhưng cảm xúc không bổ túc cho nhau) Thông qua việc tổng hợp các tác nhân kích thích thì đứa con có thể cảm thấy sợ hãi đối với những ai mà nó thấy có dấu hiệu nổi giận Cảm xúc từ một người nào đó truyền đến có thể kích hoạt những phản ứng cảm xúc không điều kiện Mặc dù một số người có để ý đến tác nhân kích thích cảm xúc có điều kiện hay không điều kiện và những ảnh hưởng của nó nhưng cũng có người hoàn toàn phớt lờ kích thích gây ra và họ trở nên không đủ sức chống chọi lại sức mạnh toát ra từ cảm xúc Ví dụ, những dấu hiệu biểu hiện trên khuôn mặt, điệu bộ cùng với sự di chuyển cứng đơ, giọng nói lanh lảnh, âm thanh to tiếng có thể kích hoạt những cảm xúc tương tự ở người đang nhìn thấy
nó (Elaine Hatfield, John T Cacioppo và Richard L Rapson 1994)
- Cơ chế bắt chước/ đồng bộ
Cơ chế này cho chúng ta thấy sự lây lan cảm xúc xảy ra như thế nào thông qua ba mệnh đề như sau:
Mệnh đề 1: Trong cuộc đối thoại con người thường có khuynh hướng bắt
chước một cách tự động và đồng bộ hóa những cử động với biểu hiện của nét mặt/giọng nói/điệu bộ/sự di chuyển và những hành vi có mục đích khác Bắt chước và đồng bộ là những ảnh hưởng cơ bản và phổ biến trong những tương tác
xã hội Ví dụ, tại một bữa ăn, khi một người với lấy lọ muối thì nhiều người khác tại bàn ăn rướn để lấy ly nước, lọ muối, khăn ăn Chúng ta không ý thức được mình đang đồng bộ hóa hành động với người khác, mọi hành động xảy ra một cách tự động (Elaine Hatfield, John T Cacioppo và Richard L Rapson, 1994)
Mệnh đề 2: Sự kích hoạt và sự phản hồi từ việc bắt chước (nét mặt/âm
thanh/điệu bộ/cử động) có ảnh hưởng từng khoảnh khắc đến việc trải nghiệm
Trang 30cảm xúc cá nhân Trải nghiệm cảm xúc của cá nhân có thể bị ảnh hưởng từ các yếu tố như (1) những mệnh lệnh của hệ thần kinh trung ương điều khiển sự bắt chước/đồng bộ; (2) những phản hồi hướng tâm từ sự bắt chước nét mặt/lời nói/điệu bộ/chuyển động; (3) quá trình tự nhận thức mà qua đó mỗi cá nhân rút
ra cho mình những trạng thái cảm xúc của riêng mình dựa vào sự biểu hiện cảm xúc và hành vi được khơi gợi lên từ trạng thái cảm xúc của người khác (Adelmann & Zajonc, 1989; Izard, 1971; Laird, 1984; Tomkins, 1963) (Elaine Hatfield, John T Cacioppo và Richard L Rapson, 1994)
Mệnh đề 3: Sau khi đã trải qua giai đoạn của hai mệnh đề trên thì con người
có khuynh hướng “bắt” cảm xúc của người khác trong từng khoảnh khoắc Từ góc độ xem xét những phản ứng của nhà trị liệu đối với thân chủ, Sigmund Freud đã rất cẩn thận trong việc nhắc nhở rằng các nhà trị liệu (NTL) cần giữ khoảng cách cảm xúc với thân chủ NTL thường hay bắt các cảm giác của thân chủ Họ cảm thấy khó khăn hơn khi làm việc với thân chủ có lo âu, những người hay cúi đầu xuống, giao tiếp bằng từng câu một một cách chậm rãi, có biểu lộ cảm xúc buồn rầu, biểu hiện thất vọng, làm cho người khác cảm thấy buồn ngủ Điều này làm cho chúng ta thấy khó tập trung và không đủ kiên nhẫn để giúp đỡ Trong trị liệu tâm lý, thậm chí bác sĩ có muốn tách mình hoàn toàn ra khỏi những nội dung cảm xúc của bệnh nhân nhưng một sự thật là bệnh nhân có những cảm xúc của họ và nó có tác động đến bác sĩ Bác sĩ không thể làm gì hơn
là trở nên có ý thức đối với sự tác động này Frieda Fromm-Reichmann đã có một đề nghị khác cho các NTL trẻ là nếu như họ không thể biết chắc thân chủ đang cảm giác như thế nào thì hãy chủ động bắt chước những biểu hiện vật lý và điệu bộ của thân chủ nhằm đi vào bên trong suy nghĩ và cảm nhận vô thức của thân chủ (Elaine Hatfield, John T Cacioppo và Rochard L Rapson, 1994)
c Chức năng của cảm xúc
Andrea Bacon và Ali Dawson nêu lên một số chức năng như sau:
- Cảm xúc tạo nên ý nghĩa của sự việc Hành động của chúng ta không mang tính tự phát, cứng nhắc trước những sự việc xung quanh mà có thể kiểm
Trang 31soát được phản ứng của bản thân Từ đó chúng ta có động lực và đam mê để theo đuổi mục tiêu khát vọng của mình (Andrea Bacon và Ali Dawson, 2019)
- Cảm xúc giúp chúng ta ứng xử đúng mực trong những tình huống gặp phải (Andrea Bacon và Ali Dawson, 2019)
- Cảm xúc rất cần thiết cho việc thu nhận kiến thức và hình thành ký ức Cảm xúc thôi thúc chúng ta tìm tòi những tri thức mới và nỗ lực đạt được những kết quả tốt nhất, đồng thời cảm xúc giúp chúng ta tránh những căng thẳng và những mối nguy hại (Andrea Bacon và Ali Dawson, 2019)
- Cảm xúc là chìa khóa giúp chúng ta hòa nhập trong các mối quan hệ xã hội Thông qua giọng nói, nét mặt, cử chỉ cơ thể chúng ta có thể truyền đạt suy nghĩ và cảm xúc đến mọi người Mối liên kết mật thiết giữa nét biểu cảm trên gương mặt với việc biểu lộ cảm xúc luôn luôn tồn tại ở bất ký nơi nào trên thế giới và trong bất kỳ một nền văn hóa nào (Andrea Bacon và Ali Dawson, 2019)
- Cảm xúc giúp chúng ta đạt được mục đích của cuộc đàm phán, dù là nhằm thỏa mãn quyền lợi của cá nhân hay để cải thiện mối quan hệ đang trên đà lung lây (Roger Fisher và Daniel Shapiro, 2019)
d Quá trình hình thành cảm xúc
Robb O Stanley và Graham D Burrows đã viết rất chi tiết nhằm giúp đọc giả thấy rõ quá trình cảm xúc được tạo ra như thế nào Các giai đoạn của quá trình hình thành cảm xúc như sau: Nhận ra sự việc Thay đổi ở sự kích thích căn bản (hướng đến và chuẩn bị đáp trả) Đánh giá điều ý nghĩa của sự việc (Sự diễn giải) Phản hồi cảm xúc phù hợp với sự diễn giảiTrải nghiệm cảm xúc chủ quanThay đổi ở động cơ Hành vi mang tính thúc đẩy Đánh giá lần hai về ý nghĩa của phản hồi (Robb O Stanley và Graham D Burrows, 2001) Richard S Lazarus phân chia quá trình cảm xúc theo 4 giai đoạn Đó là giai đoạn dự đoán trước (The Anticipation), giai đoạn kích hoạt (The Provocation), giai đoạn khám phá (The Unfolding), giai đoạn kết luận (The Outcome)
- Giai đoạn dự đoán trước: Việc có được một sự dự đoán trước về điều gì
Trang 32đó gây ra nguy hại hoặc có lợi cho chúng ta được xem như là một công cụ nhằm giúp chúng ta có sự chuẩn bị cho dự đoán này, giúp chúng ta đưa ra sự thay đổi hoặc cải thiện những điều bất lợi cho mình Khi chúng ta dự đoán việc xảy ra trong tương lai thì sẽ hình thành nên sự mong đợi Sự mong đợi này xuất phát từ
lý thuyết mối liên hệ nhận thức – động cơ, hay từ niềm tin, nó được xem như là những nhân tố tác động nguyên nhân tiền đề trong những phản hồi cảm xúc Ví
dụ những sự mong đợi tích cực sau khi dự đoán làm tăng thêm những thất vọng
có thể có và vì vậy chúng ta hay buồn hoặc giận dữ Trong khi những mong đợi kết quả mang tính tiêu cực đôi khi lại đem về kết quả tích cực (ví dụ chúng ta hay nói là đáng lẻ là nó tệ lắm), hoặc mong đợi mang tính tích cực nhưng đem lại kết quả tiêu cực (chúng ta hay nói là lẻ ra nó phải diễn ra tốt hơn nữa) Lo âu được xem là cảm xúc dự đoán bởi vì nó phản hồi lại những gì không tốt sẽ xảy ra trong tương lai Sự khuây khỏa được xem là cảm xúc kết luận bởi vì nó lệ thuộc vào những gì xảy ra tốt hơn mong đợi Chúng ta hay có cảm xúc buồn trước chỉ bởi vì chúng ta dự đoán là có chuyện gì đó không hay sẽ xảy ra, sau đó chúng ta cảm thấy giận dữ vì những gì chúng ta tưởng tượng sẽ xảy ra Những hành động
và tình huống mà chúng ta đặt bản thân mình vào bị ảnh hưởng rất nhiều từ phản
xạ dự đoán đối với những chạm chán với sự việc hơn là từ những phản ứng cảm xúc mạnh hiện tại (Richard S Lazarus, 1991)
- Giai đoạn kích hoạt: Liên quan đến việc cá nhân đánh giá có thay đổi về mối liên hệ giữa con người và môi trường theo hướng hoặc có hại hoặc có lợi Cũng liên quan đến việc cá nhân không thể thay đổi mối quan hệ không tốt đang tồn tại, mối quan hệ tốt đang có nguy cơ mất đi, hoặc dự đoán những điều yêu thích không yêu thích trong tương lai Bản thân sự việc bên ngoài hay bên trong không gây ra sự kích hoạt cảm xúc trừ khi nó cho thấy có sự thay đổi có ý nghĩa trong mối quan hệ giữa cá nhân và môi trường theo hướng tốt hay không tốt Ví
dụ, một lời nói xấu chưa thể kích hoạt nên cơn giận cho một người khác trừ khi người này nhìn nhận lời lăng mạ này thật sự là nghiêm trọng, mang tính hủy hoại Do vậy, sự kích hoạt một cảm xúc bắt đầu khi có sự đánh giá của chủ thể
Trang 33trong bối cảnh đặc tính nhân cách của người đó, điều kiện xã hội xung quanh người đó trong hiện tại Cảm xúc còn được biết đến do sự kích hoạt từ những ký
ức hoặc tình huống cảm xúc xảy ra trước kia Một ký ức của trải nghiệm cảm xúc được cấu trúc lại mỗi lần nó được kích hoạt Trước tiên là do khi chúng ta trưởng thành lên thì những kiểu mẫu cố định đã được định hình và vì vậy sự tái cấu trúc trong quá khứ có khuynh hướng thay đổi Tiếp theo, chúng ta cần xem xét ngữ cảnh có điều chỉnh trong đó cảm xúc được kích hoạt Vô số vấn đề tồn đọng liên quan đến 2 khía cạnh tạo nên cảm xúc, là sự việc hiện tại và ký ức Sự việc làm nảy sinh cảm xúc có thể đến từ sự lặp lại những vấn đề có liên quan với nhau và những thành công trong quá khứ mà điều đó nó giữ vị trí quan trọng đối với cá nhân hơn những người xung quanh, điều đó nó còn liên quan đến chủ đề điều chỉnh cơ bản như được yêu thương, bị loại bỏ, có quyền lực hoặc yếu thế, thất bại hay thành công (Breger, Hunter, & Lane, 1971; Horowitz, 1976) Hầu hết chúng ta nhận định các sự việc đều là mới mẻ, tuy nhiên theo giản đồ chung của cá nhân sẽ quyết định xem là sự đánh giá sự việc tương tự hay khác nhau và sau đó đưa ra chiến lược điều chỉnh (Richard S Lazarus, 1991)
- Giai đoạn khám phá: Giai đoạn này thể hiện ở sự tương tác cảm xúc giữa hai bên Khi một người (A) bắt đầu nảy sinh cảm xúc (ví dụ như giận dữ) thì sẽ truyền cái cảm xúc này cho người khác (B) B sẽ có phản ứng cảm xúc lại với A theo các dạng như vui , tội lỗi, xấu hổ, giận dữ, hoặc cảm xúc khác nữa Khi B biểu hiện cảm xúc bằng lời hay hành động thì đến lượt A đưa ra những phản hồi lại với những biểu hiện nhìn thấy được từ B, tương tác tiếp tục cho đến khi sự nảy sinh cảm xúc kết thúc hoặc một trong hai bên rời bỏ tình huống sau khi đã
có sự giải quyết Phản ứng của B đối với nổi sợ đã đưa ra cách điều chỉnh là không chú ý đến hoặc giả vờ không chú ý đến Cách mỗi bên phản ứng và để lại cảm xúc cuối cùng là tùy thuộc vào sự diễn ra của sự việc, vào mục đích và niềm tin riêng của mỗi bên Thậm chí phản ứng của B là không rõ ràng, không tương thích, không chú ý thì A cũng tự có phản ứng với hành động và cảm xúc của mình Sự nảy sinh cảm xúc là sự kiện khám phá thông qua quá trình nhận thức,
Trang 34động cơ, cảm xúc, đối phó phức tạp, thoáng qua nhằm tạo ra sự thay đổi cho mối quan hệ giữa cá nhân – con người ở từng cá thể (Richard S Lazarus, 1991)
- Giai đoạn kết luận: Đi đến kết luận cho sự việc nảy sinh cảm xúc là sự rút kết từ trạng thái cảm xúc phản ánh chúng ta đánh giá như thế nào sự việc xảy ra trên quan điểm của chúng ta về hạnh phúc Sự hiện diện của cảm xúc dựa trên những mục tiêu, những mong đợi của chúng ta có nhận ra hay không và nhận ra theo cách nào Người quan sát cho chúng ta thấy lý do từ những phản ứng cảm xúc theo suốt quá trình dẫn đến sự hình thành cảm xúc, ngược lại nếu chúng ta bắt đầu từ nhân tố thúc đẩy quá trình cảm xúc thì chúng ta có thể giải thích hoặc
dự đoán được những phản ứng cảm xúc Sự nảy sinh cảm xúc tạm thời sẽ kết thúc hoặc nó chuyển sang nhiệm vụ khác Còn có chủ đề tái hiện, cuộc sống sẽ lôi kéo chúng ta những sự kiện tương tự lặp lại, đến thời điểm chúng ta trưởng thành hơn, tất cả các loại sự việc mà chúng ta trải nghiệm, chúng ta xác định đều diễn ra theo giá trị của cá nhân, theo mục tiêu và niềm tin nhằm định hình các sự kiện nảy sinh trên thế giới (Richard S Lazarus, 1991)
1.2.1.2 Lý luận về điều chỉnh và tự điều chỉnh
a Điều chỉnh trong Tâm lý học là “sự chữa lại, sửa đổi những nhược điểm,
khuyết tật, những cái không bình thường nhưng không đòi hỏi những thay đổi căn bản, triệt để trong quá trình hoạt động” (Vũ Dũng, 2008) Điều chỉnh là kiểm soát, chỉ đạo, quản lý dựa trên các luật lệ, quy tắc hay hệ thống Điều chỉnh tới tiêu chuẩn riêng biệt nào đó với tỷ lệ, mức độ, số lượng để có được sự vận hành chính xác, ví dụ điều chỉnh độ nóng, điều chỉnh đồng hồ,v…v…(Victoria
Neufeldt và David B Guralnik, 1996)
b Tự điều chỉnh theo Tâm lý học rằng “tự điều chỉnh là một trong các
mức độ điều chỉnh tích cực của các cơ thể sống, biểu hiện các đặc điểm của sự thực hiện phản ánh tâm lý và mô hình hóa hiện thực Tự điều chỉnh tâm lý được thực hiện trong tính thống nhất các khía cạnh: năng lượng, động thái, nội dung
và ý nghĩa của cá nhân Tùy thuộc vào các dạng hoạt động và các điều kiện hoạt động, tự điều chỉnh có thể được thực hiện bằng các phương tiện tâm lý khác
Trang 35nhau (các hình ảnh trực quan cụ thể hay các biểu tượng, khái niệm,…)” (Vũ
Dũng, 2008) Tự kiểm soát, một cấu trúc có quan hệ mật thiết với tự điều chỉnh,
được hiểu một cách rộng là khả năng thay đổi những phản ứng bên trong và cố gắng kiểm soát đối với hành vi của một cá nhân (Tangney, Baumeister, & Boone, 2004) Tự điều chỉnh phần lớn là liên quan đến khả năng thay đổi, điều chỉnh để tạo ra sự phù hợp tốt nhất giữa cá nhân và thế giới (Tangney et al., 2004) Tự điều chỉnh có thể hiểu dưới cái tên khác nhau như tự kiểm soát, tự quản lý, kiểm soát cơn giận/ cơn bốc đồng Tất cả thuật ngữ này dùng để chỉ khả năng của con người điều chỉnh mức độ cảnh giác của họ và họ thể hiện cảm xúc như thế nào thông qua hành vi để đạt được mục tiêu của mình ở các phương thức điều chỉnh xã hội (Bronson, 2001) Để có sự tự điều chỉnh tốt thì cần phối hợp ba yếu tố là quá trình cảm nhận, chức năng thực thi (kiểm soát có ý thức tư duy và hành động) và điều chỉnh cảm xúc (Leah M Kuypers, 2011)
1.2.1.3 Lý luận về tự điều chỉnh cảm xúc
Daniel Goleman chuyên nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc, đặc biệt trí tuệ cảm xúc được ứng dụng trong công việc như thế nào và liệu cái gì đã làm nên một người lãnh đạo tuyệt vời khác với người lãnh đạo tốt bình thường Câu trả lời là
trí tuệ cảm xúc, có thể giúp cho các nhà lãnh đạo phát huy tốt nhất sự thể hiện
của mình và cả những đồng nghiệp của họ Khi một người lãnh đạo có khả năng với chỉ số trí tuệ cảm xúc ấn tượng thì bộ phận của họ đạt thành tích mỗi năm tăng lên 20% (điều này được minh chứng trong nghiên cứu ở công ty thực phẩm
và thức uống toàn cầu do McClelland tổ chức năm 1996) Chúng ta đều sở hữu nhưng mức độ nào đó của các kỹ năng trí tuệ cảm xúc Chúng ta có thể gia tăng mạnh thêm nhờ vào việc kiên trì, tập luyện và việc nhận phản hồi từ đồng nghiệp
và cấp trên Trong công việc, thứ hạng cao của một người khi được đánh giá là người đạt thành tích xuất sắc (là ngôi sao sáng) thì người đó có trí tuệ cảm xúc
cao tương ứng trong việc đạt hiệu quả năng suất công việc Thành tố tự điều
chỉnh được đánh dấu với các điểm nhấn như sự tin tưởng, tính chính trực, thích
ứng với tình huống không rõ ràng và dễ thay đổi Lấy ví dụ, khi cả nhóm làm
Trang 36hỏng công việc chung thì thay vì với tư cách là trưởng nhóm có thể nổi giận và lên giọng lớn tiếng với mọi người, nhưng người trưởng nhóm này có động thái là suy xét lại những lý do có thể có đã dẫn đến việc làm hỏng này, tìm ra và giải thích với cả nhóm những hậu quả và đưa ra giải pháp khác cho mọi người
(Daniel Goleman, 2015) Đối với thành tố tự điều chỉnh liên quan đến cảm xúc,
Daniel đã cho rằng xung lực sinh học chi phối các cảm xúc của chúng ta Chúng
ta không thể né tránh mà chúng ta có thể điều chỉnh chúng TĐCCX như là một cuộc hội thoại bên trong diễn ra thường xuyên ở cá nhân, nó là một trong các thành tố của trí tuệ cảm xúc có thể giúp chúng ta thoát khỏi cảm giác mình là tù nhân của chính cảm xúc của bản thân mình Vì chúng ta có thể xoay chuyển, thậm chí dẫn đường cho cảm xúc đi theo hướng có lợi cho mình Hãy thử nghĩ trong trường hợp một người cấp trên nhìn thấy đội nhóm làm việc của mình có một sự phân tích sai lầm và đã báo cáo với ban lãnh đạo của toàn công ty Đối với tình hình như vậy thì việc anh/chị cấp trên này nổi giận đập bàn đập ghế quát mắng nhân viên cấp dưới là điều dễ hiểu Tuy nhiên nếu anh/chị cấp trên này có
ưu thế về TĐCCX thì sẽ có chọn lựa một phương pháp khác Anh/chị sẽ lựa lời nói thích hợp cẩn thận hơn, nắm bắt sự cố của cả nhóm và chưa vội đưa ra những nhận xét nặng nề Anh/chị có thể lùi lại phía sau để suy ngẫm ra những lý do nào
đã có thể dẫn đến kết quả không tốt này Liệu có phải là do sự thiếu nỗ lực của các cá nhân trong nhóm? Còn có những nhân tố nào khác làm tình hình bớt để lại hậu quả hơn không? Vai trò của anh/chị trong sự cố này là gì? Qua ví dụ trên, chúng ta thấy là những người có thể kiểm soát tốt yếu tố TĐCCX là những người
có lý lẻ, có thể tạo nên môi trường làm việc với sự tin cậy và sự công bằng Công việc sẽ trôi chảy giảm bớt các tranh đấu tiêu cực, giữ chân được những nhân tài cho các vị trí ở công ty TĐCCX còn đem lại hiệu ứng nhỏ giọt Không cấp dưới nào muốn mình là người nóng nảy thiếu kiềm chế khi cấp trên của mình là người
có thể tự điều chỉnh tốt TĐCCX còn giúp cho nhân viên thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng về các chính sách, cách thức làm việc mới ở một tổ chức TĐCCX không chỉ giúp cá nhân linh hoạt xoay chuyển theo hướng tiếp thu mới,
Trang 37còn làm gia tăng sức mạnh của tổ chức, kéo dài các mối quan hệ công việc, đem lại lợi ích lâu dài cho tổ chức (Daniel Goleman, 2015)
Theo quan niệm của trị liệu hành vi, những vấn đề liên quan đến điều chỉnh những cảm xúc đau khổ là những vấn đề thuộc về hành vi của người có rối loạn ranh giới Trong đó những hành vi lệch lạc như tự hại, tự tử, lạm dụng chất thường là các giải pháp cho những cảm xúc khó chịu đau đớn không thể vượt qua ở cá nhân (Suzanne Haeyen, 2018) Ở trường phái trị liệu hành vi, TĐCCX được rèn luyện qua các hoạt động như sau:
Quan sát và mô tả cảm xúc
Bước đầu tiên trong quá trình TĐCCX là học nhận biết và nêu tên cảm xúc xuất hiện Dù là cảm xúc rất phức tạp, chúng ta sẽ quan sát và mô tả được những điểm như sự việc, cách hiểu sự việc, sự xúc động mạnh qua sự việc, các hành vi, hậu quả từ các cảm xúc đó TĐCCX đòi hỏi sự quan sát và mô tả từ những phản ứng cảm xúc của bản thân cá nhân này không mang tính phán xét
Nhận diện các cảm xúc cơ bản
Sự không thoải mái trong cảm xúc nảy sinh từ các phản ứng thứ cấp (xấu
hổ, giận, sợ hãi cường độ cao) đến các cảm xúc cơ bản Các cảm xúc chính thường đúng với ngữ cảnh tạo ra cảm xúc đó còn không các phản ứng cảm xúc thứ cấp sẽ nổi lên mà trong đó kèm theo nhiều sự tự trừng phạt và dẫn đến kết quả là những cảm xúc rất đau khổ Những phản ứng cảm xúc thứ hai này có thể được làm giảm đi bằng cách bộc lộ những phản ứng cảm xúc cơ bản, học cách trải nghiệm chúng, chấp nhận cảm xúc cơ bản trong không khí không có sự phán xét Một khi các cảm xúc cơ bản được kích hoạt thì chúng ta không bỏ qua sự buồn rầu, cơn giận dữ; chúng cần được thừa nhận
Gia tăng các cảm xúc tích cực
Đối với trị liệu theo hành vi điều cần thiết là phải gia tố thêm số lượng các
sự việc tích cực và dành hết cho các trải nghiệm vui vẻ khi cảm xúc không hay xuất hiện Thân chủ luôn được khuyến khích làm các việc tích cực hơn, tập trung vào các mối quan hệ và không được né tránh sự việc Chấp nhận sự hiện diện các
Trang 38cảm xúc tiêu cực và không thể hiện các hành vi bốc đồng vì nó cũng chỉ đem lại kết quả xấu hơn
Làm giảm tính dễ gây tổn thương ở các cảm xúc tiêu cực
Điều quan trọng là chúng ta làm giảm bớt những tổn thương của bản thân,
ví dụ chúng ta có thể ngủ nghỉ đủ, ăn uống đều độ, có như vậy chúng ta mới kháng cự lại với các cảm xúc tiêu cực Bằng cách xây dựng sự kiểm soát là chúng ta thiết lập nên cảm giác tin tưởng, củng cố năng lực, vì thế có thể đối đầu với cảm xúc tiêu cực
Vượt qua sự chịu đựng cảm xúc, tập trung chú ý các cảm xúc hiện tại
Đối diện với các nỗi đau từ cảm xúc là một phần của cuộc sống Điều cần thiết là làm sao tìm ra các phương thức mới để làm giảm đi sự chịu đựng của chúng ta Trong đó chúng ta cần cân nhắc đến sự chấp nhận các cảm xúc đau buồn mà làm thay đổi sự chịu đựng này
Làm ngược lại với cảm xúc hiện tại
Đặc điểm chung của sự lo âu, của việc tìm ra giải pháp cho các cơn giận, cho những liệu pháp hiệu quả của sự lo âu là chuyển hóa cảm xúc thành hành vi Trong sự lo âu, hành vi được kích hoạt; con người bộc lộ cái gì làm cho họ lo lắng, gây ra sự sợ hãi và sự lo lắng cuối cùng giảm dần Đối với sự giận dữ, con người tìm hiểu lý do dẫn đến giận dữ và đi ra khỏi cơn giận của tình huống
Những dẫn chứng cho việc làm ngược lại với cảm xúc
Đối cảm xúc sợ hãi, cảm nhận theo những gì làm mình sợ hãi mà không phải né tránh nó Đối với cảm xúc tội lỗi và xấu hổ, đừng lãng tránh cảm xúc, trải nghiệm theo cảm xúc, nếu cần thiết thì mới lấy cớ để bào chữa cho cảm xúc Đối với cảm xúc buồn và lo lắng, không né tránh cảm xúc một cách bị động Đối với cảm xúc giận, giữ khoảng cách đủ với người làm cho chúng ta giận hơn là tấn công lại người đó
Muốn điều chỉnh cảm xúc, chúng ta có được khoảng cách vừa đủ với các
cảm xúc để có thể suy nghĩ tổng quan và vận dụng được các chiến lược tương tác với cảm xúc (Suzanne Haeyen, 2018) Điều chỉnh cảm xúc về mặt tâm lý có
Trang 39thể bị ảnh hưởng từ ngoài vào hoặc do xuất phát từ nội tại ở cá nhân Điều này cũng được minh chứng trong tài liệu của tác giả Lawrence Balter, Catherine S Tamis – LeMonda (Võ Thị Tường Vy, 2013)
1.2.2 Đặc điểm công việc của người làm công tác trợ giảng
1.2.2.1 Nhiệm vụ của người làm công tác trợ giảng
1 Trợ giảng cho các giờ dạy tiếng Anh tại ILA
2 Quản lý lớp học: Hỗ trợ giáo viên nước ngoài trong lớp học/ trong suốt khóa học Hỗ trợ việc học tiếng Anh cho học sinh ở lớp/ trong suốt khóa học
3 Quản lý và chăm sóc học sinh trong lớp
4 Công tác chăm sóc khách hàng
5 Đào tạo và phát triển: Thường xuyên tự đào tạo và rèn luyện các kỹ năng cần thiết cho công việc Tự trao đổi về các phần mềm công nghệ sử dụng trong giờ dạy, hỗ trợ học sinh và phụ huynh rèn luyện thêm ngoài giờ học trên lớp
6 Những công việc khác như: Hỗ trợ trung tâm tất cả công việc khác khi
có yêu cầu từ cấp quản lý và bạn bè đồng nghiệp tại trung tâm, chủ yếu tập trung cho công việc dạy học và chăm sóc khách hàng
1.2.2.2 Yêu cầu về năng lực cho công việc đối với người làm công tác trợ giảng
- Tốt nghiệp đại học (hoặc sinh viên đang học đại học từ năm 2 trở lên)
- Có kỹ năng dạy học (biết sử dụng phần mềm văn phòng)
- Có kỹ năng giải quyết vấn đề
- Có kỹ năng giao tiếp tốt (đặc biệt là kỹ năng tiếng Anh)
- Có thể làm việc với thời gian thay đổi thường xuyên (làm việc theo giờ)
1.2.3 Những đặc điểm tâm lý của người làm công tác trợ giảng dưới góc độ tự điều chỉnh cảm xúc
Xét dưới góc độ TĐCCX để thấy được những đặc điểm tâm lý của NLCTTG trên các đặc điểm như sau:
1) Những phẩm chất xúc cảm tình cảm cần có của NLCTTG dưới góc độ TĐCCX
Trang 40- NLCTTG có lòng yêu thương trẻ em
Tại ILA, tiêu chí quan trọng hàng đầu ở các ứng viên cho vị trí trợ giảng là
có lòng yêu thương trẻ em, có thể làm việc chung được với trẻ em Trực tiếp tiếp
xúc với trẻ em đang theo học tại ILA, đặc biệt là các lớp tiếng Anh lứa tuổi mẫu giáo, thanh thiếu niên, NLCTTG phải có tâm lý sẵn sàng khi được yêu cầu các công tác phù hợp với việc giảng dạy trẻ ở môn tiếng Anh, không chỉ trên hình thức là các kiến thức bài học mà còn cả về tấm lòng thương yêu trẻ em thật sự có
ở NLCTTG Nói theo thuật ngữ của Lazarus và Freud thì lòng yêu thương trẻ là loại tình cảm yêu thương không có sự hiện diện của tình dục Loại cảm xúc này, loại tình yêu thương này thường diễn ra giữa cha mẹ, con cái, bạn bè thân thiết với nhau Thông qua mối quan hệ với tình yêu thương qua lại này, nó đem lại phản hồi tích cực và trạng thái tự tin, khuyến khích, làm mạnh mẽ hơn sự gắn bó
về tâm lý, làm nổi bật cảm giác yêu thương rõ nét hơn Còn ngược lại nó sẽ dẫn đến các phản hồi tiêu cực, không mang tính cổ vũ mà còn làm lo âu lo lắng (Richard S lazarus, 1991) Khi chúng ta có trải nghiệm của tình yêu thương thì
tự định hình sự háo hức và sẵn sàng để tiến gần đến tương tác với người khác, có thể cân bằng khoảng cách với xung quanh, có sự thân mật và sự độc lập của riêng mình (Elaine Hatfield và Richard L Rapson, 2000) Đây là phẩm chất hàng đầu của NLCTTG, được nêu lên rất rõ khi họ tham gia phỏng vấn tại ILA
- NLCTTG thể hiện đồng cảm và thấu cảm
Mối quan hệ giữa NLCTTG và các đối tượng xung quanh công việc cần thiết phải hiểu về đồng cảm và thấu cảm nhằm tạo ra sự tích cực, sự hòa nhịp cùng mọi người Dựa theo quan điểm biến cảm xúc thành trợ thủ đắc lực thay vì
là kẻ thù của Justin Bariso thì chúng ta đều mong mọi người hiểu và cảm nhận quan điểm của bản thân mình nhưng vì sao chúng ta lại thất bại khi bắt nhịp cùng với mọi người Đó là vì chúng ta cần rất nhiều thời gian và công sức để lý giải và hiểu về cảm xúc của một người Ở nơi làm việc hay trong gia đình nếu thiếu đi sự đồng cảm thì các mối quan hệ trở nên xấu đi Khi một người có cảm giác được hiểu họ sẽ cố gắng hiểu ngược lại đối phương, theo thời gian cách